Đa dạng tôn giáo ở Tây Nam Bộ (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Kiên Giang)

Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 – 2018  
93  
NGUYỄN HỒNG DƯƠNG*  
NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY**  
ĐA DẠNG TÔN GIÁO Ở TÂY NAM BỘ  
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Kiên Giang)  
Tóm tắt: Bài viết đề cập đến đa dạng tôn giáo ở miền Tây Nam  
Bộ qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Kiên Giang. Đa dạng tôn  
giáo ở Kiên Giang không chỉ thể hiện ở số lượng: 11 tôn giáo, 21  
tổ chức tôn giáo mà còn thể hiện đa dạng ở mỗi tôn giáo. Đa  
dạng tôn giáo thể hiện qua dung thông các tôn giáo, tôn giáo với  
tín ngưỡng, tôn giáo với văn hóa tộc người. Đa dạng tôn giáo ở  
Kiên Giang có những đặc điểm như cố kết cá nhân thành những  
cộng đồng tôn giáo nhỏ; góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn  
hóa tộc người; làm đậm tính thiêng của đối tượng thờ cúng.  
Từ khóa: Đa dạng tôn giáo; Tây Nam Bộ; Việt Nam.  
Dẫn nhập  
Là một tỉnh thuộc cực nam miền Tây Nam Bộ, tín ngưỡng, tôn giáo  
ở Kiên Giang trong lịch sử và hiện tại là đa dạng. Ở đây, vừa có tôn  
giáo ngoại nhập vừa có tôn giáo nội sinh được các nhà nghiên cứu gọi  
là “dòng tôn giáo bản địa”, như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu  
Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Phật giáo Hòa Hảo. Từ góc nhìn  
đa dạng tôn giáo cho thấy, Kiên Giang là một trong những tỉnh tiêu biểu  
của miền Tây Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung. Thống kê năm  
2017 của Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Kiên Giang cho thấy, toàn tỉnh  
có 11 tôn giáo, với 21 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận1.  
Điều kiện nào dẫn đến sự đa dạng tôn giáo ở Kiên Giang?  
Đa dạng tôn giáo ở Kiên Giang được biểu hiện cụ thể như thế nào?  
* Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
** Tp. Rạch Giá, Kiên Giang.  
Ngày nhận bài: 04/9/2018; Ngày biên tập: 29/11/2018; Ngày duyệt đăng: 10/12/2018.  
94  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Đa dạng tôn giáo ở Kiên Giang tạo nên những đặc điểm tôn giáo gì?  
Đó là những nội dung mà bài viết bước đầu làm sáng tỏ.  
1. Điều kiện tạo nên đa dạng tôn giáo ở Kiên Giang  
1.1. Vị trí địa lý  
Kiên Giang nằm trong vùng Vịnh Thái Lan, tiếp giáp và gần với  
các nước Đông Nam Á, như: Campuchia, Thái Lan, Malaysia,  
Singapore. Vị trí này giúp Kiên Giang từ rất sớm trong lịch sử đã có  
giao lưu kinh tế, văn hóa, đặc biệt là tôn giáo như Phật giáo Nam tông  
Khmer (Theravada), về sau là Nam Tông Kinh, Islam giáo (quen gọi  
là Hồi giáo).  
Đây là tỉnh nằm tận cùng phía Tây Nam đất nước, là vùng đất  
thuộc Trấn Hà Tiên. Đến thời vua Minh Mạng, Hà Tiên là một trong  
sáu tỉnh Nam Kỳ. Địa giới của Kiên Giang bao gồm đất liền và hải  
đảo. Phía Bắc giáp Campuchia, đường biên giới là 56,8 km, phía Nam  
giáp tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan với  
đường bờ biển dài 200 km, phía Đông lần lượt tiếp giáp với tỉnh An  
Giang, Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang. Phần hải đảo nằm  
trong vịnh Thái Lan bao gồm hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó, lớn  
nhất là đảo Phú Quốc - Đảo Ngọc.  
1.2. Điều kiện tự nhiên  
Kiên Giang có đủ dạng địa hình từ đồng bằng đến rừng núi và biển  
đảo. Phần đất liền tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho sản xuất nông  
nghiệp trồng lúa nước, cây ăn quả, tạo nên vùng chuyên canh với một  
số cây trồng có giá trị cao như dừa, khóm (dứa). Rừng ở Kiên Giang  
hiện tại rất ít, chủ yếu là rừng ngập mặn, rừng phòng hộ. Tuy nhiên,  
trong lịch sử trước khi mảnh đất này được khai phá, nơi đây là những  
cánh rừng bạt ngàn với cây Giá, Tràm, Tre trúc, v.v... Núi ở Kiên  
Giang tương đối thấp, chủ yếu ở Hà Tiên, đảo Phú Quốc với một số  
hang động đá vôi, xưa kia gắn với những cánh rừng rậm rạp. Vùng  
biển dài, rộng với hệ thống sông ngòi chằng chịt tạo cho Kiên Giang  
vừa có nét chung của vùng sông nước Tây Nam Bộ với mùa nước nổi  
lại có những nét riêng biển, đảo.  
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
95  
1.3. Tộc người  
Hiện diện ở Kiên Giang có 3 tộc người chính: Người Kinh (Việt),  
Khmer và Hoa, ngoài ra còn có người Chăm, Mã Lai, Ấn Độ…2 trong  
đó người Kinh chiếm đa số. Lịch sử khai phá miền đất Kiên Giang  
thuộc về ba tộc người Kinh, Khmer và Hoa. Các ấp, phum, sóc… theo  
thời gian được hình thành, từ đó hình thành nên các cộng đồng dân cư,  
có thể cư trú riêng biệt theo tộc người (tiêu biểu là các phum, sóc của  
tộc người Khmer) cũng có khi là cộng cư.  
Trải thời gian, Kiên Giang nói riêng, vùng đất Tây Nam Bộ nói chung  
trở nên trù mật với những cánh đồng “thẳng cánh cò bay”. Đời sống cư  
dân ổn định. Các tộc người gắn bó, hòa quyện, tương thân, tương ái.  
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tạo nên con người Nam Bộ (trong  
đó có con người Kiên Giang) nghĩa hiệp, hào phóng, đôi khi là ngang  
tàng. Từ đó xuất hiện nên những ông đạo, xuất hiện những nhân vật  
giang hồ (sông nước) pha chút anh hùng, thảo khấu.  
1.4. Văn hóa  
Các tộc người đến khai phá miền đất Kiên Giang tuy là “những  
mảnh vỡ” ở các vùng miền khác nhau của đất nước, hay đến từ Trung  
Hoa… nhưng đều mang theo những giá trị văn hóa nhất định. Quá  
trình cộng cư, sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người theo thời gian  
sản sinh ra những hoa trái văn hóa mới với những giá trị mới.  
Trở lại lịch sử, “thuở hồng hoang” của vùng đất Tây Nam Bộ, nơi  
đây hình thành nên cơ tầng văn hóa phi Việt của quốc gia cổ có tên là  
Phù Nam, xuất hiện đầu Công nguyên đến thế kỷ VI và VII. Sau đó là  
một quốc gia kế tiếp mà sử gọi là Chân Lạp (Chen La). Vương quốc  
Chân Lạp bao gồm toàn bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay  
và một phần Đông Nam Campuchia3. Nền văn hóa phi vật thể được biết  
đến qua di tích Óc Eo - vùng chân núi Ba Thê, xã Vọng Thê, huyện  
Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Đó là nền văn hóa chịu ảnh hưởng sâu đậm  
của văn hóa Ấn Độ với cốt lõi là Bà la môn giáo về sau là Ấn giáo.  
