Thực hiện quyền an sinh xã hội về nhập học, bảo lưu và miễn giảm học phí cho người dân thông qua hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thực hiện quyền an sinh xã hội về nhập học,
bảo lưu và miễn giảm học phí cho người dân
thông qua hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp
Nguyễn Thị Kim Hoa1*, Mai Linh1, Nguyễn Trung Hải2
1Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
2Trường Đại học Lao động - Xã hội
Ngày nhận bài 18/12/2020; ngày chuyển phản biện 21/12/2020; ngày nhận phản biện 28/1/2021; ngày chấp nhận đăng 8/2/2021
Tóm tắt:
Trên cơ sở coi đầu tư cho giáo dục là trọng tâm của sự phát triển, Đảng và Nhà nước đã huy động các chủ thể xã hội,
trong đó có nhân viên công tác xã hội (CTXH) tham gia trợ giúp người dân thực hiện quyền an sinh xã hội (ASXH)
về giáo dục. Quan điểm, chủ trương và hành động chỉ đạo của Đảng và Nhà nước phù hợp với nguyện vọng của
người dân khi có tới 40% nhu cầu được nhân viên CTXH can thiệp trợ giúp. Sự tham gia của nhân viên CTXH có ý
nghĩa tích cực trong kết nối người dân với chính sách và đưa chính sách vào cuộc sống, bởi có tới 80% số người dân
được can thiệp trợ giúp đã thụ hưởng quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn giảm học phí.
Từ khóa: công tác xã hội, giáo dục, quyền an sinh xã hội.
Chỉ số phân loại: 5.4
về chế độ trợ giúp xã hội dành cho các nhóm bảo trợ xã hội
cũng nêu rõ các khoản trợ cấp giáo dục đảm bảo quyền đi học
của người dân... Nội dung quy định trong các văn bản pháp lý
này yêu cầu phổ cập giáo dục đến toàn dân, đề cập rõ người dân
có quyền được đi học, được bảo lưu kết quả học tập, và những
trường hợp khó khăn được miễn giảm học phí. Tuy nhiên, nhận
thức của người dân liên quan đến các quyền này còn chưa đầy
đủ, do công tác thông tin và việc triển khai chính sách còn một
số hạn chế, bất cập. Nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng “lọt
lưới” chính sách của một bộ phận dân cư, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010
phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020.
Theo tinh thần đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã
ban hành Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH quy định về tiêu
chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên CTXH xã, phường, thị trấn;
Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH về tiêu chuẩn đạo đức
nghề nghiệp đối với người làm CTXH; đồng thời, Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 33/2018/TT-BGDĐT ngày
26/12/2018 về hướng dẫn tổ chức các hoạt động CTXH trong
trường học. Thực tiễn pháp lý này đã góp phần thúc đẩy hoạt
động CTXH tại Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực giáo dục
nói riêng.
Đặt vấn đề
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc
gia trên thế giới thì giáo dục luôn chiếm một vị trí quan trọng,
bởi lẽ đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển, trong đó,
đầu tư cho giáo dục là trọng tâm của đầu tư vào con người.
Đây được coi là xu thế nhận thức chung về đầu tư cho phát
triển giáo dục. Trong xu thế này, Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cũng nêu rõ tầm
quan trọng của phát triển giáo dục, coi đây là cửa khẩu đột phá
phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, trong đó
khẳng định rõ quan điểm: Phát triển giáo dục phải thực sự là
quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của
toàn dân; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển; thực hiện
các chính sách ưu đãi đối với giáo dục, ưu tiên ngân sách nhà
nước dành cho phát triển giáo dục phổ cập và các đối tượng
đặc thù...
Trong bối cảnh phát triển lấy con người là trung tâm, là
động lực và cũng là mục đích hướng tới, nhiều chính sách đảm
bảo quyền ASXH về giáo dục, bao gồm quyền nhập học, bảo
lưu và miễn giảm học phí cho người dân được ban hành, chẳng
hạn như: Luật Giáo dục; Văn bản hợp nhất về ưu đãi xã hội
dành cho người có công với cách mạng, trong đó có chế độ ưu
Do vậy, thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và
miễn giảm học phí cho người dân thông qua hoạt động CTXH
chuyên nghiệp trở nên thiết yếu và góp phần thúc đẩy sự phát
đãi giáo dục dành cho bản thân và thân nhân; Văn bản hợp nhất triển ổn định và bền vững của xã hội.
