Thực trạng nghèo đói tại xã Thượng Nung, huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên

No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.56-65  
DOI:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI TẠI XÃ THƯỢNG NUNG  
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN  
Trần Thị Hồng1*  
1 Trường Đại học Khoa học-Đại học Thái Nguyên  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Bài viết tập trung làm rõ thực trạng nghèo đói cũng như phân tích những nguyên  
nhân dẫn đến nghèo đói và việc thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo của xã  
Thượng Nung, huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2016-2019. Từ đó,  
đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo đói trên địa bàn xã trong thời gian tới.  
Ngày nhận bài:  
27/7/2020  
Ngày duyệt đăng:  
20/9/2020  
Từ khóa:  
Nghèo đói, xóa đói, giảm  
nghèo, công tác xóa đói, chính  
sách xóa đói giảm nghèo.  
7 xóm, quy mô 4229 ha và 525 hộ với 2131 nhân  
1. Đặt vấn đề nghiên cứu  
khẩu, 100   à đồng bào dân tộc thiểu số (Tày và  
Mông), đời sống chủ yếu dựa vào  àm nư ng rẫy,  
trình độ dân trí còn thấp. Số hộ nghèo tính đến tháng  
12 năm 2019 vẫn là 203 hộ chiếm 38,66 %. Số hộ cận  
nghèo là 87 hộ, chiếm 16.5% . (Theo báo cáo của  
UBND xã Thượng Nung năm 2019). Vậy, nguyên  
nhân nào dẫn đến thực trạng nghèo đói và cần có  
những giải pháp nào để giảm nghèo đói tại xã  
Thượng Nung trong thời gian tới? Xuất phát từ lí do  
trên, tác giả đã  ựa chọn vấn đề “Thực trạng nghèo đói  
tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”  
đề nghiên cứu. Ở phạm vi bài viết này, tác giả phân tích  
một số nguyên nhân c  bản dẫn đến nghèo đói và đề  
xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo đói trên địa  
bàn xã trong thời gian tới.  
Ngày nay, nghèo đói đang trở thành một vấn đề  
cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt  
là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển.  
Mỗi quốc gia muốn thực hiện được mục tiêu phát  
triển kinh tế - xã hội bền vững thì không thể không  
giải quyết vấn đề nghèo đói. Trong những năm qua,  
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về xóa  
đói giảm nghèo, được các tổ chức quốc tế và các  
nước đánh giá cao về sự quyết tâm chống nghèo đói  
của Chính Phủ Việt Nam.  
Võ Nhai là một huyện miền núi có diện tích tự  
nhiên lớn nhất trong số 9 huyện và thành phố của  
tỉnh Thái Nguyên. Trong thời gian qua, mặc dù đạt  
được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong công tác  
giảm nghèo, là địa phư ng có t   ệ giảm nghèo  
nhanh của tỉnh Thái Nguyên. Riêng năm 2017, t   ệ  
giảm nghèo của V  Nhai đạt trên 6 , đứng thứ 2  
toàn tỉnh, song vẫn  à địa phư ng có t  lệ hộ nghèo  
cao nhất tỉnh.  
2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Nội dung nghiên cứu  
Bài viết tập trung nghiên cứu 2 nội dung chính:  
- Phân tích thực trạng nghèo đói cũng như các  
nguyên nhân dẫn đến nghèo đói và  àm r  việc thực  
hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo của xã  
Thượng Nung là một trong xã vùng cao đặc biệt  
khó khăn của huyện V  Nhai. Năm 2019, toàn xã có  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên  
trong giai đoạn 2016-2019.  
vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình độ  
phát triển ở mỗi n i. Ở Việt Nam thì tách riêng “đói”  
và “nghèo” thành 2 khái niệm riêng biệt.  
- Đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo đói  
trên địa bàn xã trong thời gian tới tại xã Thượng Nung,  
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.  
- Nghèo:  à tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều  
kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu c  bản  
của cuộc sống và có mức sống thấp h n mức sống trung  
bình của cộng đồng xét trên mọi phư ng diện.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Để thực hiện bài viết này, tác giả đã sử dụng một  
số phư ng pháp nghiên cứu sau:  
- Đói:  à tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có  
mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ  
đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Đó  
 à các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến  
3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả  
năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng  
kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập  
dưới 13kg gạo/người/tháng (tư ng đư ng  
45.000VND).  
- Phư ng pháp phân tích và tổng hợp;  
- Phư ng pháp phỏng vấn sâu: Tiêu chí chọn mẫu  
phỏng vấn sâu.  
Một là: Với đối tượng là cán bộ xã: Tác giả tiến  
hành phỏng vấn 01 chủ tịch Ủy ban nhân dân xã  
Thượng Nung; 01 công chức chuyên trách mảng công  
tác xóa đói giảm nghèo của xã và 07 trưởng xóm –  
người được Ủy ban nhân xã Thượng Nung giao nhiệm  
vụ quản lý các hộ dân trong phạm vi được giao để hiểu  
r  h n về tình hình các hộ dân của xóm nhất là các hộ  
dân thuộc diện nghèo và cận nghèo.  
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định  
nghĩa chung về nghèo đói: “là tình trạng một bộ  
phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống  
như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền  
được tham gia vào các quyết định của cộng đồng”.  
Hai là: Với đối tượng  à người dân: Tác giả lựa  
chọn dựa vào tiêu chí là các hộ dân thuộc diện nghèo  
và cận nghèo do Ủy ban nhân xã cung cấp trên c  sở  
lấy mẫu ngẫu nhiên.  
3.2. Thực trạng nghèo đói tại xã Thượng Nung,  
huyện Võ Nhai giai đoạn 2016-2019  
Xã Thượng Nung là một xã đặc biệt khó khăn của  
huyện Võ Nhai, trong những năm qua Xã đã đạt được  
một số kết quả nhất định về công tác xóa đói giảm  
nghèo như: Hộ nghèo từ 276 hộ năm 2016 xuống còn  
203 hộ năm 2019 (giảm 15,67%). Số hộ cận nghèo từ  
53 hộ năm 2016 tăng  ên 87 hộ năm 2019 (Tăng 5,9 )  
(Nguồn: Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân xã Thượng  
Nung). Sở dĩ, có được kết quả kể trên là do hàng năm  
Ủy ban nhân dân xã đã kịp thời phân công cụ thể từng  
thành viên phụ trách chỉ đạo theo dõi thực hiện mục tiêu  
giảm nghèo trên địa bàn xã; gắn Chư ng trình giảm  
nghèo với các chư ng trình phát triển kinh tế - xã hội  
trọng tâm, trọng điểm; coi đó  à một trong những  
chư ng trình ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển  
kinh tế - xã hội của địa phư ng nên đã mang  ại hiệu  
quả cao cho mục tiêu giảm nghèo hàng năm của xã  
được thể hiện ở Bảng 1 dưới đây.  
