Phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Đồng Tháp
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TIẾN TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA TỈNH ĐỒNG THÁP
Nguyễn Thị Mỹ Hưng1 và Võ Văn Tuấn2*
1Chi cục Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp
2Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ
Lịch sử bài báo
Nhận ngày: 10/11/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 21/12/2020; Ngày duyệt đăng: 25/01/2021
Tóm tắt
Xây dựng nông thôn mới đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt cải
thiện sinh kế, ở vùng nông thôn; do vậy, xác định các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng nông
thôn mới trở nên cần thiết. Nghiên cứu “Phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng nông
thôn mới của tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm đề xuất giải pháp thúc đẩy tiến trình đạt được
các tiêu chí Nông thôn mới hiệu quả hơn để tiến đến xây dựng xã nông thôn mới nâng cao, kiểu
mẫu. Cả số liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng cho nghiên cứu này; trong đó, số liệu sơ cấp được
thu thập thông qua phỏng vấn cấu trúc đại diện của lãnh đạo 119 xã và phỏng vấn bán cấu trúc
lãnh đạo cấp tỉnh, 12 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Các phương pháp phân
tích số liệu bao gồm thống kê mô tả và kiểm định Independent Samples T-Test của 2 nhóm xã tiến
nhanh và tiến chậm, và mô hình hồi quy Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng tốc độ đạt tiêu chí
nông thôn mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa nhóm xã tiến chậm và tiến nhanh
về kết quả tiêu chí đạt được, nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và hoàn thành các nhóm tiêu chí. Các
yếu tố về hạ tầng kinh tế - xã hội, gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, đội ngũ cán bộ cơ sở, tham
gia của người dân có tác động tích cực và có ý nghĩa tiến trình xây dựng nông thôn mới của nhóm
xã tiến nhanh trong khi đó chỉ có yếu tố đội ngũ cán bộ cơ sở ảnh hưởng nhóm xã tiến chậm. Giải
pháp được đề xuất là cần ưu tiên cho giải pháp nâng cao năng lực và vai trò của đội ngũ cán bộ ở
cơ sở, tập trung chỉ đạo về phát triển kinh tế nông nghiệp và phát huy tinh thần tham gia của người
dân, và sử dụng nội lực tại chỗ để thúc đẩy tiến trình xây dựng nông thôn mới.
Từ khóa: Đồng Tháp, hồi qui Tobit, tiêu chí nông thôn mới, xây dựng nông thôn mới, yếu tố
tác động.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
47
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
ASSESSING FACTORS INFLUENCING THE PROCESS OF
NEW RURAL CONSTRUCTION IN DONG THAP PROVINCE
Nguyen Thi My Hung1 and Vo Van Tuan2*
1Rural Development Department of Dong Thap Province
2Mekong Delta Devlopment Research Institute, Can Tho University
*Corresponding author: [email protected]u.vn
Article history
Received:10/11/2020; Received in revised form:21/12/2020; Accepted: 25/01/2020
Abstract
New rural construction plays an important role in socio-economic development, especially
livelihood enhancements, in rural areas; therefore, determining factors affecting this construction
process is necessary. The research, namely "Assessing factors affecting the process of new rural
construction in Dong Thap province" was conducted to propose solutions for the process better
achieving the New Rural Area indicators, leading to further constructing typically new advanced
rural communes. Both secondary and primary data were used for the study, of which primary
data was collected through structured questionnaire interviews with representative leaders of 119
communes and the semi-structured with representative leaders at the provincial level, 12 districts,
towns, and cities in Dong Thap province. Data analysis methods were descriptive statistics and
Independent Samples t-test for mean comparisons between the faster achieving commune group and
the slower one; and Tobit regression model used to identify major factors affecting the achieving
process of new rural commune indicators. Research results show that there is a significant difference
between the two target groups in terms of the number of achieved indicators, funded amount
from goverments, and indicator completion. Factors about rural infrastructure, added value in
agricultural production, grassroot staffs, and rural residents’ participation affect significantly the
speeding achievement of new rural construction among the faster group while only the grassroot
staff significantly influenced the slower group. Therefore, proposed sulutions are priorly enhancing
the role and human capacity resource at grassroot level, focally guiding the agricultural economy
development, promoting residents’participation, and utilizing local resources to speed up the process
of new rural construction.
Keywords: Dong Thap, factor, indicators, new rural construction, Tobit regression.
48
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61
1. Đặt vấn đề
ngày 27/4/2020, cả nước đã có 5.064 xã (57%)
đã được công nhận đạt chuẩn NTM, vượt 7% so
mục tiêu 10 năm (2010-2020), bình quân cả nước
đạt 15,7 tiêu chí/xã và không còn xã đạt dưới 5
tiêu chí (BCĐ CTMTQG, 2020).
Phát triển nông thôn được nhiều quốc gia
trên thế giới quan tâm, là tiến trình thay đổi có chủ
đích về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường,
nhằm hướng đến cải thiện môi trường sống và
sinh kế của người dân nông thôn (Lê Cảnh Dũng
và cs., 2015). Xây dựng nông thôn mới (NTM)
gắn với phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã
hội (KT-XH) nông thôn đã trở thành chủ trương,
chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia trên thế
giới, nhằm rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo,
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
nông thôn. Điển hình xây dựng NTM trên thế
giới có các mô hình nổi bật như “Làng mới” của
Hàn Quốc, “Mỗi làng một sản phẩm” của Nhật
Bản hay chính sách “Tam Nông” của Trung Quốc
trong những thập niên qua, trở thành những bài
học quý báu cho thấy vai trò quan trọng của xây
dựng NTM trong phát triển KT-XH nông thôn.
Ở Việt Nam, Chương trình xây dựng NTM đã có
chủ trương của Trung ương Đảng từ năm 2008
(Trung ương Đảng, 2008) và được Chính phủ ra
quyết định phê duyệt và triển khai Chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM trên toàn
quốc từ năm 2010 (Chính phủ, 2010).
Riêng tỉnh Đồng Tháp, đầu năm 2011 Tỉnh
ủy đã ban hành Nghị quyết về xây dựng NTM
trên địa bàn tỉnh (Tỉnh ủy Đồng Tháp, 2011), giai
đoạn 2011-2015 đã chọn ra 30 xã và giai đoạn
2016-2020 tiếp tục chọn 37 xã trong tổng số 119
xã làm điểm để tập trung chỉ đạo, phối hợp liên
ngành tổ chức thực hiện, tuyên truyền nhiệm vụ
thực hiện tiêu chí NTM, trong đó xác định nâng
cao thu nhập của người dân nông thôn là ưu tiên
hàng đầu. Qua chín năm thực hiện Chương trình
gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, giải quyết
việc làm, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài và giảm nghèo bền vững, tập trung
ưu tiên nguồn lực và phát huy cơ chế Nhà nước
và nhân dân cùng làm. Tỉnh Đồng Tháp đã huy
động trên 97.300 tỷ đồng để đầu tư cho các địa
phương xây dựng NTM, với hơn 90% vốn huy
động từ ngoài ngân sách Nhà nước; nhiều mô
hình hay, nổi bật cũng được thực hiện và nhân
rộng nhằm dồn toàn lực xây dựng thành công mô
hình xây dựng NTM. Tuy nhiên, việc triển khai
Chương trình thực tế chưa có sự đồng đều, tương
đối chậm, tốc độ đạt tiêu chí NTM bình quân
hàng năm chỉ đạt 1,5 tiêu chí (xã đạt cao nhất là
4,3 tiêu chí/năm và thấp nhất là 0,3 tiêu chí/năm).
