Thực trạng nghèo đói tại xã Thượng Nung, huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên
No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.56-65
DOI:
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI TẠI XÃ THƯỢNG NUNG
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Trần Thị Hồng1*
1 Trường Đại học Khoa học-Đại học Thái Nguyên
Thông tin bài viết
Tóm tắt
Bài viết tập trung làm rõ thực trạng nghèo đói cũng như phân tích những nguyên
nhân dẫn đến nghèo đói và việc thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo của xã
Thượng Nung, huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2016-2019. Từ đó,
đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo đói trên địa bàn xã trong thời gian tới.
Ngày nhận bài:
27/7/2020
Ngày duyệt đăng:
20/9/2020
Từ khóa:
Nghèo đói, xóa đói, giảm
nghèo, công tác xóa đói, chính
sách xóa đói giảm nghèo.
7 xóm, quy mô 4229 ha và 525 hộ với 2131 nhân
1. Đặt vấn đề nghiên cứu
khẩu, 100 à đồng bào dân tộc thiểu số (Tày và
Mông), đời sống chủ yếu dựa vào àm nư ng rẫy,
trình độ dân trí còn thấp. Số hộ nghèo tính đến tháng
12 năm 2019 vẫn là 203 hộ chiếm 38,66 %. Số hộ cận
nghèo là 87 hộ, chiếm 16.5% . (Theo báo cáo của
UBND xã Thượng Nung năm 2019). Vậy, nguyên
nhân nào dẫn đến thực trạng nghèo đói và cần có
những giải pháp nào để giảm nghèo đói tại xã
Thượng Nung trong thời gian tới? Xuất phát từ lí do
trên, tác giả đã ựa chọn vấn đề “Thực trạng nghèo đói
tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
đề nghiên cứu. Ở phạm vi bài viết này, tác giả phân tích
một số nguyên nhân c bản dẫn đến nghèo đói và đề
xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo đói trên địa
bàn xã trong thời gian tới.
Ngày nay, nghèo đói đang trở thành một vấn đề
cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt
là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển.
Mỗi quốc gia muốn thực hiện được mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội bền vững thì không thể không
giải quyết vấn đề nghèo đói. Trong những năm qua,
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về xóa
đói giảm nghèo, được các tổ chức quốc tế và các
nước đánh giá cao về sự quyết tâm chống nghèo đói
của Chính Phủ Việt Nam.
nhiên lớn nhất trong số 9 huyện và thành phố của
tỉnh Thái Nguyên. Trong thời gian qua, mặc dù đạt
được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong công tác
giảm nghèo, là địa phư ng có t ệ giảm nghèo
nhanh của tỉnh Thái Nguyên. Riêng năm 2017, t ệ
giảm nghèo của V Nhai đạt trên 6 , đứng thứ 2
toàn tỉnh, song vẫn à địa phư ng có t lệ hộ nghèo
cao nhất tỉnh.
2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Nội dung nghiên cứu
Bài viết tập trung nghiên cứu 2 nội dung chính:
- Phân tích thực trạng nghèo đói cũng như các
nguyên nhân dẫn đến nghèo đói và àm r việc thực
hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo của xã
Thượng Nung là một trong xã vùng cao đặc biệt
khó khăn của huyện V Nhai. Năm 2019, toàn xã có
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
trong giai đoạn 2016-2019.
vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình độ
phát triển ở mỗi n i. Ở Việt Nam thì tách riêng “đói”
và “nghèo” thành 2 khái niệm riêng biệt.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo đói
trên địa bàn xã trong thời gian tới tại xã Thượng Nung,
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.
- Nghèo: à tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều
kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu c bản
của cuộc sống và có mức sống thấp h n mức sống trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phư ng diện.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện bài viết này, tác giả đã sử dụng một
số phư ng pháp nghiên cứu sau:
- Đói: à tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có
mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ
đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Đó
à các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến
3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả
năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng
kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập
dưới 13kg gạo/người/tháng (tư ng đư ng
45.000VND).
- Phư ng pháp phân tích và tổng hợp;
- Phư ng pháp phỏng vấn sâu: Tiêu chí chọn mẫu
phỏng vấn sâu.
Một là: Với đối tượng là cán bộ xã: Tác giả tiến
hành phỏng vấn 01 chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
Thượng Nung; 01 công chức chuyên trách mảng công
tác xóa đói giảm nghèo của xã và 07 trưởng xóm –
người được Ủy ban nhân xã Thượng Nung giao nhiệm
vụ quản lý các hộ dân trong phạm vi được giao để hiểu
r h n về tình hình các hộ dân của xóm nhất là các hộ
dân thuộc diện nghèo và cận nghèo.
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định
nghĩa chung về nghèo đói: “là tình trạng một bộ
phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống
như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền
được tham gia vào các quyết định của cộng đồng”.
Hai là: Với đối tượng à người dân: Tác giả lựa
chọn dựa vào tiêu chí là các hộ dân thuộc diện nghèo
và cận nghèo do Ủy ban nhân xã cung cấp trên c sở
lấy mẫu ngẫu nhiên.
3.2. Thực trạng nghèo đói tại xã Thượng Nung,
huyện Võ Nhai giai đoạn 2016-2019
Xã Thượng Nung là một xã đặc biệt khó khăn của
huyện Võ Nhai, trong những năm qua Xã đã đạt được
một số kết quả nhất định về công tác xóa đói giảm
nghèo như: Hộ nghèo từ 276 hộ năm 2016 xuống còn
203 hộ năm 2019 (giảm 15,67%). Số hộ cận nghèo từ
53 hộ năm 2016 tăng ên 87 hộ năm 2019 (Tăng 5,9 )
(Nguồn: Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân xã Thượng
Nung). Sở dĩ, có được kết quả kể trên là do hàng năm
Ủy ban nhân dân xã đã kịp thời phân công cụ thể từng
thành viên phụ trách chỉ đạo theo dõi thực hiện mục tiêu
giảm nghèo trên địa bàn xã; gắn Chư ng trình giảm
nghèo với các chư ng trình phát triển kinh tế - xã hội
trọng tâm, trọng điểm; coi đó à một trong những
chư ng trình ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của địa phư ng nên đã mang ại hiệu
quả cao cho mục tiêu giảm nghèo hàng năm của xã
được thể hiện ở Bảng 1 dưới đây.