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]
17
63(4) 4.2021
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Exercising the right to social protection
in terms of admission, reservation, and tuition
exemption or reduction for the people
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động CTXH chuyên nghiệp
trong hỗ trợ người dân thực hiện quyền ASXH về nhập học,
bảo lưu và miễn giảm học phí.
through professional social work activities
Phương pháp nghiên cứu
Thi Kim Hoa Nguyen1*, Linh Mai1, Trung Hai Nguyen2
Bài viết này được thực hiện dựa trên kết quả khảo sát của
đề tài cấp nhà nước về “Thực hiện quyền ASXH của người dân
thông qua hoạt động CTXH chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện
nay” - mã số KX.01.36/16-20.
1University of Social Sciences and Humanities,
Vietnam National University, Hanoi
2University of Labour and Social Affairs
Địa bàn khảo sát, cỡ mẫu, cách chọn mẫu: bằng phương
pháp lựa chọn địa bàn có chủ đích, nhóm nghiên cứu chọn ra
7 tỉnh/thành phố là Hà Nội, Quảng Ninh, Hoà Bình, Đà Nẵng,
Bến Tre, Đắc Lắc và TP Hồ Chí Minh, từ 4/2018 đến 5/2020
(bảng 1). Việc lựa chọn này có tính đến các yếu tố sau: là địa
bàn đã triển khai nhiều hoạt động tập huấn, hội thảo và tuyên
truyền về CTXH; các xã/phường được lựa chọn đều có cán bộ
tốt nghiệp chuyên ngành CTXH làm cán bộ văn hoá xã hội.
Những người này nắm chắc văn bản, chính sách và thường
xuyên hỗ trợ các đối tượng của CTXH.
Received 18 December 2020; accepted 8 February 2021
Abstract:
Based on considering the investment in education as
the focus of development, the Party and Government
mobilise the participation of social actors, including
social workers to help people to exercise the right to
social protection in terms of education. The Party’s and
Government’s point of view, guidelines, and actions are in
line with the aspirations of the people when up to 40% of
them need to receive assistance from social workers. The
participation of social workers has a positive meaning in
connecting people with policies and bringing policies to
life because up to 80% of people who receive assistance
have enjoyed the right of social protection on admission,
reservation, and tuition reduction or exemption.
Bằng phương pháp xác định cỡ mẫu phi xác xuất, nhóm
nghiêncứuxâydựngđịnhmứckhảosátlà2.100ngườidânvà300
nhân viên CTXH. Theo đó, mỗi xã/phường khảo sát 150 người
dân và mỗi tỉnh/thành phố khảo sát 40-45 nhân viên CTXH.
Bảng 1. Cơ cấu mẫu khảo sát tại 7 tỉnh/thành phố.
Số lượng
Số lượng
người dân
Keywords: education, social protection’ right, social
work.
STT
Tỉnh
Huyện, xã
nhân viên
CTXH
Xã Yang Tao, huyện Lắc
150
150
150
150
150
150
150
150
150
150
150
150
150
150
2100
1
2
3
4
5
6
7
Đắc Lắc
40
45
40
45
45
45
Classification number: 5.4
Phường Tân Lập, TP Buôn ma Thuột
Phường Cẩm Bình, TP Cẩm Phả
Phường Hồng Gai, TP Hạ Long
Xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi
Quảng Ninh
Hòa Bình
Hà Nội
Xã Yên Lập, huyện Cao Phong
Thị trấn Vân Đình, huyện ꢀng Hòa
Phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm
Phường Phú Trung, quận Tân Phú
Phường 6, quận 5
TP Hồ Chí
Minh
Phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê
Phường Nam Dương, quận Hải Châu
Phường Phú Khương, TP Bến tre
Phường 6, TP Bến Tre
Đà Nẵng
Bến Tre
40
Tổng chung
300
Các biến số được vận dụng cho mục đích thu thập thông
tin bao gồm: nhận thức, nhu cầu của người dân liên quan đến
quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn giảm học phí cho
người dân, sự tham gia hỗ trợ, cách thức hỗ trợ và kết quả can
thiệp của nhân viên CTXH, cũng như biến số đo lường về sự
hài lòng của người dân.