Đến cuối năm 2019, toàn tỉnh có 55/119 xã được
công nhận đạt chuẩn NTM (đạt 46,21%), trong
đó 43/67 xã điểm đạt chuẩn theo kế hoạch (đạt
64,18%), 64 xã còn lại đạt từ 12 tiêu chí trở lên
(UBND Đồng Tháp, 2020).
Sau hơn chín năm triển khai Chương trình
xây dựng NTM, với sự nỗ lực của cả hệ thống
chính trị các cấp và sự hưởng ứng của nhân dân,
khu vực nông thôn của nước ta đã có những thay
đổi rõ nét trên hầu hết mọi lĩnh vực (Ban Chỉ
đạo Chương trình Trung ương các Chương trình
mục tiêu Quốc gia (BCĐ CTMTQG), 2020).
Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng
công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình
thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới. Kết cấu
hạ tầng KT-XH được tăng cường; đời sống vật
chất và tinh thần của dân cư nông thôn được cải
thiện; xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt. Hệ
thống chính trị ở nông thôn được củng cố và
tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; an
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ
vững. Theo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM
giai đoạn 2010-2020 của Trung ương ký ban hành
Do vậy, việc đánh giá cụ thể hiện trạng và
xác định các yếu tố tác động đến tiến trình xây
dựng NTM là rất cần thiết, nhằm làm cơ sở đưa
ra các giải pháp thúc đẩy tiến trình đạt được các
tiêu chí NTM tương xứng với tiềm năng, lợi thế
của địa phương và giúp nâng cao hiệu quả chương
trình xây dựng NTM trong thời gian tới để tiến
đến xây dựng xã NTM nâng cao, kiểu mẫu. Vì
vậy, nghiên cứu “Phân tích các yếu tố tác động
49
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
đến tiến trình xây dựng NTM của tỉnh Đồng và lĩnh vực, (iv) phát triển vùng và nhóm xã hội,
Tháp” được thực hiện nhằm bổ sung giải pháp (v) phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội,
thiết thực thúc đẩy tiến trình xây dựng NTM ở (vi) phát triển định hướng công nghiệp hóa, (vii)
Đồng Tháp nói riêng và ĐBSCL nói chung.
phát triển định hướng độ thị hóa, và (viii) phát
triển nông thôn tổng hợp.
2. Tổng quan lý thuyết
Phát triển nông thôn ở Việt Nam đang áp
dụng mô hình phát triển nông thôn tổng hợp thể
hiện qua việc bao quát đa dạng các khía cạnh,
bao gồm quy hoạch, phát triển hạ tầng KT-XH, tổ
chức sản xuất và dịch vụ, cải thiện văn hóa - xã
hội và môi trường và an ninh trật tự (Chính phủ,
2016a). Phát triển NTM ở Việt Nam đã được đúc
kết từ các bài học kinh nghiệm phát triển nông
thôn trên thế giới và bối cảnh phát triển KT-XH
hiện nay, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1. Tiếp cận phát triển nông thôn
Nông thôn có vai trò rất quan trọng đối
với một quốc gia trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã
hội và môi trường. Vì thế, phát triển nông thôn
bền vững được hầu hết các quốc gia đang phát
triển quan tâm vì khu vực này đóng góp chính
về nguồn lực lao động, tài nguyên và sinh cảnh
nông thôn, sản xuất lương thực thực phẩm, và
nơi tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và dịch vụ và
định cư của đa số các dân tộc thiểu số (Lê Cảnh
Dũng và cs., 2015). Tuy vậy, nông thôn cũng là
nơi đối mặt với nhiều thử thách về dân trí thấp,
nghèo đói và bất bình đẳng xã hội, cơ sở hạ tầng
2.2. Xây dựng NTM trên thế giới
Xây dựng NTM được nhiều quốc gia trên thế
yếu kém, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi giới thực hiện với các mô hình nổi bật như “Làng
trường nông nghiệp,…
mới” (Saemaul Udong) của Hàn Quốc, “Mỗi làng
một sản phẩm” (One Commune One Product -
OCOP) của Nhật Bản, “Xí nghiệp hương trấn”
của Trung Quốc, hay “Những người kiểu mẫu”
của Thụy Điển,… là những bài học kinh nghiệm
cho nhiều nước áp dụng để phát triển KT-XH
nông thôn, đặc biệt là sinh kế của người dân địa
phương. Tùy đặc thù riêng của từng quốc gia,
các mô hình xây dựng NTM được xây dựng hay
điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh đất nước
của họ, nhằm khơi dậy tinh thần và nguồn lực
của người dân địa phương, tạo ra sự phát triển
có định hướng. Đặc điểm chung của các mô hình
xây dựng NTM trên thế giới bao gồm tự đánh
giá nhu cầu và ra quyết định trong xây dựng kế
hoạch hành động hay các dự án phát triển của
cộng đồng; hình thành và đào tạo đội ngũ lãnh
đạo địa phương cho các hoạt động phát triển;
chính sách hỗ trợ của chính quyền nhằm kích
thích tinh thần và sự tham gia của người dân; và
phát triển bền vững dựa vào nguồn lực của địa
phương (Dower, 2004).
Phát triển nông thôn bền vững là một tiến
trình làm thay đổi nông thôn, giải quyết các vấn
đề bức thiết của nông thôn trên cơ sở quan tâm
và hài hòa các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi
trường và định chế phát triển (Lê Cảnh Dũng và
cs., 2015; Wass et al., 2011). Tiếp cận này nhấn
mạnh đến sự phát triển bền vững, trong đó tăng
trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và
công bằng xã hội, khai thác hợp lý và sử dụng
tiết kiệm nguồn tài nguyên, và xây dựng định chế
phát triển nông thôn có hiệu quả. Như vậy, phát
triển nông thôn bền vững là một quá trình thay
đổi bền vững có chủ đích về xã hội, kinh tế, văn
hóa và môi trường nông thôn, nhằm nâng cao chất
lượng đời sống của người dân (Dower, 2004).
Xây dựng NTM cùng với các tiêu chí đo
lường để đánh giá tiến trình xây dựng NTM
hướng đến hỗ trợ tiến trình phát triển nông thôn
bền vững. Tùy vào bối cảnh phát triển KT-XH
trong và ngoài nước, có nhiều cách tiếp cận phát
triển nông thôn đã và đang được các quốc gia trên
thế giới sử dụng (Lê Cảnh Dũng và cs., 2015),
bao gồm các tiếp cận (i) tái thiết nông thôn, (ii)
2.3. Xây dựng NTM ở Việt Nam
Mục tiêu của Chương trình quốc gia về xây
phát triển cộng đồng, (iii) phát triển theo ngành dựng NTM là “Xây dựng NTM có kết cấu hạ
50
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61
tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế KT-XH và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo
quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh
thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững;
đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày
càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ
nghĩa” (Chính phủ, 2010; 2016b).
của cộng đồng nông thôn. Đạt được các tiêu chí
xây dựng NTM được thúc đẩy hay cản trở của
nhiều yếu tố liên quan đến người dân và cán bộ
địa phương, nguồn lực hỗ trợ, phát triển cơ sở hạ
tầng, tổ chức sản xuất và phát triển sinh kế cho
cộng đồng dân cư.
