Phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Đồng Tháp

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61  
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TIẾN TRÌNH  
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA TỈNH ĐỒNG THÁP  
Nguyễn Thị Mỹ Hưng1 và Võ Văn Tuấn2*  
1Chi cục Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp  
2Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ  
*Tác giải liên hệ: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Nhận ngày: 10/11/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 21/12/2020; Ngày duyệt đăng: 25/01/2021  
Tóm tắt  
Xây dựng nông thôn mới đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt cải  
thiện sinh kế, ở vùng nông thôn; do vậy, xác định các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng nông  
thôn mới trở nên cần thiết. Nghiên cứu “Phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng nông  
thôn mới của tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm đề xuất giải pháp thúc đẩy tiến trình đạt được  
các tiêu chí Nông thôn mới hiệu quả hơn để tiến đến xây dựng xã nông thôn mới nâng cao, kiểu  
mẫu. Cả số liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng cho nghiên cứu này; trong đó, số liệu sơ cấp được  
thu thập thông qua phỏng vấn cấu trúc đại diện của lãnh đạo 119 xã và phỏng vấn bán cấu trúc  
lãnh đạo cấp tỉnh, 12 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Các phương pháp phân  
tích số liệu bao gồm thống kê mô tả và kiểm định Independent Samples T-Test của 2 nhóm xã tiến  
nhanh và tiến chậm, và mô hình hồi quy Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng tốc độ đạt tiêu chí  
nông thôn mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa nhóm xã tiến chậm và tiến nhanh  
về kết quả tiêu chí đạt được, nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và hoàn thành các nhóm tiêu chí. Các  
yếu tố về hạ tầng kinh tế - xã hội, gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, đội ngũ cán bộ cơ sở, tham  
gia của người dân có tác động tích cực và có ý nghĩa tiến trình xây dựng nông thôn mới của nhóm  
xã tiến nhanh trong khi đó chỉ có yếu tố đội ngũ cán bộ cơ sở ảnh hưởng nhóm xã tiến chậm. Giải  
pháp được đề xuất là cần ưu tiên cho giải pháp nâng cao năng lực và vai trò của đội ngũ cán bộ ở  
cơ sở, tập trung chỉ đạo về phát triển kinh tế nông nghiệp và phát huy tinh thần tham gia của người  
dân, và sử dụng nội lực tại chỗ để thúc đẩy tiến trình xây dựng nông thôn mới.  
Từ khóa: Đồng Tháp, hồi qui Tobit, tiêu chí nông thôn mới, xây dựng nông thôn mới, yếu tố  
tác động.  
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
47  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
ASSESSING FACTORS INFLUENCING THE PROCESS OF  
NEW RURAL CONSTRUCTION IN DONG THAP PROVINCE  
Nguyen Thi My Hung1 and Vo Van Tuan2*  
1Rural Development Department of Dong Thap Province  
2Mekong Delta Devlopment Research Institute, Can Tho University  
*Corresponding author: [email protected]u.vn  
Article history  
Received:10/11/2020; Received in revised form:21/12/2020; Accepted: 25/01/2020  
Abstract  
New rural construction plays an important role in socio-economic development, especially  
livelihood enhancements, in rural areas; therefore, determining factors affecting this construction  
process is necessary. The research, namely "Assessing factors affecting the process of new rural  
construction in Dong Thap province" was conducted to propose solutions for the process better  
achieving the New Rural Area indicators, leading to further constructing typically new advanced  
rural communes. Both secondary and primary data were used for the study, of which primary  
data was collected through structured questionnaire interviews with representative leaders of 119  
communes and the semi-structured with representative leaders at the provincial level, 12 districts,  
towns, and cities in Dong Thap province. Data analysis methods were descriptive statistics and  
Independent Samples t-test for mean comparisons between the faster achieving commune group and  
the slower one; and Tobit regression model used to identify major factors affecting the achieving  
process of new rural commune indicators. Research results show that there is a significant difference  
between the two target groups in terms of the number of achieved indicators, funded amount  
from goverments, and indicator completion. Factors about rural infrastructure, added value in  
agricultural production, grassroot staffs, and rural residents’ participation affect significantly the  
speeding achievement of new rural construction among the faster group while only the grassroot  
staff significantly influenced the slower group. Therefore, proposed sulutions are priorly enhancing  
the role and human capacity resource at grassroot level, focally guiding the agricultural economy  
development, promoting residents’participation, and utilizing local resources to speed up the process  
of new rural construction.  
Keywords: Dong Thap, factor, indicators, new rural construction, Tobit regression.  
48  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61  
1. Đặt vấn đề  
ngày 27/4/2020, cả nước đã có 5.064 xã (57%)  
đã được công nhận đạt chuẩn NTM, vượt 7% so  
mục tiêu 10 năm (2010-2020), bình quân cả nước  
đạt 15,7 tiêu chí/xã và không còn xã đạt dưới 5  
tiêu chí (BCĐ CTMTQG, 2020).  
Phát triển nông thôn được nhiều quốc gia  
trên thế giới quan tâm, là tiến trình thay đổi có chủ  
đích về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường,  
nhằm hướng đến cải thiện môi trường sống và  
sinh kế của người dân nông thôn (Lê Cảnh Dũng  
và cs., 2015). Xây dựng nông thôn mới (NTM)  
gắn với phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã  
hội (KT-XH) nông thôn đã trở thành chủ trương,  
chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia trên thế  
giới, nhằm rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo,  
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân  
nông thôn. Điển hình xây dựng NTM trên thế  
giới có các mô hình nổi bật như “Làng mới” của  
Hàn Quốc, “Mỗi làng một sản phẩm” của Nhật  
Bản hay chính sách “Tam Nông” của Trung Quốc  
trong những thập niên qua, trở thành những bài  
học quý báu cho thấy vai trò quan trọng của xây  
dựng NTM trong phát triển KT-XH nông thôn.  
Ở Việt Nam, Chương trình xây dựng NTM đã có  
chủ trương của Trung ương Đảng từ năm 2008  
(Trung ương Đảng, 2008) và được Chính phủ ra  
quyết định phê duyệt và triển khai Chương trình  
mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM trên toàn  
quốc từ năm 2010 (Chính phủ, 2010).  
Riêng tỉnh Đồng Tháp, đầu năm 2011 Tỉnh  
ủy đã ban hành Nghị quyết về xây dựng NTM  
trên địa bàn tỉnh (Tỉnh ủy Đồng Tháp, 2011), giai  
đoạn 2011-2015 đã chọn ra 30 xã và giai đoạn  
2016-2020 tiếp tục chọn 37 xã trong tổng số 119  
xã làm điểm để tập trung chỉ đạo, phối hợp liên  
ngành tổ chức thực hiện, tuyên truyền nhiệm vụ  
thực hiện tiêu chí NTM, trong đó xác định nâng  
cao thu nhập của người dân nông thôn là ưu tiên  
hàng đầu. Qua chín năm thực hiện Chương trình  
gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, giải quyết  
việc làm, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở  
nước ngoài và giảm nghèo bền vững, tập trung  
ưu tiên nguồn lực và phát huy cơ chế Nhà nước  
và nhân dân cùng làm. Tỉnh Đồng Tháp đã huy  
động trên 97.300 tỷ đồng để đầu tư cho các địa  
phương xây dựng NTM, với hơn 90% vốn huy  
động từ ngoài ngân sách Nhà nước; nhiều mô  
hình hay, nổi bật cũng được thực hiện và nhân  
rộng nhằm dồn toàn lực xây dựng thành công mô  
hình xây dựng NTM. Tuy nhiên, việc triển khai  
Chương trình thực tế chưa có sự đồng đều, tương  
đối chậm, tốc độ đạt tiêu chí NTM bình quân  
hàng năm chỉ đạt 1,5 tiêu chí (xã đạt cao nhất là  
4,3 tiêu chí/năm và thấp nhất là 0,3 tiêu chí/năm).  