Kỹ thuật, công cụ và quy trình thu thập số liệu: tại mỗi tỉnh/
thành phố được lựa chọn khảo sát, nhóm nghiên cứu tổ chức
63(4) 4.2021
18
Khoa học Xã hội và Nhân văn
các phiên toạ đàm với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội về dục” - được ghi nhận tại Điều 28 của Công ước Liên hợp quốc
nội dung liên quan đến hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong về quyền trẻ em năm 1989 [2], Việt Nam đã ban hành Luật Trẻ
thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn giảm học em năm 2016. Luật này nhấn mạnh: “trẻ em có quyền được
phí cho người dân. Sau đó, nhóm nghiên cứu lựa chọn cán bộ giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất
của tỉnh, huyện, xã đã qua đào tạo và làm việc liên quan đến tiềm năng của bản thân” (Điều 16, Khoản 1) [3].
CTXH để thực hiện các phiếu phỏng vấn. Tiếp theo, tại mỗi xã/
Khái niệm hoạt động CTXH chuyên nghiệp: Đại hội đồng
phường khảo sát, nhóm nghiên cứu lập danh sách theo tổ khu
của Hiệp hội nhân viên CTXH quốc tế (IFSW) và Hiệp hội
phố và thôn xóm, từ đó chọn ra 150 người dân theo bước nhảy
quốc tế các trường đào tạo CTXH (IASSW) đã có định nghĩa
k (khoảng cách hằng định). Điều tra viên là tổ trưởng dân phố/
thống nhất toàn cầu về CTXH chuyên nghiệp như sau: “CTXH
trưởng thôn hoặc cán bộ hội phụ nữ đã được tập huấn về bảng
là một ngành khoa học và là nghề thực hành thúc đẩy nâng cao
hỏi và kỹ thuật khảo sát. Mỗi điều tra viên thực hiện khảo sát
năng lực, sự tự do, liên kết xã hội, thay đổi xã hội và phát triển.
10 người dân trong tổ/thôn do mình phụ trách. Toàn bộ nhóm
Nguyên tắc chủ đạo của CTXH là tôn trọng sự đa dạng, trách
khách thể đều được giải thích đầy đủ ý nghĩa của cuộc khảo sát,
nhiệm tập thể, quyền con người và công bằng xã hội. Trên nền
được nhận thù lao cho việc trả lời, đồng thời có quyền bỏ cuộc
tảng lý thuyết CTXH, khoa học xã hội, kiến thức bản địa và nhân
giữa chừng nếu nhận thấy có những câu hỏi ảnh hưởng tiêu
văn, CTXH kết nối nhân dân và tổ chức để bày tỏ những thách
cực đến cuộc sống, hay làm lộ bí mật đời tư cá nhân. Thông tin
thức trong cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống” [4].
thu được đảm bảo khách quan và đủ độ tin cậy. Các số liệu thu
được được xử lý theo chương trình SPSS 22.0.
Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, CTXH hướng đến trọng
tâm giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các
chức năng đạt được các giá trị phù hợp trong xã hội. Nhân viên
CTXH có những vai trò dưới đây [5-8]:
Kết quả chꢀnh
Kết quả của nghiên cứu này là những phát hiện về hoạt động
can thiệp CTXH chuyên nghiệp trong trợ giúp người dân thực
hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn giảm học phí.
- Người tạo khả năng: nhằm trợ giúp thân chủ nhận thức và
phát huy khả năng của bản thân để giải quyết vấn đề gặp phải.