Sự tham gia và tự chủ ra quyết định của cộng
đồng địa phương trong các hoạt động phát triển
tác động đến sự nhiệt tình và phù hợp với mong
muốn của cộng đồng dân cư (Hồ Vũ Linh Đan,
2015; Bộ NN&PTNT, 2019). Thực tế các hoạt
động phát triển cộng đồng và xây dựng NTM
cho thấy cần có các dự án cơ sở hạ tầng hay hoạt
động phát triển để lôi kéo cộng đồng địa phương
cùng tham gia. Các hoạt động phát triển hạ tầng
kinh tế kỹ thuật và sinh kế địa phương cần được
khuyến khích bởi các nguồn lực đầu tư từ bên
ngoài nhằm kích thích và khơi dậy nguồn lực xã
hội trong cộng đồng (Nguyễn Văn Hùng, 2015;
Hồ Vũ Linh Đan, 2015; Bộ NN&PTNT, 2019).
Khi người dân địa phương tiếp cận được hạ tầng
KT-XH sẽ tạo điều kiện cho họ tổ chức và thực
hiện các hoạt động sản xuất và dịch vụ (Nguyễn
Văn Hùng, 2015; Nguyễn Thùy Trang và cs.,
2016). Tổ chức sản xuất qui mô nhỏ và dịch vụ
nông thôn không chỉ góp phần nâng cao thu nhập
của người dân mà còn hỗ trợ thay đổi cơ cấu thu
nhập của kinh tế địa phương (Lê Thị Loan, 2015;
Nguyễn Văn Hùng, 2015; Huỳnh Phẩm Dũng
Phát và cs., 2017). Một nhân tố rất quan trọng
được nhiều nghiên cứu chỉ ra là nguồn lực của đội
ngũ cán bộ cơ sở vì họ là một bên liên quan thiết
yếu trong tất cả các hoạt động phát triển của cộng
đồng (Nguyễn Văn Hùng, 2015; Huỳnh Phẩm
Dũng Phát và cs., 2017; Bộ NN&PTNT, 2019).
Các nhân tố ảnh hưởng lý thuyết trên đây sẽ được
xem xét trong bối cảnh thực tiễn xây dựng NTM
của tất cả các xã của tỉnh Đồng Tháp.
Tiến trình xây dựng xã NTM được đo lường
bằng Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM, là căn cứ
để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu
quốc gia về xây dựng NTM; chỉ đạo thí điểm
xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá
công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM (Chính phủ,
2009). Bộ tiêu chí bao gồm 19 tiêu chí, được chia
thành 5 nhóm (qui hoạch, hạ tầng KT-XH, kinh
tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi
trường, và hệ thống chính trị) và sẽ được điều
chỉnh phù hợp với điều kiện KT-XH của đất nước
từng thời kỳ; tùy điều kiện mà chỉ tiêu áp dụng
cho từng vùng được quy định cao hoặc thấp hơn
quy định chung.
Thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam đã
đúc kết được 4 bài học kinh ngiệm, làm cơ sở
cho xây dựng NTM nâng cao, kiểu mẫu (Bộ
NN&PTNT, 2019), bao gồm (i) quan tâm và
chỉ đạo của Đảng và Chính quyền các cấp, đặc
biệt cấp cơ sở; (ii) phát huy sự tham gia và vai
trò tự lực, tự cường của cán bộ và nhân dân địa
phương; (iii) khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có
của địa phương về điều kiện tự nhiên, nguồn lực
và nhân lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
phát triển hạ tầng kinh tế - kỹ thuật bên cạnh đầu
tư kích thích từ bên ngoài cộng đồng; và (iv) xây
dựng và nâng cao năng lực cán bộ và lãnh đạo
cơ sở liên quan xây dựng NTM.
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến đạt được
các tiêu chí NTM
Bối cảnh KT-XH thay đổi có thể tác động
cả tích cực và tiêu cực tiến trình xây dựng NTM
và cũng có thể phát sinh các nhân tố mới ảnh
hưởng đến tiến trình đạt được các tiêu chí NTM.
Các khía cạnh xây dựng NTM có mối liên hệ
Đạt được các tiêu chí NTM là mục tiêu của
chính quyền các cấp không chỉ hướng đến đạt
chuẩn xã NTM mà còn kỳ vọng cải thiện hạ tầng
51
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
với nhau, việc đạt được một số tiêu chí có thể chậm để khám phá các khác biệt và giống nhau
về nguồn lực và đặc điểm cơ bản, đồng thời chỉ
ra các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình đạt được
tiêu chí NTM của hai nhóm xã này.
tác động thúc đẩy đạt được các tiêu chí khác; do
vậy, các tương tác về cải thiện tài sản sinh kế của
người dân và tác động từ bên ngoài đối với sinh
kế được thảo luận qua tiếp cận sinh kế bền vững.
Trong tiếp cận sinh kế bền vững này, chiến lược
sinh kế của người dân nông thôn chịu sự hỗ trợ
của các tài sản sinh kế mà họ có, chịu tác động
của chính sách của Nhà nước, các định chế xã
hội nông thôn và bối cảnh tác động của yếu tố
tự nhiên và KT-XH từ bên ngoài (Võ Văn Tuấn
và Lê Cảnh Dũng, 2015).
Số liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng cho
nghiên cứu này. Số liệu thứ cấp được thu thập từ
các văn bản pháp luật liên quan, niên giám thống
kê các cấp, báo cáo của UBND các cấp và các ban
ngành liên quan, cùng với xuất bản khoa học các
thể loại. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua
các công cụ định tính (phỏng vấn nhóm người
am hiểu - KIP) và định lượng (điều tra bằng bảng
câu hỏi cấu trúc). Phỏng vấn KIP giúp hiểu tổng
quan về xây dựng NTM và bổ sung thêm các
yếu tố lý thuyết có khả năng ảnh đến tiến trình
xây dựng NTM. Điều tra bằng bảng câu hỏi cấu
trúc thu thập thông tin bổ sung về các thông số
có khả năng ảnh hưởng đến tiến trình xây dựng
NTM, bên cạnh các số liệu thứ cấp của tất cả các
xã nghiên cứu.
3. Phương pháp nghiên cứu
Mặc dù còn nhiều khó khăn, tỉnh Đồng Tháp
được đánh giá là một trong những địa phương
tiêu biểu của vùng ĐBSCL và cả nước về thực
hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng
NTM. Đồng Tháp liên tục đứng ở tốp đầu về Chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp Tỉnh (PCI) từ 2017; có
nhiều mô hình hay trong xây dựng NTM, chẳng
hạn như Hội quán, Nhà nước cấp vật tư - người
dân đóng góp ngày công lao động, “Cây xoài
nhà tôi”, “Canh tác lúa thông minh”, “Ruộng nhà
mình”, du lịch cộng đồng,… Do đó, tỉnh Đồng
Tháp được chọn làm điểm nghiên cứu để tiến
hành phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình
xây dựng NTM cụ thể của một địa phương, làm
đại diện để xem xét trên diện rộng đối với các địa
phương khác trong vùng với những điểm tương
đồng về điều kiện tự nhiên và KT-XH.
