Vai trò tiền tố của mô hình MOA và các yếu tố tác động đến việc tiếp nhận truyền thông xã hội

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Minh Bình Phương  
VAI TRÒ TIỀN TỐ CỦA MÔ HÌNH MOA VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC  
ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP NHẬN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI  
THE PRIME ROLE OF MOA MODEL AND THE FACTORS  
AFFECTING SOCIAL MEDIA ACCESS  
NGUYỄN MINH BÌNH PHƯƠNG  
TÓM TẮT: Truyền thông xã hội đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội  
nhờ vào những việc ứng dụng không ngừng và những tiến bộ của công nghệ thông tin. Bài viết này  
nhằm kiểm chứng việc tiếp nhận truyền thông xã hội của khách hàng dựa trên việc tích hợp một số  
bộ biến từ mô hình Động lực - Cơ hội - Khả năng, giá trị nhận thức và thái độ của khách hàng.  
Dựa trên phần tổng quan tài liệu, một bản câu hỏi được thiết kế và thực hiện kiểm tra các giả  
thuyết nghiên cứu trong bài viết. Kết quả từ 309 người tham gia khảo sát sẽ là tài liệu tham khảo  
quan trọng cho các chuyên gia để phát triển các kế hoạch tiếp thị thông qua truyền thông xã hội  
cũng như để tiến hành nghiên cứu chuyên sâu.  
Từ khóa: tiếp nhận truyền thông xã hội; lý thuyết Động lực - Cơ hội - Khả năng; giá trị khách hàng.  
ABSTRACT: Social media plays an important role in many areas of social life thanks to the  
constant applications and advancements of information technology. This article aims to test  
customers' social media adoption based on the integration of a number of variables from the  
Motivation - Opportunity - Ability (MOA) model, cognitive values and attitudes of customers.  
Based on the literature review, a questionnaire was designed and implemented to test the research  
hypotheses in the article. Results from the survey of 309 participants will be an important reference  
for professionals to develop marketing plans through social media as well as for conducting in-  
depth research.  
Key words: social media access; theory of Motivation - Opportunity – Ability; customer’s value.  
thành nhà sản xuất nội dung, từ thụ động sang  
chủ động. Những thay đổi và phát triển mạnh  
mẽ của mạng xã hội đã truyền cảm hứng cho  
không chỉ các nhà nghiên cứu mà cả chuyên gia  
trong việc nghiên cứu các chủ đề mạng xã hội.  
Tuy nhiên, mô hình toàn diện để giải thích sự  
chấp nhận của người tiêu dùng đối với truyền  
thông xã hội vẫn chưa được hoàn thiện.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ngày nay, với sự tiến bộ của công nghệ  
thông tin, mọi rào cản về truyền thông gần như  
không còn nữa. Mọi người có thể theo dõi, xem  
hoặc tham gia vào một sự kiện diễn ra cách xa  
ngàn dặm. Truyền thông bây giờ không chỉ  
dành riêng cho báo chí chính thống, mà còn  
phổ biến trong các kênh cá nhân. Truyền thông  
xã hội là một môi trường Internet nơi mọi  
người có thể tạo, đọc và chia sẻ nội dung họ  
quan tâm và dễ truy cập hơn bao giờ hết [15,  
tr.59-68]. Truyền thông xã hội cũng hỗ trợ trao  
đổi thông tin và kiến thức, biến người dùng  
Lý thuyết Động lực - Cơ hội - Khả năng  
(MOA) [21, tr.345-385] rằng hành vi của các  
cá nhân phụ thuộc vào ba yếu tố: động lực, cơ  
hội và khả năng. Lý thuyết này đã được áp  
dụng trong nhiều bối cảnh. Ngoài ra, giá trị  
 ThS. Trường Đại học Văn Lang, [email protected], Mã số: TCKH22-02-2020  
77  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
nhận thức của khách hàng đã được nghiên cứu  
rộng rãi trong tài liệu đại diện cho ước tính giá  
trị tổng thể của một đối tượng [11, tr.179-191].  