- Ngoài ra, tác giả còn sử dụng cả phư ng pháp
quan sát trong quá trình nghiên cứu.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Khái niệm nghèo đói
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu
Á - Thái Bình Dư ng do ESCAP tổ chức tại Băng
Cốc tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa
về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tình trạng một
bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội
thừa nhận thùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã
hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Có
thể xem đây à định nghĩa chung nhất về nghèo đói,
trong đó các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về
nghèo đói còn để ngỏ về mặt ượng hóa, bởi nó chưa
tính đến những khác biệt và độ chênh lệch giữa các
Bảng 1: Thực trạng số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã Thượng Nung giai đoạn 2016 - 2019
Số
Số hộ
Năm
Tổng
Hộ nghèo
Cận nghèo
số hộ dân cư
Số
lượng
276
253
230
Tỷ lệ
(%)
54,33
49,22
44,66
38,66
Số
lượng
53
69
78
Tỷ lệ
(%)
10,4
13,4
15,1
16,5
2016
2017
2018
2019
508
514
515
525
203
87
(Nguồn: Báo cáo của Xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tháng 12/2019)
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
Số hộ nghèo và cận nghèo phân theo đối tượng cũng
thuộc đối tượng bảo trợ xã hội năm 2016 à 23 hộ,
giảm xuống còn 16 hộ năm 2019 được thể hiện ở
Bảng 2 dưới đây.
có xu hướng giảm hàng năm. Cụ thể: Hộ nghèo và cận
nghèo thuộc diện người có công năm 2016 là 6 hộ thì đến
năm 2019 thì xuống còn 4 hộ. Số hộ nghèo và cận nghèo
Bảng 2: Số hộ nghèo phân theo đối tượng giai đoạn 2016-2019
tại xã Thượng Nung huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Năm
Hộ nghèo thuộc các nhóm đối tượng
Tổng
Hộ nghèo có thành viên thuộc đối Hộ nghèo có thành viên thuộc đối
tượng chính sách người có công
tượng bảo trợ xã hội
2016
2017
2018
2019
6
6
4
3
23
23
17
16
29
29
21
19
(Nguồn: Báo cáo của Xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên)
Theo kết quả thống kê thì 7/7 xóm của xã
Thượng Nung đều là có hộ nghèo và cận nghèo. Tỉ
lệ hộ nghèo tại các xóm của xã thường giao động
từ 15 đến 93 có xu hướng giảm, thậm chí là
giảm mạnh qua các năm trong giai đoạn 2016-
2019. Chẳng hạn: xóm Lũng Luông, năm 2016 có
tỉ lệ hộ nghèo chiếm 93,3%, (114/116 hộ) những
đến năm 2019 giảm xuống còn 79,3% (92/116 hộ).
Tiếp đến là xóm Lũng Hoài với 40/43 hộ nghèo
năm 2016, chiếm 93 , có xu hướng tăng thêm 02
hộ vào năm 2018 nhưng năm 2019 chỉ còn 36/45
hộ, chiếm 80,0%. Xóm có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất
à xóm An Thành năm 2016 với 12/79 hộ, chiếm
15 nhưng đến tháng 12/2019 xóm giảm xuống
còn 8 hộ, chiếm 9,6%.
Tỉ lệ hộ cận nghèo tại 7/7 xóm của xã Thượng Nung
có xu hướng tăng nhẹ qua các năm trong giai đoạn
2016-2019. Trong đó, xóm có tỉ lệ hộ cận nghèo cao
nhất là xóm Lục Thành với 18 hộ cận nghèo năm 2016,
chiếm 29,03 đến năm 2019 tăng ên 21 hộ, chiếm
32,2%. Tiếp đến à Xóm Lũng Cà từ 4/34 hộ, năm
2016, chiếm 11,7 tăng ên 12 hộ, chiếm 28,6 năm
2019. Xóm Trung Thành từ 7/105 hộ, năm 2016, chiếm
6,7 tăng ên 18 hộ, chiếm 16,4 năm 2019, điều đó
được thể hiện ở Bảng 3 dưới đây.
Bảng 3: Thực trạng số hộ nghèo, cần nghèo tại 7/7 xóm thuộc xã Thượng Nung giai đoạn 2016-2019
Năm
Xómthuộcxã
Tổng số hộ
Số hộ dân tộc
thiểu số
Tổng số
Tổng số
dân cư
hộ nghèo
hộ cận nghèo
Số lượng
Tỉ lệ
15,2
37,1
27,4
41,3
82,4
93,0
93,4
54,33
15,0
30,6
21,3
34,9
68,6
Số lượng
Tỉ lệ
An Thành
79
105
62
79
105
62
12
39
17
26
28
40
114
276
12
33
13
22
24
10
7
12,7
6,7
Trung Thành
Lục Thành
Tân Thành
Lũng Cà
2016
18
7
29,0
11,1
11,8
7,0
63
63
34
34
4
Lũng Hoài
Lũng Luông
Tổng
43
43
3
122
508
80
122
508
80
4
3,3
53
8
10,4
10,0
11,1
29,5
19,0
31,4
An Thành
Trung Thành
Lục Thành
Tân Thành
Lũng Cà
108
61
108
61
12
18
12
11
63
63
2017
35
35
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
Năm
Xómthuộcxã
Tổng số hộ
Số hộ dân tộc
thiểu số
Tổng số
Tổng số
dân cư
hộ nghèo
hộ cận nghèo
Số lượng
Tỉ lệ
93,0
87,9
49,22
9,9
Số lượng
Tỉ lệ
Lũng Hoài
43
124
514
81
43
124
514
81
40
109
253
8
2
6
4,7
4,8
Lũng Luông
Tổng
69
5
13,4
6,2
An Thành
Trung Thành
Lục Thành
Tân Thành
Lũng Cà
108
63
108
63
30
10
14
27
42
99
230
8
27,8
15,9
22,6
64,3
97,7
85,3
44,66
9,6
16
19
18
13
1
14,8
30,2
29,0
31,0
2,3
2018
62
62
42
42
Lũng Hoài
Lũng Luông
Tổng
43
43
116
515
83
116
515
83
6
5,2
78
5
15,1
6,0
An Thành
Trung Thành
Lục Thành
Tân Thành
Lũng Cà
110
65
110
65
26
7
23,6
10,8
14,1
59,5
80,0
79,3
38,66
18
21
18
12
5
16,4
32,3
28,1
28,6
11,1
6,9
2019
64
64
9
42
42
25
36
92
203
Lũng Hoài
Lũng Luông
Tổng
45
45
116
525
116
525
8
87
16,5
(Nguồn: Báo cáo của Xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tháng 12/2019)
Để có cái nhìn toàn diện, khách quan h n, tác giả đã
chủ yếu tại hai xóm Lũng Cà và Lũng Luông và cả
xóm Luỗng Hoài. Mặc dù, trong thời gian qua, chính
quyền xã Thượng Nung cũng đã thực hiện chính sách
hỗ trợ kinh phí sửa chữa, xây mới về nhà ở cho các hộ
nghèo trên địa bàn xã. Tuy nhiên, do kinh phí hạn hẹp
trong khi số hộ nghèo cần hỗ trợ lại đông nên tình
trạng nghèo về nhà ở vấn là vấn đề cần phải quan tâm
đặc biệt trong thời gian tới.