Công cụ phân tích bao gồm thống kê mô tả,
kiểm định sự khác biệt trung bình của 2 nhóm
xã tiến nhanh và tiến chậm và mô hình hồi qui
Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tốc
độ đạt được tiêu chí NTM. Thống kê mô tả và
kiểm định t (t-test) được sử dụng để mô tả các
đặc điểm cơ bản và kiểm định sự khác biệt trung
bình của 2 nhóm xã tiến nhanh và tiến chậm. Tốc
độ đạt được các tiêu chí NTM bình quân hàng
năm của các xã bị chặn từ 0 đến 1 khi các giá trị
của biến phụ thuộc Y (tốc độ đạt tiêu chí NTM)
và các biến độc lập Xi được chuẩn hóa. Do vậy,
mô hình hồi qui Tobit được sử dụng để xác định
các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ đạt các tiêu chí
NTM bình quân hàng năm. Số liệu được sử dụng
cho mô hình hồi qui Tobit để xác định các yếu
tố ảnh hưởng tốc độ đạt tiêu chí NTM được thu
thập từ số liệu thứ cấp và sơ cấp và ở các dạng
định tính (thang đo) và định lượng (Bảng 1). Do
vậy, các dạng số liệu khác nhau sẽ được chuẩn
hóa về khoảng [0,1] trước khi phân tích. Công
thức chuẩn hóa số liệu có dạng: V‘=(Vi-Vmin)/
(Vmax-Vmin). Trong đó, V‘ và giá trị đã chuẩn hóa;
Tại Đồng Tháp, từ khi thực hiện Chương
trình xây dựng NTM năm 2011 đến năm 2019,
số tiêu chí đạt bình quân mỗi xã là 16,7; và tốc
độ hoàn thành tiêu chí NTM bình quân hàng năm
là 1,5 (UBND Đồng Tháp, 2019), tương ứng với
tốc độ đạt tiêu chí NTM bình quân hàng năm mỗi
xã ở ĐBSCL. Do vậy, trong nghiên cứu này, các
xã tham gia xây dựng NTM của tỉnh Đồng Tháp
được chia thành 2 nhóm để đánh giá, bao gồm
54 xã (chiếm 45,4%) có tốc độ đạt tiêu chí NTM
bình quân hàng năm ≥ 1,5 (gọi là nhóm xã tiến
nhanh) và 65 xã (chiếm 54,6%) có tốc độ đạt
tiêu chí NTM hàng năm < 1,5 (gọi là nhóm xã
tiến chậm). Sự chia nhóm xã tiến nhanh và tiến
V là giá trị quan sát thứ i; và Vmax và Vmin là giá
i
trị lớn nhất và nhỏ nhất của 1 biến quan sát.
52
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61
Trong mô hình hồi quy Tobit, biến phụ thuộc (Bảng 1). Các biến lý thuyết có khả năng ảnh
Ylà tốc độ đạt tiêu chí NTM bình quân hàng năm hưởng đến tiến trình xây dựng NTM được rút
nhận giá trị ở trong đoạn [0,1].
Mô hình hồi quy Tobit có dạng:
Y* = α0 + ∑n α1*Xi + ∑k βi*Xi + ε
ra từ các nghiên cứu liên quan, các bài học kinh
nghiệm xây dựng NTM (Bộ NN&PTNT, 2019),
phỏng vấn những người am hiểu về xây dựng
NTM và kinh nghiệm phân tích chuyên gia. Giá
trị ε sai số ngẫu nhiên; và n là tổng thể quan sát,
i là quan sát thứ i.
i=1
j=1
Y*, Y* > 0
Y =
0, Y* ≤ 0
Trên cơ sở tiếp cận lý luận và thực tiễn trong
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng NTM đã được các địa phương và các nhà
khoa học nghiên cứu đánh giá, phân tích ở các
khía cạnh khác nhau, đề tài nghiên cứu xây dựng
các yếu tố lý thuyết có tác động đến tiến trình đạt
được các tiêu chí NTM của các nhóm xã trên địa
bàn vùng nghiên cứu.
Trong đó, Y* là tốc độ đạt tiêu chí NTM bình
quân hàng năm được ước lượng bằng phương
pháp Ước lượng hợp lý cực đại MLE (Maximum
Likelihood Estimation method). Y là tốc độ đạt
tiêu chí NTM bình quân hàng năm của các xã
được quan sát, Xi, và Xj là các biến giải thích
Bảng 1. Các yếu tố lý thuyết có tác động đến tiến trình xây dựng NTM
Ký
hiệu
Đơn vị tính
Triệu đồng
Triệu đồng
Diễn giải
Nguồn thu thập số liệu
Ngân sách Nhà nước (phần kinh phí đầu Báo cáo về Chương trình NTM của tỉnh
tư trực tiếp cho các xã xây dựng NTM) và 12 đơn vị huyện
X1
X2
Nguồn lực xã hội (kinh phí đóng góp của Báo cáo về Chương trình NTM của tỉnh
dân, các tổ chức xã hội xây dựng NTM) và 119 xã
Thang đo
Likert 5
mức độ
Kết nối với đô thị (khả năng tiếp cận của
xã về cơ hội việc làm, hạ tầng đô thị và Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã
khu/cụm công nghiệp tiếp giáp)
X3
X4
Nền tảng của phát triển kết cấu hạ tầng
Tiêu chí đạt (hiện trạng hạ tầng nông thôn theo tiêu Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã
chí xã NTM lúc khởi điểm)
Gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp (tốc
độ gia tăng giá trị sản phẩm thu được
trên 1 ha đất trồng trọt và mặt nước nuôi
thủy sản)
X5 Triệu đồng/ha
Niên giám thống kê của 12 đơn vị huyện
Thang đo
Giải quyết việc làm (hiệu quả của công
X6
X7
X8
Likert 5
mức độ
tác giới thiệu và tạo việc làm cho lao Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã
động trên địa bàn xã hàng năm)
Xóa đói giảm nghèo (hiệu quả của giảm
Niên giám thống kê của 12 đơn vị huyện
tỷ lệ hộ nghèo của xã hàng năm)
%
Thang đo
Likert 5
mức độ
Đội ngũ cán bộ cơ sở (công tác chỉ đạo
và tổ chức thực hiện của toàn thể cấp ủy, Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã
chính quyền và đoàn thể ở xã, ấp)
53
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thang đo
Likert 5
mức độ
Mức độ tham gia của người dân vào các
hoạt động thực hiện tiêu chí NTM tại Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã
xóm, ấp
X9
Thang đo
Likert 5
mức độ
Bất cập trong quy định Bộ tiêu chí xã
NTM (những khó khăn, không phù hợp Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã
của quy định tiêu chí so với thực tế)
X10
4. Kết quả thảo luận
tiêu chí, và 47 xã đạt từ 12 đến 15 tiêu chí. Số xã
đạt chuẩn NTM của Đồng Tháp đạt tỷ lệ 46,2%,
đứng hàng thứ 7 so với các tỉnh khác của vùng
ĐBSCL trong khi số tiêu chí bình quân/xã đạt
16,4% cao hơn so với vùng ĐBSCL (15,4%) và
cả nước (15,3%); không còn xã đạt dưới 10 tiêu
chí (Văn phòng Điều phối Trung ương, 2020).
