Quyền quyết định của vợ và chồng trong gia đình người chăm Hồi giáo ở An Giang (Trường hợp ấp Hà Bao 2, An Giang)

44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA VỢ VÀ CHỒNG TRONG  
GIA ĐÌNH NGƯỜI CHĂM HỒI GIÁ O Ở AN GIANG  
(Trường hợp ấp Hà Bao 2, An Giang)  
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO*  
PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP**  
Bài viết vận dụng lý thuyết phâ n bổ nguồn nhâ n lực tương đối, cá ch tiếp cận  
tương đối văn hóa trong phâ n tí ch cá c yếu tố tác động đến quyền quyết định của  
người vợ và người chồng trong gia đình người Chăm Hồi giá o ở An Giang. Kết  
quả phâ n tí ch cho thấy, nam giới là người quyết định chí nh những việc “lớn”,  
“quan trọng”, điều đó cho thấy quyền quyết định của người chồng vẫn là một  
chuẩn mực ít thay đổi, cho dù có yếu tố văn hóa ảnh hưởng bởi chế độ mẫu hệ  
của người Chăm.  
Từ khó a: quyền quyết định, người quyết định chính, người Chăm, công việc gia đình  
Nhận bài ngày: 17/9/2021; đưa vào biên tập: 19/9/2021; phản biện: 11/10/2021;  
duyệt đăng: 02/12/2021  
1. MỞ ĐẦU  
nên phục tùng chồng và trông coi (nhà  
cửa) trong lúc chồng vắng mặt với sự  
giúp đỡ và trông chừng của Allah”  
(Koran 4: 34).  
Quyền quyết định là một chỉ báo quan  
trọng về địa vị và quyền lực của vợ và  
chồng trong gia đình. Phân tích quyền  
quyết định là một trong những nội  
dung không thể thiếu trong nghiên  
cứu bình đẳng giới trong gia đình Việt  
Nam nói chung và trong gia đình  
người dân tộc thiểu số nói riêng.  
Tuy nhiên, do tác động của toàn cầu  
bởi tư tưởng bì nh quyền ở phương  
Tây, các phong trào thúc đẩy quyền  
và giải phó ng phụ nữ cũng như các  
phong trào tăng quyền năng kinh tế  
cho phụ nữ (Knodel, Vu, Jayakody  
and Vu, T.H. 2004) cùng sự phá t triển  
kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt  
Nam, và sự ra đời Luật Bình đẳng giới  
năm 2006 nên vấn đề bình đẳng giới  
trong gia đình người Chăm ít nhiều có  
sự thay đổi. Câu hỏi đặt ra là quyền  
quyết định trong gia đình người Chăm  
Hồi giáo ở An Giang hiện nay bị tác  
động bởi những yếu tố nào, liệu  
quyền quyết định khác nhau của  
người chồng hay người vợ dựa trên  
Cộng đồng người Chăm ở An Giang  
ảnh hưởng hệ tư tưởng văn hóa  
Chăm và giáo lý Hồi giáo, con cá i tí nh  
theo dò ng họ mẹ (Phan Xuâ n Biên và  
cộng sự, 1991: 207). “Người đàn ông  
là trụ cột của gia đình trên đàn bà bởi  
vì Allah ban cho người này sức lực  
hơn người kia và bởi vì họ chi dùng  
tài sản của họ vào việc cấp dưỡng gia  
đình. Do đó người đàn bà đức hạnh  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
** Học viên Trường Đại học Tô n Đức Thắng  
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…  
45  
cơ sở giới tính hay vì một lý do nào gia đình. Vì thế, cách tiếp cận tương  
khác. Qua nguồn số liệu điều tra cộng  
đồng người Chăm ở An Giang, bài  
viết sẽ làm sáng tỏ vấn đề này.  
đối văn hóa trong phân tích các yếu tố  
tác động đến quyền quyết định của  
người vợ và người chồng trong gia  
đình được sử dụng trong nghiên cứu  
này. Lý giải về quyền quyết định của  
người vợ và người chồng trong gia  
đình, yếu tố văn hóa (thường được  
thể hiện qua sự khác biệt về dân tộc  
trong cộng đồng, phong tục tập quán,  
những đặc trưng về lịch sử/văn hóa)  
có vai trò quan trọng. Vì những yếu tố  
này có thể ảnh hưởng đến việc giữa  
vợ và chồng ai là người có quyền lực  
hơn, và ai dễ dàng thương thuyết hơn  
trong việc đưa ra các quyết định liên  
quan đến các công việc trong gia đình.  