Khái niệm quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn
giảm học phí và hoạt động CTXH chuyên nghiệp
- Người điều phối - kết nối dịch vụ: thông qua đánh giá,
chẩn đoán các vấn đề và nguồn lực của thân chủ, nhân viên
CTXH tiến hành điều phối, cung cấp các dịch vụ phù hợp.
Khái niệm quyền ASXH, thực hiện quyền ASXH về nhập
học, bảo lưu và miễn giảm học phí: theo tuyên bố trong các
công ước quốc tế thì quyền ASXH là một quyền con người cơ
bản, được ghi nhận và bảo đảm trong hệ thống luật nhân quyền
quốc tế cũng như hệ thống luật của các quốc gia và khu vực;
là một quyền con người thuộc nhóm quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa; là quyền được cụ thể hóa trong hệ thống các văn bản
chính sách ASXH [1].
- Người giáo dục: trợ giúp thân chủ thích ứng với khó khăn
thông qua các biện pháp tập huấn, cung cấp kiến thức, kỹ năng
chăm sóc, bảo vệ bản thân.
- Người biện hộ: bảo vệ nhu cầu chính đáng của thân chủ.
- Người tạo môi trường thuận lợi: thông qua việc cải thiện
và nâng cao chất lượng mối quan hệ giữa con người và hệ
thống xung quanh.
Như vậy, quyền ASXH có nghĩa là sự cụ thể hóa quyền
vào hệ thống chính sách ASXH nhằm bảo vệ cuộc sống cho
người dân ở ngưỡng an toàn, hòa nhập và phát triển, và thực
hiện quyền ASXH nghĩa là hiện thực hóa các quyền của người
dân được ghi nhận trong hệ thống chính sách ASXH hiện hành.
Theo logic này, quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn
giảm học phí là những quyền được cụ thể hóa trong hệ thống
chính sách ASXH về giáo dục, chúng quy định đối tượng thụ
hưởng, điều kiện thụ hưởng và đơn vị chịu trách nhiệm thực
hiện nhằm bảo vệ quyền được đi học, được hòa nhập vào môi
trường giáo dục và được phát triển trong môi trường giáo dục
của người dân. Tương tự, thực hiện quyền ASXH về nhập học,
bảo lưu và miễn giảm học phí nghĩa là hiện thực hóa các quyền
của người dân được ghi nhận trong hệ thống chính sách ASXH
hiện hành về giáo dục cơ bản.
- Người đánh giá và giám sát: đánh giá và giám sát những
vấn đề trong cuộc sống hàng ngày của thân chủ, từ đó xây dựng
các kế hoạch can thiệp phù hợp.
Bên cạnh đó, yếu tố chuyên nghiệp trong CTXH ở Việt
Nam cần được hiểu khác với yếu tố chuyên nghiệp của các
quốc gia có nền CTXH phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Pháp...,
bởi lẽ CTXH tại các quốc gia này đã có bề dày phát triển hơn
100 năm, còn ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới thông
qua chương trình đào tạo cử nhân CTXH từ năm 2004. Do
vậy, CTXH ở Việt Nam hiện còn đang trong giai đoạn đầu
của quá trình chuyên nghiệp hóa, đồng thời tồn tại tình trạng
tác nghiệp đan xen giữa nhân viên CTXH chuyên nghiệp, bán
chuyên nghiệp và không chuyên [4, 9], trong đó: nhân viên
CTXH chuyên nghiệp là người được đào tạo bài bản; nhân viên
CTXH bán chuyên nghiệp là người được đào tạo/tập huấn ngắn
hạn; nhân viên CTXH không chuyên là những người tích lũy
Trong bối cảnh thực tiễn của xã hội thì quyền ASXH về
nhập học, bảo lưu và miễn giảm học phí là quyền dành cho toàn
dân, nhưng đối tượng thụ hưởng chủ yếu là trẻ em trong độ tuổi được nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn, song chưa từng được đào
đi học. Do vậy, dựa theo quy định “trẻ em có quyền được giáo tạo về CTXH.