Đến cuối năm 2019, toàn tỉnh có 55/119 xã được  
công nhận đạt chuẩn NTM (đạt 46,21%), trong  
đó 43/67 xã điểm đạt chuẩn theo kế hoạch (đạt  
64,18%), 64 xã còn lại đạt từ 12 tiêu chí trở lên  
(UBND Đồng Tháp, 2020).  
Sau hơn chín năm triển khai Chương trình  
xây dựng NTM, với sự nỗ lực của cả hệ thống  
chính trị các cấp và sự hưởng ứng của nhân dân,  
khu vực nông thôn của nước ta đã có những thay  
đổi rõ nét trên hầu hết mọi lĩnh vực (Ban Chỉ  
đạo Chương trình Trung ương các Chương trình  
mục tiêu Quốc gia (BCĐ CTMTQG), 2020).  
Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng  
công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình  
thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới. Kết cấu  
hạ tầng KT-XH được tăng cường; đời sống vật  
chất và tinh thần của dân cư nông thôn được cải  
thiện; xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt. Hệ  
thống chính trị ở nông thôn được củng cố và  
tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; an  
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ  
vững. Theo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện  
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM  
giai đoạn 2010-2020 của Trung ương ký ban hành  
Do vậy, việc đánh giá cụ thể hiện trạng và  
xác định các yếu tố tác động đến tiến trình xây  
dựng NTM là rất cần thiết, nhằm làm cơ sở đưa  
ra các giải pháp thúc đẩy tiến trình đạt được các  
tiêu chí NTM tương xứng với tiềm năng, lợi thế  
của địa phương và giúp nâng cao hiệu quả chương  
trình xây dựng NTM trong thời gian tới để tiến  
đến xây dựng xã NTM nâng cao, kiểu mẫu. Vì  
vậy, nghiên cứu “Phân tích các yếu tố tác động  
49  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
đến tiến trình xây dựng NTM của tỉnh Đồng và lĩnh vực, (iv) phát triển vùng và nhóm xã hội,  
Tháp” được thực hiện nhằm bổ sung giải pháp (v) phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội,  
thiết thực thúc đẩy tiến trình xây dựng NTM ở (vi) phát triển định hướng công nghiệp hóa, (vii)  
Đồng Tháp nói riêng và ĐBSCL nói chung.  
phát triển định hướng độ thị hóa, và (viii) phát  
triển nông thôn tổng hợp.  
2. Tổng quan lý thuyết  
Phát triển nông thôn ở Việt Nam đang áp  
dụng mô hình phát triển nông thôn tổng hợp thể  
hiện qua việc bao quát đa dạng các khía cạnh,  
bao gồm quy hoạch, phát triển hạ tầng KT-XH, tổ  
chức sản xuất và dịch vụ, cải thiện văn hóa - xã  
hội và môi trường và an ninh trật tự (Chính phủ,  
2016a). Phát triển NTM ở Việt Nam đã được đúc  
kết từ các bài học kinh nghiệm phát triển nông  
thôn trên thế giới và bối cảnh phát triển KT-XH  
hiện nay, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu nông  
nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế.  
2.1. Tiếp cận phát triển nông thôn  
Nông thôn có vai trò rất quan trọng đối  
với một quốc gia trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã  
hội và môi trường. Vì thế, phát triển nông thôn  
bền vững được hầu hết các quốc gia đang phát  
triển quan tâm vì khu vực này đóng góp chính  
về nguồn lực lao động, tài nguyên và sinh cảnh  
nông thôn, sản xuất lương thực thực phẩm, và  
nơi tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và dịch vụ và  
định cư của đa số các dân tộc thiểu số (Lê Cảnh  
Dũng và cs., 2015). Tuy vậy, nông thôn cũng là  
nơi đối mặt với nhiều thử thách về dân trí thấp,  
nghèo đói và bất bình đẳng xã hội, cơ sở hạ tầng  
2.2. Xây dựng NTM trên thế giới  
Xây dựng NTM được nhiều quốc gia trên thế  
yếu kém, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi giới thực hiện với các mô hình nổi bật như “Làng  
trường nông nghiệp,…  
mới” (Saemaul Udong) của Hàn Quốc, “Mỗi làng  
một sản phẩm” (One Commune One Product -  
OCOP) của Nhật Bản, “Xí nghiệp hương trấn”  
của Trung Quốc, hay “Những người kiểu mẫu”  
của Thụy Điển,… là những bài học kinh nghiệm  
cho nhiều nước áp dụng để phát triển KT-XH  
nông thôn, đặc biệt là sinh kế của người dân địa  
phương. Tùy đặc thù riêng của từng quốc gia,  
các mô hình xây dựng NTM được xây dựng hay  
điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh đất nước  
của họ, nhằm khơi dậy tinh thần và nguồn lực  
của người dân địa phương, tạo ra sự phát triển  
có định hướng. Đặc điểm chung của các mô hình  
xây dựng NTM trên thế giới bao gồm tự đánh  
giá nhu cầu và ra quyết định trong xây dựng kế  
hoạch hành động hay các dự án phát triển của  
cộng đồng; hình thành và đào tạo đội ngũ lãnh  
đạo địa phương cho các hoạt động phát triển;  
chính sách hỗ trợ của chính quyền nhằm kích  
thích tinh thần và sự tham gia của người dân; và  
phát triển bền vững dựa vào nguồn lực của địa  
phương (Dower, 2004).  
Phát triển nông thôn bền vững là một tiến  
trình làm thay đổi nông thôn, giải quyết các vấn  
đề bức thiết của nông thôn trên cơ sở quan tâm  
và hài hòa các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi  
trường và định chế phát triển (Lê Cảnh Dũng và  
cs., 2015; Wass et al., 2011). Tiếp cận này nhấn  
mạnh đến sự phát triển bền vững, trong đó tăng  
trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và  
công bằng xã hội, khai thác hợp lý và sử dụng  
tiết kiệm nguồn tài nguyên, và xây dựng định chế  
phát triển nông thôn có hiệu quả. Như vậy, phát  
triển nông thôn bền vững là một quá trình thay  
đổi bền vững có chủ đích về xã hội, kinh tế, văn  
hóa và môi trường nông thôn, nhằm nâng cao chất  
lượng đời sống của người dân (Dower, 2004).  
Xây dựng NTM cùng với các tiêu chí đo  
lường để đánh giá tiến trình xây dựng NTM  
hướng đến hỗ trợ tiến trình phát triển nông thôn  
bền vững. Tùy vào bối cảnh phát triển KT-XH  
trong và ngoài nước, có nhiều cách tiếp cận phát  
triển nông thôn đã và đang được các quốc gia trên  
thế giới sử dụng (Lê Cảnh Dũng và cs., 2015),  
bao gồm các tiếp cận (i) tái thiết nông thôn, (ii)  
2.3. Xây dựng NTM ở Việt Nam  
Mục tiêu của Chương trình quốc gia về xây  
phát triển cộng đồng, (iii) phát triển theo ngành dựng NTM là “Xây dựng NTM có kết cấu hạ  
50  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61  
tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế KT-XH và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần  
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn  
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,  
dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo  
quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định,  
giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh  
thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững;  
đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày  
càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ  
nghĩa” (Chính phủ, 2010; 2016b).  
của cộng đồng nông thôn. Đạt được các tiêu chí  
xây dựng NTM được thúc đẩy hay cản trở của  
nhiều yếu tố liên quan đến người dân và cán bộ  
địa phương, nguồn lực hỗ trợ, phát triển cơ sở hạ  
tầng, tổ chức sản xuất và phát triển sinh kế cho  
cộng đồng dân cư.  