Trong nhiều năm, các học giả dường như coi  
thái độ và giá trị là hai cấu trúc song song ảnh  
hưởng đến ý định chấp nhận của người tiêu  
dùng một cách độc lập. Gần đây, Kim và các  
cộng sự [16, tr.111-126] đã phát triển một mô  
hình tiếp nhận theo giá trị dựa trên lý thuyết về  
sự lựa chọn của người tiêu dùng và khả năng  
đưa ra quyết định. Những phát hiện này thể  
hiện rõ rằng giá trị nhận thức của người tiêu  
dùng đối với Internet là một yếu tố quyết định  
quan trọng về ý định tiếp nhận của họ. Việc  
tích hợp các lý thuyết MOA, giá trị khách hàng,  
thái độ và hành vi chấp nhận truyền thông xã  
hội vẫn chưa được làm rõ. Các nghiên cứu  
trước đây chỉ tập trung điều tra hành vi sử dụng  
truyền thông xã hội trên bối cảnh một quốc gia.  
Với một lĩnh vực mang tính phổ biến này, việc  
kiểm định lý thuyết dựa trên đối tượng đến từ  
các quốc gia khác nhau sẽ tăng độ tin hơn. Hơn  
nữa, tùy điều kiện sử dụng truyền thông xã hội  
ở mỗi quốc gia mà kết quả nghiên cứu sẽ  
hướng đến những đóng góp mới mà những bài  
nghiên cứu trước chưa có được. Do đó, mục  
tiêu của bài viết này nhằm đề xuất một mô hình  
nghiên cứu toàn diện kết nối các mối quan hệ  
giữa các yếu tố khác nhau được đề nghị từ  
MOA, giá trị khách hàng, thái độ của khách  
hàng, ý thức hành vi đối với việc sử dụng  
truyền thông xã hội trong bối cảnh đa quốc gia  
từ đó giúp chuyên gia để phát triển truyền  
thông xã hội kế hoạch tiếp thị cũng như cho các  
học giả để tiến hành nghiên cứu chuyên sâu.  
2. NỘI DUNG  
niệm “động lực”, “cơ hội” và “khả năng” để  
thực hiện hành vi vào mô hình. “Động lực”  
được định nghĩa là một loạt những điều ảnh  
hưởng đến quyết định tham gia mạng xã hội  
của người dùng [20, tr.458-472]. Động lực  
không chỉ đóng góp cho hành vi, nó còn ảnh  
hưởng đến hiệu suất và sức bền [18, tr.58-77].  
Biến này tương đương giá trị mong đợi hoặc  
tiện ích sử dụng. Binney và các cộng sự [3,  
tr.289-301] mô tả “cơ hội” là các yếu tố bên  
ngoài liên quan đến mục đích của hành vi trong  
quá trình ra quyết định. Những yếu tố này có  
thể củng cố hoặc ức chế hành vi [7, tr.1-14]. Có  
thể nói rằng “cơ hội” phản ánh mức độ các yếu  
tố môi trường ảnh hưởng đến ý định của người  
dùng. Briliana [5, tr.319-326] cho rằng thời  
gian, chính sách tổ chức, cách thể hiện tổ chức  
khi tham gia, thời gian lãng phí và đường  
truyền Internet là một trong những yếu tố cơ  
hội ảnh hưởng đến thái độ của một cá nhân sử  
dụng truyền thông xã hội. Yếu tố cuối cùng của  
mô hình MOA là “khả năng”, được định nghĩa  
như là tổng của nội lực của người sử dụng, bao  
gồm thời gian, tài chính và năng lực hành vi để  
truy cập thông tin [7, tr.1-14]. Chang và Zhu [8,  
tr.1840-1848] kết luận rằng khả năng tương tác  
của các nhà bán lẻ thương mại điện tử ảnh  
hưởng đến xu hướng mua sắm trực tuyến của  
khách hàng.  
2.1.2. Giá trị khách hàng  
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để  
hiểu khái niệm về giá trị nhận thức. Zeithaml  
[23, tr.2-22] xác định giá trị nhận thức là đánh  
giá chung của người tiêu dùng về tiện ích của  
sản phẩm dựa trên nhận thức về những gì nhận  
được và bỏ ra. Tuy nhiên, thuật ngữ “giá trị” là  
một bức tranh tổng hợp được minh họa bằng  
quan niệm đa chiều theo kinh nghiệm. Giá trị  
khách hàng có thể được phân biệt thành 2 loại:  
Giá trị chức năng là tiện ích xuất phát từ chất  
lượng và đặc điểm mong đợi của sản phẩm  
hoặc dịch vụ; Giá trị tâm lý được tạo ra khi  
mọi khách hàng cảm thấy họ được chào đón và  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Mô hình MOA  
Một đề xuất nổi tiếng về hành vi của người  
tiêu dùng là mô hình Động lực - Cơ hội - Khả  
năng (MOA). Mô hình lập luận rằng có thể đạt  
được sự cải thiện trong việc dự đoán hành vi  
của người tiêu dùng bằng cách kết hợp khái  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Minh Bình Phương  
cảm thấy được tôn trọng. Ngoài ra, giá trị nhận  
thức có thể được phân loại thành mô hình 4 yếu  
tố: giá trị cốt lõi, giá trị cá nhân, giá trị cảm  
quan và giá trị thương mại. Cuối cùng, Yen  
[22, tr.386-391] đã phát hiện ra một quan điểm  
khác về giá trị khách hàng như là giá trị trung  
gian ảnh hưởng đến kết quả của hành vi người  
tiêu dùng, xảy ra khi các yếu tố môi trường ảnh  
hưởng đến quá trình nhận thức kết quả. Các  
nghiên cứu trước đây đã chứng minh giá trị  
nhận thức của khách hàng là một yếu tố quan  
trọng để hiểu khách hàng mong muốn và giá trị  
gì từ một sản phẩm hoặc dịch vụ.  