tiến hành phỏng vấn sâu (Đối tượng được chọn phỏng
vấn sâu gồm: 2 cán bộ xã; 07 trưởng xóm và 80 hộ dân
thuộc 7 xóm trên địa bàn xã. Cụ thể: Xóm Lũng Cà và
Xóm Lũng Luông, mỗi xóm 15 hộ, các xóm còn lại là
10 hộ/xóm). Kết quả thu được như sau:
Về nhà ở của người dân tại xã Thượng Nung: Qua
quan sát và phỏng vấn sâu 80 hộ dân thì có tới 49 hộ
đang sống trong những ngôi nhà tạm bợ sập sệ, không
kiêm cố. Nhà ở của người dân được dựng trên những
sườn đồi cheo eo, tường nhà chỉ đ n giản là những
mảnh gỗ tạp ghép tạm hoặc tấm phên nứa bao quanh.
Với một địa phư ng có khí hậu khắc nghiệt như V
Nhai (thường xảy ra tình trạng sạt lở đất vào mùa
mưa, sư ng muối vào mùa đông) thì nhà ở của người
dân chưa đảm bảo an toàn: Cụ thể: Xóm Lũng Cà:
14/15 hộ dân; Xóm Lũng Luông à 13/15 hộ dân;
Xóm: Luỗng Hoài: 6/10 hộ dân; Xóm Tân Thành: 4/10
hộ dân; Xóm Lục Thành: 3/10 hộ dân; Xóm Trung
Thành: 5/10 hộ dân; Xóm An Thành: 4/10 hộ dân.
Như vậy, tình trạng nghèo đói về nhà ở vẫn tập trung
Về đời sống của người dân: Kết quả phỏng vấn sâu
80 hộ dân trên địa bàn xã, có tới 63/80 hộ dân có đời
sống còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt tại hai xóm Lũng
Cà, Lũng Luông (24/30 hộ dân của hai xóm được phỏng
vấn), cho biết bữa ăn hàng ngày của họ chủ yếu là ngô
và rau dại được lấy ở rừng. Trên địa bàn xã, hiện đã có
công trình nước sạch phục vụ mục đích dân sinh
nhưngvẫn còn rất nhiều hộ dân (70/80 hộ dân được
phỏng vấn) trong xã vẫn sử dụng nước tự nhiên cho sinh
hoạt, trong đó phần lớn là dùng nguồn nước tự chảy và
nước suối. Khi được hỏi, đa phần người dân cho biết
“Chúng tôi quen dùng nguồn nước tự nhiên rồi, dùng
nước sạch chúng tôi không quen”. Như vậy, có thể thấy
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
nhận thức của người dân n i đây về lợi ích của nước
sạch trong sinh hoạt hàng ngày còn khá hạn chế. Về
nguồn nước sản xuất nông nghiệp n i đây cũng chủ yếu
phụ thuộc vào nước trời.
về từng hộ dân trên địa bàn xã cũng đã được Ủy ban
nhân dân xã quan tâm, tuy nhiên, do các hộ dân cư
sống thưa thớt tại các dải núi khác nhau nên việc kéo
điện tới các xóm à vô cùng khó khăn, tỉ lệ hộ gia đình
không có điện thắp sáng, thiếu các phư ng tiện nghe
nhìn, đời sống của người dân ở đây còn khá cao. Theo
như kết quả phỏng vấn sâu thì có tới 45/80 tổng số hộ
được phỏng vấn à chưa có điện ưới. Cuộc sống của
họ chủ yếu à đèn dầu, số hộ dân có tivi phục vụ đời
sống tinh thần cũng chiếm với số ượng khá khiêm tốn
là 20/80 hộ dân được hỏi.
Về giao thông đi lại: Giao thông đi ại n i đây đã
và đang trở thành một trong những rào cản gây khó
khăn không nhỏ đối với đời sống của người dân tại xã,
nhất à giao thông đi ại của hai xóm Lũng Cà, Lũng
Luông, chủ yếu à đường mòn nhỏ, mùa mưa ầy lội
khó khăn cho việc đi ại của bà con n i đây. Đường
sá đi ại khó khăn đã khép bà con cách biệt với sự
phát triển của xã hội bên ngoài như trăn trở của
Trưởng xóm Lũng Cà và Lũng Luông: “mong muốn
có ánh điện, có ti vi để bà con thấy được ở ngoài kia
xã hội phát triển như thế nào”. R ràng, nỗi niềm ấy
không thể giải quyết được trong một sớm một chiều.