Trong cô ng trì nh nghiên cứu kinh điển  
về gia đình và hệ thống xã hội, Bott  
(1957) cho rằng mỗi người vợ và  
chồng có những thế giới xã hội và  
cô ng việc tá ch biệt, khá c nhau, chỉ  
gắn với nhau bằng những trá ch nhiệm  
và quyền hạn qua lại với nhau. Từ  
điển xã hội học Oxford (2010: 644)  
cho biết người vợ: chịu trá ch nhiệm về  
việc nhà, chăm sóc con cái, chồng  
thường có trá ch nhiệm chăm lo cho  
gia đình về mặt tài chí nh và làm cá c  
việc nặng ở nhà. Yếu tố quan niệm  
giới về phân công lao động và quyền  
quyết định trong gia đình cũng được  
dùng để phân tích gián tiếp tư tưởng  
giới trong bài viết này.  
2. NGUỒN SỐ LIỆU, LÝ THUYẾT VÀ  
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH  
Bài viết dựa trên kết quả khảo sát định  
lượng 100 hộ gia đình người Chăm có  
người đang làm ăn xa hoặc đã trở về  
địa phương theo phương pháp chọn  
mẫu ngẫu nhiên hệ thống và khảo sá t  
định tính 10 trường hợp hộ gia đình,  
cá n bộ xã /ấp và người có chức sắc  
tô n giá o tại ấp Hà Bao 2, xã Đa  
Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang  
vào thá ng 3/2021.  
Lý thuyết phân bổ nguồn lực tương  
đối (Blood, Wolfe, 1978) cho rằng  
giữa vợ và chồng ai có nhiều nguồn  
lực hơn sẽ có nhiều quyền lực hơn  
trong gia đình. Sự tham gia của người  
vợ và người chồng vào quá trình ra  
quyết định đối với các công việc của  
gia đình phản ánh cán cân quyền lực  
giữa họ. Các nguồn lực thường được  
đo bằng trình độ học vấn, thu nhập và  
uy tín nghề nghiệp mà người đó đang  
làm. Tuy nhiên, lý thuyết này không  
tính đến việc một số quyết định  
thường dựa trên cơ sở những thuận  
lợi vốn có hơn là khả năng có/sở hữu  
hay tiếp cận được nguồn lực hay  
không. Ví dụ, việc quyết định các chi  
tiêu hàng ngày thường thuộc về phụ  
nữ, vì họ chứng tỏ được mình là  
người giỏi hơn trong việc mua bán. Lý  
thuyết này cũng bỏ qua ảnh hưởng  
yếu tố văn hóa tới tiếng nói của phụ  
nữ và nam giới trong các quyết định  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài  
viết phân tích về: (i) Việc làm chính,  
đóng góp kinh tế và quyền quyết định  
của nam và nữ trong lĩnh vực việc làm;  
(ii) Người quyết định chính trong các  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
công việc cụ thể của gia đình và các chuyến đi từ 15 ngày đến một thá ng,  
yếu tố đã ảnh hưởng đến quyền quyết có khi 2-3 thá ng.  
định của người vợ và người chồng  
Theo giá o luật Islam, người chồng là  
trong các gia đình dân tộc thiểu số,  
trụ cột kinh tế trong gia đình, đảm  
nhằm thúc đẩy cá c biện pháp tăng  
nhận trá ch nhiệm kiếm tiền nuô i gia  
cường cơ hội có tiếng nó i, và bì nh  
đình, người vợ chủ yếu làm cô ng việc  
đẳng giới của người vợ trong tương  
nội trợ, chăm sóc con cái. Việc đi lại  
quan với người chồng về cá c quyết  
của người phụ nữ phải có sự cho  
định liên quan đến đời sống gia đình.  
phép và đi kèm của những người đàn  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ QUYỀN  
ô ng hoặc người lớn tuổi (Võ Thị Mỹ,  
QUYẾT ĐỊNH CỦA VỢ CHỒNG 2015). Uy quyền và vị thế của nam giới  
TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI CHĂM vẫn tồn tại trong chế độ mẫu hệ Chăm.  
HỒI GIÁO Ở AN GIANG  
Cá c nghiên cứu của Nguyễn Thị  
Nhung (2003), Võ Cô ng Nguyện  
(2011), Lê Thanh Sang (2016) cho  
thấy hai thập niên gần đây, nữ giới có  
tham gia thị trường việc làm, có đóng  
gó p thu nhập vào gia đình. Điều này,  
xé t theo giá o luật Islam đã giảm sự  
3.1. Yếu tố việc làm  
Ấp Hà Bao 2 (Đa Phước, An Phú, An  
Giang) có 455 hộ người Chăm Hồi  
giá o, khoảng 1.993 nhâ n khẩu, đa số  
buô n bá n rong ở cá c tỉnh/thành khá c  
trên toàn quốc (Ủy ban nhâ n  
Bảng 1. Nghề nghiệp chính hiện nay của những  
người từ 15 tuổi trở lên chia theo giới tính (%)  
dâ n xã Đa Phước, 2020).  
