Quyền quyết định của vợ và chồng trong gia đình người chăm Hồi giáo ở An Giang (Trường hợp ấp Hà Bao 2, An Giang)
44
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA VỢ VÀ CHỒNG TRONG
GIA ĐÌNH NGƯỜI CHĂM HỒI GIÁ O Ở AN GIANG
(Trường hợp ấp Hà Bao 2, An Giang)
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO*
PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP**
Bài viết vận dụng lý thuyết phâ n bổ nguồn nhâ n lực tương đối, cá ch tiếp cận
tương đối văn hóa trong phâ n tí ch cá c yếu tố tác động đến quyền quyết định của
người vợ và người chồng trong gia đình người Chăm Hồi giá o ở An Giang. Kết
quả phâ n tí ch cho thấy, nam giới là người quyết định chí nh những việc “lớn”,
“quan trọng”, điều đó cho thấy quyền quyết định của người chồng vẫn là một
chuẩn mực ít thay đổi, cho dù có yếu tố văn hóa ảnh hưởng bởi chế độ mẫu hệ
của người Chăm.
Từ khó a: quyền quyết định, người quyết định chính, người Chăm, công việc gia đình
Nhận bài ngày: 17/9/2021; đưa vào biên tập: 19/9/2021; phản biện: 11/10/2021;
duyệt đăng: 02/12/2021
1. MỞ ĐẦU
nên phục tùng chồng và trông coi (nhà
cửa) trong lúc chồng vắng mặt với sự
giúp đỡ và trông chừng của Allah”
(Koran 4: 34).
Quyền quyết định là một chỉ báo quan
trọng về địa vị và quyền lực của vợ và
chồng trong gia đình. Phân tích quyền
quyết định là một trong những nội
dung không thể thiếu trong nghiên
cứu bình đẳng giới trong gia đình Việt
Nam nói chung và trong gia đình
người dân tộc thiểu số nói riêng.
Tuy nhiên, do tác động của toàn cầu
bởi tư tưởng bì nh quyền ở phương
Tây, các phong trào thúc đẩy quyền
và giải phó ng phụ nữ cũng như các
phong trào tăng quyền năng kinh tế
cho phụ nữ (Knodel, Vu, Jayakody
and Vu, T.H. 2004) cùng sự phá t triển
kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt
Nam, và sự ra đời Luật Bình đẳng giới
năm 2006 nên vấn đề bình đẳng giới
trong gia đình người Chăm ít nhiều có
sự thay đổi. Câu hỏi đặt ra là quyền
quyết định trong gia đình người Chăm
Hồi giáo ở An Giang hiện nay bị tác
động bởi những yếu tố nào, liệu
quyền quyết định khác nhau của
người chồng hay người vợ dựa trên
Cộng đồng người Chăm ở An Giang
ảnh hưởng hệ tư tưởng văn hóa
Chăm và giáo lý Hồi giáo, con cá i tí nh
theo dò ng họ mẹ (Phan Xuâ n Biên và
cộng sự, 1991: 207). “Người đàn ông
là trụ cột của gia đình trên đàn bà bởi
vì Allah ban cho người này sức lực
hơn người kia và bởi vì họ chi dùng
tài sản của họ vào việc cấp dưỡng gia
đình. Do đó người đàn bà đức hạnh
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
** Học viên Trường Đại học Tô n Đức Thắng
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…
45
cơ sở giới tính hay vì một lý do nào gia đình. Vì thế, cách tiếp cận tương
khác. Qua nguồn số liệu điều tra cộng
đồng người Chăm ở An Giang, bài
viết sẽ làm sáng tỏ vấn đề này.
đối văn hóa trong phân tích các yếu tố
tác động đến quyền quyết định của
người vợ và người chồng trong gia
đình được sử dụng trong nghiên cứu
này. Lý giải về quyền quyết định của
người vợ và người chồng trong gia
đình, yếu tố văn hóa (thường được
thể hiện qua sự khác biệt về dân tộc
trong cộng đồng, phong tục tập quán,
những đặc trưng về lịch sử/văn hóa)
có vai trò quan trọng. Vì những yếu tố
này có thể ảnh hưởng đến việc giữa
vợ và chồng ai là người có quyền lực
hơn, và ai dễ dàng thương thuyết hơn
trong việc đưa ra các quyết định liên
quan đến các công việc trong gia đình.