thức của khách hàng. Các nhà nghiên cứu trước  
đây cho rằng “động lực”, “cơ hội” và “khả  
năng” là tiền tố của thái độ của người tiêu  
dùng. “Động lực” là yếu tố quan trọng trong  
việc ra quyết định bởi vì nó ảnh hưởng đến  
hướng và cường độ của hành vi người tiêu  
dùng. “Cơ hội” đại diện cho hoàn cảnh cho  
phép hoặc tạo điều kiện cho mọi người thực  
hiện hành vi của mọi người như thời gian có  
sẵn, phương tiện, tốc độ kết nối mạng... [19].  
Đó là tất cả các yếu tố tạo nên một thái độ tích  
cực hoặc tiêu cực để thực hiện một hành vi [5].  
Ngoài ra, Kim và các cộng sự [16, tr.111-126]  
đã đề cập đến “các mối quan hệ” như là một  
thành phần của “cơ hội” có ảnh hưởng đến thái  
độ của người dùng truyền thông xã hội. Sự hỗ  
trợ, cản trở hoặc thông tin tiêu cực, tích cực của  
người thân sẽ ảnh hưởng đến quá trình hình  
thành thái độ yêu thích hoặc chán ghét sử dụng  
truyền thông xã hội. “Khả năng” đề cập đến  
mức tài nguyên cần thiết như kiến thức, thông  
tin và tiền bạc để tạo ra các thái độ tích cực [12,  
tr.537-549]. Trong nhiều trường hợp, khả năng  
được đo lường bằng năng lực bản thân trong đó  
đề cập đến khả năng nhận thức của bản thân để  
thực hiện một hành vi [6, tr.86-123]. Leung và  
Bai [18, tr.58-77] lập luận rằng khả năng đề cập  
đến các kỹ năng hoặc sự thành thạo của khách  
du lịch trong việc xử lý thông tin thương hiệu  
trong một quảng cáo. Vì phát hiện của các  
nghiên cứu trước đây đều khẳng định rằng  
MOA là một yếu tố dự báo tốt cho thái độ, giả  
thuyết sau đây được phát triển:  
2.1.3. Phát triển giả thuyết  
Gruen và các cộng sự [12, tr.537-549] cho  
rằng tác động từ các yếu tố MOA đến giá trị  
khách hàng ở các cấp độ khác nhau, họ đã  
chứng minh bằng cơ bản thực nghiệm rằng  
41% phương sai trong “giá trị trao đổi giữa  
cộng đồng khách hàng ảo” được giải thích bởi  
các yếu tố MOA và tác động của chúng.  
Binney và các cộng sự [3, tr.289-301] cũng kết  
luận rằng các yếu tố động lực có tác động lớn  
nhất bằng cách phân tích ảnh hưởng tác động  
đa chiều của ba yếu tố MOA, dẫn đến hiệu quả  
nhất quán của động lực đối với hành vi giao  
tiếp của khách hàng. Nói tóm lại, nghiên cứu  
chỉ ra tầm quan trọng của MOA đối với giá trị  
của “trao đổi thông tin” mà khách hàng có thể  
nhận được thông qua “sự tham gia của cộng  
đồng ảo” và “động lực” được nhấn mạnh là yếu  
tố quan trọng nhất thúc đẩy tác động [5, tr.319-  
326]. Giá trị khách hàng là một khái niệm  
phong phú, đa dạng và tỷ lệ thuận với các tác  
động của mô hình MOA trên nó. Dựa trên  
những quan điểm này, bài viết này đã phát triển  
tác động của MOA đến giá trị của khách hàng  
theo các hướng sau:  
Giả thuyết H2a: Động lực sẽ ảnh hưởng  
tích cực đến thái độ đối với việc tiếp nhận  
truyền thông xã hội; Giả thuyết H2b: Cơ hội sẽ  
ảnh hưởng tích cực đến thái độ đối với việc tiếp  
nhận truyền thông xã hội; Giả thuyết H2c: Khả  
năng sẽ ảnh hưởng tích cực đến thái độ đối với  
việc tiếp nhận truyền thông xã hội.  