Sự tham gia và tự chủ ra quyết định của cộng  
đồng địa phương trong các hoạt động phát triển  
tác động đến sự nhiệt tình và phù hợp với mong  
muốn của cộng đồng dân cư (Hồ Vũ Linh Đan,  
2015; Bộ NN&PTNT, 2019). Thực tế các hoạt  
động phát triển cộng đồng và xây dựng NTM  
cho thấy cần có các dự án cơ sở hạ tầng hay hoạt  
động phát triển để lôi kéo cộng đồng địa phương  
cùng tham gia. Các hoạt động phát triển hạ tầng  
kinh tế kỹ thuật và sinh kế địa phương cần được  
khuyến khích bởi các nguồn lực đầu tư từ bên  
ngoài nhằm kích thích và khơi dậy nguồn lực xã  
hội trong cộng đồng (Nguyễn Văn Hùng, 2015;  
Hồ Vũ Linh Đan, 2015; Bộ NN&PTNT, 2019).  
Khi người dân địa phương tiếp cận được hạ tầng  
KT-XH sẽ tạo điều kiện cho họ tổ chức và thực  
hiện các hoạt động sản xuất và dịch vụ (Nguyễn  
Văn Hùng, 2015; Nguyễn Thùy Trang và cs.,  
2016). Tổ chức sản xuất qui mô nhỏ và dịch vụ  
nông thôn không chỉ góp phần nâng cao thu nhập  
của người dân mà còn hỗ trợ thay đổi cơ cấu thu  
nhập của kinh tế địa phương (Lê Thị Loan, 2015;  
Nguyễn Văn Hùng, 2015; Huỳnh Phẩm Dũng  
Phát và cs., 2017). Một nhân tố rất quan trọng  
được nhiều nghiên cứu chỉ ra là nguồn lực của đội  
ngũ cán bộ cơ sở vì họ là một bên liên quan thiết  
yếu trong tất cả các hoạt động phát triển của cộng  
đồng (Nguyễn Văn Hùng, 2015; Huỳnh Phẩm  
Dũng Phát và cs., 2017; Bộ NN&PTNT, 2019).  
Các nhân tố ảnh hưởng lý thuyết trên đây sẽ được  
xem xét trong bối cảnh thực tiễn xây dựng NTM  
của tất cả các xã của tỉnh Đồng Tháp.  
Tiến trình xây dựng xã NTM được đo lường  
bằng Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM, là căn cứ  
để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu  
quốc gia về xây dựng NTM; chỉ đạo thí điểm  
xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá  
công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM (Chính phủ,  
2009). Bộ tiêu chí bao gồm 19 tiêu chí, được chia  
thành 5 nhóm (qui hoạch, hạ tầng KT-XH, kinh  
tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi  
trường, và hệ thống chính trị) và sẽ được điều  
chỉnh phù hợp với điều kiện KT-XH của đất nước  
từng thời kỳ; tùy điều kiện mà chỉ tiêu áp dụng  
cho từng vùng được quy định cao hoặc thấp hơn  
quy định chung.  
Thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam đã  
đúc kết được 4 bài học kinh ngiệm, làm cơ sở  
cho xây dựng NTM nâng cao, kiểu mẫu (Bộ  
NN&PTNT, 2019), bao gồm (i) quan tâm và  
chỉ đạo của Đảng và Chính quyền các cấp, đặc  
biệt cấp cơ sở; (ii) phát huy sự tham gia và vai  
trò tự lực, tự cường của cán bộ và nhân dân địa  
phương; (iii) khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có  
của địa phương về điều kiện tự nhiên, nguồn lực  
và nhân lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và  
phát triển hạ tầng kinh tế - kỹ thuật bên cạnh đầu  
tư kích thích từ bên ngoài cộng đồng; và (iv) xây  
dựng và nâng cao năng lực cán bộ và lãnh đạo  
cơ sở liên quan xây dựng NTM.  
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến đạt được  
các tiêu chí NTM  
Bối cảnh KT-XH thay đổi có thể tác động  
cả tích cực và tiêu cực tiến trình xây dựng NTM  
và cũng có thể phát sinh các nhân tố mới ảnh  
hưởng đến tiến trình đạt được các tiêu chí NTM.  
Các khía cạnh xây dựng NTM có mối liên hệ  
Đạt được các tiêu chí NTM là mục tiêu của  
chính quyền các cấp không chỉ hướng đến đạt  
chuẩn xã NTM mà còn kỳ vọng cải thiện hạ tầng  
51  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
với nhau, việc đạt được một số tiêu chí có thể chậm để khám phá các khác biệt và giống nhau  
về nguồn lực và đặc điểm cơ bản, đồng thời chỉ  
ra các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình đạt được  
tiêu chí NTM của hai nhóm xã này.  
tác động thúc đẩy đạt được các tiêu chí khác; do  
vậy, các tương tác về cải thiện tài sản sinh kế của  
người dân và tác động từ bên ngoài đối với sinh  
kế được thảo luận qua tiếp cận sinh kế bền vững.  
Trong tiếp cận sinh kế bền vững này, chiến lược  
sinh kế của người dân nông thôn chịu sự hỗ trợ  
của các tài sản sinh kế mà họ có, chịu tác động  
của chính sách của Nhà nước, các định chế xã  
hội nông thôn và bối cảnh tác động của yếu tố  
tự nhiên và KT-XH từ bên ngoài (Võ Văn Tuấn  
và Lê Cảnh Dũng, 2015).  
Số liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng cho  
nghiên cứu này. Số liệu thứ cấp được thu thập từ  
các văn bản pháp luật liên quan, niên giám thống  
kê các cấp, báo cáo của UBND các cấp và các ban  
ngành liên quan, cùng với xuất bản khoa học các  
thể loại. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua  
các công cụ định tính (phỏng vấn nhóm người  
am hiểu - KIP) và định lượng (điều tra bằng bảng  
câu hỏi cấu trúc). Phỏng vấn KIP giúp hiểu tổng  
quan về xây dựng NTM và bổ sung thêm các  
yếu tố lý thuyết có khả năng ảnh đến tiến trình  
xây dựng NTM. Điều tra bằng bảng câu hỏi cấu  
trúc thu thập thông tin bổ sung về các thông số  
có khả năng ảnh hưởng đến tiến trình xây dựng  
NTM, bên cạnh các số liệu thứ cấp của tất cả các  
xã nghiên cứu.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Mặc dù còn nhiều khó khăn, tỉnh Đồng Tháp  
được đánh giá là một trong những địa phương  
tiêu biểu của vùng ĐBSCL và cả nước về thực  
hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng  
NTM. Đồng Tháp liên tục đứng ở tốp đầu về Chỉ  
số năng lực cạnh tranh cấp Tỉnh (PCI) từ 2017; có  
nhiều mô hình hay trong xây dựng NTM, chẳng  
hạn như Hội quán, Nhà nước cấp vật tư - người  
dân đóng góp ngày công lao động, “Cây xoài  
nhà tôi”, “Canh tác lúa thông minh”, “Ruộng nhà  
mình”, du lịch cộng đồng,… Do đó, tỉnh Đồng  
Tháp được chọn làm điểm nghiên cứu để tiến  
hành phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình  
xây dựng NTM cụ thể của một địa phương, làm  
đại diện để xem xét trên diện rộng đối với các địa  
phương khác trong vùng với những điểm tương  
đồng về điều kiện tự nhiên và KT-XH.  