- Ngoài ra, tác giả còn sử dụng cả phư ng pháp  
quan sát trong quá trình nghiên cứu.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Khái niệm nghèo đói  
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu  
Á - Thái Bình Dư ng do ESCAP tổ chức tại Băng  
Cốc tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa  
về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tình trạng một  
bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn  
những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội  
thừa nhận thùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã  
hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Có  
thể xem đây  à định nghĩa chung nhất về nghèo đói,  
trong đó các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về  
nghèo đói còn để ngỏ về mặt  ượng hóa, bởi nó chưa  
tính đến những khác biệt và độ chênh lệch giữa các  
Bảng 1: Thực trạng số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã Thượng Nung giai đoạn 2016 - 2019  
Số  
Số hộ  
Năm  
Tổng  
Hộ nghèo  
Cận nghèo  
số hộ dân cư  
Số  
lượng  
276  
253  
230  
Tỷ lệ  
(%)  
54,33  
49,22  
44,66  
38,66  
Số  
lượng  
53  
69  
78  
Tỷ lệ  
(%)  
10,4  
13,4  
15,1  
16,5  
2016  
2017  
2018  
2019  
508  
514  
515  
525  
203  
87  
(Nguồn: Báo cáo của Xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tháng 12/2019)  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
Số hộ nghèo và cận nghèo phân theo đối tượng cũng  
thuộc đối tượng bảo trợ xã hội năm 2016  à 23 hộ,  
giảm xuống còn 16 hộ năm 2019 được thể hiện ở  
Bảng 2 dưới đây.  
có xu hướng giảm hàng năm. Cụ thể: Hộ nghèo và cận  
nghèo thuộc diện người có công năm 2016 là 6 hộ thì đến  
năm 2019 thì xuống còn 4 hộ. Số hộ nghèo và cận nghèo  
Bảng 2: Số hộ nghèo phân theo đối tượng giai đoạn 2016-2019  
tại xã Thượng Nung huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên  
Năm  
Hộ nghèo thuộc các nhóm đối tượng  
Tổng  
Hộ nghèo có thành viên thuộc đối Hộ nghèo có thành viên thuộc đối  
tượng chính sách người có công  
tượng bảo trợ xã hội  
2016  
2017  
2018  
2019  
6
6
4
3
23  
23  
17  
16  
29  
29  
21  
19  
(Nguồn: Báo cáo của Xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên)  
Theo kết quả thống kê thì 7/7 xóm của xã  
Thượng Nung đều là có hộ nghèo và cận nghèo. Tỉ  
lệ hộ nghèo tại các xóm của xã thường giao động  
từ 15  đến 93  có xu hướng giảm, thậm chí là  
giảm mạnh qua các năm trong giai đoạn 2016-  
2019. Chẳng hạn: xóm Lũng Luông, năm 2016 có  
tỉ lệ hộ nghèo chiếm 93,3%, (114/116 hộ) những  
đến năm 2019 giảm xuống còn 79,3% (92/116 hộ).  
Tiếp đến là xóm Lũng Hoài với 40/43 hộ nghèo  
năm 2016, chiếm 93 , có xu hướng tăng thêm 02  
hộ vào năm 2018 nhưng năm 2019 chỉ còn 36/45  
hộ, chiếm 80,0%. Xóm có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất  
 à xóm An Thành năm 2016 với 12/79 hộ, chiếm  
15  nhưng đến tháng 12/2019 xóm giảm xuống  
còn 8 hộ, chiếm 9,6%.  
Tỉ lệ hộ cận nghèo tại 7/7 xóm của xã Thượng Nung  
có xu hướng tăng nhẹ qua các năm trong giai đoạn  
2016-2019. Trong đó, xóm có tỉ lệ hộ cận nghèo cao  
nhất là xóm Lục Thành với 18 hộ cận nghèo năm 2016,  
chiếm 29,03  đến năm 2019 tăng  ên 21 hộ, chiếm  
32,2%. Tiếp đến  à Xóm Lũng Cà từ 4/34 hộ, năm  
2016, chiếm 11,7  tăng  ên 12 hộ, chiếm 28,6  năm  
2019. Xóm Trung Thành từ 7/105 hộ, năm 2016, chiếm  
6,7  tăng  ên 18 hộ, chiếm 16,4  năm 2019, điều đó  
được thể hiện ở Bảng 3 dưới đây.  