Việc làm chí nh hiện nay của  
người từ 15 tuổi trở lên theo  
mẫu khảo sá t, có 39,9% tham  
gia buô n bá n - dịch vụ, 15,7%  
làm cô ng nhâ n, 13,9% là nội  
trợ, 9,5% là lao động giản  
đơn/thời vụ, nhó m ngành  
nghề khá c rất ít. Người Chăm  
buô n bá n cá c mặt hàng nhu  
yếu phẩm, thiết bị điện tử ở  
cá c chợ nô ng thô n vùng sâ u  
vùng xa, có người (nam giới)  
đến các nước lâ n cận có  
người Chăm để buô n bá n.  
Tí nh  
Nam Nữ  
chung  
Buô n bá n - dịch vụ  
Cô ng nhâ n  
Nội trợ  
41,9 38,1 39,9  
14,7 16,8 15,7  
3,7 23,9 13,9  
Lao động giản đơn/thời vụ  
Không làm việc/thất nghiệp  
Học sinh/sinh viên/học nghề  
14,7  
5,8  
5,8  
4,6  
6,1  
4,6  
4,6  
0,5  
9,5  
5,9  
5,2  
4,1  
3,6  
Già/không có khả năng lao động 3,7  
Nô ng dâ n  
Nhâ n viên cá c doanh nghiệp khu  
vực ngoài nhà nước  
6,8  
2,1  
1,0  
1,0  
0,0  
1,5  
0,5  
Khá c  
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát đề tài thá ng  
3/2021.  
nghiêm ngặt đối với phụ nữ, chỉ cần  
Trước kia, hộ gia đình nào có  
xuồng/ghe thì họ đem theo cả vợ con,  
cò n hiện nay họ đã đổi sang phương  
tiện xe máy/xe khách, thường mỗi  
đảm bảo việc đi lại và tiếp xúc của  
nhó m nữ đối với nam giới phải tế nhị  
và thận trọng (Anh Zu, người Chăm,  
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…  
47  
sinh 1980) (Fahd Salem Bahamman, gấp đôi so với nam giới (Bảng 2). Có  
2014: 198).  
thể thấy, vai trò , vị thế của phụ nữ  
Chăm đã phần nào được khẳng định  
qua việc rời khỏi nhà, tham gia vào thị  
trường lao động và đóng góp cho kinh  
tế gia đình trong nhưng những năm  
gần đây.  
So sánh ở góc độ giới về nghề nghiệp  
chính, ở nhóm nghề buôn bán - dịch  
vụ, mặc dù tỷ lệ nam giới tham gia  
nhiều hơn, nhưng tỷ lệ nữ giới không  
phải quá thấp (41,9%; 38,1%), ở  
nhóm công nhân thì tỷ lệ nữ giới tham  
gia cao hơn (16,8%;14,7%) (Bảng 1).  
Nếu tính chung tất cả các nhóm  
ngành nghề, có hơn 80% nam giới và  
hơn 60% nữ giới tham gia vào thị  
trường lao động, hơn 23% nữ giới  
không tham gia tạo thu nhập mà chỉ ở  
nhà nội trợ.  
Bảng 2. Khoảng thời gian đi làm ăn xa  
của cá c thành viên trong cá c hộ gia đình  
khảo sá t chia theo giới tí nh (%)  
Tí nh  
Nam  
Nữ  
chung  
12,0  
Trước 2010  
11,7 12,5  
11,7 21,6  
76,6 65,9  
Từ 2010 - 2014  
Từ 2015 đến nay  
15,6  
72,4  
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sá t đề tài  
Theo kết quả khảo sát, nữ giới tham  
gia thị trường lao động ngày càng  
tăng, nguyên nhân một phần do đàn  
ông không thể gánh vác hết kinh tế  
gia đình. “Buô n bá n hiện nay khô ng  
dễ dàng như thời cha mẹ chúng tô i  
nữa, hiện nay buô n bá n cạnh tranh  
hơn, nhưng các mặt hàng lại ế ẩm  
hơn, do người mua có nhiều nguồn  
mua hơn, hiệu quả kinh doanh ngày  
càng giảm sút, thu nhập khô ng cò n ổn  
định, trong khi nhu cầu chi tiêu khá  
cao” (PVS, Zu, nam, sinh năm 1976;  
Naoh, nam, sinh năm 1980; Kah, nam,  
sinh năm 1979, ấp Hà Bao 2).  
thá ng 3/2021.  