Cơ tầng văn hóa Ấn không chỉ “lưu giữ” trong lòng đất mà còn  
hiện diện trên mặt đất, tháp nhập vào văn hóa của cư dân Khmer, cư  
dân Chăm hiện diện ở vùng đất Kiên Giang.  
95  
96  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Vì vậy, văn hóa vùng đất Kiên Giang vừa là văn hóa hỗn dung của  
các tộc người vừa tiếp biến văn hóa tộc người, khiến cho nó trở nên đa  
dạng, phong phú với một bức tranh đa mầu sắc, sinh động.  
1.5. Tín ngưỡng  
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, yếu tố tộc người và văn hóa là  
những nhân tố tạo cho Kiên Giang một vùng đất đa dạng, hỗn dung  
các loại hình tín ngưỡng.  
Tín ngưỡng thờ nhân thần: Ở một vùng đất đầy ắp những biến  
động lịch sử về khai khẩn mở đất, đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên,  
đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế  
quốc Mỹ, nơi đây xuất hiện nhiều tấm gương sáng chói trong sử sách  
cũng như trong tâm thức người dân. Để rồi khi họ qua đời, người dân  
lập đền miếu thờ cúng họ. Một trong những nhân vật tiêu biểu được  
kể đến trước hết là Nguyễn Trung Trực - “người anh hùng bất tử đất  
Nam Bộ”. Nguyễn Trung Trực là tấm gương sáng ngời về lòng yêu  
nước, chí khí quật cường, là một trong những người đầu tiên chống  
thực dân Pháp ở Nam Bộ vào nửa sau thế kỷ 19. Hoạt động quân sự  
và những chiến công hiển hách của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực  
đã in dấu son vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, đặc biệt là  
chiến công trong trận đánh tàu L’Espérance (Hi vọng) trên vàm sông  
Nhật Tảo ngày 10/12/1861 và trận thắng lớn tấn công vào tỉnh lỵ  
Kiên Giang ngày 16/6/1868, tiêu diệt nhiều giặc Pháp, trong đó có  
Tỉnh trưởng người Pháp. Lòng yêu nước, quyết tâm chống ngoại  
xâm đã được Nguyễn Trung Trực khẳng định bằng câu nói đã trở  
thành bất tử: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam  
đánh Tây”4. Tấm gương hy sinh oanh liệt vì nước vì dân của ông  
được nhân dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long xây dựng hàng  
chục ngôi đình để thờ ông “làm thành hoàng bổn cảnh”. Tại Rạch  
Giá, Kiên Giang, khu di tích thờ ông được Nhà nước xếp hạng Di  
tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1987. Lễ hội kỷ niệm ngày hy  
sinh của ông diễn ra vào các ngày 26-28 tháng 8 Âm lịch hằng năm5.  
Giữa Nguyễn Trung Trực và Bửu Sơn Kỳ Hương, đặc biệt là Phật  
giáo Hòa Hảo, có sự gắn kết trong đời sống tâm linh (Nội dung này  
sẽ được bài viết trình bày kỹ ở phần sau).  
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
97  
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Kiên Giang có  
nhiều chùa là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng; hàng chục nhà sư với  
các hình thức khác nhau tham gia kháng chiến kiến quốc, tiêu biểu là  
4 nhà sư liệt sĩ. Họ được nhân dân, Phật tử dựng đền để thờ, gọi là đền  
thờ 4 nhà sư liệt sĩ6.  
Thờ cúng các nhân thần còn phải kể đến việc thờ cúng Mạc Cửu -  
người có công khai phá vùng đất Hà Tiên, đem vùng đất này gia nhập  
vào lãnh thổ Việt Nam. Cơ sở thờ tự được tu bổ thường xuyên, quanh  
năm hương khói bởi cư dân đến chiêm bái. Trong cộng đồng người  
Hoa, còn có tín ngưỡng thờ Quan Công/Quan Vân Trường, một nhân  
vật lịch sử nhưng rất nhiều huyền thoại.  
Những vị có công mở đất, lập làng, những vị Tiền hiền, Hậu hiền  
tuy tên tuổi ẩn tàng nhưng đều được “hợp tự” tại các cơ sở tôn giáo,  
tín ngưỡng khác nhau.  
Tín ngưỡng thờ nhiên thần: Thuộc vùng đất đa dạng điều kiện tự  
nhiên là nguyên nhân dẫn đến đa dạng tín ngưỡng nhiên thần. Đó là  
các vị thần núi (Sơn Thần ở các hang động) thần sông, biển (Thủy  
Thần). Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi, Bà Thủy/Thủy Long/  
Thủy Long thần nữ/Thủy Long công chúa vốn từ Ngũ hành (Kim -  
Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ tách ra). Thủy Long có vị trí đặc biệt gắn với  
sự sống còn của cư dân sông nước. Người dân ven sông, biển lập miếu  
thờ và cúng vào ngày vía tháng Năm, tháng Chạp, tháng Giêng. Tại ấp  
Hòn Chông (xã Bình An, huyện Kiên Lương) có ngôi miếu Thủy  
Long thờ Thủy Long công chúa và phối thờ một số nữ thần. Cạnh đó,  
còn thờ Nam Hải tướng quân (Cá Voi)7. Thờ Bà Thủy còn thấy ở nơi  
chính điện có các vị nữ thần khác như Chúa Tiên Nương Nương,  
Thiên Y Ana, Chúa Ngọc,… “Nhưng cao hơn hết và phổ biến hơn hết  
là tín ngưỡng Bà Chúa Xứ, một dạng phúc thần, cai quản đất đai, sông  
biển, cù lao và bảo hộ cư dân an lạc”8.  
Tín ngưỡng thờ nhiên thần còn phải kể đến nghi tục thờ Trời  
(Thiên) thờ đất (Thổ thần), thờ ông Tà (Neak Tà) của người Khmer,  
một vị thần cai quản một vùng đất như ngã ba sông, một đoạn đường,  
một gò đất…”9.  
97  
98  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Tín ngưỡng liên quan đến vòng đời người: Là vùng đất hợp cư của  
ba tộc người chính (Kinh, Khmer, Hoa và một số tộc người khác) đã  
làm cho tín ngưỡng liên quan đến vòng đời người ở Kiên Giang đa  
dạng và phong phú. Đó bởi trước hết, mỗi tộc người có các hình thức  
và nghi tục khác nhau. Đó còn bởi sự giao thoa giữa các nghi tục.  
Song, có thể quy vào các “mốc”: mang thai, sinh nở, thiếu niên, trung  
niên, về già, qua đời, giỗ chạp.  
2. Đa dạng tôn giáo ở Kiên Giang - Những biểu hiện  
Theo Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Kiên Giang, tính đến thời điểm  
năm 2017 trên địa bàn Kiên Giang có “11 tôn giáo với 21 tổ chức tôn  
giáo được Nhà nước công nhận, gồm: Phật giáo, Công giáo, Phật giáo  
Hòa Hảo, Islam giáo (Hồi giáo), Baha’i, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt  
Nam, Giáo hội Phật đường Nam Tông Minh Sư đạo, Tứ Ân Hiếu  
Nghĩa, đạo Tin Lành (có 6 hệ phái), Cao Đài (có 6 chi phái và 01 pháp  
môn) và 01 tổ chức Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn được cấp đăng ký  
hoạt động tôn giáo.  
Có 01 hội thánh (cấp toàn đạo), 02 tổ chức tôn giáo cấp tỉnh, 14 tổ  
chức tôn giáo cấp huyện, 8 tổ chức tôn giáo trên cơ sở không phải là cấp  
giáo hội, 385 tổ chức tôn giáo cơ sở, 41 tổ chức tôn giáo dưới cơ sở”.  