Bảng 3: Thực trạng số hộ nghèo, cần nghèo tại 7/7 xóm thuộc xã Thượng Nung giai đoạn 2016-2019  
Năm  
Xómthuộcxã  
Tổng số hộ  
Số hộ dân tộc  
thiểu số  
Tổng số  
Tổng số  
dân cư  
hộ nghèo  
hộ cận nghèo  
Số lượng  
Tỉ lệ  
15,2  
37,1  
27,4  
41,3  
82,4  
93,0  
93,4  
54,33  
15,0  
30,6  
21,3  
34,9  
68,6  
Số lượng  
Tỉ lệ  
An Thành  
79  
105  
62  
79  
105  
62  
12  
39  
17  
26  
28  
40  
114  
276  
12  
33  
13  
22  
24  
10  
7
12,7  
6,7  
Trung Thành  
Lục Thành  
Tân Thành  
Lũng Cà  
2016  
18  
7
29,0  
11,1  
11,8  
7,0  
63  
63  
34  
34  
4
Lũng Hoài  
Lũng Luông  
Tổng  
43  
43  
3
122  
508  
80  
122  
508  
80  
4
3,3  
53  
8
10,4  
10,0  
11,1  
29,5  
19,0  
31,4  
An Thành  
Trung Thành  
Lục Thành  
Tân Thành  
Lũng Cà  
108  
61  
108  
61  
12  
18  
12  
11  
63  
63  
2017  
35  
35  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
Năm  
Xómthuộcxã  
Tổng số hộ  
Số hộ dân tộc  
thiểu số  
Tổng số  
Tổng số  
dân cư  
hộ nghèo  
hộ cận nghèo  
Số lượng  
Tỉ lệ  
93,0  
87,9  
49,22  
9,9  
Số lượng  
Tỉ lệ  
Lũng Hoài  
43  
124  
514  
81  
43  
124  
514  
81  
40  
109  
253  
8
2
6
4,7  
4,8  
Lũng Luông  
Tổng  
69  
5
13,4  
6,2  
An Thành  
Trung Thành  
Lục Thành  
Tân Thành  
Lũng Cà  
108  
63  
108  
63  
30  
10  
14  
27  
42  
99  
230  
8
27,8  
15,9  
22,6  
64,3  
97,7  
85,3  
44,66  
9,6  
16  
19  
18  
13  
1
14,8  
30,2  
29,0  
31,0  
2,3  
2018  
62  
62  
42  
42  
Lũng Hoài  
Lũng Luông  
Tổng  
43  
43  
116  
515  
83  
116  
515  
83  
6
5,2  
78  
5
15,1  
6,0  
An Thành  
Trung Thành  
Lục Thành  
Tân Thành  
Lũng Cà  
110  
65  
110  
65  
26  
7
23,6  
10,8  
14,1  
59,5  
80,0  
79,3  
38,66  
18  
21  
18  
12  
5
16,4  
32,3  
28,1  
28,6  
11,1  
6,9  
2019  
64  
64  
9
42  
42  
25  
36  
92  
203  
Lũng Hoài  
Lũng Luông  
Tổng  
45  
45  
116  
525  
116  
525  
8
87  
16,5  
(Nguồn: Báo cáo của Xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tháng 12/2019)  
Để có cái nhìn toàn diện, khách quan h n, tác giả đã  
chủ yếu tại hai xóm Lũng Cà và Lũng Luông và cả  
xóm Luỗng Hoài. Mặc dù, trong thời gian qua, chính  
quyền xã Thượng Nung cũng đã thực hiện chính sách  
hỗ trợ kinh phí sửa chữa, xây mới về nhà ở cho các hộ  
nghèo trên địa bàn xã. Tuy nhiên, do kinh phí hạn hẹp  
trong khi số hộ nghèo cần hỗ trợ lại đông nên tình  
trạng nghèo về nhà ở vấn là vấn đề cần phải quan tâm  
đặc biệt trong thời gian tới.  
tiến hành phỏng vấn sâu (Đối tượng được chọn phỏng  
vấn sâu gồm: 2 cán bộ xã; 07 trưởng xóm và 80 hộ dân  
thuộc 7 xóm trên địa bàn xã. Cụ thể: Xóm Lũng Cà và  
Xóm Lũng Luông, mỗi xóm 15 hộ, các xóm còn lại là  
10 hộ/xóm). Kết quả thu được như sau:  
Về nhà ở của người dân tại xã Thượng Nung: Qua  
quan sát và phỏng vấn sâu 80 hộ dân thì có tới 49 hộ  
đang sống trong những ngôi nhà tạm bợ sập sệ, không  
kiêm cố. Nhà ở của người dân được dựng trên những  
sườn đồi cheo  eo, tường nhà chỉ đ n giản là những  
mảnh gỗ tạp ghép tạm hoặc tấm phên nứa bao quanh.  
Với một địa phư ng có khí hậu khắc nghiệt như V  
Nhai (thường xảy ra tình trạng sạt lở đất vào mùa  
mưa, sư ng muối vào mùa đông) thì nhà ở của người  
dân chưa đảm bảo an toàn: Cụ thể: Xóm Lũng Cà:  
14/15 hộ dân; Xóm Lũng Luông  à 13/15 hộ dân;  
Xóm: Luỗng Hoài: 6/10 hộ dân; Xóm Tân Thành: 4/10  
hộ dân; Xóm Lục Thành: 3/10 hộ dân; Xóm Trung  
Thành: 5/10 hộ dân; Xóm An Thành: 4/10 hộ dân.  
Như vậy, tình trạng nghèo đói về nhà ở vẫn tập trung  
Về đời sống của người dân: Kết quả phỏng vấn sâu  
80 hộ dân trên địa bàn xã, có tới 63/80 hộ dân có đời  
sống còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt tại hai xóm Lũng  
Cà, Lũng Luông (24/30 hộ dân của hai xóm được phỏng  
vấn), cho biết bữa ăn hàng ngày của họ chủ yếu là ngô  
và rau dại được lấy ở rừng. Trên địa bàn xã, hiện đã có  
công trình nước sạch phục vụ mục đích dân sinh  
nhưngvẫn còn rất nhiều hộ dân (70/80 hộ dân được  
phỏng vấn) trong xã vẫn sử dụng nước tự nhiên cho sinh  
hoạt, trong đó phần lớn là dùng nguồn nước tự chảy và  
nước suối. Khi được hỏi, đa phần người dân cho biết  
“Chúng tôi quen dùng nguồn nước tự nhiên rồi, dùng  
nước sạch chúng tôi không quen”. Như vậy, có thể thấy  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
nhận thức của người dân n i đây về lợi ích của nước  
sạch trong sinh hoạt hàng ngày còn khá hạn chế. Về  
nguồn nước sản xuất nông nghiệp n i đây cũng chủ yếu  
phụ thuộc vào nước trời.  
về từng hộ dân trên địa bàn xã cũng đã được Ủy ban  
nhân dân xã quan tâm, tuy nhiên, do các hộ dân cư  
sống thưa thớt tại các dải núi khác nhau nên việc kéo  
điện tới các xóm  à vô cùng khó khăn, tỉ lệ hộ gia đình  
không có điện thắp sáng, thiếu các phư ng tiện nghe  
nhìn, đời sống của người dân ở đây còn khá cao. Theo  
như kết quả phỏng vấn sâu thì có tới 45/80 tổng số hộ  
được phỏng vấn  à chưa có điện  ưới. Cuộc sống của  
họ chủ yếu  à đèn dầu, số hộ dân có tivi phục vụ đời  
sống tinh thần cũng chiếm với số  ượng khá khiêm tốn  
là 20/80 hộ dân được hỏi.  
Về giao thông đi lại: Giao thông đi  ại n i đây đã  
và đang trở thành một trong những rào cản gây khó  
khăn không nhỏ đối với đời sống của người dân tại xã,  
nhất  à giao thông đi  ại của hai xóm Lũng Cà, Lũng  
Luông, chủ yếu  à đường mòn nhỏ, mùa mưa  ầy lội  
khó khăn cho việc đi  ại của bà con n i đây. Đường  
sá đi  ại khó khăn đã khép bà con cách biệt với sự  
phát triển của xã hội bên ngoài như trăn trở của  
Trưởng xóm Lũng Cà và Lũng Luông: “mong muốn  
có ánh điện, có ti vi để bà con thấy được ở ngoài kia  
xã hội phát triển như thế nào”. R  ràng, nỗi niềm ấy  
không thể giải quyết được trong một sớm một chiều.  