4.1. Đánh giá thực trạng tiến trình xây
dựng NTM tại tỉnh Đồng Tháp
Tỉnh Đồng Tháp có 144 xã, phường và thị
trấn, trong đó có 119 xã tham gia xây dựng xã
NTM. Bảng 2 cho thấy đến cuối năm 2019, tỉnh
có 55 xã đạt chuẩn NTM, 17 xã đạt từ 16 đến 18
Bảng 2. Kết quả xây dựng NTM của Việt Nam, ĐBSCL và Đồng Tháp (cuối năm 2019)
Tỷ lệ
huyện
đạt
Tỷ lệ
xã đạt
chuẩn
Tiêu chí Xã đạt Tỷ lệ xã Huyện
Tổng
số xã
Xã đạt
chuẩn
Địa điểm
đạt
dưới 10 đạt <10
đạt
mỗi xã tiêu chí tiêu chí
chuẩn
chuẩn
Cả nước
8.902
1.286
119
4.524
563
55
50,8
43,8
46,2
15,3
15,4
16,4
1.276
82
14,3
6,4
89
12
1
16,4
11,8
11,1
ĐBSCL
Đồng Tháp
0
0,0
Nguồn: Văn phòng Điều phối Trung ương, 2020.
Tại thời điểm bắt đầu thực hiện Chương chí/xã). Số xã được chọn làm điểm điển hình ở
trình xây dựng NTM năm 2011 tại Đồng Tháp, số nhóm xã tiến nhanh cao hơn gấp đôi so với nhóm
tiêu chí NTM đạt bình quân mỗi xã là 7,2; trong xã tiến chậm (Bảng 3). Các xã điểm xây dựng
đó, nhóm xã tiến nhanh có khởi đầu cao hơn (7,6 NTM này thường được đầu tư tốt hơn về nguồn
tiêu chí/xã) so với nhóm xã tiến chậm (6,8 tiêu lực cũng như quan tâm chỉ đạo.
Bảng 3. Thực trạng khi bắt đầu xây dựng NTM và các xã điểm của tỉnh Đồng Tháp
Số tiêu chí Số tiêu chí Số tiêu chí
đạt nhiều đạt thấp đạt Trung điểm 2011 điểm 2011
Số xã
Tỷ lệ số xã
Số xã
quan sát
Đối tượng
Toàn tỉnh
nhất/xã
14
nhất/xã
bình/xã
7,2
- 2020
67
- 2020
56,3
119
65
3
3
4
Nhóm xã tiến chậm
Nhóm xã tiến nhanh
14
6,8
24
36,9
54
12
7,6
43
79,6
Nguồn: UBND Đồng Tháp, 2020.
Một số đặc điểm liên quan đến việc kết tiến trình xây dựng NTM được xem xét của
nối đô thị, tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập bình quân hai nhóm xã tiến nhanh và tiến chậm vì chúng
người dân và vốn hỗ trợ của Nhà nước cho có thể ảnh hưởng đến tốc độ đạt được các tiêu
54
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61
chí NTM. Bảng 4 chỉ ra rằng nhóm xã tiến tư nhưng khác biệt có ý nghĩa về nguồn vốn
chậm có bất lợi hơn về kết nối đô thị nên có ngân sách đầu tư xây dựng NTM cho các xã.
thể ảnh hưởng đến các hoạt động tạo thu nhập Nguồn vốn ngân sách đầu tư phát triển cơ sở
cũng như thu nhập bình quân hàng năm của hạ tầng KT-XH có thể tạo điều kiện cho các
người dân. Hai nhóm xã nghiên cứu không có hoạt động sinh kế, tạo thu nhập cho người dân
sự khác biệt về nguồn lực xã hội về vốn đầu địa phương.
Bảng 4. Đặc điểm và nguồn lực hỗ trợ xây dựng NTM (phân theo nhóm xã)
Đặc điểm và
nguồn lực hỗ trợ
Nhóm xã tiến
chậm (n=65)
Nhóm xã tiến
nhanh (n=54)
Đơn vị tính
P-value
0,007
Khoảng cách đô thị
km
14,6
3,4
10,6
2,2
Tỷ lệ hộ nghèo
%
0,068
0,000
0,000
0,292
Thu nhập bình quân/người/năm
Ngân sách Nhà nước
Nguồn lực xã hội
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
36,0
45,2
55.107,7
16.201,1
103.578,2
19.767,5
Nguồn: Cục Thống kê Đồng Tháp, 2020, UBND Đồng Tháp, 2020.
Sau chín năm thực hiện, tiến trình thực hiện tế và tổ chức sản xuất và Hệ thống chính trị và an
đạt các nhóm tiêu chí NTM của tỉnh Đồng Tháp ninh trật tự), nhóm còn lại về “Văn hóa - xã hội -
theo chiều hướng tăng dần; song có sự chênh lệch môi trường” cũng đạt 98,15% số xã. Ngược lại,
giữa các nhóm tiêu chí, trong đó nhóm tiêu chí nhóm xã tiến chậm có tiến trình thực hiện không
“Quy hoạch” đạt sớm 100% số xã trong những đồng đều; ngoại trừ tiêu chí về “Quy hoạch” đạt
năm đầu của giai đoạn 2011-2015, nhóm tiêu 100% số xã thì nhóm tiêu chí đạt cao nhất là “Hệ
chí “Hạ tầng KT-XH” và “Kinh tế và tổ chức thống chính trị và an ninh trật tự” đạt 75,38%,
sản xuất” đạt thấp nhất (64 xã, đạt 53,78%). Xét các nhóm tiêu chí còn lại về “Hạ tầng KT-XH”,
theo nhóm xã quan sát, tiến trình đạt các nhóm “Kinh tế và tổ chức sản xuất” và “Văn hóa - xã
tiêu chí NTM của 2 nhóm xã có sự khác biệt hội - môi trường” đạt rất thấp, đặc biệt là nhóm
khá lớn. Đối với nhóm xã tiến nhanh tiến trình tiêu chí về “Kinh tế và tổ chức sản xuất” (Bảng
thực hiện có sự đồng đều giữa các nhóm tiêu chí 5). Nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất”
NTM, trong đó có 4 nhóm tiêu chí đạt 100% số rất quan trọng nhưng chỉ đạt 15%, có khả năng
xã (bao gồm Quy hoạch, Hạ tầng KT-XH, Kinh ảnh hưởng không tốt đến các nhóm tiêu chí khác.
Bảng 5. Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí NTM (phân theo nhóm xã)
Nhóm xã tiến chậm
(n=65)
Nhóm xã tiến nhanh
(n=54)
Toàn tỉnh (n=119)
Nhóm tiêu chí xã NTM
Năm Năm
2011 2019
Đạt
(%)
Năm Năm
2011 2019
Đạt
(%)
Năm Năm
2011 2019
Đạt
(%)
Quy hoạch
12
0
119
64
100
54
1
0
0
5
65
11
10
18
100
17
11
0
54
54
54
53
100
100
100
98
Hạ tầng KT-XH
Kinh tế và tổ chức sản xuất
0
64
54
15
0
Văn hóa - xã hội - môi trường 13
71
60
28
8
Hệ thống chính trị và an ninh
trật tự
54
103
87
27
49
75
27
54
100
Nguồn: UBND tỉnh Đồng Tháp, 2020.