Trong cô ng trì nh nghiên cứu kinh điển
về gia đình và hệ thống xã hội, Bott
(1957) cho rằng mỗi người vợ và
chồng có những thế giới xã hội và
cô ng việc tá ch biệt, khá c nhau, chỉ
gắn với nhau bằng những trá ch nhiệm
và quyền hạn qua lại với nhau. Từ
điển xã hội học Oxford (2010: 644)
cho biết người vợ: chịu trá ch nhiệm về
việc nhà, chăm sóc con cái, chồng
thường có trá ch nhiệm chăm lo cho
gia đình về mặt tài chí nh và làm cá c
việc nặng ở nhà. Yếu tố quan niệm
giới về phân công lao động và quyền
quyết định trong gia đình cũng được
dùng để phân tích gián tiếp tư tưởng
giới trong bài viết này.
2. NGUỒN SỐ LIỆU, LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
Bài viết dựa trên kết quả khảo sát định
lượng 100 hộ gia đình người Chăm có
người đang làm ăn xa hoặc đã trở về
địa phương theo phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên hệ thống và khảo sá t
định tính 10 trường hợp hộ gia đình,
cá n bộ xã /ấp và người có chức sắc
tô n giá o tại ấp Hà Bao 2, xã Đa
Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang
vào thá ng 3/2021.
Lý thuyết phân bổ nguồn lực tương
đối (Blood, Wolfe, 1978) cho rằng
giữa vợ và chồng ai có nhiều nguồn
lực hơn sẽ có nhiều quyền lực hơn
trong gia đình. Sự tham gia của người
vợ và người chồng vào quá trình ra
quyết định đối với các công việc của
gia đình phản ánh cán cân quyền lực
giữa họ. Các nguồn lực thường được
đo bằng trình độ học vấn, thu nhập và
uy tín nghề nghiệp mà người đó đang
làm. Tuy nhiên, lý thuyết này không
tính đến việc một số quyết định
thường dựa trên cơ sở những thuận
lợi vốn có hơn là khả năng có/sở hữu
hay tiếp cận được nguồn lực hay
không. Ví dụ, việc quyết định các chi
tiêu hàng ngày thường thuộc về phụ
nữ, vì họ chứng tỏ được mình là
người giỏi hơn trong việc mua bán. Lý
thuyết này cũng bỏ qua ảnh hưởng
yếu tố văn hóa tới tiếng nói của phụ
nữ và nam giới trong các quyết định
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài
viết phân tích về: (i) Việc làm chính,
đóng góp kinh tế và quyền quyết định
của nam và nữ trong lĩnh vực việc làm;
(ii) Người quyết định chính trong các
46
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
công việc cụ thể của gia đình và các chuyến đi từ 15 ngày đến một thá ng,
yếu tố đã ảnh hưởng đến quyền quyết có khi 2-3 thá ng.
định của người vợ và người chồng
Theo giá o luật Islam, người chồng là
trong các gia đình dân tộc thiểu số,
trụ cột kinh tế trong gia đình, đảm
nhằm thúc đẩy cá c biện pháp tăng
nhận trá ch nhiệm kiếm tiền nuô i gia
cường cơ hội có tiếng nó i, và bì nh
đình, người vợ chủ yếu làm cô ng việc
đẳng giới của người vợ trong tương
nội trợ, chăm sóc con cái. Việc đi lại
quan với người chồng về cá c quyết
của người phụ nữ phải có sự cho
định liên quan đến đời sống gia đình.
phép và đi kèm của những người đàn
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ QUYỀN
ô ng hoặc người lớn tuổi (Võ Thị Mỹ,
QUYẾT ĐỊNH CỦA VỢ CHỒNG 2015). Uy quyền và vị thế của nam giới
TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI CHĂM vẫn tồn tại trong chế độ mẫu hệ Chăm.
HỒI GIÁO Ở AN GIANG
Cá c nghiên cứu của Nguyễn Thị
Nhung (2003), Võ Cô ng Nguyện
(2011), Lê Thanh Sang (2016) cho
thấy hai thập niên gần đây, nữ giới có
tham gia thị trường việc làm, có đóng
gó p thu nhập vào gia đình. Điều này,
xé t theo giá o luật Islam đã giảm sự
3.1. Yếu tố việc làm
Ấp Hà Bao 2 (Đa Phước, An Phú, An
Giang) có 455 hộ người Chăm Hồi
giá o, khoảng 1.993 nhâ n khẩu, đa số
buô n bá n rong ở cá c tỉnh/thành khá c
trên toàn quốc (Ủy ban nhâ n
Bảng 1. Nghề nghiệp chính hiện nay của những
người từ 15 tuổi trở lên chia theo giới tính (%)
dâ n xã Đa Phước, 2020).