Về tín đồ, chức sắc, nhà tu hành và chức việc: Tín đồ: 590.756  
người (chiếm 34, 75% dân số toàn tỉnh); Chức sắc, nhà tu hành: 1.586  
người; Chức việc: 3.580 người10.  
2.1. Phật giáo ở Kiên Giang  
Trên địa bàn Kiên Giang hiện diện các hệ phái của Phật giáo, như:  
Bắc tông11, Nam tông Kinh và Nam tông Khmer, hệ phái Khất sĩ, Hoa  
tông12.  
Phật giáo Nam tông  
Dân tộc Khmer là một trong những dân tộc sớm hiện diện ở Tây  
Nam Bộ trong đó có Kiên Giang. Đây là tộc người sớm đón nhận Phật  
giáo. Tại Kiên Giang, các nhà khảo cổ học đã khai quật được những  
cổ vật: tháp, tượng Phật, thần… có niên đại 300 - 400 năm tr. CN13.  
Theo tác giả Nguyễn Văn Sáu, “nếu địa danh Su van na ba hũ mi là  
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
99  
tiền thân của đế quốc Phù Nam thì Phật giáo nguyên thủy Nam tông  
đã có mặt ở miền Nam Việt Nam vào thế kỷ III tr.CN14.  
Một trong những ngôi chùa cổ ở Kiên Giang trước hết phải kể đến  
là chùa Phật Lớn. Chùa tọa lạc ở phường Vĩnh Quang, Thành phố  
Rạch Giá, có pháp danh là Ut Đôn Men Chi, được xây dựng từ năm  
1504 (năm 2047 Phật lịch). Địa điểm đầu tiên của chùa là khu rừng  
phía Tây Bắc rạch xáp trắng (tiếng Khmer là Kro muan xo). Đó là địa  
danh do nhân dân đặt, vì chưa có phum, sóc như bây giờ. Chùa được  
xây dựng do nhu cầu tôn giáo của cư dân. Các vị chư tăng và Hòa  
thượng MôL Chi là những vị sư tiêu biểu của chùa. Chùa ban đầu là  
ngôi nhà sàn (do vùng này thường có lũ), mái lá. Hòa thượng cùng các  
chư tăng một mặt lo đời sống đạo, mặt khác còn chăm lo đời sống  
kinh tế, từ thiện, bốc thuốc chữa bệnh của người dân. Theo năm tháng,  
các vị hòa thượng và chư tăng các đời kế thế, “truyền đăng, tục diệm”,  
xây sửa, trùng tu chùa cảnh. Bà con Phật tử theo đó quy tụ về ngày  
một đông. Nhờ đó đến nay “Chùa Phật vẫn đứng hiên ngang dưới bầu  
trời tự do, độc lập”15.  
Ngôi chùa của Phật giáo Nam tông Khmer được xem là có tuổi đời  
lâu năm thứ hai là Thiên Trúc Tự (chùa Phật Lớn). Thiên Trúc Tự tọa  
lạc dưới chân núi Đề Liên (xưa gọi là núi Bát Giác) thuộc thị xã Hà  
Tiên, được xem là ngôi chùa cổ thứ hai của Phật giáo Nam tông  
(Theravada). Sở dĩ chùa còn có tên gọi là chùa Phật Lớn vì “Bên  
trong ngôi chính điện có tượng Phật Thích Ca (tượng Phật Lớn) ngồi  
trên Bồ đoàn, ngay giữa chính điện”. Trong dịp trùng tu ngôi chùa  
(1960-1963), người dân tìm thấy một số viên gạch dưới Bồ đoàn nơi  
pho tượng Phật Lớn ngồi, có một viên gạch ghi những chữ số (theo  
mẫu chữ Khmer): 1616. Từ đó dẫn đến suy đoán, Thiên Trúc Tự có  
trước thời điểm 1616. Thiên Trúc Tự xưa kia là nơi chư tăng Nam  
tông Khmer cư trú, sinh hoạt tu học và tổ chức những ngày lễ hội theo  
truyền thống Phật giáo Theravada. Sau này vì những lý do khác nhau,  
chùa chuyển qua sự quản lý của hệ phái Bắc tông (Mahayana). Lịch  
sử chùa ghi lại, năm 1662, đại lão hòa thượng Ấn Đàm thuộc dòng  
Lâm Tế đời thứ 35 Trung Hoa đến Thiên Trúc Tự. Đại hồng chung  
hiện diện ở chính điện có thể là vật tích của Hòa thượng để lại trong  
99  
100  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
thời gian tu niệm nơi đây vì chùa Nam tông Khmer không có chuông.  
Và cũng theo suy đoán, năm 1662 khi Hòa thượng đến chùa thì Thiên  
Trúc Tự đã có16. Như vậy ít nhất vào đầu thế kỷ XVII tại Kiên Giang  
đã hiện diện một ngôi chùa Nam tông Khmer. Nếu thời điểm trên  
được ghi nhận thì Thiên Trúc Tự được xem là một trong những ngôi  
chùa cổ ở Tây Nam Bộ17.  
Người Khmer sinh sống ở Kiên Giang nói chung và Tây Nam Bộ  
nói riêng thường chọn các giồng đất (nơi đất cao) quần cư, lập nên các  
phum sóc. Nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng, chăn nuôi nhỏ, trồng  
cây ăn quả. Theo thời gian, mỗi sóc thường có một ngôi chùa. Ngôi  
chùa với người Khmer có vị trí hết sức quan trọng. Hiện tại, Phật giáo  
Nam tông Khmer ở Kiên Giang có 75 ngôi chùa.  
Trong ngôi nhà của Phật giáo Nam tông, ngoài Phật giáo Nam tông  
Khmer còn có Phật giáo Nam tông Kinh. Tài liệu của Trần Khánh Dư  
cho biết “Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, Phật giáo nguyên thủy  
Việt Nam (Phật giáo Tiểu thừa) do ông Lê Văn Giảng là một bác sĩ  
thú y xuất gia với pháp danh Hộ Tông lập nên, lúc đầu ở Nam Bộ, sau  
phát triển ra đến Thừa Thiên Huế; Lễ kết giới do Chuôn Narth, Đức  
Vua Sãi Campuchua và 30 vị Tỳ kheo tiến hành đã đặt tên cho ngôi  
chùa đầu tiên ở Gò Dưa - Thủ Đức là chùa Bửu Quang. Chùa do sư  
người Kinh trụ trì và chỉ có người Kinh đến lễ. Từ đó hình thành nên  
Phật giáo Tiểu thừa của người Kinh (cũng gọi là Nam tông Kinh)”18.  
Tại Kiên Giang, Phật giáo Nam tông Kinh chỉ có một cơ sở thờ tự  
đó là Thiên Trúc Tự. Như phần trên đề cập, đầu thế kỷ XVII Thiên  
Trúc Tự là ngôi chùa của Phật giáo Nam tông Khmer (Theravada), sau  
chuyển qua hệ phái Bắc tông (Mahayana), bị bỏ không, hoang phí một  
thời gian. Từ năm 1960, Đại đức Pháp Kiên được hai vợ chồng cư sĩ  
Huỳnh Văn Mít, Nguyễn Thị Sảnh trước đó trông nom chùa và trú ngụ  
tại chùa, thỉnh về giao chùa. Đại đức tổ chức tu niệm, sinh hoạt lễ hội  
theo truyền thống hệ phái Theravada (Nam tông Kinh). “Hiện nay  
Thiên Trúc Tự có cả người dân tộc Kinh - Khmer - Hoa, là tu sĩ và cư  
sĩ đồng tu niệm trong mái chùa; Tu sĩ cư trú tại bổn tự; Cư sĩ đến sinh  
hoạt, cúng lạy hằng đêm và trong các ngày lễ hội trong năm của  
chùa”19.  