3.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng nghèo đói  
tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái  
Nguyên  
Qua kết quả phỏng vấn sâu, tác giả nhận thấy có  
rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nghèo đói  
của người dân tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai,  
tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua, được thể hiện ở  
Bảng 4 dưới đây.  
Việc được sử dụng điện lưới quốc gia của các hộ  
dân tại xã Thượng Nung). Việc đưa điện  ưới quốc gia  
Bảng 4: Tỉ lệ nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên  
Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên  
Cólao  
Chây  
 ười lao  
động  
Thiếu  
đất  
Thiếu  
phư ng  
tiện sán  
xuất  
Khôngbiết  
cách àmăn  
khôngcó  
Thiếu  
vốn sản  
xuất  
Thiếu  
lao  
động  
nhưng  
Đông  
Ốm  
Mắc tệ  
nạn xã  
hội  
người  
đau  
canh  
tác  
động  
khôngcó  
việclàm  
ăn theo nặng  
taynghề  
Tỉ lệ  
13,7  
25,6  
19,7  
2,6  
8,5  
6,8  
13,7  
0,9  
2,6  
27,3  
(%)  
(Nguồn: Kết quả phỏng vấn sâu)  
Qua Bảng 4, có thể thấy các nguyên nhân c  bản dẫn  
đến thực trạng nghèo đói tại xã Thượng Nung, huyện Võ  
Nhai, tỉnh Thái Nguyên đó  à:  
một trong những nguyên nhân c  bản dẫn đến nghèo  
đói của người dân xã Thượng Nung. Kết quả phỏng  
vấn có tới 100% số hộ được hỏi đều thiếu phư ng tiện  
sản xuất nên phải đi thuê hoặc mượn lại của người  
khác trong vùng.  
* Nhóm các nguyên nhân khách quan  
Thứ nhất, nghèo đói do điều kiện tự nhiên không  
thuận lợi, dẫn đến thiếu đất canh tác chiếm tỉ lệ  
25,6%. Thực tế cho cho thấy, xã Thượng Nung,  
huyện Võ Nhai nằm tại phía bắc của huyện Võ Nhai  
và có sông Nghinh Tường cùng các con suối phụ  
 ưu chảy trên địa bàn. Địa hình của xã khá phức tạp,  
chủ yếu  à đồi núi. N i đây có khối núi đá vôi đồ sộ  
nhất tỉnh Thái Nguyên, rộng tới 300 km2, độ cao từ  
500 đến 600 mét, kéo dài từ Thần Sa qua Nghinh  
Tường, đến Liêm Thu  (huyện Na Rì, tỉnh Bắc  
Cạn). Những đặc điểm này gây khó khăn không nhỏ  
cho hoạt động sản xuất của bà con nhân dân sinh  
sống trên địa bàn xã mà còn làm cho tình trạng thiếu  
đất canh tác càng trở nên trầm trọng h n.  
Thứ ba, nghèo đói do thiếu vốn sản xuất, chiếm  
13,7%. Vốn cũng  à vấn đề được người dân quan  
tâm khi muốn nâng cao năng suất trồng trọt và  
chăn nuôi cũng như mở rộng sản xuất, nhưng đại  
bộ phận người dân không có vốn nên việc đầu tư  
cho chăn nuôi, trồng trọt gặp rất nhiều khó khăn.  
Cùng với đó, người dân chủ yếu sử dụng công cụ  
sản xuất còn thô s ,  ạc hậu trong quá trình canh  
tác nên năng suất không cao, khiến đời sống của  
người xã Thượng Nung đã khó khăn  ại càng khó  
khăn h n.  
* Nhóm các nguyên nhân chủ quan  
Thứ nhất, nghèo đói do chây lười lao động chiếm  
27,3%. Có thể thấy đây  à nguyên nhân c  bản nhất,  
Thứ hai, nghèo đói do thiếu phương tiện sản xuất  
với tỉ lệ 19,7%. Thiếu phư ng tiện sản xuất cũng  à  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
chiếm tỉ lệ cao nhất dẫn đến thực trạng đói nghèo của  
một số khó khăn cho người nghèo như thu nhập thấp,  
thiếu đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề phù hợp.  
Năm 2019, Hội phụ nữ xã mới mở được lớp đào tạo  
nghề may công nghiệp thu hút 40  ao động tại địa  
phư ng tham gia. Đây  à con số còn khiêm tốn so với  
thực trạng người dân không có việc làm ở xã.  
người dân n i đây. Tâm lý chông chờ, ỉ lại cộng với tư  
tưởng muốn thụ hưởng chính sách giảm nghèo trong  
thời gian dài cũng như việc nhận thức không đầy đủ  
trách nhiệm của bản thân trong việc tự lực  ao động  
để vư n  ên thoát nghèo của một đại bộ phận dân cư tại  
xã Thượng Nung chính là nguyên nhân dẫn đến hiện  
trạng đói nghèo của xã Thượng Nung trong thời gian  
qua còn chiếm tỉ lệ cao.  
* Chính sách hỗ trợ về y tế  
Giai đoạn 2016-2019, xã đã thực hiện cấp phát  
8.531 lượt thẻ BHYT cho người dân tộc thiểu số ở  
vùng đặc biệt khó khăn và 113  ượt thẻ cho người  
Kinh sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn. Công tác  
lập danh sách và cấp phát thẻ BHYT của một số đối  
tượng đã được triển khai thực hiện và kịp thời phục  
vụ công tác khám chữa bệnh của đối tượng hưởng  
thụ. Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe  
cho người dân đã được xã thực hiện tư ng đối tốt,  
chất  ượng khám chữa bệnh cho các đối tượng từng  
bước được nâng lên. Đặc biệt công tác khám chữa  
bệnh bảo hiểm y tế hàng năm đều có đạt trên 2000  
 ượt người chiếm trên 85% tổng số  ượt khám chữa  
bệnh tại Trạm y tế xã.  
Thứ hai, nghèo đói do đông người ăn theo, chiếm  
13,7%. Theo như kết quả điều tra được cho thấy, mỗi  
gia đình tại xã Thượng Nung thường có từ 5 đến 6  
khẩu/hộ, trong khi  ao động chính tạo ra thu nhập nuôi  
sống cả gia đình cũng chỉ có từ 1 đến 2 người. Do vậy,  
rất nhiều hộ gia r i vào tình cảnh không đảm bảo được  
cuộc sống tối thiểu của gia đình.  