Việc làm chí nh hiện nay của
người từ 15 tuổi trở lên theo
mẫu khảo sá t, có 39,9% tham
gia buô n bá n - dịch vụ, 15,7%
làm cô ng nhâ n, 13,9% là nội
trợ, 9,5% là lao động giản
đơn/thời vụ, nhó m ngành
nghề khá c rất ít. Người Chăm
buô n bá n cá c mặt hàng nhu
yếu phẩm, thiết bị điện tử ở
cá c chợ nô ng thô n vùng sâ u
vùng xa, có người (nam giới)
đến các nước lâ n cận có
người Chăm để buô n bá n.
Tí nh
Nam Nữ
chung
Buô n bá n - dịch vụ
Cô ng nhâ n
Nội trợ
41,9 38,1 39,9
14,7 16,8 15,7
3,7 23,9 13,9
Lao động giản đơn/thời vụ
Không làm việc/thất nghiệp
Học sinh/sinh viên/học nghề
14,7
5,8
5,8
4,6
6,1
4,6
4,6
0,5
9,5
5,9
5,2
4,1
3,6
Già/không có khả năng lao động 3,7
Nô ng dâ n
Nhâ n viên cá c doanh nghiệp khu
vực ngoài nhà nước
6,8
2,1
1,0
1,0
0,0
1,5
0,5
Khá c
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát đề tài thá ng
3/2021.
nghiêm ngặt đối với phụ nữ, chỉ cần
Trước kia, hộ gia đình nào có
xuồng/ghe thì họ đem theo cả vợ con,
cò n hiện nay họ đã đổi sang phương
tiện xe máy/xe khách, thường mỗi
đảm bảo việc đi lại và tiếp xúc của
nhó m nữ đối với nam giới phải tế nhị
và thận trọng (Anh Zu, người Chăm,
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…
47
sinh 1980) (Fahd Salem Bahamman, gấp đôi so với nam giới (Bảng 2). Có
2014: 198).
thể thấy, vai trò , vị thế của phụ nữ
Chăm đã phần nào được khẳng định
qua việc rời khỏi nhà, tham gia vào thị
trường lao động và đóng góp cho kinh
tế gia đình trong nhưng những năm
gần đây.
So sánh ở góc độ giới về nghề nghiệp
chính, ở nhóm nghề buôn bán - dịch
vụ, mặc dù tỷ lệ nam giới tham gia
nhiều hơn, nhưng tỷ lệ nữ giới không
phải quá thấp (41,9%; 38,1%), ở
nhóm công nhân thì tỷ lệ nữ giới tham
gia cao hơn (16,8%;14,7%) (Bảng 1).
Nếu tính chung tất cả các nhóm
ngành nghề, có hơn 80% nam giới và
hơn 60% nữ giới tham gia vào thị
trường lao động, hơn 23% nữ giới
không tham gia tạo thu nhập mà chỉ ở
nhà nội trợ.
Bảng 2. Khoảng thời gian đi làm ăn xa
của cá c thành viên trong cá c hộ gia đình
khảo sá t chia theo giới tí nh (%)
Tí nh
Nam
Nữ
chung
12,0
Trước 2010
11,7 12,5
11,7 21,6
76,6 65,9
Từ 2010 - 2014
Từ 2015 đến nay
15,6
72,4
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sá t đề tài
Theo kết quả khảo sát, nữ giới tham
gia thị trường lao động ngày càng
tăng, nguyên nhân một phần do đàn
ông không thể gánh vác hết kinh tế
gia đình. “Buô n bá n hiện nay khô ng
dễ dàng như thời cha mẹ chúng tô i
nữa, hiện nay buô n bá n cạnh tranh
hơn, nhưng các mặt hàng lại ế ẩm
hơn, do người mua có nhiều nguồn
mua hơn, hiệu quả kinh doanh ngày
càng giảm sút, thu nhập khô ng cò n ổn
định, trong khi nhu cầu chi tiêu khá
cao” (PVS, Zu, nam, sinh năm 1976;
Naoh, nam, sinh năm 1980; Kah, nam,
sinh năm 1979, ấp Hà Bao 2).
thá ng 3/2021.