Công cụ phân tích bao gồm thống kê mô tả,  
kiểm định sự khác biệt trung bình của 2 nhóm  
xã tiến nhanh và tiến chậm và mô hình hồi qui  
Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tốc  
độ đạt được tiêu chí NTM. Thống kê mô tả và  
kiểm định t (t-test) được sử dụng để mô tả các  
đặc điểm cơ bản và kiểm định sự khác biệt trung  
bình của 2 nhóm xã tiến nhanh và tiến chậm. Tốc  
độ đạt được các tiêu chí NTM bình quân hàng  
năm của các xã bị chặn từ 0 đến 1 khi các giá trị  
của biến phụ thuộc Y (tốc độ đạt tiêu chí NTM)  
và các biến độc lập Xi được chuẩn hóa. Do vậy,  
mô hình hồi qui Tobit được sử dụng để xác định  
các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ đạt các tiêu chí  
NTM bình quân hàng năm. Số liệu được sử dụng  
cho mô hình hồi qui Tobit để xác định các yếu  
tố ảnh hưởng tốc độ đạt tiêu chí NTM được thu  
thập từ số liệu thứ cấp và sơ cấp và ở các dạng  
định tính (thang đo) và định lượng (Bảng 1). Do  
vậy, các dạng số liệu khác nhau sẽ được chuẩn  
hóa về khoảng [0,1] trước khi phân tích. Công  
thức chuẩn hóa số liệu có dạng: V‘=(Vi-Vmin)/  
(Vmax-Vmin). Trong đó, V‘ và giá trị đã chuẩn hóa;  
Tại Đồng Tháp, từ khi thực hiện Chương  
trình xây dựng NTM năm 2011 đến năm 2019,  
số tiêu chí đạt bình quân mỗi xã là 16,7; và tốc  
độ hoàn thành tiêu chí NTM bình quân hàng năm  
là 1,5 (UBND Đồng Tháp, 2019), tương ứng với  
tốc độ đạt tiêu chí NTM bình quân hàng năm mỗi  
xã ở ĐBSCL. Do vậy, trong nghiên cứu này, các  
xã tham gia xây dựng NTM của tỉnh Đồng Tháp  
được chia thành 2 nhóm để đánh giá, bao gồm  
54 xã (chiếm 45,4%) có tốc độ đạt tiêu chí NTM  
bình quân hàng năm ≥ 1,5 (gọi là nhóm xã tiến  
nhanh) và 65 xã (chiếm 54,6%) có tốc độ đạt  
tiêu chí NTM hàng năm < 1,5 (gọi là nhóm xã  
tiến chậm). Sự chia nhóm xã tiến nhanh và tiến  
V là giá trị quan sát thứ i; và Vmax và Vmin là giá  
i
trị lớn nhất và nhỏ nhất của 1 biến quan sát.  
52  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61  
Trong mô hình hồi quy Tobit, biến phụ thuộc (Bảng 1). Các biến lý thuyết có khả năng ảnh  
Ylà tốc độ đạt tiêu chí NTM bình quân hàng năm hưởng đến tiến trình xây dựng NTM được rút  
nhận giá trị ở trong đoạn [0,1].  
Mô hình hồi quy Tobit có dạng:  
Y* = α0 + ∑n α1*Xi + ∑k βi*Xi + ε  
ra từ các nghiên cứu liên quan, các bài học kinh  
nghiệm xây dựng NTM (Bộ NN&PTNT, 2019),  
phỏng vấn những người am hiểu về xây dựng  
NTM và kinh nghiệm phân tích chuyên gia. Giá  
trị ε sai số ngẫu nhiên; và n là tổng thể quan sát,  
i là quan sát thứ i.  
i=1  
j=1  
Y*, Y* > 0  
Y =  
0, Y* ≤ 0  
Trên cơ sở tiếp cận lý luận và thực tiễn trong  
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây  
dựng NTM đã được các địa phương và các nhà  
khoa học nghiên cứu đánh giá, phân tích ở các  
khía cạnh khác nhau, đề tài nghiên cứu xây dựng  
các yếu tố lý thuyết có tác động đến tiến trình đạt  
được các tiêu chí NTM của các nhóm xã trên địa  
bàn vùng nghiên cứu.  
Trong đó, Y* là tốc độ đạt tiêu chí NTM bình  
quân hàng năm được ước lượng bằng phương  
pháp Ước lượng hợp lý cực đại MLE (Maximum  
Likelihood Estimation method). Y là tốc độ đạt  
tiêu chí NTM bình quân hàng năm của các xã  
được quan sát, Xi, và Xj là các biến giải thích  
Bảng 1. Các yếu tố lý thuyết có tác động đến tiến trình xây dựng NTM  
Ký  
hiệu  
Đơn vị tính  
Triệu đồng  
Triệu đồng  
Diễn giải  
Nguồn thu thập số liệu  
Ngân sách Nhà nước (phần kinh phí đầu Báo cáo về Chương trình NTM của tỉnh  
tư trực tiếp cho các xã xây dựng NTM) và 12 đơn vị huyện  
X1  
X2  
Nguồn lực xã hội (kinh phí đóng góp của Báo cáo về Chương trình NTM của tỉnh  
dân, các tổ chức xã hội xây dựng NTM) và 119 xã  
Thang đo  
Likert 5  
mức độ  
Kết nối với đô thị (khả năng tiếp cận của  
xã về cơ hội việc làm, hạ tầng đô thị và Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã  
khu/cụm công nghiệp tiếp giáp)  
X3  
X4  
Nền tảng của phát triển kết cấu hạ tầng  
Tiêu chí đạt (hiện trạng hạ tầng nông thôn theo tiêu Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã  
chí xã NTM lúc khởi điểm)  
Gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp (tốc  
độ gia tăng giá trị sản phẩm thu được  
trên 1 ha đất trồng trọt và mặt nước nuôi  
thủy sản)  
X5 Triệu đồng/ha  
Niên giám thống kê của 12 đơn vị huyện  
Thang đo  
Giải quyết việc làm (hiệu quả của công  
X6  
X7  
X8  
Likert 5  
mức độ  
tác giới thiệu và tạo việc làm cho lao Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã  
động trên địa bàn xã hàng năm)  
Xóa đói giảm nghèo (hiệu quả của giảm  
Niên giám thống kê của 12 đơn vị huyện  
tỷ lệ hộ nghèo của xã hàng năm)  
%
Thang đo  
Likert 5  
mức độ  
Đội ngũ cán bộ cơ sở (công tác chỉ đạo  
và tổ chức thực hiện của toàn thể cấp ủy, Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã  
chính quyền và đoàn thể ở xã, ấp)  
53  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Thang đo  
Likert 5  
mức độ  
Mức độ tham gia của người dân vào các  
hoạt động thực hiện tiêu chí NTM tại Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã  
xóm, ấp  
X9  
Thang đo  
Likert 5  
mức độ  
Bất cập trong quy định Bộ tiêu chí xã  
NTM (những khó khăn, không phù hợp Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tại 119 xã  
của quy định tiêu chí so với thực tế)  
X10  
4. Kết quả thảo luận  
tiêu chí, và 47 xã đạt từ 12 đến 15 tiêu chí. Số xã  
đạt chuẩn NTM của Đồng Tháp đạt tỷ lệ 46,2%,  
đứng hàng thứ 7 so với các tỉnh khác của vùng  
ĐBSCL trong khi số tiêu chí bình quân/xã đạt  
16,4% cao hơn so với vùng ĐBSCL (15,4%) và  
cả nước (15,3%); không còn xã đạt dưới 10 tiêu  
chí (Văn phòng Điều phối Trung ương, 2020).  