Thứ ba, có lao động nhưng không có việc làm,  
chiếm 8,5%. Về c  bản mà nói người dân tại xã  
Thượng Nung chỉ quen với công việc của nhà nông  
như trồng trọt, chăn nuôi, tuy nhiên, do điều kiện tự  
nhiên không ưu ái, không có đất canh tác, không có  
phư ng tiện sản xuất nên nhiều gia đình có  ao động  
nhưng  ại không có việc làm.  
* Chính sách hỗ trợ về giáo dục và đào tạo  
Mạng  ưới trường lớp, c  sở vật chất phục vụ giáo  
dục các cấp học được xã quan tâm đầu tư; thực hiện  
kịp thời, đúng đối tượng các chính sách về miễn, giảm  
học phí cho học sinh  à con em đồng bào dân tộc thiểu  
số, hộ nghèo, học sinh sinh sống ở xã đặc biệt khó  
khăn. Qua đó đã tạo cho học sinh con hộ nghèo có  
điều kiện học tập tốt h n, giảm bớt khó khăn cho gia  
đình và các em học sinh, từ đó nâng cao t  lệ đi học  
chuyên cần ở các xóm vùng cao, góp phần nâng cao  
chất  ượng giáo dục toàn diện của xã. Tổng số  ượt học  
sinh được nhận hỗ trợ: 3.861 em. Tổng số tiền hỗ trợ  
2.293,29 triệu đồng. Trong đó số học sinh, trẻ mẫu  
giáo thuộc hộ nghèo được miễn giảm học phí là 1.789  
em; số học sinh, trẻ mẫu giáo thuộc hộ nghèo được hỗ  
trợ chi phí, đồ dùng học tập là 1.972 em; số trẻ em  
được hỗ trợ ăn trưa tại trường theo Nghị định số  
116/2016/NĐ-CP là 114 em.  
Thứ tư, nghèo đói do không biết cách làm ăn không  
có tay nghề, chiếm 6,8%. Đa số dân cư của xã Thượng  
Nung  à người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp nên  
khả năng tiếp cận với công nghệ cũng như những công  
việc đòi hỏi trình độ chuyên môn thì không thể đáp ứng  
nên mặc dù có  ao động nhưng rất nhiều hộ vẫn đói  
nghèo  à vì không tìm được việc phù hợp để làm.  
Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác nữa như:  
Ốm đau nặng (0,9%); Mắc tệ nạn xã hội (2,6%) và thiếu  
 ao động (2,6%), các nguyên nhân này chiếm tỉ lệ nhỏ,  
nhưng cũng những nguyên nhân góp phần đưa đến sự  
nghèo đói của người dân xã Thượng Nung trong thời  
gian qua.  
3.3. Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo tại  
xã Thượng Nung giai đoạn 2016-2019  
Từ năm 2016 đến nay, UBND xã Thượng Nung  
đã triển khai đồng bộ các dự án, chính sách xóa đói  
giảm nghèo đến c  sở xóm và từng đối tượng hưởng  
thụ, đồng thời chủ động phân công, bố trí lực  ượng  
tổ chức thực hiện chư ng trình ở c  sở. Kết quả thực  
hiện từng chính sách giảm nghèo trên địa bàn giai  
đoạn 2016-2019 được thể hiện cụ thể như sau.  
* Chính sách hỗ trợ về nhà ở cho người nghèo  
Xã đã tích cực triển khai chính sách hỗ trợ hộ  
nghèo nhu cầu vay vốn làm nhà ở theo Quyết định số  
33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ đến từng  
c  sở xóm. Tổng số hộ có nhu cầu vay vốn là 15 hộ,  
tổng số vốn vay là 370 triệu đồng giúp cho hộ nghèo  
xóa được nhà tạm, ổn định cuộc sống.  
* Chính sách hỗ trợ dạy nghề và việc làm  
* Chính sách hỗ trợ vay vốn ưu đãi  
Công tác dạy nghề cho người nghèo, gắn với giải  
quyết việc làm là một trong những giải pháp giải quyết  
Giai đoạn 2016-2019, xã đã tiến hành cho vay hộ  
nghèo đạt 234 hộ với tổng số vốn 5.167 triệu đồng,  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
133 hộ cận nghèo với số vốn chiếm 3.174 triệu đồng, 17  
đã giảm t  lệ hộ nghèo từ 54.33   đầu năm 2016 xuống  
còn 38.66 % cuối năm 2019; 100  người dân tộc thiểu  
số, người kinh sinh sống ở vùng ĐBKK được cấp thẻ  
BHYT miễn phí; 100% học sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận  
nghèo và học sinh thuộc vùng 135 được hưởng các chế  
độ miễn giảm, hỗ trợ chi phí học tập; 100% hộ nghèo có  
nhu cầu về vốn được vay vốn ưu đãi để sản xuất kinh  
doanh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chính  
sách xóa đói giảm nghèo, tỉ lệ hộ nghèo của xã vẫn  
chiếm tỉ lệ cao với 35,5%. Do vậy, làm thế nào để giảm  
nghèo trong thời gian tới vẫn là bài toán của xã Thượng  
Nung trong thời gian tới.  
hộ thoát nghèo với số vốn 665 triệu đồng, hộ được vay  
vốn theo Quyết định 2085 là 05 hộ với 200 triệu đồng. T  
lệ  ượt hộ nghèo, hộ cận nghèo được vay vốn ưu đãi  
chiếm 110,7 % tổng số hộ nghèo và hộ cận nghèo trên địa  
bàn xã. Công tác cho vay u  thác cho 4 hội, đoàn thể là:  
Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên  
được Ngân hàng chính sách xã hội huyện và 4 tổ chức  
Hội, Đoàn thể tổ chức đánh giá thực hiện trong  
những năm qua, củng cố và tăng cường trách nhiệm  
nhằm thực hiện tốt các chư ng trình tín dụng nhà  
nước. Nhờ chính sách tín dụng ưu đãi mà trong  
những năm qua, đa số người nghèo đều có vốn để  
đầu tư cho sản xuất kinh doanh, người nghèo mạnh  
dạn h n trong việc vay vốn, ý thức trách nhiệm cũng  
như kinh nghiệm sử dụng vốn vay được nâng lên.  