Đặc thù sinh kế chí nh của người
Chăm là đi buôn bán ở các địa
phương khác gửi tiền về nhà cho gia
đình. Kết quả cho thấy, gần 90% trong
số họ gửi tiền về nhà hàng thá ng,
khô ng có sự khá c biệt đáng kể về giới
(nam 87,4%; nữ 89,1%). Số tiền trung
bì nh hàng thá ng gửi về khoảng
1.680.000 đồng, số tiền trung bì nh
hàng thá ng nam giới gửi nhiều hơn
nữ giới (1.750.000 đồng; 1.530.000
đồng). Cá c hộ gia đình được phỏng
vấn cho biết, nam giới chủ yếu là đi
buô n bá n rong, việc thay đổi chỗ ở
thường xuyên và ở vùng sâ u vùng xa
nên họ thường mang tiền về sau chu
kỳ 2-3 thá ng hoặc đến thá ng chay khi
họ trở về. Cò n nữ giới, do chọn những
cô ng việc cố định như làm cô ng nhâ n
ở cá c tỉnh/thành nên chỗ ở ổn định,
lương bổng ổn định, và việc gửi tiền
về cũng thuận tiện hơn nam giới.
Trong mẫu khảo sá t này, hiện có 153
nhâ n khẩu đang đi làm ăn xa ở cá c
tỉnh khác, trong đó có 104 nam, 49 nữ.
Tỷ lệ nữ giới đi xa gia đình làm việc
tăng nhanh liên tục, nếu trước năm
2010 tỷ lệ chỉ chiếm 12,5% thì từ sau
năm 2015 đến nay đã tăng hơn gấp 5
lần (65,9%), và thời gian di cư từ năm
2010 đến năm 2014 ở nhó m nữ cao
48
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
Bảng 3. Tỷ trọng (%) số tiền gởi về cho
gia đình so với tổng thu nhập của người
đi làm ăn xa chia theo giới tí nh
Phụ nữ đã lập gia đình cũng có việc
làm, có thu nhập riêng, vai trò trụ cột
kinh tế gia đình không còn đè nặng
lên vai người chồng: “Trong gia đình
tôi, cả hai vợ chồng đều đi làm, để có
thu nhập cho gia đình. Cuộc sống bây
giờ cần có nhiều khoản chi cần chi và
tốn kém, nếu như chỉ có chồng tôi đi
làm thì gia đình sẽ khó khăn hơn, tôi
được đi làm thì sẽ chia sẻ được gánh
nặng cho chồng” (PVS hộ dân, ấp Hà
Bao 2, nữ, sinh năm 1968).
Nam
24,5
Nữ
Dưới 20%
16,7
20,0
36,7
13,3
13,3
20 - Dưới 40%
40- Dưới 60%
60 - Dưới 80%
80-100%
3,8
49,1
11,3
11,3
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát đề tài
thá ng 3/2021.
Kết quả khảo sá t, xé t về tỷ trọng trong
số tiền gửi về cho gia đình so với tổng
thu nhập của những người đi làm ăn
xa cho thấy, phần lớn thu nhập được
gửi về cho gia đình. Nhóm gửi từ 40 -
dưới 60% thu nhập thì tỷ lệ nam giới
cao hơn nữ giới, nhưng nhóm gửi từ
60 đến dưới 80% và từ 80 đến 100%
thì nữ giới cao hơn nam giới (Bảng 3).
Điều này cho thấy, nữ giới người
Chăm cũng có những đóng góp, hỗ
trợ cho kinh tế hộ gia đình thông qua
tiền gửi từ quá trình đi làm ăn xa.
Tuy nhiên, việc ra ngoài đi làm của nữ
giới – người vợ vẫn phải có sự đồng ý
hoặc cho phép của nam giới – người
chồng: “Truyền thống hồi đó truyền lại
là phụ nữ ít được ra ngoài lắm, bâ y giờ
kinh tế phá t triển thì phụ nữ cũng bung
ra đi làm công nhân, buôn bán gần gần
hoặc là kiếm cô ng việc nào đó giúp
cho gia đình vậy thô i, chứ khô ng phải
nguồn thu chí nh, chỉ là phụ với chồng
thôi” (PVS trưởng ấp Hà Bao 2, nam,
sinh năm 1980); “Nhóm gia đình trẻ,
nếu vợ muốn đi làm công nhân ở đâu,
thì phải có sự thống nhất của người
chồng, đồng ý cho phép đi thì mới đi,
cò n nếu người chồng không cho đi,
thì vợ cũng không được đi” (PVS hộ
dâ n, ấp Hà Bao 2, nữ, sinh năm
1996).