4.1. Đánh giá thực trạng tiến trình xây  
dựng NTM tại tỉnh Đồng Tháp  
Tỉnh Đồng Tháp có 144 xã, phường và thị  
trấn, trong đó có 119 xã tham gia xây dựng xã  
NTM. Bảng 2 cho thấy đến cuối năm 2019, tỉnh  
có 55 xã đạt chuẩn NTM, 17 xã đạt từ 16 đến 18  
Bảng 2. Kết quả xây dựng NTM của Việt Nam, ĐBSCL và Đồng Tháp (cuối năm 2019)  
Tỷ lệ  
huyện  
đạt  
Tỷ lệ  
xã đạt  
chuẩn  
Tiêu chí Xã đạt Tỷ lệ xã Huyện  
Tổng  
số xã  
Xã đạt  
chuẩn  
Địa điểm  
đạt  
dưới 10 đạt <10  
đạt  
mỗi xã tiêu chí tiêu chí  
chuẩn  
chuẩn  
Cả nước  
8.902  
1.286  
119  
4.524  
563  
55  
50,8  
43,8  
46,2  
15,3  
15,4  
16,4  
1.276  
82  
14,3  
6,4  
89  
12  
1
16,4  
11,8  
11,1  
ĐBSCL  
Đồng Tháp  
0
0,0  
Nguồn: Văn phòng Điều phối Trung ương, 2020.  
Tại thời điểm bắt đầu thực hiện Chương chí/xã). Số xã được chọn làm điểm điển hình ở  
trình xây dựng NTM năm 2011 tại Đồng Tháp, số nhóm xã tiến nhanh cao hơn gấp đôi so với nhóm  
tiêu chí NTM đạt bình quân mỗi xã là 7,2; trong xã tiến chậm (Bảng 3). Các xã điểm xây dựng  
đó, nhóm xã tiến nhanh có khởi đầu cao hơn (7,6 NTM này thường được đầu tư tốt hơn về nguồn  
tiêu chí/xã) so với nhóm xã tiến chậm (6,8 tiêu lực cũng như quan tâm chỉ đạo.  
Bảng 3. Thực trạng khi bắt đầu xây dựng NTM và các xã điểm của tỉnh Đồng Tháp  
Số tiêu chí Số tiêu chí Số tiêu chí  
đạt nhiều đạt thấp đạt Trung điểm 2011 điểm 2011  
Số xã  
Tỷ lệ số xã  
Số xã  
quan sát  
Đối tượng  
Toàn tỉnh  
nhất/xã  
14  
nhất/xã  
bình/xã  
7,2  
- 2020  
67  
- 2020  
56,3  
119  
65  
3
3
4
Nhóm xã tiến chậm  
Nhóm xã tiến nhanh  
14  
6,8  
24  
36,9  
54  
12  
7,6  
43  
79,6  
Nguồn: UBND Đồng Tháp, 2020.  
Một số đặc điểm liên quan đến việc kết tiến trình xây dựng NTM được xem xét của  
nối đô thị, tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập bình quân hai nhóm xã tiến nhanh và tiến chậm vì chúng  
người dân và vốn hỗ trợ của Nhà nước cho có thể ảnh hưởng đến tốc độ đạt được các tiêu  
54  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61  
chí NTM. Bảng 4 chỉ ra rằng nhóm xã tiến tư nhưng khác biệt có ý nghĩa về nguồn vốn  
chậm có bất lợi hơn về kết nối đô thị nên có ngân sách đầu tư xây dựng NTM cho các xã.  
thể ảnh hưởng đến các hoạt động tạo thu nhập Nguồn vốn ngân sách đầu tư phát triển cơ sở  
cũng như thu nhập bình quân hàng năm của hạ tầng KT-XH có thể tạo điều kiện cho các  
người dân. Hai nhóm xã nghiên cứu không có hoạt động sinh kế, tạo thu nhập cho người dân  
sự khác biệt về nguồn lực xã hội về vốn đầu địa phương.  
Bảng 4. Đặc điểm và nguồn lực hỗ trợ xây dựng NTM (phân theo nhóm xã)  
Đặc điểm và  
nguồn lực hỗ trợ  
Nhóm xã tiến  
chậm (n=65)  
Nhóm xã tiến  
nhanh (n=54)  
Đơn vị tính  
P-value  
0,007  
Khoảng cách đô thị  
km  
14,6  
3,4  
10,6  
2,2  
Tỷ lệ hộ nghèo  
%
0,068  
0,000  
0,000  
0,292  
Thu nhập bình quân/người/năm  
Ngân sách Nhà nước  
Nguồn lực xã hội  
Triệu đồng  
Triệu đồng  
Triệu đồng  
36,0  
45,2  
55.107,7  
16.201,1  
103.578,2  
19.767,5  
Nguồn: Cục Thống kê Đồng Tháp, 2020, UBND Đồng Tháp, 2020.  
Sau chín năm thực hiện, tiến trình thực hiện tế và tổ chức sản xuất và Hệ thống chính trị và an  
đạt các nhóm tiêu chí NTM của tỉnh Đồng Tháp ninh trật tự), nhóm còn lại về “Văn hóa - xã hội -  
theo chiều hướng tăng dần; song có sự chênh lệch môi trường” cũng đạt 98,15% số xã. Ngược lại,  
giữa các nhóm tiêu chí, trong đó nhóm tiêu chí nhóm xã tiến chậm có tiến trình thực hiện không  
“Quy hoạch” đạt sớm 100% số xã trong những đồng đều; ngoại trừ tiêu chí về “Quy hoạch” đạt  
năm đầu của giai đoạn 2011-2015, nhóm tiêu 100% số xã thì nhóm tiêu chí đạt cao nhất là “Hệ  
chí “Hạ tầng KT-XH” và “Kinh tế và tổ chức thống chính trị và an ninh trật tự” đạt 75,38%,  
sản xuất” đạt thấp nhất (64 xã, đạt 53,78%). Xét các nhóm tiêu chí còn lại về “Hạ tầng KT-XH”,  
theo nhóm xã quan sát, tiến trình đạt các nhóm “Kinh tế và tổ chức sản xuất” và “Văn hóa - xã  
tiêu chí NTM của 2 nhóm xã có sự khác biệt hội - môi trường” đạt rất thấp, đặc biệt là nhóm  
khá lớn. Đối với nhóm xã tiến nhanh tiến trình tiêu chí về “Kinh tế và tổ chức sản xuất” (Bảng  
thực hiện có sự đồng đều giữa các nhóm tiêu chí 5). Nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất”  
NTM, trong đó có 4 nhóm tiêu chí đạt 100% số rất quan trọng nhưng chỉ đạt 15%, có khả năng  
xã (bao gồm Quy hoạch, Hạ tầng KT-XH, Kinh ảnh hưởng không tốt đến các nhóm tiêu chí khác.  
Bảng 5. Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí NTM (phân theo nhóm xã)  
Nhóm xã tiến chậm  
(n=65)  
Nhóm xã tiến nhanh  
(n=54)  
Toàn tỉnh (n=119)  
Nhóm tiêu chí xã NTM  
Năm Năm  
2011 2019  
Đạt  
(%)  
Năm Năm  
2011 2019  
Đạt  
(%)  
Năm Năm  
2011 2019  
Đạt  
(%)  
Quy hoạch  
12  
0
119  
64  
100  
54  
1
0
0
5
65  
11  
10  
18  
100  
17  
11  
0
54  
54  
54  
53  
100  
100  
100  
98  
Hạ tầng KT-XH  
Kinh tế và tổ chức sản xuất  
0
64  
54  
15  
0
Văn hóa - xã hội - môi trường 13  
71  
60  
28  
8
Hệ thống chính trị và an ninh  
trật tự  
54  
103  
87  
27  
49  
75  
27  
54  
100  
Nguồn: UBND tỉnh Đồng Tháp, 2020.  