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
101  
Phật giáo Bắc tông  
Những lưu dân người Việt thế kỷ XVII đến khai phá miền đất Kiên  
Giang hẳn đã mang theo tôn giáo - Phật giáo, một tôn giáo phổ biến  
của người Việt. Song diện mạo Phật giáo thời kỳ này ở Kiên Giang  
hiện vẫn bỏ ngỏ. Trong khi đó Phật giáo Kiên Giang ghi nhận việc  
xây dựng ngôi chùa cổ thuộc về Mạc Cửu, người Trung Hoa, một vị  
quan trung thành với nhà Minh, sau khi nhà Minh bị nhà Thanh tiêu  
diệt rời bỏ quê hương đến làm ăn tại Mang Khảm. Năm 1714, Mạc  
Cửu xin sáp nhập vào xứ Đàng Trong. Chúa Nguyễn Phúc Chu chấp  
thuận và phong Mạc Cửu chức Tổng binh về sau phong chức Cửu Lộc  
Hầu. Vùng Mang Khảm được đổi thành trấn Hà Tiên. Để có nơi chốn  
cho mẹ đẻ tu hành, Mạc Cửu cho xây chùa Tam Bảo sau khi người mẹ  
quy y với Hòa thượng Ấn Hạ thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35. Hòa  
thượng Ấn Hạ cũng là vị khai nguyên cho Phật giáo ở Hà Tiên.  
Cũng tại Hà Tiên, sau chùa Sắc Tứ Tam Bảo là chùa Phù Dung, tên  
chùa trước đây là Phù Cừ An Tự, năm khai sơn 1750, hiện chùa tọa  
lạc tại phường Bình San, thị xã Hà Tiên. Chùa do Tổng trấn Hà Tiên  
là Mạc Thiên Tích xây dựng cho người vợ thứ là bà Thứ Cơ (thế danh  
Nguyễn Thị Xuân), hiệu là Từ Thanh Thục Nhơn ở tu. Chùa trải qua  
các kỳ hưng, phế và các hòa thượng, chư tăng kế thế trụ trì. “Năm  
1910, Hòa thượng Hoằng Đạo (thế danh Ngô Văn Thiên) thuộc dòng  
Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 39 là đệ tử của Hòa thượng Nhất Thừa được  
cử đến trụ trì Phù Cừ An Tự. Trong thời gian trụ trì tại đây từ 1910  
đến 1939, Hòa thượng Hoằng Đạo đã cho xây dựng lại Phù Cừ An Tự  
theo dáng vẻ ngày nay và cho đổi tên là chùa Phù Dung”20.  
Trên đây là một số ngôi chùa tiêu biểu thuộc hệ phái Nam Tông và  
Bắc Tông được bài viết đề cập như là sự mở đầu cho việc diễn giải sự  
đa dạng tôn giáo - nhìn từ Phật giáo. Bởi sự đa dạng tôn giáo - nhìn từ  
Phật giáo không chỉ đa dạng hệ phái (Nam tông Khmer, Khất sĩ, Bắc  
tông) mà còn là sự đa dạng trong từng hệ phái. Nam tông có Nam tông  
Khmer, Nam tông Kinh; Bắc tông có Thiền tông, Tịnh độ tông, Lâm  
tế chính tông, Phật giáo Cổ Sơn môn,…21. Trong quá trình tồn tại,  
phát triển, Phật giáo Kiên Giang không chỉ là sự “truyền thừa” trong  
các hệ phái mà còn là “kế thừa” giữa các hệ phái. Bởi có những hệ  
101  
102  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
phái theo thời gian không có chư tăng kế thế, một số chùa vì vậy phải  
chuyển qua các hệ phái khác “kế thừa”. Lại có một số chùa, gốc tích  
được xây dựng bởi một số tổ chức của Tăng già Phật giáo Việt Nam,  
như: chùa Lục Hòa tăng (Khai sơn 1925, tại xã Mông Thọ A, huyện  
Châu Thành), chùa Hội Phật học Nam Việt, khai sơn năm 1958 sau  
đổi thành chùa Đông Hải, thị xã Thạch Đông A, huyện Tân Hiệp).  
Một số tôn giáo nội sinh như Minh Sư đạo, Tịnh Độ cư sĩ, Tứ Ân Hiếu  
Nghĩa vì những lý do khác nhau, một số cơ sở thờ tự được chuyển qua  
cho Phật giáo Bắc tông.  
Cuốn Lược sử những ngôi chùa ở Kiên Giang - Bắc tông và Khất sĩ  
viết về các ngôi chùa của hai tông phái trên thuộc 12 huyện thị, thời  
điểm 2002 cho thấy sự đa dạng nguồn gốc của 85 ngôi chùa. Tiến  
hành thống kê cho thấy 85 ngôi chùa mà cuốn sách đề cập thuộc về  
các hệ phái, các tổ chức Tăng già và sự chuyển đổi từ các cơ sở thờ tự  
của các tôn giáo khác, như sau:  
Bắc Tông: 36 chùa  
Khất Sĩ: 14 chùa  
Bắc tông gốc Khất sĩ: 02 chùa  
Thiền Lâm: 13 chùa22  
Tịnh Độ cư sĩ: 05 chùa  
Tịnh Độ tông: 04 chùa  
Tứ Ân Hiếu Nghĩa: 02 chùa  
Thiền tông: 02 chùa  
Phật giáo Cổ Sơn môn: 02 chùa  
Lục hòa tăng: 01 chùa  
Hội Phật học Việt Nam: 01 chùa  
Không rõ hệ phái: 01 chùa  
Minh Sư đạo: 01 chùa  
Thiền Lâm Bắc tông: 01 chùa  
Những số liệu trên, tự nó nói lên tính đa dạng tôn giáo của Phật  
giáo qua góc nhìn các hệ phái và sự chuyển đổi các cơ sở thờ tự.  
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
103  
Để góp vào việc chứng minh chuyển đổi các cơ sở thờ tự và xây  
các cơ sở mới, bài viết đưa thêm một số liệu được trích dẫn từ cuốn  
Văn kiện Đại hội Phật giáo tỉnh Kiên Giang, khóa VIII, nhiệm kỳ  
2012-2017 (tr. 47). Theo thống kê, các cơ sở thờ tự xây mới và các cơ  
sở thờ tự gia nhập của các năm từ năm 2007 đến năm 2011 như sau:  
Năm  
2007  
2008  
2009  
2010  
2011  
Cơ sở thờ tự mới  
Cơ sở thờ tự xin gia nhập  
02  
03  
01  
02  
05  
05  
06  
07  
03  
05  
Trên địa bàn Kiên Giang còn có một bộ phận người Hoa là tín đồ  
Phật giáo. Phật giáo của người Hoa quen gọi là Hoa tông. Cuốn Người  
Hoa ở Kiên Giang cho biết: “Trong tỉnh Kiên Giang có rất nhiều chùa  
(của người Hoa). Chỉ riêng ở thị xã Rạch Giá đã có:  
Chùa ông Bắc Đế của người Triều Châu;  
Chùa bà Thiên Hậu của người Quảng Đông;  
Chùa bà Thiên Hậu của người Hải Nam;  
Chùa Ông Bổn (Nhị Phủ miếu) của người Phúc Kiến23.  