55
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nhóm xã tiến nhanh đã triển khai thực nhóm tiêu chí NTM, nhất là về phát triển hạ
hiện các tiêu chí NTM toàn diện hơn, giúp tầng KT-XH, nâng cao thu nhập và cải thiện
tiến trình xây dựng NTM đạt hiệu quả cao đời sống cho người dân (Bảng 5). Hai nhóm
và tương tác lẫn nhau, phù hợp với việc tận tiêu chí “Hạ tầng KT-XH” và “Kinh tế và tổ
dụng và phát huy nguồn lực Nhà nước và xã chức sản xuất” có mối tương quan chặt với
hội. Nhóm xã tiến chậm thì tiến trình thực nhau khi cơ sở hạ tầng được xem là nền tảng
hiện chậm và dàn trải trong khi vốn đầu tư ít để các xã thực hiện tổ chức sản xuất và dịch
nên khó khăn hơn để hoàn thành toàn diện các vụ, cải thiện thu nhập của người dân.
Bảng 6. Kết quả đạt chuẩn xã NTM ở Đồng Tháp tính đến năm 2019
Tốc độ đạt
Đối tượng
Số xã đạt chuẩn (xã) Số tiêu chí đạt/xã
tiêu chí/năm
Nhóm xã tiến chậm (n=65)
Nhóm xã tiến nhanh (n=54)
P-value
3
14,77
19,00
0,000
0,91
52
2,31
0,000
Nguồn: Số liệu thu thập 2019.
Bảng 6 cho thấy nhóm xã tiến nhanh có số quân hàng năm của nhóm xã tiến nhanh cao hơn
xã đạt chuẩn NTM khá cao với 52/54 xã (đạt gấp 1,5 lần so với toàn tỉnh và cao hơn 2,5 lần so
96,3%) so với nhóm xã tiến chậm chỉ 3/65 xã với nhóm xã tiến chậm. Như vậy, tiến trình xây
(đạt 4,6%) mặc dù sự khác biệt về tiêu chí đạt dựng NTM của các xã là khác nhau và không
được bình quân năm 2011 của hai nhóm xã này hoàn toàn phụ thuộc vào công tác chỉ đạo điểm
không khác biệt lớn. Tốc độ tiêu chí đạt bình của cấp trên.
Hình 1. Tiến trình xây dựng NTM của tỉnh Đồng Tháp
Nguồn: Số liệu của Văn phòng Điều phối NTM Đồng Tháp giai đoạn 2011-2019
(CAGR - Compound Annual Growth Rate: Tốc độ tăng trưởng hàng năm).
56
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61
Hình 1 cho thấy tốc độ các xã đạt chuẩn
Xuất phát điểm về đạt tiêu chí NTM bình
quân của các xã của 2 nhóm xã khác biệt không
lớn, nhưng với tốc độ đạt tiêu chí NTM bình quân
hàng năm khác nhau dẫn đến tiến trình đạt được
chuẩn NTM của 2 nhóm xã khá khác biệt. Câu
hỏi đặt ra là các yếu tố nào đã ảnh hưởng đến tốc
độ đạt được tiêu chí NTM bình quân của các xã
thuộc 2 nhóm; từ đó, các giải pháp thúc đẩy tốc
độ đạt tiêu chí sẽ được xây dựng và phát triển
để hỗ trợ tiến trình xây dựng NTM hiện nay và
NTM nâng cao, kiểu mẫu trong tương lai.
NTM tăng nhanh vào cuối giai đoạn 1 (2011-
2015) và tăng đều hàng năm trong giai đoạn
2 (2016-2020) và tăng nhanh hơn giai đoạn 1.
Theo thảo luận với nhóm người am hiểu, lãnh
đạo Chương trình xây dựng NTM các cấp cho
rằng giai đoạn đầu còn thiếu kinh nghiệm, nguồn
nhân lực lãnh đạo và thực hiện còn hạn chế.
Điều này cũng phù hợp với việc nhấn mạnh vai
trò của nguồn nhân lực lãnh đạo và thực thi các
chương trình phát triển NTM cấp cơ sở vì các
tiêu chí khởi điểm dễ đạt hơn so với các tiêu chí
còn lại. Khi xem xét về tốc độ đạt được các tiêu
chí NTM, trong giai đoạn 1 tốc độ đạt được các
tiêu chí bình quân hàng năm cao hơn giai đoạn
2, khoảng 14,6% so với 4,3% (Hình 1). Kết quả
này cho thấy một số tiêu chí trong bộ 19 tiêu chí
đạt được khá dễ; ngược lại, các tiêu chí cơ bản
liên quan đến thu nhập, môi trường, cơ sở hạ tầng
KT-XH khó đạt hơn và trở thành các điểm nghẻn
nếu các địa phương không có các giải pháp phù
hợp (Nguyễn Thùy Trang và cs., 2016).
Tổng quan tài liệu các nghiên cứu liên quan
và phỏng vấn nhóm người am hiểu về xây dựng
NTM đã chỉ ra có nhiều yếu tố lý thuyết có khả
năng ảnh hưởng đến tốc độ đạt được các tiêu
chí NTM. Các yếu tố này đã được đánh giá lại
bởi đại diện lãnh đạo của tất cả các xã đang thực
hiện Chương trình xây dựng NTM. Bảng 7 chỉ
ra rằng mức độ tác động của các yếu tố đề xuất
đến tiến trình đạt được các tiêu chí NTM khác
nhau và thể hiện mức độ tác động cao đối với sự
tham gia của dân, đội ngũ lãnh đạo, điều kiện hạ
tầng và tổ chức sản xuất,...
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng tiến trình xây
dựng NTM tại tỉnh Đồng Tháp
Bảng 7. Mức độ tác động của một số yếu tố đến tiến trình đạt được các tiêu chí NTM (n=119)
Mức độ tác động (tỷ lệ %) Mức
tác
động
TB*
STT
Yếu tố tác động
1
2
3
4
5
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Ngân sách Nhà nước
50,0
8,3
50,0
41,7
33,3
41,7
41,7
25,0
83,3
66,7
41,7
16,7
3,5
2,9
2,6
3,6
3,6
3,9
4,0
4,1
4,7
2,3
Nguồn lực xã hội
50,0
8,3
Kết nối đô thị hóa
16,7
33,3
25,0
25,0
41,7
8,3
Nền tảng của phát triển kết cấu hạ tầng
Gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
Giải quyết việc làm
16,7
16,7
16,7
16,7
33,3
8,3
Xóa đói giảm nghèo
Đội ngũ cán bộ cơ sở
8,3
25,0
50,0
Mức độ tham gia của người dân
18,3
33,3
10 Bất cập của Bộ tiêu chí xã NTM
16,7
25,0
(*)Ghi chú: 1: Tác động rất ít; 2: Tác động ít; 3: Tác động trung bình;
4: Tác động nhiều; 5: Tác động rất nhiều
Nguồn: Kết quả thu thập số liệu sơ cấp tại tỉnh Đồng Tháp, 2019.