Đặc thù sinh kế chí nh của người  
Chăm là đi buôn bán ở các địa  
phương khác gửi tiền về nhà cho gia  
đình. Kết quả cho thấy, gần 90% trong  
số họ gửi tiền về nhà hàng thá ng,  
khô ng có sự khá c biệt đáng kể về giới  
(nam 87,4%; nữ 89,1%). Số tiền trung  
bì nh hàng thá ng gửi về khoảng  
1.680.000 đồng, số tiền trung bì nh  
hàng thá ng nam giới gửi nhiều hơn  
nữ giới (1.750.000 đồng; 1.530.000  
đồng). Cá c hộ gia đình được phỏng  
vấn cho biết, nam giới chủ yếu là đi  
buô n bá n rong, việc thay đổi chỗ ở  
thường xuyên và ở vùng sâ u vùng xa  
nên họ thường mang tiền về sau chu  
kỳ 2-3 thá ng hoặc đến thá ng chay khi  
họ trở về. Cò n nữ giới, do chọn những  
cô ng việc cố định như làm cô ng nhâ n  
ở cá c tỉnh/thành nên chỗ ở ổn định,  
lương bổng ổn định, và việc gửi tiền  
về cũng thuận tiện hơn nam giới.  
Trong mẫu khảo sá t này, hiện có 153  
nhâ n khẩu đang đi làm ăn xa ở cá c  
tỉnh khác, trong đó có 104 nam, 49 nữ.  
Tỷ lệ nữ giới đi xa gia đình làm việc  
tăng nhanh liên tục, nếu trước năm  
2010 tỷ lệ chỉ chiếm 12,5% thì từ sau  
năm 2015 đến nay đã tăng hơn gấp 5  
lần (65,9%), và thời gian di cư từ năm  
2010 đến năm 2014 ở nhó m nữ cao  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
Bảng 3. Tỷ trọng (%) số tiền gởi về cho  
gia đình so với tổng thu nhập của người  
đi làm ăn xa chia theo giới tí nh  
Phụ nữ đã lập gia đình cũng có việc  
làm, có thu nhập riêng, vai trò trụ cột  
kinh tế gia đình không còn đè nặng  
lên vai người chồng: “Trong gia đình  
tôi, cả hai vợ chồng đều đi làm, để có  
thu nhập cho gia đình. Cuộc sống bây  
giờ cần có nhiều khoản chi cần chi và  
tốn kém, nếu như chỉ có chồng tôi đi  
làm thì gia đình sẽ khó khăn hơn, tôi  
được đi làm thì sẽ chia sẻ được gánh  
nặng cho chồng” (PVS hộ dân, ấp Hà  
Bao 2, nữ, sinh năm 1968).  
Nam  
24,5  
Nữ  
Dưới 20%  
16,7  
20,0  
36,7  
13,3  
13,3  
20 - Dưới 40%  
40- Dưới 60%  
60 - Dưới 80%  
80-100%  
3,8  
49,1  
11,3  
11,3  
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát đề tài  
thá ng 3/2021.  
Kết quả khảo sá t, xé t về tỷ trọng trong  
số tiền gửi về cho gia đình so với tổng  
thu nhập của những người đi làm ăn  
xa cho thấy, phần lớn thu nhập được  
gửi về cho gia đình. Nhóm gửi từ 40 -  
dưới 60% thu nhập thì tỷ lệ nam giới  
cao hơn nữ giới, nhưng nhóm gửi từ  
60 đến dưới 80% và từ 80 đến 100%  
thì nữ giới cao hơn nam giới (Bảng 3).  
Điều này cho thấy, nữ giới người  
Chăm cũng có những đóng góp, hỗ  
trợ cho kinh tế hộ gia đình thông qua  
tiền gửi từ quá trình đi làm ăn xa.  
Tuy nhiên, việc ra ngoài đi làm của nữ  
giới – người vợ vẫn phải có sự đồng ý  
hoặc cho phép của nam giới – người  
chồng: “Truyền thống hồi đó truyền lại  
là phụ nữ ít được ra ngoài lắm, bâ y giờ  
kinh tế phá t triển thì phụ nữ cũng bung  
ra đi làm công nhân, buôn bán gần gần  
hoặc là kiếm cô ng việc nào đó giúp  
cho gia đình vậy thô i, chứ khô ng phải  
nguồn thu chí nh, chỉ là phụ với chồng  
thôi” (PVS trưởng ấp Hà Bao 2, nam,  
sinh năm 1980); “Nhóm gia đình trẻ,  
nếu vợ muốn đi làm công nhân ở đâu,  
thì phải có sự thống nhất của người  
chồng, đồng ý cho phép đi thì mới đi,  
cò n nếu người chồng không cho đi,  
thì vợ cũng không được đi” (PVS hộ  
dâ n, ấp Hà Bao 2, nữ, sinh năm  
1996).  