3.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng nghèo đói
tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên
Qua kết quả phỏng vấn sâu, tác giả nhận thấy có
rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nghèo đói
của người dân tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua, được thể hiện ở
Bảng 4 dưới đây.
Việc được sử dụng điện lưới quốc gia của các hộ
dân tại xã Thượng Nung). Việc đưa điện ưới quốc gia
Bảng 4: Tỉ lệ nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Cólao
Chây
ười lao
động
Thiếu
đất
Thiếu
phư ng
tiện sán
xuất
Khôngbiết
cách àmăn
khôngcó
Thiếu
vốn sản
xuất
Thiếu
lao
động
nhưng
Đông
Ốm
Mắc tệ
nạn xã
hội
người
đau
canh
tác
động
khôngcó
việclàm
ăn theo nặng
taynghề
Tỉ lệ
13,7
25,6
19,7
2,6
8,5
6,8
13,7
0,9
2,6
27,3
(%)
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn sâu)
Qua Bảng 4, có thể thấy các nguyên nhân c bản dẫn
đến thực trạng nghèo đói tại xã Thượng Nung, huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên đó à:
một trong những nguyên nhân c bản dẫn đến nghèo
đói của người dân xã Thượng Nung. Kết quả phỏng
vấn có tới 100% số hộ được hỏi đều thiếu phư ng tiện
sản xuất nên phải đi thuê hoặc mượn lại của người
khác trong vùng.
* Nhóm các nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, nghèo đói do điều kiện tự nhiên không
thuận lợi, dẫn đến thiếu đất canh tác chiếm tỉ lệ
25,6%. Thực tế cho cho thấy, xã Thượng Nung,
huyện Võ Nhai nằm tại phía bắc của huyện Võ Nhai
ưu chảy trên địa bàn. Địa hình của xã khá phức tạp,
chủ yếu à đồi núi. N i đây có khối núi đá vôi đồ sộ
nhất tỉnh Thái Nguyên, rộng tới 300 km2, độ cao từ
500 đến 600 mét, kéo dài từ Thần Sa qua Nghinh
Tường, đến Liêm Thu (huyện Na Rì, tỉnh Bắc
Cạn). Những đặc điểm này gây khó khăn không nhỏ
cho hoạt động sản xuất của bà con nhân dân sinh
sống trên địa bàn xã mà còn làm cho tình trạng thiếu
đất canh tác càng trở nên trầm trọng h n.
Thứ ba, nghèo đói do thiếu vốn sản xuất, chiếm
13,7%. Vốn cũng à vấn đề được người dân quan
tâm khi muốn nâng cao năng suất trồng trọt và
chăn nuôi cũng như mở rộng sản xuất, nhưng đại
bộ phận người dân không có vốn nên việc đầu tư
cho chăn nuôi, trồng trọt gặp rất nhiều khó khăn.
Cùng với đó, người dân chủ yếu sử dụng công cụ
sản xuất còn thô s , ạc hậu trong quá trình canh
tác nên năng suất không cao, khiến đời sống của
người xã Thượng Nung đã khó khăn ại càng khó
khăn h n.
* Nhóm các nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, nghèo đói do chây lười lao động chiếm
27,3%. Có thể thấy đây à nguyên nhân c bản nhất,
Thứ hai, nghèo đói do thiếu phương tiện sản xuất
với tỉ lệ 19,7%. Thiếu phư ng tiện sản xuất cũng à
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
chiếm tỉ lệ cao nhất dẫn đến thực trạng đói nghèo của
một số khó khăn cho người nghèo như thu nhập thấp,
thiếu đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề phù hợp.
Năm 2019, Hội phụ nữ xã mới mở được lớp đào tạo
nghề may công nghiệp thu hút 40 ao động tại địa
phư ng tham gia. Đây à con số còn khiêm tốn so với
thực trạng người dân không có việc làm ở xã.
người dân n i đây. Tâm lý chông chờ, ỉ lại cộng với tư
tưởng muốn thụ hưởng chính sách giảm nghèo trong
thời gian dài cũng như việc nhận thức không đầy đủ
trách nhiệm của bản thân trong việc tự lực ao động
để vư n ên thoát nghèo của một đại bộ phận dân cư tại
xã Thượng Nung chính là nguyên nhân dẫn đến hiện
trạng đói nghèo của xã Thượng Nung trong thời gian
qua còn chiếm tỉ lệ cao.
* Chính sách hỗ trợ về y tế
Giai đoạn 2016-2019, xã đã thực hiện cấp phát
8.531 lượt thẻ BHYT cho người dân tộc thiểu số ở
vùng đặc biệt khó khăn và 113 ượt thẻ cho người
Kinh sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn. Công tác
lập danh sách và cấp phát thẻ BHYT của một số đối
tượng đã được triển khai thực hiện và kịp thời phục
vụ công tác khám chữa bệnh của đối tượng hưởng
thụ. Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe
cho người dân đã được xã thực hiện tư ng đối tốt,
chất ượng khám chữa bệnh cho các đối tượng từng
bước được nâng lên. Đặc biệt công tác khám chữa
bệnh bảo hiểm y tế hàng năm đều có đạt trên 2000
ượt người chiếm trên 85% tổng số ượt khám chữa
bệnh tại Trạm y tế xã.
Thứ hai, nghèo đói do đông người ăn theo, chiếm
13,7%. Theo như kết quả điều tra được cho thấy, mỗi
gia đình tại xã Thượng Nung thường có từ 5 đến 6
khẩu/hộ, trong khi ao động chính tạo ra thu nhập nuôi
sống cả gia đình cũng chỉ có từ 1 đến 2 người. Do vậy,
rất nhiều hộ gia r i vào tình cảnh không đảm bảo được
cuộc sống tối thiểu của gia đình.