Số liệu của Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ Kiên Giang (2017) về Phật  
giáo như sau:  
Tổ chức tôn giáo: 01 Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp  
tỉnh, 14 Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện, 202 tổ  
chức tôn giáo cơ sở. Tín đồ 423.194 người (chiếm 24,89% dân số toàn  
tỉnh và chiếm 71,63% tín đồ tôn giáo); 494 chức sắc (tỳ kheo), 353  
nhà tu hành (14 thức xoa, 339 sa di), 99 tổ chức chức việc, 1.682 chức  
việc, 9 gia đình Phật tử, 247 đoàn sinh.  
Trong đó:  
Phật giáo hệ Bắc tông và Khất sĩ: Tổ chức tôn giáo: 126 tổ chức  
tôn giáo cơ sở. Tín đồ 217.254 người (chiếm 12,77% dân số toàn tỉnh  
và chiếm 36,9% tín đồ các tôn giáo), trong đó nam 64.799, nữ  
152.455; Kinh: 178.852, Hoa: 20.592, Khmer: 17.810; chức sắc 237  
người (2 hòa thượng, 6 thượng tọa, 122 đại đức; 3 ni trưởng, 9 ni sư,  
103  
104  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
95 sư cô); nhà tu hành 45 người (Sadi 31, Thức xoa 14); chức việc 34  
tổ chức, với 324 người; Gia đình Phật tử 9 đơn vị, 247 đoàn sinh.  
Phật giáo hệ Nam tông Khmer và Nam tông Kinh: Tổ chức tôn giáo:  
76 cơ sở. Tín đồ 205.945 người (chiếm 12,11% dân số toàn tỉnh và  
chiếm 34,80% tín đồ các tôn giáo), trong đó: Khmer 205.036, Kinh 804,  
Hoa 100; Chức sắc 255 người (7 hòa thượng, 15 thượng tọa, 233 đại  
đức); nhà tu hành 310 người (sadi); chức việc 65 tổ chức, 1.385 người.  
2.2. Công giáo ở Kiên Giang  
Nếu như Phật giáo, đạo Tin Lành, Cao Đài là những tôn giáo, một  
mặt, góp vào sự đa dạng tôn giáo ở Kiên Giang, mặt khác thể hiện sự  
đa dạng ở chính các tôn giáo với những hệ phái thì Công giáo được  
tiếp cận như là một thực thể tạo nên sự đa dạng tôn giáo. Báo cáo  
Tổng hợp thực trạng tôn giáo trên địa bàn Kiên Giang (2017) của Ban  
Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Kiên Giang cho biết: Công giáo trên địa bàn  
tỉnh: Tổ chức tôn giáo: 04 tổ chức trên cơ sở không phải cấp giáo hội  
(4 giáo hạt: Tân Hiệp, Tân Thạnh, Rạch Giá, Hà Tiên), 65 tổ chức tôn  
giáo cơ sở (giáo xứ), 38 tổ chức tôn giáo dưới cơ sở (giáo họ). Tín đồ  
115.411 người (chiếm 6,78% dân số toàn tỉnh và chiếm 19,6% tín đồ  
các tôn giáo), trong đó: nam 55.615, nữ 59.796; Kinh: 114.668, Hoa:  
321, Khmer: 422; chức sắc: 222 người; chức việc: 97 tổ chức, với 496  
người; 6 loại hội đoàn, 6.144 đoàn viên, hội viên.  
Trở lại lịch sử, do vị trí địa lý, Hà Tiên, Kiên Giang, có lẽ là nơi mà  
bước chân nhà truyền giáo Công giáo có mặt sớm nhất. “Năm 1550,  
linh mục Gaspar da Cruz đến cửa khẩu Cần Cạo (Hà Tiên ngày nay).  
Rồi năm 1555, người ta thấy giáo sĩ ấy ở Ma Cao (Trung Quốc).  
Chúng ta không biết là từ Cần Cạo (Hà Tiên) Linh mục Gaspar da  
Cruz chỉ đi tới vùng đất thuộc Campuchia ngày nay hay là đi rảo khắp  
các miền đất Nam Bộ để đi sang Trung Quốc? Trong điều kiện của  
giao thông lúc bấy giờ, chắc chắn Linh mục Gaspar da Cruz chỉ quanh  
quẩn quanh vùng Nam Bộ ngày nay”24.  
Tài liệu của Trương Bá Cần còn cho biết: “Năm 1588, hai linh mục  
Đa Minh khác, là Juan Maldonat và Pedro de Bastida, qua cửa Cần  
Cạo (Hà Tiên) đi Cao Miên, nhưng chỉ mấy tháng sau bị săn đuổi,  
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
105  
giống như hai giáo sĩ trước: Pedro de Bastida bị thương và từ trần tại  
chỗ, còn Juan Maldinat bị thương, chạy sang Thái Lan25. Theo thời  
gian, Hà Tiên tiếp tục in dấu chân một số giáo sĩ đến truyền đạo. Để  
rồi nơi đây hình thành nên những cộng đồng Dân Chúa. “Cha José  
Garcia đến Hà Tiên lần đầu, đã cùng với giáo dân Hà Tiên dựng nhà  
thờ mới vào năm 1735. Đến năm 1743, Đức cha Lefèbvre đến ban  
phép Thêm sức cho 100 người tại Hà Tiên, cho thấy vùng đất Kiên  
Giang được các Thừa sai đến đây rao giảng Tin Mừng từ rất sớm.  
Từ khi cha José Garcia nhận coi sóc họ đạo Chợ Quán và các tỉnh  
miền Tây, vùng Long Xuyên “chính thức phát triển” từ năm 1735. Năm  
1745, cha José làm lại nhà thờ rộng lớn hơn, và mở rộng nhà xứ cho 8  
thừa sai ở. Theo cha Lau-nay, năm 1747, các cha dòng Phanxicô phục  
vụ các tỉnh phía Nam có khoảng 5.500 giáo dân. Theo đề nghị của Đức  
Khâm Sai Tòa thánh, năm 1749, tỉnh dòng Manila cử 8 linh mục sang  
Giáo phận Đàng Trong, cha Pedro Medina được phân công chăm sóc  
giáo hữu tại Hà Tiên. Từ năm 1750-1754, tại Hà Tiên có 5 cha dòng  
Phanxicô phục vụ. Cha José Garcia qua đời ngày 1/11/1761, ngài là  
người có công lớn trong việc truyền giáo từ Sài Gòn đến Hà Tiên”26.  
Vùng đất Kiên Giang còn ghi nhận tại Hòn Đất, Chủng viện thánh  
Giuse được thành lập. Năm 1769, Chủng viện dời đến Pondichéry (Ấn  
Độ). Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) sau khi được tấn phong Giám  
mục tại Ấn Độ ngày 14/3/1774, ngày 14/3/1776 đã trở về Hà Tiên.  
Khi đó Hà Tiên có khoảng 1.000 giáo dân. Bá Đa Lộc lập thêm họ đạo  
Pi Nha Lu27.  
Đến thời điểm năm 1938, Công giáo ở tỉnh Kiên Giang có 4 giáo  
xứ (Hà Tiên, Rạch Giá, Đất Hứa và Hòa Hưng) với 18 giáo họ và  
5.127 giáo hữu. Theo thời gian khi số lượng tín đồ tăng lên, Công giáo  
lập thêm các giáo họ, nâng cấp giáo họ lên giáo xứ.  
Xứ đạo Hà Tiên được thành lập trên cơ sở cư dân từ miền Bắc vào  
khai phá rừng rậm hoang vu. Thừa sai Merdrignac bỏ nhiều công sức  
và tiền của để giúp đỡ cho giáo dân trong những ngày đầu khai phá  
rừng, xây dựng cuộc sống… có lúc có họ đạo chỉ còn 27 giáo dân, hơn  
200 gia đình đã bỏ làng đi nơi khác28.  