Đây chính  à yếu tố quan trọng mang lại kết quả xoá  
đói giảm nghèo nhanh, bền vững trong nhân dân.  
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chính sách  
xóa đói giảm nghèo tại xã Thượng Nung vẫn còn tồn tại  
một số hạn chế như sau:  
* Đối với việc thực hiện chính sách hỗ trợ dạy  
nghề và việc làm:  
T  lệ  ao động qua đào tạo còn thấp; số  ượng lao  
động có việc  àm tăng thêm hàng năm không cao nên  
việc giải quyết việc làm cho người dân vẫn còn là một  
thách thức lớn đối với xã Thượng Nung trong thời gian  
tới. Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy: chính sách hỗ trợ  
dạy nghề và việc  àm chưa được địa phư ng và người  
dân chú trọng triển khai thực hiện. Nguyên nhân là do  
việc khảo sát nhu cầu học nghề tại địa phư ng chưa  
được quan tâm, mức hỗ trợ tiền ăn cho người học nghề  
thấp, do vậy chưa khuyến khích được nhiều người học.  
* Chính sách trợ giúp pháp lý  
Chính sách trợ giúp pháp  ý đã góp phần đảm bảo  
đáp ứng kịp thời nhu cầu trợ giúp pháp lý của người  
nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số địa phư ng, góp  
phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức pháp luật  
cho nhân dân. Giai đoạn 2016-2019 xã đã phối hợp  
cùng Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh và của huyện  
tổ chức được 05 đợt phổ biến pháp luật và trợ giúp pháp  
 ý  ưu động tới địa bàn các xóm trong xã đến 450  ượt  
người trong đó có 382  ượt người  à người nghèo.  
* Đối với việc thực hiện chính sách hỗ trợ về y tế:  
Việc cung cấp dịch vụ y tế ở tuyến c  sở còn hạn  
chế, chất  ượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được  
nhu cầu khám chữa bệnh cho đối tượng. Nhận thức  
của người nghèo về chăm sóc sức khỏe cho chính  
mình chưa thực sự được quan tâm, nguyên nhân cũng  
là do công tác tuyên truyền về chăm sóc sức của  
chính quyền xã tới bà con n i đây chưa được thực  
hiện tốt.  
* Chính sách hỗ trợ về nước sinh hoạt  
Theo như kết quả thống kê, giai đoạn 2016 –  
2019, xã đã thực hiện hỗ trợ về nước sinh hoạt cho  
44 hộ nghèo theo Quyết định số 755/QĐ-TTG năm  
2014 của Thủ tướng chính phủ với tổng số tiền hỗ trợ  
87.2 triệu đồng góp phần nâng cao chất  ượng sinh  
hoạt của người nghèo.  
* Chính sách hỗ trợ tiền điện  
* Đối với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ về  
nhà ở cho người nghèo: Mức hỗ trợ và cho vay xây  
dựng nhà quá thấp so với kinh phí để xây dựng nhà ở  
chưa thật sự phù hợp với tình hình thực tế, trong khi  
hộ nghèo không có khả năng đối ứng (mức hỗ trợ và  
cho vay chỉ đáp ứng được khoảng 30 - 40% kinh phí  
để xây dựng nhà ở cho hộ nghèo). Hiện nay, ngoài  
việc cho vay xây dựng nhà thì việc huy động các  
nguồn vốn khác để thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở  
trên địa bàn xã còn gặp nhiều khó khăn do yêu cầu  
hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở  
cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở.  
Nhưng trên thực tế một số địa bàn như 3 xóm Lũng  
Đã thực hiện hỗ trợ cho 100% hộ nghèo với đồng  
số tiền 553,635 triệu đồng. Chính sách hỗ trợ tiền  
điện đã hỗ trợ một phần đời sống sinh hoạt của hộ  
nghèo, tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh của  
một số hộ gia đình nghèo. Việc ban hành các văn bản  
hướng dẫn về hướng dẫn chi trả tiền điện cho hộ  
nghèo và phân bổ kinh phí kịp thời đã giúp cho việc  
triển khai thực hiện tại c  sở được đúng thời gian.  
Tóm lại: Nhờ thực hiện tốt các chính sách xóa đói  
giảm nghèo trong giai đoạn 2016-2019 mà xã  
Thượng Nung đã đạt được những kết quả nhất định  
trong công tác giảm nghèo tại địa phư ng. Cụ thể: Xã  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
Hoài, Lũng Cà, Lũng Luông có t  lệ hộ nghèo, hộ  
gần như không có biến động gì nhiều. Bên cạnh đó,  
nhiều dự báo cho rằng nhu cầu về thịt dê sẽ tăng  
trong tư ng  ai nên có thể nghiên cứu chuyển đổi từ  
nuôi trâu bò sang nuôi dê trên núi đá.  
cận nghèo cao chủ yếu người dân sinh sống trong  
vùng quy hoạch đất rừng phòng hộ nên không thể  
chuyển đổi mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất cho người dân.  
Chính quyền xã cần quan tâm h n nữa đến việc  
khảo sát nhu cầu học nghề của người dân tại địa  
phư ng. Để từ đó, xây dựng kế hoạch, chư ng trình  
đào nghề sát với nhu cầu, mong muốn người dân.  
Bên cạnh đó, cũng cần có kinh phí hỗ trợ tiền ăn hợp  
lý cho người học nghề để khuyến khích được nhiều  
người đi học.  
* Đối với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ  
vay vốn ưu đãi: Trong thực hiện chính sách tín dụng  
ưu đãi vẫn còn một số tồn tại như: Vẫn còn một bộ  
phận người nghèo do nhiều nguyên nhân mà chưa  
tiếp cận với nguồn; một số sử dụng nguồn vốn được  
vay chưa hiệu quả; chưa  ồng ghép tốt việc cho vay  
với việc hướng dẫn sử dụng vốn cho nên còn một  
bộ phận người nghèo vay vốn nhưng chưa thoát  
nghèo được.  
Thứ hai, hỗ trợ về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi  
cho người dân nơi đây. Như đã đề cập ở trên thiếu  
phư ng tiện sản suất mà ở đây  à thiếu đất canh tác  
đang  à nguyên nhân quan trọng thứ hai khiến nhiều  
người dân n i đây r i vào tình cảnh nghèo đói. Do  
vậy, đối với nhưng hộ gia đình có đất canh tác  
(Trồng lúa, trồng ngô,…) giờ không còn phù hợp thì  
chính quyền xã cũng cần có tư vấn chuyển sang trồng  
cỏ, hay chồng cây ăn quả đem  ại lợi ích cao h n.  