Sự tham gia của phụ nữ vào thị  
trường lao động, đã tạo cho phụ nữ  
có điều kiện đóng góp vào nguồn thu  
nhập chung của gia đình. Do nhu cầu  
mưu sinh, phụ nữ Chăm đã vượt qua  
vai trò vốn được xã hội truyền thống  
áp đặt cho họ. Họ khô ng cò n tự giới  
hạn mình theo các quy định khắt khe  
của giá o luật Hồi giá o. Nhờ có việc  
làm họ đã “thoát” ra khỏi gian bếp  
chật hẹp và thậm chí vượt ra cả cộng  
đồng “khép kín” để tham gia vào cá c  
hoạt động sản xuất, tạo thu nhập cho  
bản thân và gia đình.  
3.2. Yếu tố khác  
Ở Việt Nam, cá c tá c giả như Mai Huy  
Bí ch và Lê Thị Kim Lan (1999) chỉ ra  
rằng ở nhiều gia đình, trong khi người  
vợ là người đảm nhận hầu hết cá c  
cô ng việc gia đình và là người mang  
thu nhập chí nh về cho gia đình, nhưng  
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…  
49  
quyền quyết định cá c cô ng việc của cho thấy có một xu hướng biến đổi  
gia đình chính là người chồng, người tí ch cực về mối quan hệ giữa người  
vợ chỉ là người thực hiện cá c quyết chồng và người vợ trong vấn đề ra  
định đó. Điều đó cho thấy, yếu tố văn quyết định chí nh. Mặc dù, cá c cô ng  
hó a với quan niệm “trọng nam khinh việc quan trọng của gia đình vốn do  
nữ”, “nam giới là trụ cột kinh tế” “phụ người chồng quyết định là chủ yếu,  
nữ làm cô ng việc nội trợ gia đình” đã thì ở kết quả này đối với cô ng việc  
tác động đến vai trò của vợ và chồng mua sắm đồ dùng lâ u bền, đắt tiền thì  
trong việc ra quyết định.  
tỷ lệ người chồng quyết định giảm đi,  
và cá c cô ng việc như thay đổi hoạt  
động sản xuất kinh doanh, lựa chọn  
ngành nghề/việc làm của con cá i,  
dựng vợ gả chồng cho con cá i lại  
tăng tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng quyết  
định rõ rệt. Số liệu Bảng 4 cho thấy  
quyền quyết định cuối cùng những  
vấn đề quan trọng phần lớn thuộc về  
người chồng, nếu cá c hộ gia đình  
thiếu vắng người chồng (chủ hộ) do đi  
làm ăn xa, thì người vợ cũng sẽ thô ng  
tin và chờ đợi sự chấp thuận từ chồng.  
Cá c cô ng việc quan trọng trong gia  
đình theo phân tích này bao gồm: thay  
đổi hoạt động sản xuất kinh doanh;  
mua bá n, sửa chữa nhà cửa; mua  
sắm đồ dùng lâ u bền, đắt tiền; việc  
học của con cá i; lựa chọn ngành  
nghề/việc làm của con cá i, tổ chức ma  
chay trong gia đình; dựng vợ gả  
chồng cho con cá i (Bảng 3).  
Cũng là các công việc như trên, nếu  
so sá nh với kết quả Điều tra gia đình  
Việt Nam 2006 (Bộ Văn hóa, Thể thao  
và Du lịch và cơ quan khác, 2008),  
Bảng 4. Người quyết định chí nh cá c cô ng việc quan trọng của gia đình (%)  
Người  
Cả hai  
vợ chồng  
Các loại công việc  
Chi tiêu ăn uống  
Người vợ  
chồng  
15,1  
20,5  
28,8  
61,6  
34,2  
30,1  
15,1  
24,7  
37,0  
70,9  
52,3  
45,3  
24,4  
27,9  
23,3  
9,3  
14,0  
27,2  
25,9  
14,0  
37,9  
46,6  
75,6  
56,7  
36,3  
Mua sắm quần áo  
Mua sắm đồ dùng lâu bền, đắt tiền  
Mua/làm/sửa chữa nhà cửa; và mua bán nhà đất  
Việc học của con cái  
Thay đổi hoạt động sản xuất kinh doanh  
Lựa chọn ngành nghề/việc làm của con cái  
Dựng vợ gả chồng cho con cái  
Tổ chức ma chay trong gia đình  
18,6  
26,7  
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát đề tài thá ng 3/2021.  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
Bảng 5. Ý kiến về vai trò của người phụ nữ và người đàn ông trong việc tham gia cá c  
hoạt động kinh tế đem lại thu nhập cho gia đình nhiều hơn (%)  
NGƯỜI PHỤ NỮ  
NGƯỜI ĐÀN ÔNG  
Người chồng Người vợ Tổng Người chồng Người vợ Tổng  
Hoàn toàn đồng ý  
Khá đồng ý  
4,0  
4,0  
5,4  
5,4  
5,1  
5,1  
28,0  
0,0  
24,3  
4,1  
25,3  
3,0  
Đồng ý  
56,0  
28,0  
8,0  
58,1  
25,7  
2,7  
57,6  
26,3  
4,0  
64,0  
8,0  
64,9  
4,1  
64,6  
5,1  
Đồng ý một phần  
Rất không đồng ý  
Không biết, không ý kiến  
0,0  
2,7  
2,0  
0,0  
2,7  
2,0  
0,0  
0,0  
0,0  
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát đề tài thá ng 3/2021.  