Giả thuyết H1a: Động lực sẽ tác động tích  
cực đến giá trị nhận thức của khách hàng; Giả  
thuyết H1b: Cơ hội sẽ tác động tích cực đến giá  
trị nhận thức của khách hàng; Giả thuyết H1c:  
Khả năng sẽ tác động tích cực đến giá trị nhận  
Nhận thức về giá trị nhận thức là rất quan  
trọng đối với sự thành công hay thất bại của bất  
kỳ tổ chức nào [11, tr.179-191]. Do đó, họ phải  
79  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
cập nhật xu hướng tiêu dùng mới để mang lại  
giá trị cho khách hàng. Mặc dù không có cơ sở  
nào để khẳng định rằng doanh nghiệp sẽ thành  
công, nhưng đây là lý thuyết cơ bản, là nguyên  
nhân sống còn của doanh nghiệp [22, tr.386-  
391]. Chen và Lin [9, tr.22-32] cũng nhấn  
mạnh rằng khi khách hàng cảm nhận được giá  
trị, họ sẽ càng có ý thức tham gia vào hoạt  
động mà tạo ra giá trị đó. Điều này có nghĩa là  
mức độ nhận được giá trị ảnh hưởng đến ý định  
tham gia hoặc sử dụng. Ngoài ra, mối quan hệ  
giữa giá trị khách hàng và ý định hành vi cũng  
được đề cập và khẳng định trong các nghiên  
cứu trước đây, như trong thương mại điện tử  
[2], internet mobile [18, tr.58-77], hoặc du lịch  
[22]. Dựa trên các thảo luận ở trên, bài viết này  
đề xuất:  
Mối quan hệ này có thể được coi là bằng chứng  
khi quan sát và giải thích hành vi của con người  
diễn ra hằng ngày. Black và Baker [4, tr.102-  
104] cho thấy bằng chứng như nhiều người chỉ  
xem kênh ti vi mà họ thích; nhân viên cố gắng  
tránh những công việc họ không thích; học sinh  
không học những lớp về những môn học mà họ  
không thích... Lee và các cộng sự [17, tr.6-22]  
đưa ra minh chứng rằng nếu một người cảm  
thấy đam mê và tích cực, họ sẽ làm việc trong  
mọi tình huống kể cả khi khó khăn. Quá trình  
thay đổi một doanh nghiệp cũng chỉ ra rằng  
phải hành động theo nhận thức trước, làm thế  
nào để hình thành suy nghĩ “muốn thay đổi,  
phải thay đổi” trong suy nghĩ của mọi người.  
Hầu hết các nghiên cứu về mối quan hệ giữa  
thái độ và hành vi cho thấy chúng có liên quan  
với nhau. Giả thuyết sau đây được phát triển:  
Giả thuyết H4: Thái độ đối với truyền  
thông xã hội sẽ ảnh hưởng tích cực đến ý định  
của tiếp nhận truyền thông xã hội. Các nghiên  
cứu mô hình của nghiên cứu này được trình bày  
trong hình 1.  
Giả thuyết H3: Ảnh hưởng của giá trị nhận  
thức của khách hàng đến ý định hành vi đối với  
hành vi tiếp nhận truyền thông xã hội.  