Sự tham gia của phụ nữ vào thị
trường lao động, đã tạo cho phụ nữ
có điều kiện đóng góp vào nguồn thu
nhập chung của gia đình. Do nhu cầu
mưu sinh, phụ nữ Chăm đã vượt qua
vai trò vốn được xã hội truyền thống
áp đặt cho họ. Họ khô ng cò n tự giới
hạn mình theo các quy định khắt khe
của giá o luật Hồi giá o. Nhờ có việc
làm họ đã “thoát” ra khỏi gian bếp
chật hẹp và thậm chí vượt ra cả cộng
đồng “khép kín” để tham gia vào cá c
hoạt động sản xuất, tạo thu nhập cho
bản thân và gia đình.
3.2. Yếu tố khác
Ở Việt Nam, cá c tá c giả như Mai Huy
Bí ch và Lê Thị Kim Lan (1999) chỉ ra
rằng ở nhiều gia đình, trong khi người
vợ là người đảm nhận hầu hết cá c
cô ng việc gia đình và là người mang
thu nhập chí nh về cho gia đình, nhưng
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…
49
quyền quyết định cá c cô ng việc của cho thấy có một xu hướng biến đổi
gia đình chính là người chồng, người tí ch cực về mối quan hệ giữa người
vợ chỉ là người thực hiện cá c quyết chồng và người vợ trong vấn đề ra
định đó. Điều đó cho thấy, yếu tố văn quyết định chí nh. Mặc dù, cá c cô ng
hó a với quan niệm “trọng nam khinh việc quan trọng của gia đình vốn do
nữ”, “nam giới là trụ cột kinh tế” “phụ người chồng quyết định là chủ yếu,
nữ làm cô ng việc nội trợ gia đình” đã thì ở kết quả này đối với cô ng việc
tác động đến vai trò của vợ và chồng mua sắm đồ dùng lâ u bền, đắt tiền thì
trong việc ra quyết định.
tỷ lệ người chồng quyết định giảm đi,
và cá c cô ng việc như thay đổi hoạt
động sản xuất kinh doanh, lựa chọn
ngành nghề/việc làm của con cá i,
dựng vợ gả chồng cho con cá i lại
tăng tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng quyết
định rõ rệt. Số liệu Bảng 4 cho thấy
quyền quyết định cuối cùng những
vấn đề quan trọng phần lớn thuộc về
người chồng, nếu cá c hộ gia đình
thiếu vắng người chồng (chủ hộ) do đi
làm ăn xa, thì người vợ cũng sẽ thô ng
tin và chờ đợi sự chấp thuận từ chồng.
Cá c cô ng việc quan trọng trong gia
đình theo phân tích này bao gồm: thay
đổi hoạt động sản xuất kinh doanh;
mua bá n, sửa chữa nhà cửa; mua
sắm đồ dùng lâ u bền, đắt tiền; việc
học của con cá i; lựa chọn ngành
nghề/việc làm của con cá i, tổ chức ma
chay trong gia đình; dựng vợ gả
chồng cho con cá i (Bảng 3).
Cũng là các công việc như trên, nếu
so sá nh với kết quả Điều tra gia đình
Việt Nam 2006 (Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch và cơ quan khác, 2008),
Bảng 4. Người quyết định chí nh cá c cô ng việc quan trọng của gia đình (%)
Người
Cả hai
vợ chồng
Các loại công việc
Chi tiêu ăn uống
Người vợ
chồng
15,1
20,5
28,8
61,6
34,2
30,1
15,1
24,7
37,0
70,9
52,3
45,3
24,4
27,9
23,3
9,3
14,0
27,2
25,9
14,0
37,9
46,6
75,6
56,7
36,3
Mua sắm quần áo
Mua sắm đồ dùng lâu bền, đắt tiền
Mua/làm/sửa chữa nhà cửa; và mua bán nhà đất
Việc học của con cái
Thay đổi hoạt động sản xuất kinh doanh
Lựa chọn ngành nghề/việc làm của con cái
Dựng vợ gả chồng cho con cái
Tổ chức ma chay trong gia đình
18,6
26,7
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát đề tài thá ng 3/2021.
50
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
Bảng 5. Ý kiến về vai trò của người phụ nữ và người đàn ông trong việc tham gia cá c
hoạt động kinh tế đem lại thu nhập cho gia đình nhiều hơn (%)
NGƯỜI PHỤ NỮ
NGƯỜI ĐÀN ÔNG
Người chồng Người vợ Tổng Người chồng Người vợ Tổng
Hoàn toàn đồng ý
Khá đồng ý
4,0
4,0
5,4
5,4
5,1
5,1
28,0
0,0
24,3
4,1
25,3
3,0
Đồng ý
56,0
28,0
8,0
58,1
25,7
2,7
57,6
26,3
4,0
64,0
8,0
64,9
4,1
64,6
5,1
Đồng ý một phần
Rất không đồng ý
Không biết, không ý kiến
0,0
2,7
2,0
0,0
2,7
2,0
0,0
0,0
0,0
Nguồn: Xử lý từ kết quả khảo sát đề tài thá ng 3/2021.
