Nghèo đa chiều và phát triển con người ở các tỉnh vùng Tây Bắc
Nghèo đa chiều và phát triển con người
ở các tỉnh vùng Tây Bắc
Nguyễn Đình Tuấn1
1 Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Email: [email protected]
Nhận ngày 12 tháng 09 năm 2017. Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 12 năm 2017.
Tóm tắt: Tại các tỉnh vùng Tây Bắc, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều
giai đoạn 2016-2020 vẫn ở mức cao nhất nước. Đánh giá về nghèo theo hướng đa chiều cho biết
được sự thiếu hụt và mức độ thiếu hụt trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội nhằm đáp ứng những
nhu cầu cơ bản của con người (bao gồm các nhu cầu không thể quy ra thành tiền), thay vì chỉ có
các nhu cầu quy ra được bằng tiền. Việc đánh giá nghèo đa chiều ở các vùng Tây Bắc sẽ giúp Đảng
và Nhà nước xây dựng chính sách và chiến lược giảm nghèo đa chiều có tính đồng bộ, trong đó cần
đặc biệt chú trọng đến vấn đề phát triển con người.
Từ khóa: Nghèo đa chiều, vùng Tây Bắc, phát triển con người.
Phân loại ngành: Xã hội học
Abstract: In Vietnam’s northwestern provinces, the rates of poor and near-poor households as per
multidimensional poverty standards are still at the country’s highest level in the 2016-2020 period.
Multidimensional poverty assessments indicate the deficiency and its extent in the access to social
services to meet man’s basic needs, including those that cannot be measured in monetary terms.
Such assessment in northwestern provinces will help the Party and the State develop synchronous
multidimensional poverty reduction policies and strategies that should attach special importance to
human development.
Keywords: Multidimensional poverty, the northwestern region, human development.
Subject classification: Sociology
1. Mở đầu
phát từ những ưu việt trong quan điểm và
cách đánh giá về nghèo theo hướng đa
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, khái niệm chiều. Có nhiều phương pháp đo lường
nghèo đa chiều ngày càng được nhắc đến nghèo đa chiều; tuy nhiên, phương pháp
nhiều hơn trong các công trình nghiên cứu, Alkire và Foster hiện đang được nhiều quốc
cũng như trong các chính sách, chiến lược gia và tổ chức quốc tế sử dụng [18]. Đây
phát triển của nhiều quốc gia. Điều này xuất cũng là phương pháp được Chương trình
70
Nguyễn Đình Tuấn
phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) sử dụng
để tính toán chỉ số nghèo đa chiều (MPI -
Multidimensional Poverty Index) trong các
báo cáo phát triển con người toàn cầu kể từ
năm 2010. Chỉ số này không chỉ phản ánh
sự nghèo khổ đơn thuần ở chiều cạnh thu
nhập, mà còn ở nhiều chiều cạnh khác
nhau. MPI cho phép xác định những thiếu
thốn chồng chất nghiêm trọng về sức khỏe,
giáo dục và thu nhập ở cấp độ hộ gia đình.
Thông qua chỉ số này, người ta có thể biết
được mức độ nghèo khổ và số lượng người
nghèo phải chịu đựng những thiếu thốn
nhất định trong đời sống của một quốc gia
hoặc một cộng đồng. MPI được tính toán
dựa trên 3 chiều cạnh liên quan đến chỉ số
phát triển con người (HDI), đó là sức khỏe,
giáo dục và mức sống, với 10 chỉ tiêu.