Chúng tô i phỏng vấn một chị (sinh thay đổi”. “Dù mình có làm có thu  
năm 1996) vừa sinh con, có chồng nhập thì vẫn dưới sự quyết định của  
(sinh năm 1991) đang buôn bán rong chồng. Nhiều lúc chồng có những điều  
ở Campuchia, chị cho biết: muốn theo không đúng và chưa đúng thì mì nh  
cá c chị ruột đi Bình Dương làm công gó p ý và bàn với chồng và thuyết phục.  
nhâ n (cá c chị ruột đã lập gia đình và Nhưng cuối cùng chồng vẫn là người  
chồng cá c chị cùng đi ở Bình Dương) quyết định những việc chí nh trong gia  
nhưng người chồng khô ng cho. Hiện đình, mặc dù í t khi có ở nhà thường  
người chồng vẫn gửi tiền về (trung xuyên” (PVS, nữ, sinh năm 1968, ấp  
bì nh một thá ng hai triệu) cho mẹ con Hà Bao 2).  
ăn uống, nếu thiếu thì bá o sẽ gửi  
Việc “Tham gia vào các hoạt động sản  
thêm, nhưng người chồng dặn dò  
người vợ nên tiết kiệm trong chi tiêu.  
[PV: Hỏi được chu cấp đầy đủ sao  
khô ng ở nhà chăm con mà xin đi  
làm…] Người vợ cho rằng, mình đi  
làm sẽ được chi tiêu thoải mái hơn  
“muốn bản thâ n tự lập và đồng tiền  
mì nh tự làm ra, mì nh tiêu dễ dàng hơn,  
khô ng phải tí nh toá n dè chừng khi tiêu  
tiền của chồng”. [PV: Ý rằng theo  
phong tục của người Chăm – chồng là  
trụ cột, có trá ch nhiệm lo chu toàn cho  
vợ con?]. Người vợ cho rằng, “dạ,  
nhưng nay hiện đại rồi, chỉ duy nhất là  
khô ng thể tự quyết định, khi chồng  
khô ng cho phé p, em cũng thuyết phục  
nhiều lần, nhưng chồng em khô ng  
xuất kinh doanh đem lại thu nhập cho  
gia đình nhiều hơn”, phía người phụ  
nữ có kết quả tỷ lệ đồng ý ở người vợ  
cao hơn người chồng (58,1% so với  
56%), ở phía người đàn ông có kết  
quả đồng ý người chồng thấp hơn  
người vợ (64%; 64,9%) (Bảng 5). Với  
tỷ lệ chênh lệch ý kiến khô ng nhiều  
nhưng cho thấy, phụ nữ cũng cho  
rằng họ có vai trò đem lại thu nhập gia  
đình và người chồng cũng đồng ý  
rằng người vợ đã bước ra ngoài gia  
đình tìm việc làm và có thu nhập. Tuy  
nhiên, làm việc để đem lại thu nhập  
cho gia đình “nhiều hơn” là trách  
nhiệm của đàn ông và người vợ cũng  
đồng thuận như vậy, và xem nam giới  
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…  
51  
đóng vai trò trụ cột kinh tế trong gia dù cả người vợ và người chồng đều  
đình.  
học vấn không cao nhưng dữ liệu cho  
thấy, khoảng cách lớn trong quyền  
quyết định chính của người vợ và  
Khi phân tích về quyền quyết định  
giữa vợ và chồng trong gia đình, từ  
nhiều khía cạnh và quan điểm khác  
nhau, các nhà nghiên cứu thường giải  
thích tại sao ở hoạt động này người  
chồng là người có tiếng nói quyết định  
chính nhưng một số hoạt động khác  
người vợ lại là người quyết định  
chính. Lý thuyết phân bổ nguồn lực  
tương đối tập trung vào khía cạnh  
kinh tế với những yếu tố ảnh hưởng  
như học vấn, nghề nghiệp và thu  
nhập. Các nghiên cứu trước đã có  
nhận định rằng công việc của người  
chồng mang lại thu nhập cao hơn so  
với người vợ thì điều đó đồng nghĩa  
với việc nam giới có nhiều quyền hơn  
trong gia đình. Kết quả này tương  
đồng với nghiên cứu của Phạm  
Quỳnh Hương (2012) về người dân  
tộc thiểu số, dựa vào đặc trưng văn  
hóa tộc người để giải thích hiện tượng  
phụ nữ dân tộc thiểu số mặc dù có  
khả năng tiếp cận tài chính và có thu  
nhập nhưng điều đó cũng không đồng  
nghĩa với việc làm tăng quyền của họ  
trong gia đình.  