105  
106  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Họ đạo Rọc Lá (xã Tây Yên, An Biên) buổi đầu chỉ có 4 -5 hộ. Để  
thu hút người dân tới đây khai khẩn lập họ đạo mới, những năm 1937-  
1938, Thừa sai Dalle (linh mục chính xứ Rạch Giá) đã đem 200 công  
đất ở Hòn Đất đổi lấy 1.982 công đất ở vùng này và linh mục phó xứ  
(Rạch Giá) được giao chia cho người dân đến đây khai phá làm ruộng  
tạo dựng xóm đạo Rọc Lá29.  
Xứ đạo Hòa Điền (Hà Tiên) do Thừa sai Medrignac thành lập năm  
1930, trên cơ sở huy động giáo dân từ miền Bắc vào đây khai phá  
rừng hoang.  
Xứ đạo Hòa Hưng (Xẻo Dầu) được thành lập đầu thế kỷ XX, giáo  
dân được linh mục J. B. Nguyễn Phước Thới, mộ từ Bến Dinh, Cù  
Lao Giêng về khai phá. Lúc đầu cư dân phải ở dưới ghe, ban ngày lên  
bờ khai khẩn đất rừng. Sau đó mới lên bờ cất nhà định cư.  
Các họ đạo Tràm Chẹt (Bàn Tân Định, Giồng Riềng), Ong Dèo  
(Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Gò Quao) cũng thành lập trên cơ sở các thừa sai  
mộ dân là tín đồ Công giáo đến khai khẩn những vùng đất hoang vu  
vùng đồng bằng bao la Nam Bộ30.  
Một ví dụ được dẫn từ giáo xứ Rạch Giá (thành phố Rạch Giá).  
Cuối thế kỷ XIX, có lẻ tẻ một số giáo dân đến lập nghiệp ven bờ  
sông Kiên (còn gọi là Rạch Xáp). Nơi đây lúc đó là rừng rậm hoang  
vu với bờ biển sình lầy và dày đặc những rừng Tràm, cây Giá. Sông  
Kiên chỉ là con rạch nhỏ chảy ngoằn ngoèo từ Long Xuyên qua Núi  
Sập, qua vùng Tân Hội rồi đổ vào biển Rạch Giá. Phủ kín hai bên  
bờ là Tràm và cây Giá, nên quen gọi vùng này là Rạch Giá. Năm  
1882 có khoảng 10 gia đình giáo dân, dưới sự hướng dẫn của thừa  
sai Blondet, đã cất một ngôi nhà nguyện. Đến cuối năm 1890, một  
ngôi nhà bằng gỗ, lợp tôn thay thế ngôi nhà nguyện cũ. Họ đạo  
được phát triển vào thời thừa sai Emile Dalle (phụ trách họ đạo từ  
năm 1916 đến năm 1945). Thừa sai bỏ tiền riêng ra mua 3.000 công  
đất, mua sắm và xây cất: 40 căn nhà phố, 152 lô đất phố, xây cất  
ngôi thánh đường vững chãi như ngày nay. Thừa sai Dalle là người  
lập ra các họ đạo Mông Thọ, Đông Hòa, Tràm Chẹt, Gò Quao, Tân  
Hội, Rọc Lá. Giáo xứ Rạch Giá có tất cả 16 họ nhánh: Tràm Chẹt,  
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
107  
Gò Quao, Mông Thọ, Tân Hội, Rọc Lá, Rạch Sỏi, Kiên Thành, Sóc  
Ven, Giồng Riềng, Thổ Sơn, Hòn Tre, Thiên San, Tân Lập. Cho  
đến năm 1983, có họ đạo nhánh dần dần tách ra thành giáo xứ. Đến  
năm 1996, xứ Rạch Giá chỉ còn lại họ đạo nhánh là Rọc Lá và Tân  
Lập31. Theo cuốn Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam (2016),  
Rọc Lá đã nâng lên thành giáo xứ nhưng với tên gọi mới là Giáo xứ  
Quý Phụng (Tây Yên A, An Biên).  
Đa dạng tôn giáo - Công giáo ở Kiên Giang là quá trình phát triển  
các giáo xứ giáo họ; là đa dạng cộng đồng tín đồ (Kinh, Khmer, Hoa).  
Với tín đồ là người Kinh đến Kiên Giang theo nhiều giai đoạn, thời kỳ  
đầu hoặc là lưu dân, hoặc được được các linh mục chiêu mộ đến khẩn  
hoang từ đó lập nên giáo họ, giáo xứ. Thời gian 1954-1956, tín đồ di  
cư từ Bắc vào cư trú chủ yếu ở Tân Hiệp (Dinh điền Cái Sắn). Đó còn  
là đa dạng về tên gọi giáo xứ, giáo họ. Phần nhiều giáo xứ, giáo họ lấy  
tên vùng đất tín đồ cư trú, nhưng cũng có những giáo xứ, giáo họ được  
đặt tên “rất Nam Bộ”, như: giáo xứ Đa Minh Kinh 10, Giáo xứ Đa  
Minh Kinh 10 A, Giáo xứ Đồng Tâm 3 B, v.v…  
2.3. Đạo Tin Lành ở Kiên Giang  
Đạo Tin Lành truyền vào Việt Nam đầu thế kỷ XX. Thời điểm xác  
định đạo Tin Lành truyền giáo có kết quả là năm 1911 tại Đà Nẵng.  
Cùng thời gian, đạo Tin Lành hiện diện ở Hà Nội. Tại miền Tây Nam  
Bộ, đạo Tin Lành buổi đầu có cơ sở ở Thành phố Cần Thơ. Có lẽ từ  
Cần Thơ, đạo Tin Lành phát triển ra các vùng đất khác nhau trong đó có  
Kiên Giang. Tại Kiên Giang, đạo Tin Lành được thành lập ở Rạch Giá  
năm 1921. Khi đó có nhà thờ Tân Hiệp, Giồng Riềng, Cù Là, Mông  
Thọ. Hội thánh tại An Hòa phôi thai trước năm 1960 và chính thức hoạt  
động năm 1971. Khi đó, chi hội An Hòa nhóm chung với chi nhánh  
Rạch Giá (Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc, 2006, tr. 443).  
Nếu như Công giáo chỉ có 01 tổ chức, thì đạo Tin Lành ở Kiên Giang  
đến thời điểm 2017 hiện diện 6 hệ phái. Báo cáo tổng hợp thực trạng tôn  
giáo trên địa bàn Kiên Giang của Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Kiên  
Giang cho biết 6 hệ phái đó là Tin Lành Việt Nam (miền Nam), Tin Lành  
Báp Tít (Nam Phương), Tin Lành Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam, Tin  
Lành Liên hữu Cơ Đốc, Tin Lành Phúc Âm Ngũ tuần, Tin Lành  
107  
108  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Mennonite Việt Nam. Báo cáo còn đưa ra những số liện cụ thể về Tin  
Lành ở Kiên Giang, như: tổ chức tôn giáo: 01 Ban đại diện Hội Thánh  
Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh, 13 tổ chức tôn giáo cơ sở (chi hội),  
01 tổ chức tôn giáo dưới cơ sở. Tín đồ 6.349 người (chiếm 0,37% dân số  
toàn tỉnh và chiếm 1.07% tín đồ các tôn giáo); trong đó: nam 2.959, nữ  
3.390; Kinh 5.584; Hoa: 203; Khmer: 562; chức sắc 14 người (7 mục sư,  
5 mục sư nhiệm chức, 2 truyền đạo); chức việc 13 tổ chức, 113 người.  