Các nghiên cứu khác nhau đã xác nhận rằng có  
một mối quan hệ nhân quả giữa thái độ và hành  
vi, nghĩa là thái độ của một người quyết định  
những gì họ làm [1, tr.261-267], [17, tr.6-22].  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả  
đo lường cho nhân tố Khả năng [8, tr.1840-  
1848], [12, tr.537-549]. Nhân tố giá trị nhận  
thức của khách hàng được đo bằng 5 biến đo  
lường [2], [22]. Mỗi nhân tố Thái độ và ý định  
hành vi được đo bằng 4 biến đo lường [14,  
tr.65-74], [17, tr.6-22]. Các dữ liệu được thu  
2.2. Phương pháp nghiên cứu và kết quả  
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu  
Để kiểm tra các giả thuyết này, nghiên cứu  
này sử dụng 7 biến đo lường cho nhân tố Động  
lực [20, 458-472], 5 biến đo lường cho nhân tố  
Cơ hội [3, tr.289-301], [18, tr.58-77] và 7 biến  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Minh Bình Phương  
thập từ các bộ công cụ Google. Tất cả các mục  
câu hỏi đều áp dụng thang 7 điểm Likert để  
đánh giá được phỏng vấn trong đó xếp hạng từ  
1 hoàn toàn không đồng ý đến 7 hoàn toàn  
đồng ý. Để kiểm tra các giả thuyết, nghiên cứu  
này đã thực hiện một cuộc khảo sát câu hỏi trực  
tuyến được gửi qua email. Người tham gia  
khảo sát được lựa chọn trên nguyên tắc thuận  
tiện phi xác suất và được yêu cầu bày tỏ ý kiến  
của họ đối với việc sử dụng truyền thông xã hội  
như SKYPE, LINE, WeChat, Facebook, Blog,  
Instagram… để giao tiếp với đồng nghiệp hoặc  
bạn bè. Bảng khảo sát kéo dài khoảng 20 phút  
và thông tin trả lời sẽ được ẩn danh. Sau ba  
tháng, nghiên cứu này nhận được 309 câu trả  
lời hợp lệ (23 câu hỏi đã bị xóa do trả lời không  
đầy đủ). Kết quả phân tích đặc tính cá nhân của  
người tham gia khảo sát trong bảng 1.  
Bảng 1. Đặc tính cá nhân của người tham gia khảo sát  
Biến nhân khẩu học  
Nam  
Tần suất (309)  
(%)  
57,3  
42,7  
4,2  
177  
132  
13  
Giới tính  
Độ tuổi  
Nữ  
Dưới 18  
18 đến 25  
167  
84  
54,0  
27,2  
9,7  
26 đến 35  
36 đến 45  
30  
Trên 45  
15  
4,9  
Trung học phổ thông  
Cử nhân  
26  
8,4  
178  
83  
57,6  
26,9  
7,1  
Học vấn  
Thạc sĩ  
Tiến sĩ  
22  
Dưới $500  
147  
85  
47,6  
27,5  
13,6  
6,5  
Từ $500 đến $1000  
Từ $1001 đến $1500  
Từ $1501 đến $2000  
Trên $2000  
Thu nhập  
42  
20  
15  
4,9  
Công chức  
24  
7,8  
Xây dựng  
23  
7,4  
Công nghệ thông tin/Điện tử  
Văn hóa/Thể thao  
Tài chính  
26  
8,4  
42  
13,6  
11,0  
6,1  
Nghề nghiệp  
34  
Chăm sóc sức khỏe  
Giáo dục & Đào tạo  
Khách sạn/nhà hàng/du lịch  
Khác  
19  
38  
12,3  
16,5  
16,9  
36,6  
54,0  
4,2  
51  
52  
Đài Loan  
113  
167  
13  
Việt Nam  
Campuchia  
Quốc tịch  
Úc  
8
8
2,6  
2,6  
Khác  
Nguồn: Kết quả phân tích SPSS  
81  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
Nghiên cứu này đã tiến hành một thử  
nghiệm về độ ổn định và độ tin cậy của các  
biến, sử dụng phân tích nhân tố và kiểm tra độ  
tin cậy bằng cách sử dụng phần mềm SPSS.  
Các giá trị kết quả phải đáp ứng các tiêu chí  
Explained) >50%, Tương quan biến tổng (Item-to-  
totalcorrelation)>0,5,Cronbach'salpha>0,6[13]. Bất kỳ  
biến nào không đáp ứng các tiêu chí đề cập ở  
trên sẽ bị loại bỏ. Bảng 2 cho thấy kết quả phân  
tích xác nhận rằng không có biến nào được loại  
sau: Hệ số nhân tố (Factorloading)>0,6,Eigenvalue trừ khỏi phân tích tiếp theo.  