Thứ ba, có lao động nhưng không có việc làm,
chiếm 8,5%. Về c bản mà nói người dân tại xã
Thượng Nung chỉ quen với công việc của nhà nông
như trồng trọt, chăn nuôi, tuy nhiên, do điều kiện tự
nhiên không ưu ái, không có đất canh tác, không có
phư ng tiện sản xuất nên nhiều gia đình có ao động
nhưng ại không có việc làm.
* Chính sách hỗ trợ về giáo dục và đào tạo
Mạng ưới trường lớp, c sở vật chất phục vụ giáo
dục các cấp học được xã quan tâm đầu tư; thực hiện
kịp thời, đúng đối tượng các chính sách về miễn, giảm
học phí cho học sinh à con em đồng bào dân tộc thiểu
số, hộ nghèo, học sinh sinh sống ở xã đặc biệt khó
khăn. Qua đó đã tạo cho học sinh con hộ nghèo có
điều kiện học tập tốt h n, giảm bớt khó khăn cho gia
đình và các em học sinh, từ đó nâng cao t lệ đi học
chuyên cần ở các xóm vùng cao, góp phần nâng cao
chất ượng giáo dục toàn diện của xã. Tổng số ượt học
sinh được nhận hỗ trợ: 3.861 em. Tổng số tiền hỗ trợ
2.293,29 triệu đồng. Trong đó số học sinh, trẻ mẫu
giáo thuộc hộ nghèo được miễn giảm học phí là 1.789
em; số học sinh, trẻ mẫu giáo thuộc hộ nghèo được hỗ
trợ chi phí, đồ dùng học tập là 1.972 em; số trẻ em
được hỗ trợ ăn trưa tại trường theo Nghị định số
116/2016/NĐ-CP là 114 em.
Thứ tư, nghèo đói do không biết cách làm ăn không
có tay nghề, chiếm 6,8%. Đa số dân cư của xã Thượng
Nung à người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp nên
khả năng tiếp cận với công nghệ cũng như những công
việc đòi hỏi trình độ chuyên môn thì không thể đáp ứng
nên mặc dù có ao động nhưng rất nhiều hộ vẫn đói
nghèo à vì không tìm được việc phù hợp để làm.
Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác nữa như:
Ốm đau nặng (0,9%); Mắc tệ nạn xã hội (2,6%) và thiếu
ao động (2,6%), các nguyên nhân này chiếm tỉ lệ nhỏ,
nhưng cũng những nguyên nhân góp phần đưa đến sự
nghèo đói của người dân xã Thượng Nung trong thời
gian qua.
3.3. Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo tại
xã Thượng Nung giai đoạn 2016-2019
Từ năm 2016 đến nay, UBND xã Thượng Nung
đã triển khai đồng bộ các dự án, chính sách xóa đói
giảm nghèo đến c sở xóm và từng đối tượng hưởng
thụ, đồng thời chủ động phân công, bố trí lực ượng
tổ chức thực hiện chư ng trình ở c sở. Kết quả thực
hiện từng chính sách giảm nghèo trên địa bàn giai
đoạn 2016-2019 được thể hiện cụ thể như sau.
* Chính sách hỗ trợ về nhà ở cho người nghèo
Xã đã tích cực triển khai chính sách hỗ trợ hộ
nghèo nhu cầu vay vốn làm nhà ở theo Quyết định số
33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ đến từng
c sở xóm. Tổng số hộ có nhu cầu vay vốn là 15 hộ,
tổng số vốn vay là 370 triệu đồng giúp cho hộ nghèo
xóa được nhà tạm, ổn định cuộc sống.
* Chính sách hỗ trợ dạy nghề và việc làm
* Chính sách hỗ trợ vay vốn ưu đãi
Công tác dạy nghề cho người nghèo, gắn với giải
quyết việc làm là một trong những giải pháp giải quyết
Giai đoạn 2016-2019, xã đã tiến hành cho vay hộ
nghèo đạt 234 hộ với tổng số vốn 5.167 triệu đồng,
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
133 hộ cận nghèo với số vốn chiếm 3.174 triệu đồng, 17
đã giảm t lệ hộ nghèo từ 54.33 đầu năm 2016 xuống
còn 38.66 % cuối năm 2019; 100 người dân tộc thiểu
số, người kinh sinh sống ở vùng ĐBKK được cấp thẻ
BHYT miễn phí; 100% học sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận
nghèo và học sinh thuộc vùng 135 được hưởng các chế
độ miễn giảm, hỗ trợ chi phí học tập; 100% hộ nghèo có
nhu cầu về vốn được vay vốn ưu đãi để sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chính
sách xóa đói giảm nghèo, tỉ lệ hộ nghèo của xã vẫn
chiếm tỉ lệ cao với 35,5%. Do vậy, làm thế nào để giảm
nghèo trong thời gian tới vẫn là bài toán của xã Thượng
Nung trong thời gian tới.
hộ thoát nghèo với số vốn 665 triệu đồng, hộ được vay
vốn theo Quyết định 2085 là 05 hộ với 200 triệu đồng. T
lệ ượt hộ nghèo, hộ cận nghèo được vay vốn ưu đãi
chiếm 110,7 % tổng số hộ nghèo và hộ cận nghèo trên địa
bàn xã. Công tác cho vay u thác cho 4 hội, đoàn thể là:
Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên
được Ngân hàng chính sách xã hội huyện và 4 tổ chức
Hội, Đoàn thể tổ chức đánh giá thực hiện trong
những năm qua, củng cố và tăng cường trách nhiệm
nhằm thực hiện tốt các chư ng trình tín dụng nhà
nước. Nhờ chính sách tín dụng ưu đãi mà trong
những năm qua, đa số người nghèo đều có vốn để
đầu tư cho sản xuất kinh doanh, người nghèo mạnh
dạn h n trong việc vay vốn, ý thức trách nhiệm cũng
như kinh nghiệm sử dụng vốn vay được nâng lên.