Hiện diện của đạo Tin Lành ở Kiên Giang với 06 tổ chức không chỉ  
góp phần vào bức tranh đa dạng hóa tôn giáo của tỉnh mà còn là sự đa  
dạng hóa tổ chức/hệ phái của chính Tin Lành.  
2.4. Đa dạng đạo Cao Đài ở Kiên Giang  
Toàn tỉnh có 06 chi phái và 01 pháp môn: Cao Đài Bạch Y - Liên  
Đoàn Chơn Lý, Giáo hội Trung ương đặt tại tỉnh Kiên Giang; Cao Đài  
Tây Ninh, Cao Đài Minh Chơn Đạo, Cao Đài Chỉnh Đạo, Cao Đài  
Chơn Lý, Cao Đài Tiên Thiên và Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam  
Thanh Vô Vi.  
Tổ chức tôn giáo: 01 hội thánh, 02 Ban đại diện, 44 tổ chức tôn  
giáo cơ sở, 02 tổ chức tôn giáo dưới cơ sở.  
Tín đồ 26.935 người (chiếm 1,58% dân số toàn tỉnh và 4,55% tín  
đồ các tôn giáo). Trong đó, nam 11.444, nữ 15.491; Kinh: 26.866,  
Hoa: 15, Khmer 54; Chức sắc 483 người (gồm 02 chánh phối sư, 06  
phối sư, 03 tứ bửu, 30 giáo sư, 02 lục đàn, 95 giáo hữu, 345 lễ sanh);  
chức việc 851 người32.  
Đạo Cao Đài là tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ. Lịch sử đạo Cao Đài  
thời kỳ khai đạo gắn liền với tên tuổi Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu (về sau  
đổi là Ngô Minh Chiêu). Năm 1919 Ngô Văn Chiêu được bổ nhiệm là  
Quận trưởng hành chính Phú Quốc. Ở nơi hải đảo xa xôi, ông thường  
tổ chức các đàn cơ Cầu Tiên, trong số những Đấng mà ông tiếp xúc có  
một đấng tự xưng là “Cao Đài”. Cũng tại Phú Quốc, Ngô Minh Chiêu  
hai lần bắt gặp Thiên Nhãn. Sau đó, Tiên ông “dạy vẽ Thiên Nhãn y  
như ngài đã thấy mà thờ và xưng tên là: CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI  
BỒ TÁT MA HA TÁT33. Như vậy, Phú Quốc, Kiên Giang được xem  
là nơi khai đạo Cao Đài. Để rồi ngày 18 tháng 11 năm 1926, tại Từ  
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
109  
Lâm Tự (còn gọi là chùa Gò Kén) ấp Long Trung, xã Long Thành,  
huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đạo Cao Đài chính thức được thành  
lập. Ra đời được khoảng 10 năm do những nguyên nhân khác nhau,  
đạo Cao Đài bắt đầu phân rẽ về tổ chức, có lúc lên đến 30 hệ phái,  
trong đó có khoảng 10 hệ phái hoạt động theo đúng chân truyền của  
đạo Cao Đài và tồn tại đến nay. Hiện nay Cao Đài có 10 Hội thánh, 01  
pháp môn tu hành và 21 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập được công  
nhận tổ chức tôn giáo, 2,6 triệu tín đồ, 3 vạn chức việc, 1 vạn chức  
sắc, hơn 1 ngàn cơ sở thờ tự, có phạm vi hoạt động ở 38 tỉnh, thành  
phố, chủ yếu ở Nam Bộ.  
Quá trình phân rẽ hoặc là một chia tách khỏi Tòa Thánh Cao Đài  
Tây Ninh hoặc do một hoặc một vài người đứng đầu lập ra hội thánh  
mới. Trên địa bàn Kiên Giang cùng với sự kiện “mở đạo” của ông Ngô  
Văn Chiêu, lịch sử đạo Cao Đài còn cho biết, giữa năm 1931, tại Rạch  
Giá, ông Nguyễn Văn Ca (Thượng Ca Thanh) tổ chức lễ đặt tên nhóm  
Cao Đài của mình là Cao Đài Minh Lý hội với ý nghĩa làm sáng tỏ chân  
lý đạo Cao Đài. Một năm sau, ông đổi tên thành Hội thánh Cao Đài  
Minh Chơn Lý và chuyển về xây dựng Tòa thánh ở Mỹ Tho.  
Tại Rạch Giá, năm 1936, các ông Tô Bửu Tài, Trương Minh Tòng  
sáng lập ra Cao Đài Bạch Y Liên đoàn Chơn Lý. Hệ phái có tổ đình ở  
Rạch Giá, hoạt động chủ yếu ở Rạch Giá, tồn tại cho đến hiện nay.  
Cao Đài Bạch Y cơ bản hoạt động theo quy định của đạo Cao Đài  
và hành đạo theo Kinh Luật Ngọc Đế chân truyền Tân ước tri nguyên.  
Về tổ chức giáo hội, Cao Đài Bạch Y có chức sắc Hiệp Thiên đài được  
tổ chức giống như Cao Đài Chơn Lý. Hiện Cao Đài Bạch Y có khoảng  
5.000 tín đồ, 14 thánh thất, phạm vi hoạt động ở 4 tỉnh, thành phố.  
Đạo Cao Đài ngoài các hệ phái còn là các pháp tu như Pháp tu  
Chiếu Minh Tam Thanh Vô vi. Pháp tu này có 01 cơ sở ở Kiên Giang.  
Lịch sử pháp tu cho biết ông Ngô Minh Chiêu sau khi có công lớn,  
sáng lập nên Đạo đã không ở lại nhận chức vụ Giáo tông mà tách  
riêng ra về Cần Thơ lập phái Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi thực hiện  
tu tập theo pháp môn “vô vi”, không phổ độ, không thành lập tổ chức  
giáo hội. Pháp tu Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi được xem như cơ  
bản tồn bí pháp của Đức Cao Đài.  
109  
110  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Dưới đây là hiện trạng từng chi phái Cao Đài ở Kiên Giang:  
Cao Đài Tây Ninh: Tổ chức tôn giáo: 01 ban đại diện, 14 tổ chức  
tôn giáo cơ sở. Tín đồ 16.413 người (chiếm 0,96 % dân số toàn tỉnh và  
2,78% tín đồ các tôn giáo), trong đó: nam 6.997, nữ 9416; kinh  
16.379, Khmer 28; Hoa 06, chức sắc 51 người (01 giáo sư, 06 giáo  
hữu, 44 lễ sanh); chức việc 555 người.  
Cao Đài Minh Chơn Đạo: Tổ chức tôn giáo: 01 ban đại diện, 11 tổ  
chức tôn giáo cơ sở. Tín đồ 5.716 người (chiếm 0,33% dân số toàn  
tỉnh và 0,97% tín đồ các tôn giáo), trong đó: Nam 2.306, nữ 3.410;  
Kinh 5.697; Hoa 08; Khmer 11; Chức sắc 108 người (01 chánh phối  
sư, 03 giáo sư, 27 giáo hữu, 77 lễ sanh); chức việc 97 người.  
Cao Đài Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý: Tổ chức tôn giáo: 01 hội  
thánh, 13 tổ chức tôn giáo cơ sở. Tín đồ 3.745 người (chiếm 0,22%  
dân số toàn tỉnh và 0,63% tín đồ các tôn giáo) trong đó: Nam 1.732,  
nữ 1.977; Kinh 3.729; Khmer 15, Hoa 01; Chức sắc 158 người (01  
chánh phối sư, 02 phối sư, 03 tứ bửu, 09 giáo sư, 02 lục đoàn, 32 giáo  
hữu, 109 lễ sanh); chức việc 148 người.  