> 1, Phương sai trích tích lũy (Cumulative  
Bảng 2. Kết quả phân tích nhân tố và kiểm tra độ tin cậy  
Phương sai  
trích tích lũy  
61,26%  
Tương quan Cronbach’s  
Biến nghiên cứu  
Hệ số tải nhân tố Eigen value  
biến tổng  
Alpha (α)  
0,894  
Động Lực  
0,745~0,852  
0,759~0,843  
0,734~0,831  
0,730~0,817  
0,725~0,840  
0,714~0,860  
4,289  
3,104  
4,119  
3,611  
2,367  
2,418  
0,631~0,781  
0,620~0,729  
0,633~0,748  
0,610~0,716  
0,513~0,667  
0,502~0,704  
Cơ hội  
62,07%  
0,846  
Năng lực  
58,84%  
0,882  
Giá trị khách hàng  
Thái độ  
60,17%  
0,866  
59,17%  
0,765  
Ý định hành vi  
60,44%  
0,775  
Nguồn: Kết quả phân tích SPSS  
phương (R Square)>0,6, Phương sai trung bình  
trích xuất (AVE)>0,5, Độ tin cậy tổng hợp  
(CR)>0,6, Cronbach's Alpha>0,7 [10, tr.106-  
121]. Bảng 3 cho thấy tất cả các tiêu chí được  
đáp ứng và chứng minh rằng độ tin cậy và hiệu  
lực của mô hình nghiên cứu là phù hợp, do đó  
có thể chuyển sang đánh giá sau đây về mô  
hình kết cấu.  
2.2.2. Kết quả nghiên cứu  
Nghiên cứu đã tiến hành một đánh giá các  
mô hình đo lường để kiểm tra độ tin cậy và phù  
hợp của mô hình lý thuyết so với dữ liệu thực  
tế phản ánh qua những con số. Điều này hỗ trợ  
nhà nghiên cứu một ước tính chung và sự phù  
hợp của phương pháp phân tích. Đánh giá đo  
lường tập trung vào các giá trị như: R bình  
Bảng 3. Kết quả phân tích mô hình  
Phương sai trung  
bình trích xuất  
0,613  
Độ tin cậy  
tổng hợp  
0,917  
Cronbach's  
Alpha  
0,894  
R bình  
phương  
0,625  
Biến nghiên cứu  
Động Lực  
Cơ hội  
0,620  
0,891  
0,847  
0,529  
Năng lực  
0,588  
0,909  
0,883  
0,154  
Giá trị khách hàng  
Thái độ  
0,601  
0,903  
0,867  
0,691  
0,591  
0,852  
0,766  
0,574  
Ý định hành vi  
0,604  
0,858  
0,776  
0,752  
Nguồn: Kết quả phân tích SPSS  
Sử dụng một mẫu của 309, một quy trình  
khởi động không tham số được thực hiện với  
5000 mẫu phụ để có được ý nghĩa thống kê của  
từng hệ số đường dẫn để kiểm tra giả thuyết.  
Mối quan hệ giữa các cấu trúc được trình bày  
trong Hình 2. Tổng cộng có 8 giả thuyết được  
chấp nhận. Nghiên cứu này đã phát triển giả  
thuyết rằng các yếu tố MOA có ảnh hưởng tích  
cực như một tiền tố đối với giá trị nhận thức  
của khách hàng (H1a, H1b, H1c) và thái độ đối  
với việc sử dụng truyền thông xã hội (H2a,  
H2b, H2c). Các nhân tố MOA ảnh hưởng tích  
cực đến giá trị khách hàng bao gồm động cơ (β  
= 0,675, t = 3,453), cơ hội (β = 0,475, t =  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Minh Bình Phương  
5,654) và khả năng (β = 0,612, t = 4,775). Dựa  
vào kết quả, giả thuyết H1a, H1b, H1c được  
củng cố. Bên cạnh đó, kết quả cho thấy rằng  
các yếu tố của MOA có ảnh hưởng đáng kể đến  
thái độ đối với sử dụng truyền thông xã hội bao  
gồm động cơ (β = 0,591, t = 2,231), cơ hội (β =  
0,399, t = 5,964) và khả năng (β = 0,412, t =  
5,256). Dựa vào kết quả, giả thuyết H2a, H2b,  
H2c đã được củng cố.  
Hơn nữa, kết quả thực nghiệm cho thấy  
rằng giá trị khách hàng có ảnh hưởng tích cực  
về ý định hành vi trong việc sử dụng truyền  
thông xã hội (β = 0,531, t = 8,423) và thái độ  
đối với sử dụng truyền thông xã hội (β = 0,601,  
t = 7.243) cũng là ảnh hưởng đáng kể về ý định  
hành vi trong việc sử dụng truyền thông xã hội.  
Do đó, các giả thuyết H3, H4 được củng cố.  