55  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Nhóm xã tiến nhanh đã triển khai thực nhóm tiêu chí NTM, nhất là về phát triển hạ  
hiện các tiêu chí NTM toàn diện hơn, giúp tầng KT-XH, nâng cao thu nhập và cải thiện  
tiến trình xây dựng NTM đạt hiệu quả cao đời sống cho người dân (Bảng 5). Hai nhóm  
và tương tác lẫn nhau, phù hợp với việc tận tiêu chí “Hạ tầng KT-XH” và “Kinh tế và tổ  
dụng và phát huy nguồn lực Nhà nước và xã chức sản xuất” có mối tương quan chặt với  
hội. Nhóm xã tiến chậm thì tiến trình thực nhau khi cơ sở hạ tầng được xem là nền tảng  
hiện chậm và dàn trải trong khi vốn đầu tư ít để các xã thực hiện tổ chức sản xuất và dịch  
nên khó khăn hơn để hoàn thành toàn diện các vụ, cải thiện thu nhập của người dân.  
Bảng 6. Kết quả đạt chuẩn xã NTM ở Đồng Tháp tính đến năm 2019  
Tốc độ đạt  
Đối tượng  
Số xã đạt chuẩn (xã) Số tiêu chí đạt/xã  
tiêu chí/năm  
Nhóm xã tiến chậm (n=65)  
Nhóm xã tiến nhanh (n=54)  
P-value  
3
14,77  
19,00  
0,000  
0,91  
52  
2,31  
0,000  
Nguồn: Số liệu thu thập 2019.  
Bảng 6 cho thấy nhóm xã tiến nhanh có số quân hàng năm của nhóm xã tiến nhanh cao hơn  
xã đạt chuẩn NTM khá cao với 52/54 xã (đạt gấp 1,5 lần so với toàn tỉnh và cao hơn 2,5 lần so  
96,3%) so với nhóm xã tiến chậm chỉ 3/65 xã với nhóm xã tiến chậm. Như vậy, tiến trình xây  
(đạt 4,6%) mặc dù sự khác biệt về tiêu chí đạt dựng NTM của các xã là khác nhau và không  
được bình quân năm 2011 của hai nhóm xã này hoàn toàn phụ thuộc vào công tác chỉ đạo điểm  
không khác biệt lớn. Tốc độ tiêu chí đạt bình của cấp trên.  
Hình 1. Tiến trình xây dựng NTM của tỉnh Đồng Tháp  
Nguồn: Số liệu của Văn phòng Điều phối NTM Đồng Tháp giai đoạn 2011-2019  
(CAGR - Compound Annual Growth Rate: Tốc độ tăng trưởng hàng năm).  
56  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61  
Hình 1 cho thấy tốc độ các xã đạt chuẩn  
Xuất phát điểm về đạt tiêu chí NTM bình  
quân của các xã của 2 nhóm xã khác biệt không  
lớn, nhưng với tốc độ đạt tiêu chí NTM bình quân  
hàng năm khác nhau dẫn đến tiến trình đạt được  
chuẩn NTM của 2 nhóm xã khá khác biệt. Câu  
hỏi đặt ra là các yếu tố nào đã ảnh hưởng đến tốc  
độ đạt được tiêu chí NTM bình quân của các xã  
thuộc 2 nhóm; từ đó, các giải pháp thúc đẩy tốc  
độ đạt tiêu chí sẽ được xây dựng và phát triển  
để hỗ trợ tiến trình xây dựng NTM hiện nay và  
NTM nâng cao, kiểu mẫu trong tương lai.  
NTM tăng nhanh vào cuối giai đoạn 1 (2011-  
2015) và tăng đều hàng năm trong giai đoạn  
2 (2016-2020) và tăng nhanh hơn giai đoạn 1.  
Theo thảo luận với nhóm người am hiểu, lãnh  
đạo Chương trình xây dựng NTM các cấp cho  
rằng giai đoạn đầu còn thiếu kinh nghiệm, nguồn  
nhân lực lãnh đạo và thực hiện còn hạn chế.  
Điều này cũng phù hợp với việc nhấn mạnh vai  
trò của nguồn nhân lực lãnh đạo và thực thi các  
chương trình phát triển NTM cấp cơ sở vì các  
tiêu chí khởi điểm dễ đạt hơn so với các tiêu chí  
còn lại. Khi xem xét về tốc độ đạt được các tiêu  
chí NTM, trong giai đoạn 1 tốc độ đạt được các  
tiêu chí bình quân hàng năm cao hơn giai đoạn  
2, khoảng 14,6% so với 4,3% (Hình 1). Kết quả  
này cho thấy một số tiêu chí trong bộ 19 tiêu chí  
đạt được khá dễ; ngược lại, các tiêu chí cơ bản  
liên quan đến thu nhập, môi trường, cơ sở hạ tầng  
KT-XH khó đạt hơn và trở thành các điểm nghẻn  
nếu các địa phương không có các giải pháp phù  
hợp (Nguyễn Thùy Trang và cs., 2016).  
Tổng quan tài liệu các nghiên cứu liên quan  
và phỏng vấn nhóm người am hiểu về xây dựng  
NTM đã chỉ ra có nhiều yếu tố lý thuyết có khả  
năng ảnh hưởng đến tốc độ đạt được các tiêu  
chí NTM. Các yếu tố này đã được đánh giá lại  
bởi đại diện lãnh đạo của tất cả các xã đang thực  
hiện Chương trình xây dựng NTM. Bảng 7 chỉ  
ra rằng mức độ tác động của các yếu tố đề xuất  
đến tiến trình đạt được các tiêu chí NTM khác  
nhau và thể hiện mức độ tác động cao đối với sự  
tham gia của dân, đội ngũ lãnh đạo, điều kiện hạ  
tầng và tổ chức sản xuất,...  
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng tiến trình xây  
dựng NTM tại tỉnh Đồng Tháp  
Bảng 7. Mức độ tác động của một số yếu tố đến tiến trình đạt được các tiêu chí NTM (n=119)  
Mức độ tác động (tỷ lệ %) Mức  
tác  
động  
TB*  
STT  
Yếu tố tác động  
1
2
3
4
5
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Ngân sách Nhà nước  
50,0  
8,3  
50,0  
41,7  
33,3  
41,7  
41,7  
25,0  
83,3  
66,7  
41,7  
16,7  
3,5  
2,9  
2,6  
3,6  
3,6  
3,9  
4,0  
4,1  
4,7  
2,3  
Nguồn lực xã hội  
50,0  
8,3  
Kết nối đô thị hóa  
16,7  
33,3  
25,0  
25,0  
41,7  
8,3  
Nền tảng của phát triển kết cấu hạ tầng  
Gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp  
Giải quyết việc làm  
16,7  
16,7  
16,7  
16,7  
33,3  
8,3  
Xóa đói giảm nghèo  
Đội ngũ cán bộ cơ sở  
8,3  
25,0  
50,0  
Mức độ tham gia của người dân  
18,3  
33,3  
10 Bất cập của Bộ tiêu chí xã NTM  
16,7  
25,0  
(*)Ghi chú: 1: Tác động rất ít; 2: Tác động ít; 3: Tác động trung bình;  
4: Tác động nhiều; 5: Tác động rất nhiều  
Nguồn: Kết quả thu thập số liệu sơ cấp tại tỉnh Đồng Tháp, 2019.  