Đây chính à yếu tố quan trọng mang lại kết quả xoá
đói giảm nghèo nhanh, bền vững trong nhân dân.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chính sách
xóa đói giảm nghèo tại xã Thượng Nung vẫn còn tồn tại
một số hạn chế như sau:
* Đối với việc thực hiện chính sách hỗ trợ dạy
nghề và việc làm:
T lệ ao động qua đào tạo còn thấp; số ượng lao
động có việc àm tăng thêm hàng năm không cao nên
việc giải quyết việc làm cho người dân vẫn còn là một
thách thức lớn đối với xã Thượng Nung trong thời gian
tới. Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy: chính sách hỗ trợ
dạy nghề và việc àm chưa được địa phư ng và người
dân chú trọng triển khai thực hiện. Nguyên nhân là do
việc khảo sát nhu cầu học nghề tại địa phư ng chưa
được quan tâm, mức hỗ trợ tiền ăn cho người học nghề
thấp, do vậy chưa khuyến khích được nhiều người học.
* Chính sách trợ giúp pháp lý
Chính sách trợ giúp pháp ý đã góp phần đảm bảo
đáp ứng kịp thời nhu cầu trợ giúp pháp lý của người
nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số địa phư ng, góp
phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức pháp luật
cho nhân dân. Giai đoạn 2016-2019 xã đã phối hợp
cùng Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh và của huyện
tổ chức được 05 đợt phổ biến pháp luật và trợ giúp pháp
ý ưu động tới địa bàn các xóm trong xã đến 450 ượt
người trong đó có 382 ượt người à người nghèo.
* Đối với việc thực hiện chính sách hỗ trợ về y tế:
Việc cung cấp dịch vụ y tế ở tuyến c sở còn hạn
chế, chất ượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được
nhu cầu khám chữa bệnh cho đối tượng. Nhận thức
của người nghèo về chăm sóc sức khỏe cho chính
mình chưa thực sự được quan tâm, nguyên nhân cũng
là do công tác tuyên truyền về chăm sóc sức của
chính quyền xã tới bà con n i đây chưa được thực
hiện tốt.
* Chính sách hỗ trợ về nước sinh hoạt
Theo như kết quả thống kê, giai đoạn 2016 –
2019, xã đã thực hiện hỗ trợ về nước sinh hoạt cho
44 hộ nghèo theo Quyết định số 755/QĐ-TTG năm
2014 của Thủ tướng chính phủ với tổng số tiền hỗ trợ
87.2 triệu đồng góp phần nâng cao chất ượng sinh
hoạt của người nghèo.
* Chính sách hỗ trợ tiền điện
* Đối với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ về
nhà ở cho người nghèo: Mức hỗ trợ và cho vay xây
dựng nhà quá thấp so với kinh phí để xây dựng nhà ở
chưa thật sự phù hợp với tình hình thực tế, trong khi
hộ nghèo không có khả năng đối ứng (mức hỗ trợ và
cho vay chỉ đáp ứng được khoảng 30 - 40% kinh phí
để xây dựng nhà ở cho hộ nghèo). Hiện nay, ngoài
việc cho vay xây dựng nhà thì việc huy động các
nguồn vốn khác để thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở
trên địa bàn xã còn gặp nhiều khó khăn do yêu cầu
hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở
cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở.
Nhưng trên thực tế một số địa bàn như 3 xóm Lũng
Đã thực hiện hỗ trợ cho 100% hộ nghèo với đồng
số tiền 553,635 triệu đồng. Chính sách hỗ trợ tiền
điện đã hỗ trợ một phần đời sống sinh hoạt của hộ
nghèo, tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh của
một số hộ gia đình nghèo. Việc ban hành các văn bản
hướng dẫn về hướng dẫn chi trả tiền điện cho hộ
nghèo và phân bổ kinh phí kịp thời đã giúp cho việc
triển khai thực hiện tại c sở được đúng thời gian.
Tóm lại: Nhờ thực hiện tốt các chính sách xóa đói
giảm nghèo trong giai đoạn 2016-2019 mà xã
Thượng Nung đã đạt được những kết quả nhất định
trong công tác giảm nghèo tại địa phư ng. Cụ thể: Xã
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
Hoài, Lũng Cà, Lũng Luông có t lệ hộ nghèo, hộ
gần như không có biến động gì nhiều. Bên cạnh đó,
nhiều dự báo cho rằng nhu cầu về thịt dê sẽ tăng
trong tư ng ai nên có thể nghiên cứu chuyển đổi từ
nuôi trâu bò sang nuôi dê trên núi đá.
cận nghèo cao chủ yếu người dân sinh sống trong
vùng quy hoạch đất rừng phòng hộ nên không thể
chuyển đổi mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho người dân.
Chính quyền xã cần quan tâm h n nữa đến việc
khảo sát nhu cầu học nghề của người dân tại địa
phư ng. Để từ đó, xây dựng kế hoạch, chư ng trình
đào nghề sát với nhu cầu, mong muốn người dân.
Bên cạnh đó, cũng cần có kinh phí hỗ trợ tiền ăn hợp
lý cho người học nghề để khuyến khích được nhiều
người đi học.
* Đối với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ
vay vốn ưu đãi: Trong thực hiện chính sách tín dụng
ưu đãi vẫn còn một số tồn tại như: Vẫn còn một bộ
phận người nghèo do nhiều nguyên nhân mà chưa
tiếp cận với nguồn; một số sử dụng nguồn vốn được
vay chưa hiệu quả; chưa ồng ghép tốt việc cho vay
với việc hướng dẫn sử dụng vốn cho nên còn một
bộ phận người nghèo vay vốn nhưng chưa thoát
nghèo được.
Thứ hai, hỗ trợ về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
cho người dân nơi đây. Như đã đề cập ở trên thiếu
phư ng tiện sản suất mà ở đây à thiếu đất canh tác
đang à nguyên nhân quan trọng thứ hai khiến nhiều
người dân n i đây r i vào tình cảnh nghèo đói. Do
vậy, đối với nhưng hộ gia đình có đất canh tác
(Trồng lúa, trồng ngô,…) giờ không còn phù hợp thì
chính quyền xã cũng cần có tư vấn chuyển sang trồng
cỏ, hay chồng cây ăn quả đem ại lợi ích cao h n.
Bên cạnh đó, có hỗ trợ cho người dân đầu vào để
người dân thực hiện.