Trong đó, sức khỏe được tính toán dựa trên
chỉ tiêu dinh dưỡng (có 1 thành viên suy
dinh dưỡng) và chỉ tiêu tỷ lệ tử vong trẻ em
(có 1 trẻ tử vong); giáo dục được tính toán
dựa trên chỉ tiêu số năm đi học (không có
thành viên nào học hết lớp 6) và chỉ tiêu tỷ
lệ trẻ em đi học (có 1 trẻ ở độ tuổi đi học
không đi học); còn mức sống được tính
toán dựa trên 6 chỉ tiêu; đó là chất đốt (nếu
sử dụng chất đốt là củi, than, phân khô),
nhà vệ sinh (không có nhà vệ sinh hợp tiêu
chuẩn), nước (không có nước sạch để
ăn/uống), điện (không có điện sử dụng
trong sinh hoạt), sàn nhà (sàn nhà ở là đất,
cát) và tài sản cố định (không gồm phương
tiện đi lại, tivi, đài, điện thoại), tài sản cho
cuộc sống (đất canh tác, gia súc).
1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực
thành thị [10]. Tiêu chí về mức độ thiếu hụt
tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản dựa trên 5
dịch vụ xã hội cơ bản (5 chiều) với 10 chỉ
số. Chiều cạnh y tế gồm 2 chỉ tiêu (tiếp cận
dịch vụ y tế và bảo hiểm y tế); chiều cạnh
giáo dục gồm 2 chỉ tiêu (trình độ giáo dục
của người lớn và tình trạng đi học của trẻ
em); chiều cạnh nhà ở gồm 2 chỉ tiêu (chất
lượng nhà ở và diện tích nhà ở bình quân
đầu người); chiều cạnh nước sạch và vệ
sinh (điều kiện sống) gồm 2 chỉ tiêu (nguồn
nước sinh hoạt và hố xí/nhà tiêu); chiều
cạnh thông tin gồm 2 chỉ tiêu (sử dụng dịch
vụ viễn thông và tài sản phục vụ tiếp cận
thông tin) [4]. 5 chiều cạnh này thể hiện các
nhu cầu cơ bản của con người cần được đáp
ứng và được cho điểm bằng nhau. Tổng
điểm của 5 chiều này là 100 điểm, mỗi
chiều tương ứng với 20 điểm và mỗi tiêu
chí tương ứng với 10 điểm. Điều này có
nghĩa là, nếu hộ gia đình thiếu hụt một tiêu
chí sẽ có điểm bằng 10 và không thiếu hụt
có điểm bằng 0. Các hộ được coi là thiếu
hụt trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản khi
có điểm số từ 30 trở lên. Dựa vào các
phương pháp đo lường nghèo đa chiều, bài
viết phân tích thực trạng nghèo đa chiều và
phát triển con người ở các tỉnh vùng Tây
Bắc. Tây Bắc là vùng cửa ngõ phía tây của
nước ta, gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La,
Điện Biên và Lai Châu. Đây là vùng có vị
trí chiến lược về kinh tế - xã hội, an ninh,
quốc phòng của đất nước và là vùng có điều
kiện thuận lợi cho phát triển nông, lâm
nghiệp, thủy điện và du lịch. Tuy nhiên, do
đặc điểm địa hình, điều kiện cơ sở hạ tầng
và là nơi có phần lớn (trên 80%) đồng bào
dân tộc thiểu số sinh sống, nên tốc độ tăng
trưởng kinh tế của vùng luôn ở mức thấp
nhất của cả nước. Tây Bắc cũng chính là
“vùng trũng” của tình trạng đói nghèo ở
nước ta.
Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 dựa
trên các tiêu chí cơ bản (thu nhập và tiếp
cận dịch vụ xã hội cơ bản). Trong đó, tiêu
chí thu nhập của chuẩn nghèo là 700.000
đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và
900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành
thị; của chuẩn cận nghèo là 1.000.000
đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và
71
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018
2. Nghèo đa chiều ở các tỉnh vùng gần đây (giảm từ 39,16% năm 2010, xuống
Tây Bắc
còn 28,55 năm 2012, và còn 22,76% năm
2014). Trong giai đoạn từ 2010-2014, tỷ lệ
nghèo thu nhập vùng Tây Bắc đã giảm 16,4
điểm phần trăm. Tuy nhiên, so với các vùng
2.1. Nghèo về thu nhập (tiếp cận đơn chiều)
Tỷ lệ hộ nghèo về thu nhập của vùng Tây miền khác, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Tây Bắc
vẫn luôn ở mức cao nhất.