Bên cạnh đó, có hỗ trợ cho người dân đầu vào để  
người dân thực hiện.  
* Đối với việc thực hiện các chính sách trợ giúp  
pháp lý: Đa số các hộ nghèo chưa chủ động tìm  
hiểu, trang bị các kiến thức về pháp luật mà chỉ có  
nhu cầu hỗ trợ khi gặp các vướng mắc  iên quan đến  
pháp luật.  
3.4. Đề xuất một số giải pháp góp phần giảm  
nghèo trên địa bàn xã Thượng Nung, huyện Võ  
Nhai, tỉnh Thái Nguyên  
Thứ ba: hỗ trợ những thông tin về việc làm cho người  
dân trên địa bàn xã. Giải quyết vấn đề việc làm cho  
người dân trên địa bàn xã cũng  à mấu chốt quan trọng  
để thoát nghèo. Khi được hỏi về nhu cầu tìm việc làm  
để có thu nhập tốt h n thì có tới h n 80  thanh niên  
trả lời rất mong muốn có được một công việc ổn  
định để cải thiện cuộc sống gia đình. Xuất phát từ  
nguyện vọng của người dân, trong thời gian tới xã  
nên chủ động, năng động trong việc tìm kiến  
những thông tin việc làm từ Trung tâm giới thiệu  
việc làm trên đại bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái  
Nguyên cũng như các doanh nghiệp cần tuyển  
dụng  ao động để kịp làm cầu nối cho những thanh  
niên có nhu cầu tìm việc với các nhà tuyển dụng.  
Trước mắt, xã có thể tìm kiếm thông tin việc làm  
trực tiếp ở một số công ty lớn có nhu cầu tuyển  
dụng với số  ượng  ao động đông, nhưng  ại không  
đòi hỏi trình độ cao ở người  ao động, mức  ư ng  
tư ng đối cao đang đóng trên địa bàn tỉnh Thái  
Nguyên như: Tập đoàn Sam Sung ở Phổ Yên;  
Công ty thư ng mại và Cổ phần May TNG Thái  
Nguyên; Công ty GLonis ở phường Phú Xá, thành  
phố Thái Nguyên; Công ty May TDT ở Phú Bình  
Thái Nguyên, v.v….  
Trên c  sở phân tích thực trạng nghèo đói và  
nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại xã Thượng Nung,  
huyện Võ Nhai, tác giả xin đề xuất một số giải pháp sau:  
Thứ nhất: Tổ chức khảo sát đưa ra các mô hình  
trồng cây ăn quả, vật nuôi phù hợp với khí hậu, địa  
hình và đất đai của xã. Với địa hình đa phần  à đồi núi  
đá vôi, n i đây cũng thuận lợi cho việc trồng cây công  
nghiệp ngắn ngày và chăn thả gia súc, đàn trâu, đàn bò  
phát triển khá tốt, song nếu chỉ dựa vào các cây trồng,  
vật nuôi hiện tại thì không thể giảm nghèo nhanh và bền  
vững. Vì vậy, xã nên khảo sát điều kiện khí hậu, thổ  
nhưỡng để tìm ra các trồng cây ăn quả có hiệu quả kinh  
tế cao phù hợp địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng tại địa  
phư ng. Chẳng hạn: Có thể nghiên cứu mô hình trồng  
quýt của một số xã như Chiến Thắng, Nhất Hòa, Vũ  
S n,… tại huyện Bắc S n, tỉnh Lạng S n, bởi địa hình  
của những xã này giống với xã Thượng Nung  à núi đá  
vôi bao phủ nhưng đã trở thành một vùng chuyên canh  
quýt nổi tiếng đem đến thu nhập từ 50 triệu đến 100  
triệu đồng/năm cho người dân của xã. Đồng thời, xã  
cũng cần có c  chế hỗ trợ thỏa đáng để bà con phát  
triển các mô hình này. Bên cạnh đó, xã cũng cần  
nghiên cứu thêm các giống vật nuôi phù hợp địa hình,  
khí hậu tại địa phư ng để triển khai tới bà con n i đây.  
Có thể chăn nuôi trâu bò không còn  à thế mạnh,  
trong khi giá thịt bò, thịt lợn có mức biến động rất  
lớn và thường không ổn định thì ngược lại, giá thịt dê  
Thứ tư, tăng cường tổ chức hướng dẫn việc triển  
khai kỹ thuật vào sản xuất cho người dân trên địa  
bàn xã nhằm tạo điều kiện để họ tiếp cận được với  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
những tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất.  
với những đảng viên, đoàn viên, hội viên thuộc diện  
đói nghèo, nghèo, cần phải tuyên truyền giáo dục cho  
họ thấy rằng đói, nghèo  à sự tổn thư ng, bất hạnh  
phải sớm thoát khỏi bằng sự tự lực, tự cường vư n  ên  
của bản thân và gia đình họ là chính... Cùng với đó,  
cần có hình thức khen thưởng đối với những hộ gia  
đình vư n  ên thoát nghèo và biểu dư ng các hộ gia  
đình không tái nghèo trở lại. Giao trách nhiệm này cho  
các trưởng xóm phụ trách và cần có báo cáo cụ thể về  
công tác tuyên truyền xóa đói giảm nghèo tới người  
dân hàng tháng cho xã.  
Bên cạnh việc mở rộng hỗ trợ bà con về vốn phát  
triển kinh tế, giống, và các điều kiện sản xuất khác  
thì điều quan trọng là tổ chức, hướng dẫn bà con  
khoa học kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến để bà con áp  
dụng, thay thế cho cách canh tác lạc hậu vốn mang  
lại năng suất và hiệu quả kinh tế thấp. Tăng cường  
phổ biến, giới thiệu các mô hình phát triển kinh tế  
giảm nghèo bền vững cho người dân, để họ học tập,  
áp dụng giảm nghèo cho mình. Hiện nay đa số dân  
cư tại xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai lại áp dụng  
những phư ng thức canh tác còn lạc hậu, chưa có  
áp dụng những tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản  
xuất nên năng suất rất thấp. Do đó, cùng với việc hỗ  
trợ cho dân cư về con giống, cây giống để phát triển  
mô hình trồng cây ăn quả là cây quýt và mô hình  
chăn nuôi dê trên núi đá vôi thì xã cần cử cán bộ  
khuyến nông đến từng hộ để hướng dẫn trực tiếp về  
cách trồng, cách chăm sóc con giống, cây giống,  
làm tốt công tác hỗ trợ về kỹ thuật canh tác sẽ góp  
phần không nhỏ vào việc nâng cao năng suất sản  
xuất cho người dân, từ đó giúp nâng cao được đời  
sống của người dân.  