* Đối với việc thực hiện các chính sách trợ giúp
pháp lý: Đa số các hộ nghèo chưa chủ động tìm
hiểu, trang bị các kiến thức về pháp luật mà chỉ có
nhu cầu hỗ trợ khi gặp các vướng mắc iên quan đến
pháp luật.
3.4. Đề xuất một số giải pháp góp phần giảm
nghèo trên địa bàn xã Thượng Nung, huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Thứ ba: hỗ trợ những thông tin về việc làm cho người
dân trên địa bàn xã. Giải quyết vấn đề việc làm cho
người dân trên địa bàn xã cũng à mấu chốt quan trọng
để thoát nghèo. Khi được hỏi về nhu cầu tìm việc làm
để có thu nhập tốt h n thì có tới h n 80 thanh niên
trả lời rất mong muốn có được một công việc ổn
định để cải thiện cuộc sống gia đình. Xuất phát từ
nguyện vọng của người dân, trong thời gian tới xã
nên chủ động, năng động trong việc tìm kiến
những thông tin việc làm từ Trung tâm giới thiệu
việc làm trên đại bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên cũng như các doanh nghiệp cần tuyển
dụng ao động để kịp làm cầu nối cho những thanh
niên có nhu cầu tìm việc với các nhà tuyển dụng.
Trước mắt, xã có thể tìm kiếm thông tin việc làm
trực tiếp ở một số công ty lớn có nhu cầu tuyển
dụng với số ượng ao động đông, nhưng ại không
đòi hỏi trình độ cao ở người ao động, mức ư ng
tư ng đối cao đang đóng trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên như: Tập đoàn Sam Sung ở Phổ Yên;
Công ty thư ng mại và Cổ phần May TNG Thái
Nguyên; Công ty GLonis ở phường Phú Xá, thành
phố Thái Nguyên; Công ty May TDT ở Phú Bình
Thái Nguyên, v.v….
Trên c sở phân tích thực trạng nghèo đói và
nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại xã Thượng Nung,
huyện Võ Nhai, tác giả xin đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất: Tổ chức khảo sát đưa ra các mô hình
trồng cây ăn quả, vật nuôi phù hợp với khí hậu, địa
hình và đất đai của xã. Với địa hình đa phần à đồi núi
đá vôi, n i đây cũng thuận lợi cho việc trồng cây công
nghiệp ngắn ngày và chăn thả gia súc, đàn trâu, đàn bò
phát triển khá tốt, song nếu chỉ dựa vào các cây trồng,
vật nuôi hiện tại thì không thể giảm nghèo nhanh và bền
vững. Vì vậy, xã nên khảo sát điều kiện khí hậu, thổ
nhưỡng để tìm ra các trồng cây ăn quả có hiệu quả kinh
tế cao phù hợp địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng tại địa
phư ng. Chẳng hạn: Có thể nghiên cứu mô hình trồng
quýt của một số xã như Chiến Thắng, Nhất Hòa, Vũ
S n,… tại huyện Bắc S n, tỉnh Lạng S n, bởi địa hình
của những xã này giống với xã Thượng Nung à núi đá
vôi bao phủ nhưng đã trở thành một vùng chuyên canh
quýt nổi tiếng đem đến thu nhập từ 50 triệu đến 100
triệu đồng/năm cho người dân của xã. Đồng thời, xã
cũng cần có c chế hỗ trợ thỏa đáng để bà con phát
triển các mô hình này. Bên cạnh đó, xã cũng cần
nghiên cứu thêm các giống vật nuôi phù hợp địa hình,
khí hậu tại địa phư ng để triển khai tới bà con n i đây.
Có thể chăn nuôi trâu bò không còn à thế mạnh,
trong khi giá thịt bò, thịt lợn có mức biến động rất
lớn và thường không ổn định thì ngược lại, giá thịt dê
Thứ tư, tăng cường tổ chức hướng dẫn việc triển
khai kỹ thuật vào sản xuất cho người dân trên địa
bàn xã nhằm tạo điều kiện để họ tiếp cận được với
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
những tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất.
với những đảng viên, đoàn viên, hội viên thuộc diện
đói nghèo, nghèo, cần phải tuyên truyền giáo dục cho
họ thấy rằng đói, nghèo à sự tổn thư ng, bất hạnh
phải sớm thoát khỏi bằng sự tự lực, tự cường vư n ên
của bản thân và gia đình họ là chính... Cùng với đó,
cần có hình thức khen thưởng đối với những hộ gia
đình vư n ên thoát nghèo và biểu dư ng các hộ gia
đình không tái nghèo trở lại. Giao trách nhiệm này cho
các trưởng xóm phụ trách và cần có báo cáo cụ thể về
công tác tuyên truyền xóa đói giảm nghèo tới người
dân hàng tháng cho xã.
Bên cạnh việc mở rộng hỗ trợ bà con về vốn phát
triển kinh tế, giống, và các điều kiện sản xuất khác
thì điều quan trọng là tổ chức, hướng dẫn bà con
khoa học kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến để bà con áp
dụng, thay thế cho cách canh tác lạc hậu vốn mang
lại năng suất và hiệu quả kinh tế thấp. Tăng cường
phổ biến, giới thiệu các mô hình phát triển kinh tế
giảm nghèo bền vững cho người dân, để họ học tập,
áp dụng giảm nghèo cho mình. Hiện nay đa số dân
cư tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai lại áp dụng
những phư ng thức canh tác còn lạc hậu, chưa có
áp dụng những tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản
xuất nên năng suất rất thấp. Do đó, cùng với việc hỗ
trợ cho dân cư về con giống, cây giống để phát triển
mô hình trồng cây ăn quả là cây quýt và mô hình
chăn nuôi dê trên núi đá vôi thì xã cần cử cán bộ
khuyến nông đến từng hộ để hướng dẫn trực tiếp về
cách trồng, cách chăm sóc con giống, cây giống,
làm tốt công tác hỗ trợ về kỹ thuật canh tác sẽ góp
phần không nhỏ vào việc nâng cao năng suất sản
xuất cho người dân, từ đó giúp nâng cao được đời
sống của người dân.