Bắc có xu hướng giảm trong những năm
Biểu đồ 1: Tỷ lệ hộ nghèo thu nhập của 4 tỉnh vùng Tây Bắc giai đoạn 2010-2014 [2], [3], [4]
Biểu đồ trên cho thấy, Điện Biên luôn là nước (cả nước là 9,88%). So sánh tỷ lệ hộ
địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, tiếp nghèo năm 2015 theo cách tiếp cận đa chiều
đến là Lai Châu, Sơn La và thấp nhất là với tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 theo cách tiếp
Hòa Bình. Trong giai đoạn này, tỷ lệ hộ cận đơn chiều ở vùng Tây Bắc cho thấy, tỷ
nghèo ở bốn địa phương đều có xu hướng lệ nghèo đa chiều cao hơn 11,76 điểm phần
giảm, trong đó địa phương có xu hướng trăm (đây là mức chênh lệch cao nhất so với
giảm số điểm phần trăm nhanh nhất là Lai các vùng khác của nước ta). Điện Biên vẫn
Châu (23,3 điểm phần trăm), tiếp đến là là địa phương có tỷ lệ nghèo đa chiều cao
Điện Biên (17,44 điểm phần trăm), Hòa nhất (48,14%), tiếp đến là Lai Châu
Bình (16,05 điểm phần trăm) và chậm nhất (40,40%), Sơn La (34,44) và Hòa Bình
là Sơn La (14,19 điểm phần trăm). Ở các (24,38%) [10]. Khi đưa thêm những chỉ báo
địa phương này, phần lớn hộ nghèo là dân về tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản vào đánh
tộc thiểu số. Năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo là giá tình trạng nghèo thì tỷ lệ hộ nghèo ở các
hộ dân tộc thiểu số ở Điện Biên là 98,03%, tỉnh vùng Tây Bắc đã tăng lên đáng kể.
Sơn La là 96,14%, Lai Châu là 98,73% và
Hòa Bình là 74,84% [4].
Nếu theo cách tiếp cận của UNDP và
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
(được sử dụng trong các báo cáo phát triển
con người) thì tỷ lệ hộ nghèo của các tỉnh
vùng Tây Bắc còn cao hơn rất nhiều. Theo
đó, tỷ lệ nghèo đa chiều của Điện Biên là
71,5%, của Lai Châu là 62,9%, của Sơn La
là 52,4% và của Hòa Bình là 24,9% [16].
2.2. Nghèo đa chiều
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ở vùng Tây Bắc
năm 2015 cao hơn so với các vùng khác và
cao hơn nhiều so với mức trung bình của cả
72
Nguyễn Đình Tuấn
Độ sâu thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản Bắc không bị nghèo về thu nhập nhưng lại
ở Điện Biên là 47,4%, ở Lai Châu là 44,9%, bị hạn chế trong cơ hội tiếp cận các dịch vụ
ở Sơn La là 44,0% và ở Hòa Bình là 39,1% xã hội cơ bản.