Thứ sáu: Kết hợp công tác tuyên truyền với áp  
dụng các hương ước của xóm trong việc thực hiện  
công tác dân số kế hoạch hóa gia đình để giảm bớt tỉ lệ  
sinh con của người dân đây. Như đã biết, đông con  à  
một trong những nguyên dân c  bản dẫn đến nghèo đói  
của người dân tại xã Thượng Nung. Để đẩy được cái  
đói, cái nghèo trong thời gian tới, bên cạnh làm tốt công  
tác tuyên truyền về công tác dân số kế hoạch hóa gia  
đình để người dân nhận thức được thì chính quyền xã  
cần cũng kết hợp với các trưởng xóm thực hiện cả các  
hư ng ước của xóm trong quá trình thực hiện. Trong  
trường hợp, người dân cố tình, hoặc thực hiện không  
đúng, chính quyền xã cũng cần có các biện pháp mạnh  
h n như có thể phạt hành chính các gia đình sinh quá số  
con quy định,..  
Thứ năm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm  
nâng cao nhận thức cho người nghèo hiểu được  
trách nhiệm vươn lên thoát nghèo, không ỷ lại, trông  
chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.  
Theo kết quả điều tra cho thấy nguyên nhân nghèo  
do chây  ười  ao động tại xã Thượng Nung chiếm đến  
27,3 , đây  à con số không hề nhỏ. Mọi sự cố gắng  
của nhà nước hay chính quyền địa phư ng sẽ trở nên  
vô nghĩa nếu như bản thân mỗi người dân không ý  
thức được trách nhiệm vư n  ên thoát nghèo của mình.  
Do vậy, việc tăng cường công tác tuyên truyền cho  
người dân hiểu được trách nhiệm của mình trong công  
cuộc xóa đói giảm nghèo là việc làm vô cùng cần thiết,  
có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của công tác  
xóa đói giảm nghèo trong cả nước nói chung và tại xã  
Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nói  
riêng. Để làm tốt được việc này, tác giả cho rằng chính  
quyền xã cần phối, kết hợp chặt chẽ với các ban  
ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức  
chính trị, xã hội như Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh;  
Hội nông dân, Đoàn thanh niên của xã cũng như các  
xóm thuộc xã trong việc quán triệt sâu sắc chủ trư ng,  
chính sách của Đảng, Nhà nước đến từng cán bộ, đảng  
viên, người dân…  
Kết luận: Trong những năm qua, xã Thượng  
Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã đạt được  
những kết quả nhất định trong công tác xóa đói giảm  
nghèo như tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 54,33% xuống còn  
38,66 , tuy nhiên đây vẫn là một tỉ lệ khá cao. Thông  
qua việc phân tích các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói  
tại xã, tác giả đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp góp  
phần nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo  
của xã Thượng Nung, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái  
Nguyên trong thời gian tới như sau: (1) Tổ chức khảo  
sát đưa ra các mô hình trồng cây ăn quả, vật nuôi phù  
hợp với khí hậu, địa hình và đất đai của xã; (2) Hỗ trợ về  
chuyển đổi c  cấu cây trồng, vật nuôi cho người dân n i  
đây; (3) Hỗ trợ những thông tin về việc  àm cho người  
dân trên địa bàn xã; (4) Tăng cường tổ chức hướng dẫn  
việc triển khai kỹ thuật vào sản xuất cho người dân trên  
địa bàn xã nhằm tạo điều kiện để họ tiếp cận được với  
những tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất; (5)  
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận  
thức cho người nghèo hiểu được trách nhiệm vư n  
lên thoát nghèo, không   lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của  
Nhà nước; (6) Kết hợp công tác tuyên truyền với áp  
dụng các hư ng ước của xóm trong việc thực hiện  
công tác dân số kế hoạch hóa gia đình để giảm bớt tỉ lệ  
Trong quá trình thực hiện cần lồng ghép với các  
chư ng trình và vận động, khuyến khích đảng viên,  
đoàn viên, hội viên vư n  ên  àm giàu chính đáng. Đối  
T.T.Hong/ No.18_Oct 2020|p.56-65  
sinh con của người dân đây. Tác giả hy vọng, với những  
[4]. Bui Thi Binh (2010), Some policies need to  
pay attention to ethnic and mountainous regions  
when participating in making socio-economic policy  
decisions. Ha Noi.  
giải pháp được đề xuất này sẽ góp phần giảm tỉ lệ hộ  
nghèo và cận nghèo tại xã Thượng Nung nói riêng và tại  
huyện Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên nói chung.  
REFERENCES  
[5]. Nguyen Hai Huu: About possible solutions to  
implement strategic missions of poverty reduction  
2001 - 2003. Journal of Science No. 4,2001.  
[1]. Report on results of socio-economic development of  
ThuongNungcommunein2016,2017,2018,2019.  
[2]. Report on the statistics of poor and near-poor  
households of Thuong Nung commune in 2016, 2017, 2018,  
and 2019.  
[6]. Nguyen Lan Phuong (2019), Trends affecting  
poverty reduction in Viet Nam today, Financial  
Magazine 2nd period in August, 2019.  
[3]. Report on the results of the implementation  
of poverty reduction policies in Thuong Nung  
commune 2016, 2017, 2018, 2019  
[7]. Nguyen Lan Phuong (2019), Some sustainable  
poverty alleviation solutions for central provinces,  
Financial Magazine 1st period in July, 2019.  
THE SITUATION OF POVERTY IN THUONG NUNG COMMUNE,  
VO NHAI DISTRICT, THAI NGUYEN PROVINCE  
Article info  
Abstract  
The article focuses on clarifying the situation of poverty as well as analyzing the  
causes leading to poverty and the implementation of poverty reduction policies in  
Thuong Nung commune, Vo Nhai district, Thai Nguyen province in the period  
2016-2019. Since then, proposing a number of solutions to contribute to poverty  
reduction in the commune in the coming time.  
Recieved:  
27/7/2020  
Accepted:  
20/9/2020  
Keywords:  
Poverty, hunger  
eradication, poverty  
reduction, poverty  
reduction, poverty  
reduction policies.  
pdf 10 trang baolam 14840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng nghèo đói tại xã Thượng Nung, huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_ngheo_doi_tai_xa_thuong_nung_huyen_vo_nhai_tinh_t.pdf