người  
chồng  
đối  
với  
việc  
mua/làm/sửa chữa nhà cửa; và mua  
bá n nhà đất, ở nhóm mù chữ thì tỷ lệ  
người chồng là quyết định chính cao  
hơn người vợ (52,9%; 29,4%) và  
nhó m cấp tiểu học cũng tương tự như  
vậy (68,6%; 31,5%). Như vậy, việc  
không biết chữ có thể ảnh hưởng lớn  
đến quyền quyết định của người vợ,  
nhưng người chồng không biết chữ  
vẫn là người quyết định chính trong  
việc mua/làm/sửa chữa nhà cửa và  
mua bán nhà đất của gia đình, và ở  
các công việc quan trọng khác trong  
gia đình cũng có kết quả tương tự.  
Về độ tuổi, dữ liệu cho thấy ở người  
chồng trong nhóm tuổi 30 - 39 có  
quyền quyết định chính cao hơn  
(77,8%) so với người chồng ở các  
nhóm tuổi khác trong việc mua/làm/  
sửa chữa nhà cửa; và mua bán nhà  
đất. Trong đó tỷ lệ này của người ở  
nhóm tuổi 40 - 49; 50- 59; 60 trở lên  
lần lượt là 60%; 65,4%; 52,4%. Kết  
quả khảo sát độ tuổi ở người vợ cho  
thấy, quyền quyết định của họ trong  
việc mua/làm/sửa chữa nhà cửa; và  
mua bán nhà đất tăng rõ rệt theo tuổi,  
với 4 nhóm tuổi trên thì tỷ lệ lần lượt  
là 7,1%; 14,3%; 33,3%; 45,5%. Tuổi  
của người vợ càng cao thì quyền  
quyết định của họ tăng theo; và có thể  
đây là dấu vết văn hóa mẫu hệ của  
cộng đồng người Chăm vẫn còn  
nhưng không đậm nét mà đã biến đổi  
Ở bài viết này, không chú trọng phân  
tích tương quan về nghề nghiệp, về  
học vấn và độ tuổi. Về học vấn người  
Chăm có trình độ học vấn thấp, trong  
178 nhân khẩu là chủ hộ/vợ chồng  
chủ hộ trong mẫu thì gần 1/3 là mù  
chữ (28,7%), gần 2/3 ở trình độ tiểu  
học (55,1%), và có sự khác biệt giới,  
tỷ lệ mù chữ nữ giới cao hơn, còn cấp  
tiểu học thì nam giới cao hơn. Mặc  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021  
nhiều, bởi các kết quả phân tích được có đóng góp vào thu nhập của gia  
ở phía trên cho thấy mặc dù theo văn đình nhưng không có nghĩa là trách  
hóa mẫu hệ nhưng lại thực hiện chế nhiệm nội trợ sẽ giảm đi; và mặc dù  
độ phụ quyền theo giáo lý Hồi giáo.  
mọi quyết định đều có sự tham gia  
của phụ nữ, song những quyết định  
có tí nh chất quan trọng dường như  
vẫn thuộc về chủ gia đình – người  
chồng.  
Trong tương lai gần tỷ lệ các gia đình  
người Chăm thực hiện mô hì nh cả hai  
vợ chồng cùng ra quyết định sẽ tiếp  
tục tăng lên. Song song là các hoạt  
động truyền thô ng, tập huấn về thay Tuy nhiên, cá c số liệu đang thể hiện  
đổi nhận thức, thay đổi hành vi, và những tí n hiệu tí ch cực rằng người  
những biến đổi xã hội, dẫn đến những chồng đã có những chuyển biến về  
định kiến về vai trò giới sẽ giảm dần nhận thức, nhì n nhận vai trò đóng góp  
theo thời gian.  
kinh tế của người vợ trong gia đình.  
Chí nh vì thế, vị thế của người vợ dần  
dần được nâ ng cao, tiếng nó i và  
quyền quyết định của họ trong cá c  
cô ng việc gia đình cũng cao hơn và có  
những cô ng việc được quyết định bởi  
cả hai vợ chồng.  