[16]. Nhiều người dân ở các tỉnh vùng Tây
71.5
Nghèo đơn chiều
70
60
50
40
30
20
10
0
62.9
Nghèo đa chiều (Bộ LĐTB&XH)
52.4
48.14
32.57
40.4
23.94
34.44
23.48
24.9
24.38
15.46
Điện Biên
Lai Châu
Sơn La
Hòa Bình
Biểu đồ 2: Tỷ lệ hộ nghèo ở các tỉnh vùng Tây Bắc theo các cách tiếp cận khác nhau [4], [5], [16]
Do đó, khi xem xét các chỉ số về nghèo, đặc
biệt là chỉ số nghèo đa chiều, chúng ta biết
được tỷ lệ người nghèo trong một quốc gia
hay cộng đồng và họ đang gặp phải những
khó khăn gì, mức độ thiếu hụt trong việc
tiếp cận các dịch vụ xã hội như thế nào,
những khó khăn và độ sâu thiếu hụt trong
tiếp cận các dịch vụ xã hội mà người nghèo
gặp phải sẽ ảnh hưởng đến cơ hội nâng cao
năng lực của người nghèo và ảnh hưởng
đến sự phát triển con người của chính quốc
gia hoặc cộng đồng đó. Nghèo đói có ảnh
hưởng đến khả năng phát triển con người
nói chung và các chỉ số phát triển con người
nói riêng.
Trong 4 địa phương vùng Tây Bắc, Hòa
Bình là địa phương có tỷ lệ nghèo đơn
chiều và đa chiều thấp nhất, cũng như
không có mức chênh lệch nhiều về tỷ lệ
nghèo theo các cách tiếp cận khác nhau,
còn lại 3 tỉnh là Điện Biên, Lai Châu và
Sơn La đều có tỷ lệ nghèo cao và có mức
chênh lệch khá lớn về tỷ lệ nghèo theo các
cách tiếp cận khác nhau.
3. Phát triển con người ở các tỉnh vùng
Tây Bắc
Ở nước ta, theo báo cáo phát triển con
người 2015, có sự tương đồng giữa MPI và
HDI. Điều đó có nghĩa là, địa phương
nào có MPI cao thường có HDI thấp và
ngược lại. MPI và HDI của các tỉnh vùng
Tây Bắc cũng có xu hướng tương tự. Điện
Biên, Lai Châu và Sơn La có MPI cao và
rơi vào nhóm có HDI thấp, còn lại Hòa
Bình có MPI thấp và nằm ở nhóm có HDI
trung bình [16].
Trong tất cả các báo cáo phát triển con
người dù ở cấp độ toàn cầu hay cấp độ quốc
gia, người ta luôn đưa chỉ số nghèo vào để
phân tích và xem xét. Điều này xuất phát từ
thực tế, đó là tình trạng nghèo đói có ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển con
người của mỗi quốc gia hay mỗi cộng đồng.
Người nghèo thường bị hạn chế trong các
cơ hội để nâng cao năng lực bản thân (điều
kiện quan trọng để phát triển con người).
73
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018
Biểu đồ 3: MPI và HDI của 4 tỉnh vùng Tây Bắc [16]
Không phải chỉ có nghèo về tiền tệ, mà [16]; bên cạnh đó, còn do sự thiếu thốn về
cả nghèo về phi tiền tệ (nghèo đa chiều) cơ sở vật chất.
cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến khả
năng phát triển con người của mỗi quốc gia
hay cộng đồng. Do đó, để thúc đẩy khả
năng phát triển con người, chúng ta cần
phải xem xét ba chiều cạnh của nghèo đa
chiều để có thể biết được những thiếu thốn
mà người dân gặp phải về sức khỏe, giáo
dục và thu nhập. Sự thiếu hụt từ các chỉ tiêu
của ba chiều cạnh này cũng chính là những
thách thức đối với phát triển con người của
mỗi quốc gia hay cộng đồng. Sự thiếu hụt ở
9 chỉ tiêu về nghèo đa chiều của các tỉnh
vùng Tây Bắc cho thấy, có một điểm khá
tương đồng giữa ba địa phương có tỷ lệ
nghèo đa chiều cao (Điện Biên, Lai Châu,
Sơn La). Đó là sự thiếu hụt tương đối cao ở
hầu hết các chỉ tiêu, đặc biệt ở các chỉ tiêu
về giáo dục, chất lượng nhà ở và vệ sinh
môi trường (biểu đồ 4). Sở dĩ có sự thiếu
hụt này là do các rào cản về địa lý, ngôn
ngữ và văn hóa của các tỉnh vùng Tây Bắc
Ở nhiều địa phương thuộc vùng Tây
Bắc, nhất là các xã thuộc 135 (Chương trình
phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó
khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi),
việc đi lại của người dân vẫn còn gặp phải
nhiều khó khăn. Điều này có ảnh hưởng
trực tiếp đến cơ hội tiếp cận giáo dục và
chăm sóc sức khỏe của người dân nơi đây.