19
63(4) 4.2021
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Theo đó, trong nội dung nghiên cứu này thì “hoạt động nhất, qua đó giảm thiểu chi phí sinh hoạt của hộ gia đình, đồng
CTXH chuyên nghiệp được hiểu là những hoạt động do nhân thời bảo đảm cho con/cháu được tiếp cận và thực hiện quyền đi
viên CTXH thực hiện, nhằm hỗ trợ người dân thực hiện quyền học. Trong khi đó, TP Hồ Chí Minh là địa bàn có trình độ phát
ASXH, bao gồm quyền về nhập học, bảo lưu và miễn giảm triển kinh tế vào bậc nhất của Việt Nam nên người dân nơi này
học phí, dù đó là những hoạt động do nhân viên CTXH chuyên có nhu cầu được trợ giúp là thấp nhất (18, 13,7 và 21%). Tại Hà
nghiệp/bán chuyên nghiệp hay không chuyên tiến hành”.
Nội, người dân có nhu cầu được hỗ trợ thực hiện quyền đi học
kể cả khi trái tuyến (52,7%) cao hơn so với nhu cầu được hỗ
trợ bảo lưu kết quả học tập (23,0%) và hỗ trợ thực hiện quyền
miễn giảm học phí (12,3%) mà nguyên nhân có thể bắt nguồn
từ việc đầu tư chọn trường/chọn lớp cho con. Điều này tạo ra
thách thức lớn đối với việc phát triển và phân bổ nhân viên
CTXH theo địa bàn.
Nhu cầu, thực trạng và kết quả can thiệp thực hiện quyền
ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn giảm học phí cho người
dân thông qua hoạt động CTXH chuyên nghiệp
Nhu cầu thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và
miễn giảm học phí của người dân: Luật Giáo dục 2005, 2009,
2019, cũng như Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-
2020 đều đề cập đến việc thực hiện phổ cập giáo dục, từ mầm
non đến tiểu học, lên trung học cơ sở và dần mở rộng phạm vi
phổ cập lên các bậc học cao hơn. Điều này có nghĩa: đi học là
quyền của người dân và người đi học được quyền nhập học
đúng tuyến (theo hộ khẩu) và một số trường hợp không đúng
tuyến (không theo hộ khẩu) nếu họ di chuyển đến vùng cư trú
mới mà không có khả năng theo học ở vùng cư trú trước đây.
Những trường hợp gặp khó khăn được hỗ trợ bảo lưu kết quả
học tập, hoặc miễn giảm học phí. Thực tế cho thấy, sự phổ cập
của các loại hình giáo dục, sự quan tâm đầu tư của các hộ gia
đình trong giai đoạn gần đây đã phát huy tác dụng tích cực
trong việc đảm bảo quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn
giảm học phí. Nhưng tỷ lệ người dân có nhu cầu được hỗ trợ
thực hiện các quyền này thông qua hoạt động CTXH chuyên
nghiệp còn lớn, chiếm tới 38,1% với quyền đi học kể cả khi
trái tuyến, 32,5% với quyền bảo lưu kết quả học tập và 33,7%
với quyền miễn giảm học phí (biểu 1). Điều này cho thấy vai
trò ngày càng quan trọng của nhân viên CTXH dù rằng năng
lực của họ chưa thể thỏa mãn nhu cầu thiết yếu về giáo dục của
người dân trong giai đoạn hiện nay.
Thực trạng thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và
miễn giảm học phí của người dân thông qua hoạt động CTXH
chuyên nghiệp: kết quả khảo sát cho thấy sự tham gia tích cực
của nhân viên CTXH vào hỗ trợ người dân thực hiện quyền đi
học, bảo lưu và miễn giảm học phí (biểu 2). Trong đó tập trung
cao nhất vào hoạt động hỗ trợ người dân thực hiện quyền miễn
giảm học phí (65,0%), kế tiếp là quyền đi học, kể cả khi trái
tuyến (42,3%) và cuối cùng là quyền bảo lưu kết quả học tập vì
lý do bất khả kháng (38,7%).
Biểu 2. Hỗ trợ thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn giảm
học phí cho người dân thông qua hoạt động CTXH chuyên nghiệp.