Bảng 4. Kết quả phân tích mô hình đo lường  
Giả thuyết  
Hệ số β  
0,675  
0,475  
0,612  
0,591  
0,399  
0,412  
0,531  
0,601  
Hệ số t  
H1a  
H1b  
H1c  
H2a  
H2b  
H2c  
H3a  
H3b  
Động lực → Giá trị tiếp nhận  
Cơ hội → Giá trị tiếp nhận  
3,453***  
5,654***  
4,775***  
2,231***  
5,964***  
5,256***  
8,423***  
7,243***  
Khả năng → Giá trị tiếp nhận  
Động lực → Thái độ tiếp nhận  
Cơ hội → Thái độ tiếp nhận  
Khả năng → Thái độ tiếp nhận  
Giá trị tiếp nhận → Ý định hành vi tiếp nhận  
Thái độ tiếp nhận → Ý định hành vi tiếp nhận  
Ghi chú: ***p<.001  
Nguồn: Kết quả phân tích PLS-SEM  
Hình 2. Mô hình đo lường của nghiên cứu này  
Nguồn: Kết quả phân tích SPSS  
cách kết hợp “khả năng” với điều kiện “cơ hội”  
và “động lực” [21, tr.345-385]. Như vậy, nhằm  
nâng cao giá trị khách hàng, cần thiết phải tìm  
cách để tiếp cận khách hàng, hiểu được sự  
mong đợi của họ và cải thiện các lợi ích dành  
cho họ. Bên cạnh đó, các nhà quản lý truyền  
thông xã hội cần phải được nhận thức yếu tố  
3. KẾT LUẬN  
Một vài kết luận đã được đưa ra từ các kết  
quả của nghiên cứu này. Đầu tiên, các yếu tố  
MOA bao gồm: Động lực, Cơ hội, Khả năng  
đóng vai trò như tiền tố đối với giá trị nhận  
thức của khách hàng. Điều đó có nghĩa là giá trị  
nhận thức của khách hàng có thể đạt được bằng  
83  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
môi trường bên ngoài gây tác động tiêu cực đối  
với người sử dụng và tăng các yếu tố tích cực  
cho người dùng. Cần thiết phải kết hợp tìm  
hiểu kiến thức và kỹ năng của người dùng cho  
phù hợp với khả năng của họ. Các yếu tố MOA  
cũng có ảnh hưởng tích cực đến thái độ đối với  
việc sử dụng truyền thông xã hội [6, tr.86-123].  
Trên thực tế, người dùng truy cập mạng truyền  
thông xã hội khi họ cảm thấy giá trị của lợi ích  
được phản ánh một cách rõ ràng. Nói cách  
khác, truyền thông xã hội này phải phù hợp với  
yêu cầu của người dùng, với lợi ích của họ và  
có uy tín. Nó cũng phải phù hợp với các kỹ  
năng mà người dùng có. Kết quả cũng chỉ ra  
rằng giá trị nhận thức của khách hàng sẽ ảnh  
hưởng tích cực ly tới ý định hành vi đối với  
truyền thông xã hội. Một số nghiên cứu trước  
chia sẻ chung một quan điểm [6], [9, tr.22-32].  
Cụ thể, kết quả này giống với nghiên cứu của  
Chen và Lin [9] khi người dùng nhận được  
nhiều giá trị hơn, họ sẽ nâng cao ý định sử  
dụng truyền thông xã hội hơn. Cuối cùng, thái  
độ là yếu tố quyết định quan trọng nhất của  
hành vi [7, tr.1-14]. Ahn và các cộng sự [1,  
tr.261-267] đã khẳng định rằng một cách tiếp  
cận tiêu cực hoặc tích cực ảnh hưởng đến thái  
độ sẽ tạo ra một phản ứng tiêu cực hoặc tích  
cực đến hành vi. Những điểm trên được coi là  
đi đến kết luận chung rằng thái độ đối với việc  
sử dụng truyền thông xã hội có tác động tích  
cực đến ý định hành vi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Ahn, J., Back, K. J., & Lee, C. K. (2019), A new dualistic approach to brand attitude: The role of passion  
among integrated resort customers, International Journal of Hospitality Management, 78.  
[2] Alshibly, H. H. (2014), A free simulation experiment to examine the effects of social commerce  
website quality and customer psychological empowerment on customers' satisfaction, Journal of  
Business Studies Quarterly, 5(4), 21.  