Khoảng cách trung bình từ xã không có cơ
sở y tế tới các cơ sở y tế (như phòng khám
đa khoa khu vực) là 14,1km, tới bệnh
viện/trung tâm y tế huyện là 22,7km, tới
bệnh viện tỉnh là 58,7km, tới các loại bệnh
viện khác là 65,8km [12, tr.828]. Khoảng
cách trung bình từ thôn hoặc bản không có
trường học đến điểm có trường học gần
nhất đối với từng loại trường học như sau:
tiểu học là 3,9km, trung học cơ sở là 4,8km,
và trung học phổ thông là 10,7km [12,
tr.871].
74
Nguyễn Đình Tuấn
Ghi chú:
1. Trình độ giáo dục ở người lớn
2. Tỷ lệ nhập học ở trẻ em
3. Tỷ lệ có BHYT
4. Chất lượng nhà ở
5. Diện tích nhà ở
6. Tiếp cận nước uống an toàn
7. Có hố xí vệ sinh
8. Khả năng tiếp cận dịch vụ truyền
thông
9. Phương tiện để tiếp cận thông tin
Biểu đồ 4: Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều thiếu hụt ở 9 chỉ tiêu khi so sánh với cả nước [16, tr.194]
Biểu đồ 4 cho thấy, có sự thiếu hụt ở chỉ BHYT cao, nhưng khả năng tiếp cận các
tiêu tỷ lệ nhập học ở trẻ em và chỉ tiêu tỷ lệ dịch vụ y tế, đặc biệt là các dịch vụ y tế có
có bảo hiểm y tế (BHYT). Điều này cho chất lượng, lại bị hạn chế.
thấy sự tác động có hiệu quả từ các chính
Tỷ lệ người dân ở các tỉnh vùng Tây Bắc
sách phổ cập giáo dục, cấp thẻ BHYT miễn được tiếp cận nước uống an toàn cũng
phí cho người dân tộc thiểu số và người không cao. Phần lớn các xã ở vùng Tây Bắc
nghèo của Đảng và Nhà nước ta trong thời có nguồn nước dùng để ăn uống chủ yếu từ:
gian vừa qua. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ nước khe có bảo vệ (39,2% vào mùa khô và
phát triển con người thì vẫn còn những 34,2% vào mùa mưa), tiếp đến là nước khe
điểm hạn chế ở chiều cạnh giáo dục và không có bảo vệ (28,3% vào mùa khô và
chăm sóc sức khỏe của người dân ở các địa 29,2% vào mùa mưa), nước giếng đào có
phương này. Về giáo dục, dù tỷ lệ nhập học thành bảo vệ (18,3% vào mùa khô và
ở trẻ em cao, nhưng tỷ lệ bỏ học ở những 16,7% vào mùa mưa), giếng đào không có
địa phương này lại có xu hướng tăng dần thành bảo vệ (6,7% vào mùa khô và 7,5%
theo bậc học. Bậc học càng lên cao thì tỷ lệ vào mùa mưa), nước máy vào nhà (4,2%
học sinh, nhất là học sinh người dân tộc vào mùa khô và 1,7% vào mùa mưa), giếng
thiểu số, bỏ học càng cao. Về chăm sóc sức khoan (2,5% vào mùa khô và 2,5% vào
khỏe, dù tỷ lệ người dân ở vùng này có mùa mưa), nước máy công (0,7% vào mùa
75
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018
khô và 1,7% vào mùa mưa) và nước mưa cuộc sống và mức độ thiếu thốn đến đâu.