Chúng tô i phỏng vấn một chị (sinh thay đổi”. “Dù mình có làm có thu
năm 1996) vừa sinh con, có chồng nhập thì vẫn dưới sự quyết định của
(sinh năm 1991) đang buôn bán rong chồng. Nhiều lúc chồng có những điều
ở Campuchia, chị cho biết: muốn theo không đúng và chưa đúng thì mì nh
cá c chị ruột đi Bình Dương làm công gó p ý và bàn với chồng và thuyết phục.
nhâ n (cá c chị ruột đã lập gia đình và Nhưng cuối cùng chồng vẫn là người
chồng cá c chị cùng đi ở Bình Dương) quyết định những việc chí nh trong gia
nhưng người chồng khô ng cho. Hiện đình, mặc dù í t khi có ở nhà thường
người chồng vẫn gửi tiền về (trung xuyên” (PVS, nữ, sinh năm 1968, ấp
bì nh một thá ng hai triệu) cho mẹ con Hà Bao 2).
ăn uống, nếu thiếu thì bá o sẽ gửi
Việc “Tham gia vào các hoạt động sản
thêm, nhưng người chồng dặn dò
người vợ nên tiết kiệm trong chi tiêu.
[PV: Hỏi được chu cấp đầy đủ sao
khô ng ở nhà chăm con mà xin đi
làm…] Người vợ cho rằng, mình đi
làm sẽ được chi tiêu thoải mái hơn
“muốn bản thâ n tự lập và đồng tiền
mì nh tự làm ra, mì nh tiêu dễ dàng hơn,
khô ng phải tí nh toá n dè chừng khi tiêu
tiền của chồng”. [PV: Ý rằng theo
phong tục của người Chăm – chồng là
trụ cột, có trá ch nhiệm lo chu toàn cho
vợ con?]. Người vợ cho rằng, “dạ,
nhưng nay hiện đại rồi, chỉ duy nhất là
khô ng thể tự quyết định, khi chồng
khô ng cho phé p, em cũng thuyết phục
nhiều lần, nhưng chồng em khô ng
xuất kinh doanh đem lại thu nhập cho
gia đình nhiều hơn”, phía người phụ
nữ có kết quả tỷ lệ đồng ý ở người vợ
cao hơn người chồng (58,1% so với
56%), ở phía người đàn ông có kết
quả đồng ý người chồng thấp hơn
người vợ (64%; 64,9%) (Bảng 5). Với
tỷ lệ chênh lệch ý kiến khô ng nhiều
nhưng cho thấy, phụ nữ cũng cho
rằng họ có vai trò đem lại thu nhập gia
đình và người chồng cũng đồng ý
rằng người vợ đã bước ra ngoài gia
đình tìm việc làm và có thu nhập. Tuy
nhiên, làm việc để đem lại thu nhập
cho gia đình “nhiều hơn” là trách
nhiệm của đàn ông và người vợ cũng
đồng thuận như vậy, và xem nam giới
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…
51
đóng vai trò trụ cột kinh tế trong gia dù cả người vợ và người chồng đều
đình.
học vấn không cao nhưng dữ liệu cho
thấy, khoảng cách lớn trong quyền
quyết định chính của người vợ và
Khi phân tích về quyền quyết định
giữa vợ và chồng trong gia đình, từ
nhiều khía cạnh và quan điểm khác
nhau, các nhà nghiên cứu thường giải
thích tại sao ở hoạt động này người
chồng là người có tiếng nói quyết định
chính nhưng một số hoạt động khác
người vợ lại là người quyết định
chính. Lý thuyết phân bổ nguồn lực
tương đối tập trung vào khía cạnh
kinh tế với những yếu tố ảnh hưởng
như học vấn, nghề nghiệp và thu
nhập. Các nghiên cứu trước đã có
nhận định rằng công việc của người
chồng mang lại thu nhập cao hơn so
với người vợ thì điều đó đồng nghĩa
với việc nam giới có nhiều quyền hơn
trong gia đình. Kết quả này tương
đồng với nghiên cứu của Phạm
Quỳnh Hương (2012) về người dân
tộc thiểu số, dựa vào đặc trưng văn
hóa tộc người để giải thích hiện tượng
phụ nữ dân tộc thiểu số mặc dù có
khả năng tiếp cận tài chính và có thu
nhập nhưng điều đó cũng không đồng
nghĩa với việc làm tăng quyền của họ
trong gia đình.