57
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khi đánh giá tổng thể các yếu tố tác động tích cực. Kết quả mô hình hồi qui Tobit cũng khá
tương đồng với đánh giá cá nhân của đại diện lãnh
đạo phụ trách Chương trình xây dựng NTM ở
các xã (Bảng 7; Bảng 8); trừ hoạt động cải thiện
thu nhập cho người dân. Kết quả phân tích cho
thấy, các xã tiến nhanh đã có sự chủ động, phát
huy vai trò của cán bộ cơ sở trong công tác lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng
NTM từ tận dụng thuận lợi của nền tảng kết cấu
hạ tầng ngay ban đầu, tập trung phát triển sản
xuất, cải thiện kinh tế nông thôn và sức mạnh
của nguồn nội lực từ cộng đồng dân cư, chung
sức xây dựng NTM. Sự hài lòng và tham gia của
người dân tạo ra sự khác biệt giữa hai nhóm xã
tiến nhanh và tiến chậm, phù hợp với các nghiên
cứu trước đây (Bùi Văn Trịnh và Dương Hồng
Thúy, 2018). Tuy nhiên, kết quả phân tích đối với
nhóm xã tiến chậm, tiến trình xây dựng NTM của
các xã chỉ chịu tác động của yếu tố đội ngũ cán
bộ cơ sở, chưa thấy được vai trò của của các yếu
tố khác như nhóm xã tiến nhanh. Như vậy, tiến
trình xây dựng NTM của các xã tiến chậm thiếu
hụt sự trợ giúp, tác động tích cực từ các yếu tố về
nền tảng kết cấu hạ tầng ngay ban đầu, tập trung
phát triển sản xuất, cải thiện kinh tế nông thôn
và sức mạnh của nguồn nội lực từ cộng đồng dân
cư như nhóm xã tiến nhanh.
đến tốc độ đạt được các tiêu chí NTM trên địa
bàn tỉnh Đồng Tháp, các yếu tố đặc thù, riêng lẻ
đã không được thể hiện, mà các yếu tố điển hình,
thể hiện xu thế chung của toàn tỉnh đã được phát
hiện thông qua mô hình hồi qui Tobit. Kết quả
ước lượng trong mô hình hồi quy Tobit về các
yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng NTM
đã được thể hiện ở Bảng 8. Giá trị LR khi bình
phương (với bậc tự do k = 10) ở cả ba khía cạnh
(toàn tỉnh, xã tiến chậm, xã tiến nhanh) đều lớn
hơn so với giá trị tra bảng ở mức ý nghĩa thống
kê 1%, giúp khẳng định rằng các tham số ước
lượng đều khác không và mô hình Tobit được
xây dựng là phù hợp.
Trong tổng số 10 yếu tố được đưa vào nghiên
cứu thì có 6 yếu tố không ảnh hưởng sự thay đổi
của tiến trình xây dựng NTM của 119 xã, bao
gồm nguồn lực Nhà nước, nguồn lực xã hội, kết
nối với đô thị hóa, giải quyết việc làm, xóa đói
giảm nghèo và bất cập của tiêu chí NTM. Ngược
lại, các yếu tố nền tảng của phát triển kết cấu
hạ tầng KT-XH, gia tăng giá trị sản xuất nông
nghiệp, đội ngũ cán bộ cơ sở và mức độ tham
gia của người dân tác động có ý nghĩa đến tiến
trình xây dựng NTM của các xã theo chiều hướng
Bảng 8. Kết quả ước lượng các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng NTM ở Đồng Tháp
Mô hình ước lượng tiến trình NTM
Tên biến
Toàn tỉnh
Nhóm xã tiến chậm Nhóm xã tiến nhanh
Hệ số
P>|t|
0,227
0,626
0,457
Hệ số
0,875
-0,043
-0,012
P>|t|
0,404
0,874
0,951
Hệ số
0,389
0,231
-0,181
P>|t|
0,213
0,403
0,436
Ngân sách Nhà nước
Nguồn lực xã hội
0,823
0,073
-0,087
Kết nối với đô thị hóa
Nền tảng của phát triển kết cấu
hạ tầng
0,495
0,391
0,000
0,007
0,748
1,461
0,000
0,060
0,789
0,614
0,000
0,010
Gia tăng giá trị sản xuất nông
nghiệp
Giải quyết việc làm
Xóa đói giảm nghèo
Đội ngũ cán bộ cơ sở
0,055
-0,009
0,889
0,541
0,932
0,000
0,234
0,131
1,367
0,881
0,473
0,000
0,132
-0,092
1,471
0,439
0,661
0,000
58
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61
Mức độ tham gia của người dân
Bất cập của tiêu chí NTM
Hằng số
0,164
-0,075
-0,337
10,127
191,97
0,000
0
0,100
0,230
0,014
-34,004
184,07
0,000
0
0,246
-0,008
-0,765
-37,057
169,17
0,000
65
0,205
0,424
0,002
0,344
-0,190
-1,127
0,100
0,211
0,000
Log likelihood
LR chi2(10)
Prob > chi2
Left-censored observations
Uncensored observations
Right-censored observations
119
65
54
0
54
0
Nguồn: Kết quả thu thập số liệu sơ cấp tại tỉnh Đồng Tháp, 2019.
Trong những yếu tố tác động đến mức độ Người dân ngày càng thể hiện vai trò chủ thể của
đạt tiêu chí NTM của cả hai nhóm xã tiến nhanh
và tiến chậm, yếu tố đội ngũ cán bộ cơ sở có sự
ảnh hưởng lớn nhất đến tốc độ hoàn thành các
tiêu chí NTM của các xã. Chất lượng đội ngũ
cán bộ cơ sở không chỉ thể hiện qua công tác
lãnh đạo, chỉ đạo mà còn hiệu quả thực hiện các
công việc trong Chương trình xây dựng NTM,
đặc biệt vận động sự tham gia hiệu quả của cộng
đồng địa phương. Kết quả phân tích đã hàm ý
rằng việc nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ
cán bộ cơ sở, tập trung phát triển kinh tế nông
nghiệp và phát huy tinh thần tham gia của người
dân là những nội dung, nhiệm vụ quan trọng
để thúc đẩy tiến trình xây dựng NTM của tỉnh
Đồng Tháp.
mình trong xây dựng NTM thông qua việc giám
sát thực hiện, đề xuất thực hiện công trình, phần
việc của mình, của địa phương và chủ động tham
gia thực hiện.
Tiến trình xây dựng NTM của tỉnh Đồng
Tháp theo chiều hướng tích cực, tốc độ đạt chuẩn
NTM trong giai đoạn 2016-2020 cao hơn so với
giai đoạn 2011-2015, gấp khoảng 2 lần; song
có sự khác biệt về kết quả đạt được các tiêu chí
NTM giữa nhóm xã tiến chậm và nhóm xã tiến
nhanh. Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa
2 nhóm xã về nối kết đô thị, tỷ lệ hộ nghèo, thu
nhập bình quân, vốn đầu tư xây dựng NTM của
Nhà nước,...
Tiến trình đạt được các tiêu chí NTM có
nhiều yếu tố ảnh hưởng; trong đó, các yếu tố về
nền tảng kết cấu hạ tầng KT-XH, gia tăng giá
trị sản xuất nông nghiệp, đội ngũ cán bộ cơ sở,
và mức độ tham gia của người dân tác động có
ý nghĩa và tác động tích cực, tạo nên sự thay
đổi và khác biệt về tiến trình xây dựng NTM
của 2 nhóm xã tiến nhanh và tiến chậm. Trong
đó, kết quả xây dựng NTM của nhóm xã tiến
nhanh chịu tác động của cả 4 yếu tố này mang
lại những lợi thế để hoàn thành các nhóm tiêu
chí NTM nhanh hơn so với nhóm xã tiến chậm
khi chỉ chịu tác động có ý nghĩa từ yếu tố đội
ngũ cán bộ cơ sở.