(0,0% vào mùa khô và 6,7% vào mùa mưa) Điều này giúp cho các nhà xây dựng và
[12, tr.780-796]. Về việc sử dụng nhà vệ hoạch định chính sách biết rõ hơn việc cần
sinh, mặc dù tính đến năm 2014 có 84,7% phải đầu tư và hỗ trợ vào những lĩnh vực
(tỉ lệ này thấp so với các vùng khác) hộ gia nào để giúp cho con người có thể đảm bảo
đình ở vùng Tây Bắc có nhà vệ sinh, nhưng được những nhu cầu cơ bản trong cuộc
trong đó phần lớn là loại nhà vệ sinh không sống, từ đó hướng đến mục tiêu giảm nghèo
hợp vệ sinh (73,8%), chỉ có 36,2% hộ gia bền vững và phát triển con người.
đình có nhà vệ sinh tự hoại hoặc bán tự hoại
Giảm nghèo đa chiều vẫn là một thách
[12, tr.558]. Việc hạn chế trong cơ hội tiếp thức lớn đối với các tỉnh vùng Tây Bắc hiện
cận nước ăn uống an toàn và sử dụng nhà nay. Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta
vệ sinh hợp vệ sinh của người dân ở các cần tiếp tục có những chính sách, chương
tỉnh vùng Tây Bắc góp phần ảnh hưởng đến trình giảm nghèo phù hợp nhằm hướng đến
tuổi thọ trung bình của người dân nơi đây. giảm nghèo bền vững đối với vùng và từng
Trong các tỉnh vùng Tây Bắc, tỉnh có tuổi địa phương. Trong quá trình xây dựng và
thọ kỳ vọng thấp nhất là Lai Châu (64/65 thực hiện các chính sách, chương trình, dự
tuổi, đây cũng là mức thấp nhất của cả án hỗ trợ giảm nghèo đa chiều, cần phải
nước), tiếp đến là Điện Biên (66,80 tuổi), tính đến yếu tố văn hóa vùng miền, địa
Sơn La (69,97 tuổi) và cao nhất là Hòa phương và dân tộc. Các tỉnh vùng Tây Bắc
Bình (72,21) [16].
đang có những thách thức đối với phát triển
con người (về giáo dục, dịch vụ chăm sóc
sức khỏe có chất lượng và các dịch vụ
truyền thông; vấn đề về nhà ở kiên cố; nước
sạch và hố xí hợp vệ sinh). Những thách
thức này đã và đang làm ảnh hưởng đến cơ
hội nâng cao năng lực cho người nghèo nói
riêng và cho người dân các tỉnh vùng Tây
Bắc nói chung.
So sánh sự thiếu hụt về các chỉ tiêu
nghèo đa chiều của các tỉnh vùng Tây Bắc
(ngoại trừ Hòa Bình có MPI thấp) với mức
trung bình của cả nước cho thấy, trừ hai chỉ
tiêu tỷ lệ nhập học ở trẻ em và tỷ lệ có
BHYT, các chỉ tiêu còn lại đều có sự chênh
lệch khá lớn. Trong đó, đáng chú ý là các
chỉ tiêu về trình độ giáo dục của người lớn,
chất lượng nhà ở, tiếp cận nước uống an
toàn, có hố xí hợp vệ sinh và khả năng tiếp
cận dịch vụ truyền thông. Sự chênh lệch và
độ sâu thiếu hụt ở các chỉ tiêu này sẽ là
những thách thức lớn đối với việc giảm
nghèo đa chiều nói riêng và phát triển con
người ở những địa phương này nói chung.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011),
Quyết định 640/QĐ-LĐTBXH ngày 30 tháng 5
năm 2011 về việc phê duyệt kết quả tổng điều
tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2010, Hà Nội.