Cao Đài Ban Chỉnh Đạo: Tổ chức tôn giáo: 02 tổ chức tôn giáo cơ  
sở. Tín đồ 450 người (chiếm 0,02% dân số toàn tỉnh và 0,07 % tín đồ  
các tôn giáo) là dân tộc Kinh, nam 187, nữ 263, chức sắc 38 người (02  
giáo hữu, 36 lễ sanh); chức việc 05 người.  
Cao Đài Tiên Thiên: Tổ chức tôn giáo: 02 tổ chức tôn giáo cơ sở.  
Tín đồ 328 người (chiếm 0,01% dân số toàn tỉnh và 0,05 % tín đồ các  
tôn giáo) là dân tộc Kinh, nam 109, nữ 219; chức sắc 02 lễ sanh; chức  
việc 12 người.  
Cao Đài Chơn Lý: Tổ chức tôn giáo: 02 tổ chức tôn giáo cơ sở.  
Tín đồ 273 người (chiếm 0,01 % dân số toàn tỉnh và 0,04 % tín đồ các  
tôn giáo) là dân tộc Kinh, nam 74, nữ 199, chức sắc 126 (04 phối sư,  
17 giáo sư, 28 giáo hữu, 77 lễ sanh; chức việc 31 người).  
Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô vi: Tổ chức tôn  
giáo: 01 tổ chức tôn giáo cơ sở. Tín đồ: 10 người là dân tộc Kinh, nam  
03, nữ 07, chức việc 03 người(34)  
.
Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Thị Bích Thủy. Đa dạng tôn giáo…  
111  
2.5. Phật giáo Hòa Hảo  
Là một trong những tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ. Phật giáo Hòa  
Hảo ra đời năm 1939 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, Châu Đốc,  
nay là Thị trấn Phú Mĩ, xã Tân Hòa, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.  
Do vị trí địa lý giáp với An Giang nên tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở  
Kiên Giang có mối quan hệ thường xuyên và trực tiếp với tổ đình Phật  
giáo Hòa Hảo (An Giang). Các huyện, thị, thành phố ở Kiên Giang  
đều có tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Tập trung nhất là huyện Hòn Đất, ít  
nhất là Vĩnh Thuận35.  
Số liệu Phật giáo Hòa Hảo ở Kiên Giang đến thời điểm 2017: Tổ  
chức tôn giáo: 01 ban đại diện tỉnh, 37 tổ chức tôn giáo cơ sở (Ban  
Trị sự Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo xã, phường, thị trấn). Tín đồ: 7.675  
người (chiếm 0,45% dân số toàn tỉnh và 1,30% tín đồ các tôn giáo)  
trong đó: nam 3.583, nữ 4.092; Kinh: 7.642, Khmer: 33; chức việc  
243 người.  
2.6. Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn36  
Tà Lơn (Bokor) là nơi khởi nguồn Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.  
Tà Lơn là ngọn núi bắt đầu từ Túkmía, tỉnh Campốt (Campuchia)  
chạy dài đến giáp biên giới Thái Lan. Nơi đây, một số “ông đạo”  
người Việt sau một thời gian “tầm sư học đạo”, “xuống núi” truyền  
đạo, trị bệnh cứu người. Các ông đạo có vai trò trong việc khai sáng  
Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn là: Đạo Lập - Ngọc Thanh - Ngọc Minh  
- Ngọc Đắc - Ngọc An. Ông Nguyễn Ngọc An đến vùng Tà Lơn học  
đạo, quy y với cụ Cử Đa (Nguyễn Thành Đa hiệu là Ngọc Thanh).  
Năm 1915, đạo được thành lập ở Tà Lơn. Cùng năm qua đợt thi tuyển  
hiền tài tín ngưỡng đức độ để xuống núi truyền đạo, dựng chùa,  
Nguyễn Ngọc An đắc đạo và được đứng vào ngôi vị tổ đình Kim  
Quang Thành Tà Lơn, được cử về Việt Nam xây dựng “Bát bửu ngũ  
linh tự”. Nguyễn Ngọc An về Tân Hội (Tân Hiệp, Kiên Giang) khai  
đạo tại Việt Nam vào năm 1921. Chùa An Bình (Kiên Lương, Kiên  
Giang) xây dựng năm 1927, được xem là tổ đình của đạo.  
Khi kênh Xáng Tân Hội - Rạch Giá - Hà Tiên - Miệt Thứ - Cần  
Thơ hoàn thành, hình thành các điểm dân cư hai bờ kênh, ông Nguyễn  
111  
112  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Ngọc An theo đó truyền đạo, lập được 5 chùa và 3 am gọi là “Bát bửu  
và ngũ linh tự”. Tại Kiên Giang có 3 chùa và 1 am, tồn tại cho đến  
ngày nay. Năm 1921 trên kênh Xáng Tân Hội, ông Nguyễn Ngọc An  
dựng một ngôi chùa đặt tên là Tiên An. An Bình Tự là ngôi chùa thứ  
hai và là trung tâm tổ đình của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn. Nam An  
Tự là ngôi chùa thứ tư của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, nhưng là  
ngôi chùa thứ ba trên đất Kiên Giang. Chùa Nam An tọa lạc tại ấp  
Tám Xáng 1, xã Đông Hòa, huyện An Minh.  
Trong số 3 am và 01 cốc đường do ông Nguyễn Ngọc An tạo lập, ở  
Kiên Giang có am Kim Quang, tọa lạc tại Thứ Chín Biểu, huyện An  
Minh.  
Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn được công nhận tư cách pháp nhân  
tháng 11/2016.  
Hiện tại, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn có 4.750 tín đồ (chiếm  
0,27% dân số toàn tỉnh và 0,80% tín đồ các tôn giáo là dân tộc Kinh,  
nam: 2.725, nữ: 2.025).  
2.7. Tứ Ân Hiếu Nghĩa  
Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà  
Lơn, Tứ Ân Hiếu Nghĩa là những tôn giáo thuộc dòng “tôn giáo nội  
sinh”. Tứ Ân Hiếu Nghĩa khai đạo năm 1867. Người sáng lập là Đức  
Bổn Sư (tên thật là Ngô Viện, cũng có khi gọi là Ngô Tư Lợi hoặc  
Năm Thiếp). Quá trình hành đạo của Đức Bổn Sư là quá trình chiêu  
mộ tín đồ, lập thôn ấp, tổ chức cuộc sống cho cộng đồng những người  
khai hoang. Đức Bổn Sư tự nhận Tứ Ân Hiếu Nghĩa là sự nối tiếp Bửu  
Sơn Kỳ Hương.  
Tại Kiên Giang có một cơ sở thờ tự của Tứ Ấn Hiếu Nghĩa nhưng  
vốn trước là cơ sở của Bửu Sơn Kỳ Hương. Cơ sở ở ấp Tân Hòa B, xã  
Tân Hòa, huyện Tân Hiệp. Cơ sở thờ tự vẫn còn 3 chữ Hán đắp nổi:  
Bửu Sơn Tự. Về sau, do chuyển theo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Tự  
chuyển thành cơ sở thờ tự của Tứ Ân Hiếu Nghĩa37.  
Cơ sở thờ tự của đạo là hệ thống các chùa, đình, miếu, tam bửu gia  
và bàn thờ tại gia đình. Chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa khác với chùa Phật  
giáo, đó không phải là nơi tu hành của những người cắt ái ly gia mà là  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 29 trang baolam 25980 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đa dạng tôn giáo ở Tây Nam Bộ (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Kiên Giang)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfda_dang_ton_giao_o_tay_nam_bo_nghien_cuu_truong_hop_tinh_kie.pdf