57  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Khi đánh giá tổng thể các yếu tố tác động tích cực. Kết quả mô hình hồi qui Tobit cũng khá  
tương đồng với đánh giá cá nhân của đại diện lãnh  
đạo phụ trách Chương trình xây dựng NTM ở  
các xã (Bảng 7; Bảng 8); trừ hoạt động cải thiện  
thu nhập cho người dân. Kết quả phân tích cho  
thấy, các xã tiến nhanh đã có sự chủ động, phát  
huy vai trò của cán bộ cơ sở trong công tác lãnh  
đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng  
NTM từ tận dụng thuận lợi của nền tảng kết cấu  
hạ tầng ngay ban đầu, tập trung phát triển sản  
xuất, cải thiện kinh tế nông thôn và sức mạnh  
của nguồn nội lực từ cộng đồng dân cư, chung  
sức xây dựng NTM. Sự hài lòng và tham gia của  
người dân tạo ra sự khác biệt giữa hai nhóm xã  
tiến nhanh và tiến chậm, phù hợp với các nghiên  
cứu trước đây (Bùi Văn Trịnh và Dương Hồng  
Thúy, 2018). Tuy nhiên, kết quả phân tích đối với  
nhóm xã tiến chậm, tiến trình xây dựng NTM của  
các xã chỉ chịu tác động của yếu tố đội ngũ cán  
bộ cơ sở, chưa thấy được vai trò của của các yếu  
tố khác như nhóm xã tiến nhanh. Như vậy, tiến  
trình xây dựng NTM của các xã tiến chậm thiếu  
hụt sự trợ giúp, tác động tích cực từ các yếu tố về  
nền tảng kết cấu hạ tầng ngay ban đầu, tập trung  
phát triển sản xuất, cải thiện kinh tế nông thôn  
và sức mạnh của nguồn nội lực từ cộng đồng dân  
cư như nhóm xã tiến nhanh.  
đến tốc độ đạt được các tiêu chí NTM trên địa  
bàn tỉnh Đồng Tháp, các yếu tố đặc thù, riêng lẻ  
đã không được thể hiện, mà các yếu tố điển hình,  
thể hiện xu thế chung của toàn tỉnh đã được phát  
hiện thông qua mô hình hồi qui Tobit. Kết quả  
ước lượng trong mô hình hồi quy Tobit về các  
yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng NTM  
đã được thể hiện ở Bảng 8. Giá trị LR khi bình  
phương (với bậc tự do k = 10) ở cả ba khía cạnh  
(toàn tỉnh, xã tiến chậm, xã tiến nhanh) đều lớn  
hơn so với giá trị tra bảng ở mức ý nghĩa thống  
kê 1%, giúp khẳng định rằng các tham số ước  
lượng đều khác không và mô hình Tobit được  
xây dựng là phù hợp.  
Trong tổng số 10 yếu tố được đưa vào nghiên  
cứu thì có 6 yếu tố không ảnh hưởng sự thay đổi  
của tiến trình xây dựng NTM của 119 xã, bao  
gồm nguồn lực Nhà nước, nguồn lực xã hội, kết  
nối với đô thị hóa, giải quyết việc làm, xóa đói  
giảm nghèo và bất cập của tiêu chí NTM. Ngược  
lại, các yếu tố nền tảng của phát triển kết cấu  
hạ tầng KT-XH, gia tăng giá trị sản xuất nông  
nghiệp, đội ngũ cán bộ cơ sở và mức độ tham  
gia của người dân tác động có ý nghĩa đến tiến  
trình xây dựng NTM của các xã theo chiều hướng  
Bảng 8. Kết quả ước lượng các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng NTM ở Đồng Tháp  
Mô hình ước lượng tiến trình NTM  
Tên biến  
Toàn tỉnh  
Nhóm xã tiến chậm Nhóm xã tiến nhanh  
Hệ số  
P>|t|  
0,227  
0,626  
0,457  
Hệ số  
0,875  
-0,043  
-0,012  
P>|t|  
0,404  
0,874  
0,951  
Hệ số  
0,389  
0,231  
-0,181  
P>|t|  
0,213  
0,403  
0,436  
Ngân sách Nhà nước  
Nguồn lực xã hội  
0,823  
0,073  
-0,087  
Kết nối với đô thị hóa  
Nền tảng của phát triển kết cấu  
hạ tầng  
0,495  
0,391  
0,000  
0,007  
0,748  
1,461  
0,000  
0,060  
0,789  
0,614  
0,000  
0,010  
Gia tăng giá trị sản xuất nông  
nghiệp  
Giải quyết việc làm  
Xóa đói giảm nghèo  
Đội ngũ cán bộ cơ sở  
0,055  
-0,009  
0,889  
0,541  
0,932  
0,000  
0,234  
0,131  
1,367  
0,881  
0,473  
0,000  
0,132  
-0,092  
1,471  
0,439  
0,661  
0,000  
58  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61  
Mức độ tham gia của người dân  
Bất cập của tiêu chí NTM  
Hằng số  
0,164  
-0,075  
-0,337  
10,127  
191,97  
0,000  
0
0,100  
0,230  
0,014  
-34,004  
184,07  
0,000  
0
0,246  
-0,008  
-0,765  
-37,057  
169,17  
0,000  
65  
0,205  
0,424  
0,002  
0,344  
-0,190  
-1,127  
0,100  
0,211  
0,000  
Log likelihood  
LR chi2(10)  
Prob > chi2  
Left-censored observations  
Uncensored observations  
Right-censored observations  
119  
65  
54  
0
54  
0
Nguồn: Kết quả thu thập số liệu sơ cấp tại tỉnh Đồng Tháp, 2019.  
Trong những yếu tố tác động đến mức độ Người dân ngày càng thể hiện vai trò chủ thể của  
đạt tiêu chí NTM của cả hai nhóm xã tiến nhanh  
và tiến chậm, yếu tố đội ngũ cán bộ cơ sở có sự  
ảnh hưởng lớn nhất đến tốc độ hoàn thành các  
tiêu chí NTM của các xã. Chất lượng đội ngũ  
cán bộ cơ sở không chỉ thể hiện qua công tác  
lãnh đạo, chỉ đạo mà còn hiệu quả thực hiện các  
công việc trong Chương trình xây dựng NTM,  
đặc biệt vận động sự tham gia hiệu quả của cộng  
đồng địa phương. Kết quả phân tích đã hàm ý  
rằng việc nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ  
cán bộ cơ sở, tập trung phát triển kinh tế nông  
nghiệp và phát huy tinh thần tham gia của người  
dân là những nội dung, nhiệm vụ quan trọng  
để thúc đẩy tiến trình xây dựng NTM của tỉnh  
Đồng Tháp.  
mình trong xây dựng NTM thông qua việc giám  
sát thực hiện, đề xuất thực hiện công trình, phần  
việc của mình, của địa phương và chủ động tham  
gia thực hiện.  
Tiến trình xây dựng NTM của tỉnh Đồng  
Tháp theo chiều hướng tích cực, tốc độ đạt chuẩn  
NTM trong giai đoạn 2016-2020 cao hơn so với  
giai đoạn 2011-2015, gấp khoảng 2 lần; song  
có sự khác biệt về kết quả đạt được các tiêu chí  
NTM giữa nhóm xã tiến chậm và nhóm xã tiến  
nhanh. Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa  
2 nhóm xã về nối kết đô thị, tỷ lệ hộ nghèo, thu  
nhập bình quân, vốn đầu tư xây dựng NTM của  
Nhà nước,...  
Tiến trình đạt được các tiêu chí NTM có  
nhiều yếu tố ảnh hưởng; trong đó, các yếu tố về  
nền tảng kết cấu hạ tầng KT-XH, gia tăng giá  
trị sản xuất nông nghiệp, đội ngũ cán bộ cơ sở,  
và mức độ tham gia của người dân tác động có  
ý nghĩa và tác động tích cực, tạo nên sự thay  
đổi và khác biệt về tiến trình xây dựng NTM  
của 2 nhóm xã tiến nhanh và tiến chậm. Trong  
đó, kết quả xây dựng NTM của nhóm xã tiến  
nhanh chịu tác động của cả 4 yếu tố này mang  
lại những lợi thế để hoàn thành các nhóm tiêu  
chí NTM nhanh hơn so với nhóm xã tiến chậm  
khi chỉ chịu tác động có ý nghĩa từ yếu tố đội  
ngũ cán bộ cơ sở.  