4. KẾT LUẬN  
Kết quả phâ n tí ch cho thấy, quyền  
quyết định cô ng việc gia đình tùy  
thuộc vào loại cô ng việc: với những  
việc “lớn” quyền quyết định thuộc về  
người chồng, và nếp nghĩ này ít thay  
đổi, vốn chịu ảnh hưởng một phần từ  
giá o lý Hồi giá o. Người vợ quyết định  
chí nh những cô ng việc hàng ngày,  
liên quan đến cá c khoản tài chí nh nhỏ.  
Quyền quyết định trong gia đình liên  
quan đến vấn đề người chủ gia đình.  
Quan niệm về người chủ gia đình có  
sự thay đổi chậm, phần lớn vẫn coi  
người đàn ông là chủ gia đình.  
Nhì n chung, cộng đồng người Chăm  
Hồi giá o, dù đạo luật mới, tiến bộ về  
hôn nhân và gia đình được thiết lập  
gần ba thập niên, cá c giá trị xã hội đã  
có thay đổi í t nhiều theo hướng tí ch  
cực hơn nhưng cuộc sống gia đình  
người Chăm vẫn đi theo con đường  
của họ, vẫn ngầm tuâ n theo tập quá n,  
khuô n mẫu, chuẩn mực đã được xâ y  
dựng là người chồng “quyết định việc  
lớn” và “vợ quyết định việc nhỏ hàng  
ngày” đã ăn sâu vào tiềm thức của  
người dâ n. ❑  
Quyền quyết định trong bài phâ n tí ch  
này ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa và  
định kiến giới. Việc gia đình phải do  
người vợ đảm nhiệm, bất kể là trong  
loại gia đình nào. Người vợ tuy cũng  
đã bước vào thị trường lao động và  
TÀI LIỆU TRÍ CH DẪN  
1. Blood, Robert O., Wolfe, Donald. M. 1978. Husbands & Wives: The Dynamics of  
Married Living. Westport: Greenwood Press.  
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…  
53  
2. Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình và Giới,  
UNICEF. 2008. Kết quả điều tra gia đình Việt Nam 2006. Hà Nội.  
3. Bott, Elizabeth.1957. Family and Social Network. London: Tavistock.  
4. Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương và Trịnh Huy Hóa (nhóm dịch giả). Từ điển xã  
hội học Oxford / Dictionary of Sociology Oxford. 2010. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia  
Hà Nội.  
5. Fahd Salem Bahamman, 2014. “Cẩm nang dành cho người Muslim mới cải đạo”.  
Modern Guide, Birmingham UK.  
6. Knodel, John E., Vu Manh Loi, Rukmalie Jayakody and Vu Tuan Huy. 2004. Gender  
Roles in the Family: Change and Stability in Vietnam. USA: University of Michigan.  
7. Lê Thanh Sang. 2016. Vấn đề dâ n số và di dâ n trong phá t triển bền vững vùng Nam  
Bộ. Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ. Đề tài cấp Nhà nước/Chương trình Tây Nam  
Bộ 2015 - 2016.  
8. Mai Huy Bích, Lê Thị Kim Lan. 1999. “Địa vị phụ nữ ngư dân ở một số làng chài đánh  
cá miền Trung”. Tạp chí Xã hội học, số 3& 4.  
9. Nguyễn Thị Nhung. 2003. Cộng đồng người Chăm Hồi giá o ở Nam Bộ trong quan hệ  
giới và phá t triển. Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (VNRP).  
10. Phạm Quỳnh Hương. 2012. Giới, tăng quyền và phát triển – Quan hệ giới từ góc  
nhìn của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới.  
11. Phạm Thị Huệ. 2007. “Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt  
Nam”. Tạp chí Xã hội học, số 3.  
12. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp. 1991. Văn hóa Chăm. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
13. Ủy ban nhân dân xã Đa Phước. 2020. Bá o cá o kinh tế xã hội xã Đa Phước, huyện  
An Phú, tỉnh An Giang.  
14. Võ Cô ng Nguyện. 2011. Phá t triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dâ n tộc Khmer,  
Chăm tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020. Sở Khoa học Cô ng nghệ  
tỉnh An Giang - Viện Phá t triển bền vững vùng Nam Bộ.  
15. Võ Thị Mỹ. 2015. “Phụ nữ Chăm trong quá trình hội nhập”. Tạp chí Khoa học. Đại  
học Sư phạm TPHCM, số 1 (66), tr. 177.  
pdf 10 trang baolam 27460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền quyết định của vợ và chồng trong gia đình người chăm Hồi giáo ở An Giang (Trường hợp ấp Hà Bao 2, An Giang)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_quyet_dinh_cua_vo_va_chong_trong_gia_dinh_nguoi_cham_h.pdf