người
chồng
đối
với
việc
mua/làm/sửa chữa nhà cửa; và mua
bá n nhà đất, ở nhóm mù chữ thì tỷ lệ
người chồng là quyết định chính cao
hơn người vợ (52,9%; 29,4%) và
nhó m cấp tiểu học cũng tương tự như
vậy (68,6%; 31,5%). Như vậy, việc
không biết chữ có thể ảnh hưởng lớn
đến quyền quyết định của người vợ,
nhưng người chồng không biết chữ
vẫn là người quyết định chính trong
việc mua/làm/sửa chữa nhà cửa và
mua bán nhà đất của gia đình, và ở
các công việc quan trọng khác trong
gia đình cũng có kết quả tương tự.
Về độ tuổi, dữ liệu cho thấy ở người
chồng trong nhóm tuổi 30 - 39 có
quyền quyết định chính cao hơn
(77,8%) so với người chồng ở các
nhóm tuổi khác trong việc mua/làm/
sửa chữa nhà cửa; và mua bán nhà
đất. Trong đó tỷ lệ này của người ở
nhóm tuổi 40 - 49; 50- 59; 60 trở lên
lần lượt là 60%; 65,4%; 52,4%. Kết
quả khảo sát độ tuổi ở người vợ cho
thấy, quyền quyết định của họ trong
việc mua/làm/sửa chữa nhà cửa; và
mua bán nhà đất tăng rõ rệt theo tuổi,
với 4 nhóm tuổi trên thì tỷ lệ lần lượt
là 7,1%; 14,3%; 33,3%; 45,5%. Tuổi
của người vợ càng cao thì quyền
quyết định của họ tăng theo; và có thể
đây là dấu vết văn hóa mẫu hệ của
cộng đồng người Chăm vẫn còn
nhưng không đậm nét mà đã biến đổi
Ở bài viết này, không chú trọng phân
tích tương quan về nghề nghiệp, về
học vấn và độ tuổi. Về học vấn người
Chăm có trình độ học vấn thấp, trong
178 nhân khẩu là chủ hộ/vợ chồng
chủ hộ trong mẫu thì gần 1/3 là mù
chữ (28,7%), gần 2/3 ở trình độ tiểu
học (55,1%), và có sự khác biệt giới,
tỷ lệ mù chữ nữ giới cao hơn, còn cấp
tiểu học thì nam giới cao hơn. Mặc
52
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
nhiều, bởi các kết quả phân tích được có đóng góp vào thu nhập của gia
ở phía trên cho thấy mặc dù theo văn đình nhưng không có nghĩa là trách
hóa mẫu hệ nhưng lại thực hiện chế nhiệm nội trợ sẽ giảm đi; và mặc dù
độ phụ quyền theo giáo lý Hồi giáo.
mọi quyết định đều có sự tham gia
của phụ nữ, song những quyết định
có tí nh chất quan trọng dường như
vẫn thuộc về chủ gia đình – người
chồng.
Trong tương lai gần tỷ lệ các gia đình
người Chăm thực hiện mô hì nh cả hai
vợ chồng cùng ra quyết định sẽ tiếp
tục tăng lên. Song song là các hoạt
động truyền thô ng, tập huấn về thay Tuy nhiên, cá c số liệu đang thể hiện
đổi nhận thức, thay đổi hành vi, và những tí n hiệu tí ch cực rằng người
những biến đổi xã hội, dẫn đến những chồng đã có những chuyển biến về
định kiến về vai trò giới sẽ giảm dần nhận thức, nhì n nhận vai trò đóng góp
theo thời gian.
kinh tế của người vợ trong gia đình.
Chí nh vì thế, vị thế của người vợ dần
dần được nâ ng cao, tiếng nó i và
quyền quyết định của họ trong cá c
cô ng việc gia đình cũng cao hơn và có
những cô ng việc được quyết định bởi
cả hai vợ chồng.
4. KẾT LUẬN
Kết quả phâ n tí ch cho thấy, quyền
quyết định cô ng việc gia đình tùy
thuộc vào loại cô ng việc: với những
việc “lớn” quyền quyết định thuộc về
người chồng, và nếp nghĩ này ít thay
đổi, vốn chịu ảnh hưởng một phần từ
giá o lý Hồi giá o. Người vợ quyết định
chí nh những cô ng việc hàng ngày,
liên quan đến cá c khoản tài chí nh nhỏ.