[2] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012),
Quyết định 749/QĐ-LĐTBXH ngày 13 tháng 5
năm 2013 về việc phê duyệt kết quả điều tra, rà
soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2012, Hà Nội.
[3] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015a),
Đề án tổng thể Chuyển đổi phương pháp tiếp
cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu
4. Kết luận
Hướng tiếp cận và đo lường nghèo đa chiều
cho phép chúng ta biết được người nghèo
đang gặp phải những thiếu thốn gì trong
76
Nguyễn Đình Tuấn
nhập sang đa chiều, áp dụng trong giai đoạn
2016-2020, Hà Nội.
[13] Tổng cục Thống kê và UNICEF (2011), Báo
cáo tình trạng trẻ em nghèo đa chiều tại
Việt Nam, Hà Nội.
[4] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
(2015b), Quyết định 1294/QĐ-LĐTBXH ngày
10 tháng 9 năm 2015 về việc phê duyệt kết quả
điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo
năm 2014, Hà Nội.
[14] Nguyễn Đình Tuấn (2011), “Báo cáo phát triển
con người 2010: Xu hướng và một số thay đổi
trong cách tính toán các chỉ số”, Tạp chí
Nghiên cứu Con người, số 1.
[5] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2016b),
Quyết định 1095/QĐ-TBLĐXH ngày 22 tháng 8
năm 2016, Quyết định phê duyệt kết quả Tổng điều
tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2015, Hà Nội.
[6] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2016a),
[15] Ủy ban Dân tộc và Unicef (2015), Nghèo đa
chiều trẻ em Việt Nam vùng dân tộc thiểu số:
thực trạng, biến động và những thách thức,
Hà Nội.
Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn [16] Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và
quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng
năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng
cho giai đoạn 2016-2020, Hà Nội.
UNDP (2015), Báo cáo phát triển con người
Việt Nam năm 2015 về tăng trưởng bao trùm,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[7] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
UNICEF Việt Nam (2008), Trẻ em nghèo Việt
Nam sống ở đâu? Xây dựng và áp dụng cách
tiếp cận đa chiều về nghèo trẻ em, Hà Nội.
[8] Lộ Thị Đức (2015), “Nghèo đa chiều ở Việt
Nam: thực trạng và khoảng trống số liệu”, Tạp
chí Con số và Sự kiện, số 11.
[17] Đặng Nguyên Anh (2015), Nghèo đa chiều ở
Việt Nam: một số vấn đề chính sách và thực
Lists/KhoaHocCongNghe/View_Detail.aspx?It
emID=21
[18] Alkire, S. & Foster, J. (2011), Counting and
multidimensional
[19] Oxford Poverty Human Development
poverty
measurement,
[9] Thủ tướng Chính phủ (2015a), Quyết định
1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 về việc phê duyệt
Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp
cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều
áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”, Hà Nội.
[10] Thủ tướng Chính phủ (2015b), Quyết định
59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban
hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng
cho giai đoạn 2016-2020, Hà Nội.
&
Initiative (2010), Global Multidimensional
multidimensional-poverty-index
[20] UNDP (2010a), Đánh giá nghèo đô thị ở Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh,
[11] Tổng cục Thống kê (2014), Kết quả khảo sát
mức sống dân cư Việt Nam năm 2012, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
docs/UNDP-in-theNews/
Ngheo_Do_thi.pdf
29458_Baocao_
[21] UNDP (2010b), Human Development Report
reports/270/hdr_2010_en_complete_reprint.pdf
[12] Tổng cục Thống kê (2016), Kết quả khảo sát
mức sống dân cư Việt Nam năm 2014, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
77
Bạn đang xem tài liệu "Nghèo đa chiều và phát triển con người ở các tỉnh vùng Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ngheo_da_chieu_va_phat_trien_con_nguoi_o_cac_tinh_vung_tay_b.pdf