Thứ sáu: Kết hợp công tác tuyên truyền với áp
dụng các hương ước của xóm trong việc thực hiện
công tác dân số kế hoạch hóa gia đình để giảm bớt tỉ lệ
sinh con của người dân đây. Như đã biết, đông con à
một trong những nguyên dân c bản dẫn đến nghèo đói
của người dân tại xã Thượng Nung. Để đẩy được cái
đói, cái nghèo trong thời gian tới, bên cạnh làm tốt công
tác tuyên truyền về công tác dân số kế hoạch hóa gia
đình để người dân nhận thức được thì chính quyền xã
cần cũng kết hợp với các trưởng xóm thực hiện cả các
hư ng ước của xóm trong quá trình thực hiện. Trong
trường hợp, người dân cố tình, hoặc thực hiện không
đúng, chính quyền xã cũng cần có các biện pháp mạnh
h n như có thể phạt hành chính các gia đình sinh quá số
con quy định,..
Thứ năm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm
nâng cao nhận thức cho người nghèo hiểu được
trách nhiệm vươn lên thoát nghèo, không ỷ lại, trông
chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
Theo kết quả điều tra cho thấy nguyên nhân nghèo
do chây ười ao động tại xã Thượng Nung chiếm đến
27,3 , đây à con số không hề nhỏ. Mọi sự cố gắng
của nhà nước hay chính quyền địa phư ng sẽ trở nên
vô nghĩa nếu như bản thân mỗi người dân không ý
thức được trách nhiệm vư n ên thoát nghèo của mình.
Do vậy, việc tăng cường công tác tuyên truyền cho
người dân hiểu được trách nhiệm của mình trong công
cuộc xóa đói giảm nghèo là việc làm vô cùng cần thiết,
có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của công tác
xóa đói giảm nghèo trong cả nước nói chung và tại xã
Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nói
riêng. Để làm tốt được việc này, tác giả cho rằng chính
quyền xã cần phối, kết hợp chặt chẽ với các ban
ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức
chính trị, xã hội như Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh;
Hội nông dân, Đoàn thanh niên của xã cũng như các
xóm thuộc xã trong việc quán triệt sâu sắc chủ trư ng,
chính sách của Đảng, Nhà nước đến từng cán bộ, đảng
viên, người dân…
Kết luận: Trong những năm qua, xã Thượng
Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã đạt được
những kết quả nhất định trong công tác xóa đói giảm
nghèo như tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 54,33% xuống còn
38,66 , tuy nhiên đây vẫn là một tỉ lệ khá cao. Thông
qua việc phân tích các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói
tại xã, tác giả đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp góp
phần nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo
của xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên trong thời gian tới như sau: (1) Tổ chức khảo
sát đưa ra các mô hình trồng cây ăn quả, vật nuôi phù
hợp với khí hậu, địa hình và đất đai của xã; (2) Hỗ trợ về
chuyển đổi c cấu cây trồng, vật nuôi cho người dân n i
đây; (3) Hỗ trợ những thông tin về việc àm cho người
dân trên địa bàn xã; (4) Tăng cường tổ chức hướng dẫn
việc triển khai kỹ thuật vào sản xuất cho người dân trên
địa bàn xã nhằm tạo điều kiện để họ tiếp cận được với
những tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất; (5)
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận
thức cho người nghèo hiểu được trách nhiệm vư n
lên thoát nghèo, không lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của
Nhà nước; (6) Kết hợp công tác tuyên truyền với áp
dụng các hư ng ước của xóm trong việc thực hiện
công tác dân số kế hoạch hóa gia đình để giảm bớt tỉ lệ
Trong quá trình thực hiện cần lồng ghép với các
chư ng trình và vận động, khuyến khích đảng viên,
đoàn viên, hội viên vư n ên àm giàu chính đáng. Đối
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65
sinh con của người dân đây. Tác giả hy vọng, với những
[4]. Bui Thi Binh (2010), Some policies need to
pay attention to ethnic and mountainous regions
when participating in making socio-economic policy
decisions. Ha Noi.
giải pháp được đề xuất này sẽ góp phần giảm tỉ lệ hộ
nghèo và cận nghèo tại xã Thượng Nung nói riêng và tại
huyện Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên nói chung.
REFERENCES
[5]. Nguyen Hai Huu: About possible solutions to
implement strategic missions of poverty reduction
2001 - 2003. Journal of Science No. 4,2001.
[1]. Report on results of socio-economic development of
ThuongNungcommunein2016,2017,2018,2019.
[2]. Report on the statistics of poor and near-poor
households of Thuong Nung commune in 2016, 2017, 2018,
and 2019.
[6]. Nguyen Lan Phuong (2019), Trends affecting
poverty reduction in Viet Nam today, Financial
Magazine 2nd period in August, 2019.
[3]. Report on the results of the implementation
of poverty reduction policies in Thuong Nung
commune 2016, 2017, 2018, 2019
[7]. Nguyen Lan Phuong (2019), Some sustainable
poverty alleviation solutions for central provinces,
Financial Magazine 1st period in July, 2019.
THE SITUATION OF POVERTY IN THUONG NUNG COMMUNE,
VO NHAI DISTRICT, THAI NGUYEN PROVINCE
Article info
Abstract
The article focuses on clarifying the situation of poverty as well as analyzing the
causes leading to poverty and the implementation of poverty reduction policies in
Thuong Nung commune, Vo Nhai district, Thai Nguyen province in the period
2016-2019. Since then, proposing a number of solutions to contribute to poverty
reduction in the commune in the coming time.
Recieved:
27/7/2020
Accepted:
20/9/2020
Keywords:
Poverty, hunger
eradication, poverty
reduction, poverty
reduction, poverty
reduction policies.
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng nghèo đói tại xã Thượng Nung, huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_ngheo_doi_tai_xa_thuong_nung_huyen_vo_nhai_tinh_t.pdf