[3] Binney, W., Hall, J., & Oppenheim, P. (2006), The nature and influence of motivation within  
the MOA framework: implications for social marketing, International Journal of Nonprofit and  
Voluntary Sector Marketing, 11(4).  
[4] Black, A. P., & Baker, M. (2011), The impact of parent advocacy groups, the Internet, and  
social networking on rare diseases: the IDEA League and IDEA League United Kingdom  
example, Epilepsia, 52.  
[5] Briliana, V. (2017), Identifying Antecedents and Outcomes of Brand Loyalty: A Case Of Apparel  
Brands In Social Media, In Global Conference on Business and Economics Research.  
[6] Carrillat, F. A., d’Astous, A. & Grégoire, E. M. (2014), Leveraging Social Media to Enhance  
Recruitment Effectiveness, Internet Research, 24(4).  
[7] Chandra, B., Goswami, S., & Chouhan, V. (2013), Investigating altitude towards online  
advertising on social media-an empirical study, Management Insight, 8(1).  
[8] Chang, Y. P., & Zhu, D. H. (2011), Understanding social networking sites adoption in China: A  
comparison of pre-adoption and post-adoption, Computers in Human behavior, 27(5).  
[9] Chen, S. C., & Lin, C. P. (2019), Understanding the effect of social media marketing activities:  
The mediation of social identification, perceived value, and satisfaction, Technological  
Forecasting and Social Change, 140.  
84  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Minh Bình Phương  
[10] Hair Jr, J. F., Sarstedt, M., Hopkins, L., & Kuppelwieser, V. G. (2014), Partial least squares  
structural equation modeling (PLS-SEM), European business review, 26(2).  
[11] Gallarza, M. G., Gil‐Saura, I., & Holbrook, M. B. (2011), The value of value: Further excursions  
on the meaning and role of customer value, Journal of consumer behaviour, 10(4).  
[12] Gruen, T. W., Osmonbekov, T., & Czaplewski, A. J. (2007), Customer-to-customer exchange:  
Its MOA antecedents and its impact on value creation and loyalty, Journal of the Academy of  
Marketing Science, 35(4).  
[13] Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E., & Tatham, R. L. (1998), Multivariate  
data analysis. Upper Saddle River, NJ: Prentice hall.  
[14] Hsu, C. L., & Lin, J. C. C. (2008), Acceptance of blog usage: The roles of technology acceptance,  
social influence and knowledge sharing motivation, Information & management, 45(1).  
[15] Kaplan, A. M., & Haenlein, M. (2010), Users of the world, unite! The challenges and  
opportunities of Social Media, Business horizons, 53(1).  
[16] Kim, H. W., Chan, H. C., & Gupta, S. (2007), Value-based adoption of mobile internet: an  
empirical investigation, Decision support systems, 43(1).  
[17] Lee, W., Tyrrell, T. & Erdem, M. (2013), Exploring the Behavioral Aspects of Adopting  
Technology: Meeting Planners' Use of Social Network Media and the Impact of Perceived  
Critical Mass, Journal of Hospitality and Tourism Technology, 4(1).  
[18] Leung, X. Y., & Bai, B. (2013), How motivation, opportunity, and ability impact travelers' social  
media involvement and revisit intention, Journal of Travel & Tourism Marketing, 30(1-2).  
[19] Liu, B. (2011), Web Data Mining: Exploring Hyperlinks, Contents, and Usage Data. Berlin:  
Springer Science & Business Media.  
[20] Nusair, K. K., Bilgihan, A., & Okumus, F. (2013), The role of online social network travel  
websites in creating social interaction for Gen Y travelers, International journal of tourism  
research, 15(5).  
[21] ThØgersen, J. (1995), Understanding of consumer behaviour as a prerequisite for  
environmental protection, Journal of consumer policy, 18(4).  
[22] Yen, Y. S. (2013), Exploring perceived value in social networking sites: The mediation of customer  
satisfaction, International Journal of Computer and Information Technology, 2(3).  
[23] Zeithaml, V. A. (1988), Consumer perceptions of price, quality, and value: a means-end  
model and synthesis of evidence, Journal of marketing, 52(3).  
Ngày nhận bài: 25-2-2020. Ngày biên tập xong: 17-11-2020. Duyệt đăng: 27-11-2020  
85  
pdf 9 trang baolam 23560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò tiền tố của mô hình MOA và các yếu tố tác động đến việc tiếp nhận truyền thông xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_tien_to_cua_mo_hinh_moa_va_cac_yeu_to_tac_dong_den_v.pdf