5. Kết luận và hàm ý chính sách  
Sau gần môt thập kỷ triển khai và thực hiện  
Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM  
của tỉnh Đồng Tháp, diện mạo nông thôn thay  
đổi thông qua kết cấu hạ tầng được xây dựng,  
phục vụ tốt hơn nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của  
người dân nông thôn. Cảnh quan môi trường  
nông thôn được cải thiện; đời sống vật chất và  
tinh thần của người dân nông thôn được nâng  
cao. Các chỉ số về thu nhập bình quần đầu, tỷ  
lệ hộ giảm nghèo, tham gia bảo hiểm y tế và hộ  
dân sử dụng nước hợp vệ sinh đều được cải thiện.  
Chương trình nhận được sự quan tâm, sự đồng  
thuận tham gia tích cực, đông đảo của người dân.  
59  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Tài liệu tham khảo  
Ngoài việc nâng cao vai trò của đội ngũ  
cán bộ cán bộ ở cơ sở tại các địa phương rất  
cần đến sự tập trung chỉ đạo về phát triển kinh  
tế nông nghiệp và phát huy tinh thần tham gia  
của người dân, nội lực tại chỗ của địa phương  
để thúc đẩy tiến trình xây dựng NTM giữa các  
xã đồng đều, hiệu quả hơn; làm nền tảng vững  
chắc cho giai đoạn tiếp theo. Để thúc đẩy tiến  
trình và nâng cao hiệu quả chương trình xây  
dựng NTM trong thời gian tới của tỉnh Đồng  
Tháp nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung, một  
số đề xuất bao gồm:  
BCĐ CTMTQG. (2020). Báo cáo Tổng kết 10  
năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc  
gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020  
(Báo cáo số 02/BC-BCDCTMTQG).  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2019).  
Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chương  
trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM vùng  
Đông Nam Bộ và ĐBSCL, định hướng thực  
hiện giai đoạn sau năm 2020.  
Bùi Văn Trịnh, Dương Hồng Thúy. (2018). Sự hài  
lòng của người dân đối với việc xây dựng  
NTM: Trường hợp cụ thể tại xã Hưng Phú,  
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Phát  
triển và Hội nhập, 43.  
- Đánh giá, nhận định đúng quá trình thực  
hiện Chương trình xây dựng NTM của các địa  
phương thông qua tiến trình đạt được các tiêu chí  
NTM theo từng nhóm xã; đánh giá cụ thể hiện  
trạng và nhận diện những yếu tố tác động ở chiều  
hướng thúc đẩy hay hạn chế của tiến trình xây  
dựng NTM của từng đối tượng xã để làm cơ sở  
hoạch định lộ trình, giải pháp và cơ chế, chính  
sách hỗ trợ phù hợp hơn.  
Chính phủ. (2009). Quyết định số 491/QĐ-TTg  
ngày 16/04/2009, hiện nay đã được thay  
thế bằng Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày  
17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban  
hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã NTM.  
Chính phủ. (2010). Quyết định số 800/QĐ-TTg  
ngày 04/06/2010 phê duyệt Chương trình  
mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai  
đoạn 2010 - 2020.  
- Tập trung các giải pháp nâng cao năng  
lực và vai trò lãnh đạo, điều hành và hoạt động  
của đội ngũ cán bộ cơ sở cả về số lượng và chất  
lượng; đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của  
KT-XH ngày càng cao trong bối cảnh thích ứng  
với thay đổi điều kiện tự nhiên và KT-XH, đặc  
biệt kinh tế hội nhập.  
Chính phủ. (2016a). Quyết định số 1980/QĐ-TTg  
ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ  
ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng  
xã NTM.  
- Triển khai và thực hiện đồng bộ các giải  
pháp thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức  
sống cho người dân để phát huy vai trò chủ thể,  
tinh thần chung tay xây dựng NTM từ nội lực của  
địa phương hơn là chú trọng, trông chờ vào sự hỗ  
trợ của cấp trên từ nguồn lực Nhà nước. Bởi lẽ,  
mục đích xây dựng NTM là nâng cao đời sống  
của người dân nông thôn, chủ thể của Chương  
trình chính là người dân, gắn kết trực tiếp đời  
sống sinh kế của người dân. Do vậy, sự phát triển  
của NTM gắn chặt với sự thay đổi nhận thức của  
chính quyền địa phương và tư duy tự chủ, tự vươn  
lên của người dân nông thôn./.  
Chính phủ. (2016b). Quyết định số 1600/QĐ-  
TTg ngày 16/8/2016 Phê duyệt Chương  
trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai  
đoạn 2016-2020.  
Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp. (2020). Niên giám  
thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2019.  
Dower. (2004). Bộ Cẩm nang Đào tạo và Thông  
tin về Phát triển nông thôn toàn diện. Đặng  
Hữu Vĩnh (dịch) và Vũ Trọng Khải (hiệu  
chỉnh).NXB Nông nghiệp.  
Hồ Vũ Linh Đan. (2015). Đánh giá sự tham gia  
của người dân trong xây dựng NTM ở xã  
Sơn Định, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.  
60  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 47-61  
Luận văn tốt nghiệp Cao học ngành Phát Tỉnh ủy Đồng Tháp. (2011). Nghị quyết số 02-  
triển nông thôn. Trường Đại học Cần Thơ.  
NQ/TU ngày 23 tháng 5 năm 2011 của Ban  
Chấp hành Đảng bộ Tỉnh về xây dựng NTM  
tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2015.  
Huỳnh Phẩm Dũng Phát, Nguyễn Đình Văn,  
Nguyễn Thị Khánh Thi. (2017). Thực trạng  
và giải pháp phát triển NTM ở tỉnh Cà Mau. Trung ương Đảng. (2008). Nghị quyết số 26-NQ/  
Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
TW ngày 05/08/2008 của Trung ương Đảng  
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác  
định mục tiêu xây dựng NTM.  
Lê Cảnh Dũng, Võ Văn Tuấn và Nguyễn Văn  
Sánh. (2015). Nguyên lý phát triển nông UBND tỉnh Đồng Tháp. (2020). Báo cáo tổng  
thôn. NXB Đại học Cần Thơ.  
kết 10 năm (2010 - 2020) thực hiện Chương  
trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM (Báo  
cáo số 288/BC-UBND.HC).  
Lê Thị Loan. (2015). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế  
nông nghiệp, nông thôn để xây dựng NTM ở  
Thanh Hóa. Tạp chí Khoa học. Trường Đại Văn phòng Điều phối Trung ương. (2019). Báo  
học Hồng Đức, Số đặc biệt 11.  
cáo thống kê kết quả thực hiện Bộ tiêu chí  
Quốc gia về xã NTM đến năm 2019.  
Nguyễn Thùy Trang, Võ Hồng Tú, Trương Thảo  
Nhi. (2016). Đánh giá tác động của chương Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng. (2015). Phân  
trình xây dựng NTM đến thu nhập nông hộ  
tại tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Đại  
học Cần Thơ, 46d, 116-121.  
tích sinh kế: Lý tuyết và thực tiễn. NXB Đại  
học Cần Thơ.  
Waas, T., Hugé, J. Verbruggen,A. and Wright, T.  
(2011). Sustainable Development: A Bird’s  
Eye View. Sustainability 2011, 3, 1637-  
1661; doi:10.3390/su3101637.  
Nguyễn Văn Hùng. (2015). Xây dựng NTM trong  
phát triển KT-XH ở tỉnh Bắc Ninh. Luận án  
tiến sĩ Kinh tế. Học viện Chính trị Quốc gia  
Hồ Chí Minh.  
61  
pdf 15 trang baolam 21520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích các yếu tố tác động đến tiến trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Đồng Tháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_cac_yeu_to_tac_dong_den_tien_trinh_xay_dung_nong_t.pdf