5. Kết luận và hàm ý chính sách
Sau gần môt thập kỷ triển khai và thực hiện
Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM
của tỉnh Đồng Tháp, diện mạo nông thôn thay
đổi thông qua kết cấu hạ tầng được xây dựng,
phục vụ tốt hơn nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của
người dân nông thôn. Cảnh quan môi trường
nông thôn được cải thiện; đời sống vật chất và
tinh thần của người dân nông thôn được nâng
cao. Các chỉ số về thu nhập bình quần đầu, tỷ
lệ hộ giảm nghèo, tham gia bảo hiểm y tế và hộ
dân sử dụng nước hợp vệ sinh đều được cải thiện.
Chương trình nhận được sự quan tâm, sự đồng
thuận tham gia tích cực, đông đảo của người dân.
59
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tài liệu tham khảo
Ngoài việc nâng cao vai trò của đội ngũ
cán bộ cán bộ ở cơ sở tại các địa phương rất
cần đến sự tập trung chỉ đạo về phát triển kinh
tế nông nghiệp và phát huy tinh thần tham gia
của người dân, nội lực tại chỗ của địa phương
để thúc đẩy tiến trình xây dựng NTM giữa các
xã đồng đều, hiệu quả hơn; làm nền tảng vững
chắc cho giai đoạn tiếp theo. Để thúc đẩy tiến
trình và nâng cao hiệu quả chương trình xây
dựng NTM trong thời gian tới của tỉnh Đồng
Tháp nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung, một
số đề xuất bao gồm:
BCĐ CTMTQG. (2020). Báo cáo Tổng kết 10
năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc
gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020
(Báo cáo số 02/BC-BCDCTMTQG).
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2019).
Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM vùng
Đông Nam Bộ và ĐBSCL, định hướng thực
hiện giai đoạn sau năm 2020.
Bùi Văn Trịnh, Dương Hồng Thúy. (2018). Sự hài
lòng của người dân đối với việc xây dựng
NTM: Trường hợp cụ thể tại xã Hưng Phú,
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Phát
triển và Hội nhập, 43.
- Đánh giá, nhận định đúng quá trình thực
hiện Chương trình xây dựng NTM của các địa
phương thông qua tiến trình đạt được các tiêu chí
NTM theo từng nhóm xã; đánh giá cụ thể hiện
trạng và nhận diện những yếu tố tác động ở chiều
hướng thúc đẩy hay hạn chế của tiến trình xây
dựng NTM của từng đối tượng xã để làm cơ sở
hoạch định lộ trình, giải pháp và cơ chế, chính
sách hỗ trợ phù hợp hơn.
Chính phủ. (2009). Quyết định số 491/QĐ-TTg
ngày 16/04/2009, hiện nay đã được thay
thế bằng Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày
17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã NTM.
Chính phủ. (2010). Quyết định số 800/QĐ-TTg
ngày 04/06/2010 phê duyệt Chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai
đoạn 2010 - 2020.
- Tập trung các giải pháp nâng cao năng
lực và vai trò lãnh đạo, điều hành và hoạt động
của đội ngũ cán bộ cơ sở cả về số lượng và chất
lượng; đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của
KT-XH ngày càng cao trong bối cảnh thích ứng
với thay đổi điều kiện tự nhiên và KT-XH, đặc
biệt kinh tế hội nhập.
Chính phủ. (2016a). Quyết định số 1980/QĐ-TTg
ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ
ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng
xã NTM.
- Triển khai và thực hiện đồng bộ các giải
pháp thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức
sống cho người dân để phát huy vai trò chủ thể,
tinh thần chung tay xây dựng NTM từ nội lực của
địa phương hơn là chú trọng, trông chờ vào sự hỗ
trợ của cấp trên từ nguồn lực Nhà nước. Bởi lẽ,
mục đích xây dựng NTM là nâng cao đời sống
của người dân nông thôn, chủ thể của Chương
trình chính là người dân, gắn kết trực tiếp đời
sống sinh kế của người dân. Do vậy, sự phát triển
của NTM gắn chặt với sự thay đổi nhận thức của
chính quyền địa phương và tư duy tự chủ, tự vươn
lên của người dân nông thôn./.
Chính phủ. (2016b). Quyết định số 1600/QĐ-
TTg ngày 16/8/2016 Phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai
đoạn 2016-2020.
Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp. (2020). Niên giám
thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2019.
Dower. (2004). Bộ Cẩm nang Đào tạo và Thông
tin về Phát triển nông thôn toàn diện. Đặng
Hữu Vĩnh (dịch) và Vũ Trọng Khải (hiệu
chỉnh).NXB Nông nghiệp.
Hồ Vũ Linh Đan. (2015). Đánh giá sự tham gia
của người dân trong xây dựng NTM ở xã
Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
60
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61
Luận văn tốt nghiệp Cao học ngành Phát Tỉnh ủy Đồng Tháp. (2011). Nghị quyết số 02-
triển nông thôn. Trường Đại học Cần Thơ.
NQ/TU ngày 23 tháng 5 năm 2011 của Ban
Chấp hành Đảng bộ Tỉnh về xây dựng NTM
tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2015.
Huỳnh Phẩm Dũng Phát, Nguyễn Đình Văn,
Nguyễn Thị Khánh Thi. (2017). Thực trạng
và giải pháp phát triển NTM ở tỉnh Cà Mau. Trung ương Đảng. (2008). Nghị quyết số 26-NQ/
Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh.
TW ngày 05/08/2008 của Trung ương Đảng
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác
định mục tiêu xây dựng NTM.
Lê Cảnh Dũng, Võ Văn Tuấn và Nguyễn Văn
Sánh. (2015). Nguyên lý phát triển nông UBND tỉnh Đồng Tháp. (2020). Báo cáo tổng
thôn. NXB Đại học Cần Thơ.
kết 10 năm (2010 - 2020) thực hiện Chương
trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM (Báo
cáo số 288/BC-UBND.HC).
Lê Thị Loan. (2015). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn để xây dựng NTM ở
Thanh Hóa. Tạp chí Khoa học. Trường Đại Văn phòng Điều phối Trung ương. (2019). Báo
học Hồng Đức, Số đặc biệt 11.
cáo thống kê kết quả thực hiện Bộ tiêu chí
Quốc gia về xã NTM đến năm 2019.
Nguyễn Thùy Trang, Võ Hồng Tú, Trương Thảo
Nhi. (2016). Đánh giá tác động của chương Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng. (2015). Phân
trình xây dựng NTM đến thu nhập nông hộ
tại tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Đại
học Cần Thơ, 46d, 116-121.
tích sinh kế: Lý tuyết và thực tiễn. NXB Đại
học Cần Thơ.
Waas, T., Hugé, J. Verbruggen,A. and Wright, T.
(2011). Sustainable Development: A Bird’s
Eye View. Sustainability 2011, 3, 1637-
1661; doi:10.3390/su3101637.
Nguyễn Văn Hùng. (2015). Xây dựng NTM trong
phát triển KT-XH ở tỉnh Bắc Ninh. Luận án
tiến sĩ Kinh tế. Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh.
61
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Đồng Tháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_cac_yeu_to_tac_dong_den_tien_trinh_xay_dung_nong_t.pdf