Quyền quyết định trong gia đình liên
quan đến vấn đề người chủ gia đình.
Quan niệm về người chủ gia đình có
sự thay đổi chậm, phần lớn vẫn coi
người đàn ông là chủ gia đình.
Nhì n chung, cộng đồng người Chăm
Hồi giá o, dù đạo luật mới, tiến bộ về
hôn nhân và gia đình được thiết lập
gần ba thập niên, cá c giá trị xã hội đã
có thay đổi í t nhiều theo hướng tí ch
cực hơn nhưng cuộc sống gia đình
người Chăm vẫn đi theo con đường
của họ, vẫn ngầm tuâ n theo tập quá n,
khuô n mẫu, chuẩn mực đã được xâ y
dựng là người chồng “quyết định việc
lớn” và “vợ quyết định việc nhỏ hàng
ngày” đã ăn sâu vào tiềm thức của
người dâ n. ❑
Quyền quyết định trong bài phâ n tí ch
này ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa và
định kiến giới. Việc gia đình phải do
người vợ đảm nhiệm, bất kể là trong
loại gia đình nào. Người vợ tuy cũng
đã bước vào thị trường lao động và
TÀI LIỆU TRÍ CH DẪN
1. Blood, Robert O., Wolfe, Donald. M. 1978. Husbands & Wives: The Dynamics of
Married Living. Westport: Greenwood Press.
NGUYỄN ĐẶNG MINH THẢO - PHẠM THỊ NGỌC ĐIỆP – QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA…
53
2. Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình và Giới,
UNICEF. 2008. Kết quả điều tra gia đình Việt Nam 2006. Hà Nội.
3. Bott, Elizabeth.1957. Family and Social Network. London: Tavistock.
4. Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương và Trịnh Huy Hóa (nhóm dịch giả). Từ điển xã
hội học Oxford / Dictionary of Sociology Oxford. 2010. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia
Hà Nội.
5. Fahd Salem Bahamman, 2014. “Cẩm nang dành cho người Muslim mới cải đạo”.
Modern Guide, Birmingham UK.
6. Knodel, John E., Vu Manh Loi, Rukmalie Jayakody and Vu Tuan Huy. 2004. Gender
Roles in the Family: Change and Stability in Vietnam. USA: University of Michigan.
7. Lê Thanh Sang. 2016. Vấn đề dâ n số và di dâ n trong phá t triển bền vững vùng Nam
Bộ. Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ. Đề tài cấp Nhà nước/Chương trình Tây Nam
Bộ 2015 - 2016.
8. Mai Huy Bích, Lê Thị Kim Lan. 1999. “Địa vị phụ nữ ngư dân ở một số làng chài đánh
cá miền Trung”. Tạp chí Xã hội học, số 3& 4.
9. Nguyễn Thị Nhung. 2003. Cộng đồng người Chăm Hồi giá o ở Nam Bộ trong quan hệ
giới và phá t triển. Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (VNRP).
10. Phạm Quỳnh Hương. 2012. Giới, tăng quyền và phát triển – Quan hệ giới từ góc
nhìn của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
11. Phạm Thị Huệ. 2007. “Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt
Nam”. Tạp chí Xã hội học, số 3.
12. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp. 1991. Văn hóa Chăm. Hà Nội: Nxb.
Khoa học Xã hội.
13. Ủy ban nhân dân xã Đa Phước. 2020. Bá o cá o kinh tế xã hội xã Đa Phước, huyện
An Phú, tỉnh An Giang.
14. Võ Cô ng Nguyện. 2011. Phá t triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dâ n tộc Khmer,
Chăm tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020. Sở Khoa học Cô ng nghệ
tỉnh An Giang - Viện Phá t triển bền vững vùng Nam Bộ.
15. Võ Thị Mỹ. 2015. “Phụ nữ Chăm trong quá trình hội nhập”. Tạp chí Khoa học. Đại
học Sư phạm TPHCM, số 1 (66), tr. 177.
Bạn đang xem tài liệu "Quyền quyết định của vợ và chồng trong gia đình người chăm Hồi giáo ở An Giang (Trường hợp ấp Hà Bao 2, An Giang)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quyen_quyet_dinh_cua_vo_va_chong_trong_gia_dinh_nguoi_cham_h.pdf