Nguồn: kết quả khảo sát của đề tài, 2019.
So sánh sự can thiệp trợ giúp người dân thực hiện quyền đi
học, bảo lưu và miễn giảm học phí cho thấy sự khác biệt không
đáng kể giữa hoạt động của nhân viên CTXH chuyên nghiệp
so với hoạt động của nhân viên CTXH bán chuyên nghiệp và
không chuyên. Nhân viên CTXH chuyên nghiệp có thể can
thiệp nhiều hơn vào hoạt động đảm bảo thực hiện quyền đi học,
kể cả khi trái tuyến (47,8%), nhưng can thiệp thấp hơn vào hoạt
động đảm bảo thực hiện quyền bảo lưu kết quả học tập vì lý
do bất khả kháng (34,8%). Nhìn chung, sự can thiệp của nhân
viên CTXH chuyên nghiệp có vai trò tích cực trong việc trợ
giúp người dân thực hiện quyền ASXH về giáo dục, nhưng vai
trò đó chưa thực sự nổi bật so với vai trò của nhân viên CTXH
bán chuyên nghiệp và không chuyên. Theo lý giải của nhân
viên CTXH chuyên nghiệp, nhờ được đào tạo bài bản nên họ
không gặp nhiều hạn chế trong việc hỗ trợ người dân thực hiện
quyền ASXH về giáo dục, song trong bối cảnh thực tiễn hiện
nay là nhân viên CTXH chuyên nghiệp thường làm việc dưới
quyền của những người không chuyên/bán chuyên nghiệp, họ
Biểu 1. Nhu cầu thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn giảm
học phí của người dân thông qua hoạt động CTXH chuyên nghiệp.
Nguồn: kết quả khảo sát của đề tài, 2019.
Tuy nhiên, nhu cầu cần đến sự hỗ trợ thực hiện quyền của
người dân thông qua hoạt động CTXH chuyên nghiệp còn có
sự khác biệt lớn giữa các địa phương. Với đặc thù là 2 tỉnh có
trình độ phát triển kinh tế thấp hơn so với mặt bằng chung,
đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn nên Hòa Bình
(65,7, 69,3 và 89,7%) và Đắc Lắk (46,7, 49,3 và 46,3%) là chịu sự chi phối từ các quyết định chỉ đạo của cấp trên. Do vậy,
những nơi mà người dân có nhu cầu được can thiệp trợ giúp lớn nhiều trường hợp không thể phát huy vai trò tích cực của bản
63(4) 4.2021
20
Khoa học Xã hội và Nhân văn
thân. Thực tiễn này được minh chứng qua trích đoạn phỏng vấn hoặc tỷ lệ thụ hưởng quyền miễn giảm học phí là 93,0 so với
sâu sau đây: “thuận lợi là tôi được đào tạo đúng chuyên ngành
CTXH nên biết cách hỗ trợ họ [người dân], nhưng hạn chế là
tôi không được phát huy hết kiến thức đã học. Nhiều người
chưa từng được đào tạo bài bản, dài hạn về CTXH, nhưng họ
là cấp trên, họ chỉ đạo sao thì cấp dưới làm theo vậy, không
thể khác được. Nếu làm khác thì sẽ bị phê bình, kể cả là có làm
tốt hơn thì cũng không được ủng hộ” (trích đoạn phỏng vấn sâu
nhân viên CTXH chuyên nghiệp ở Quảng Ninh).
74,6%. Tuy nhiên, sự can thiệp trợ giúp của nhân viên CTXH
bán chuyên nghiệp dường như còn đạt mức độ hiệu quả cao
hơn so với nhân viên CTXH chuyên nghiệp, bởi người dân
được hỗ trợ có tỷ lệ thụ hưởng các quyền này lên tới 92,6,
85,7 và 94,4% (bảng 2). Thực tế đó là do nhân viên CTXH
bán chuyên nghiệp thường là những người làm việc lâu năm
ở vị trí của người hỗ trợ chính sách cho người dân, nhờ vậy
họ hiểu rõ về chính sách hơn so với nhân viên CTXH chuyên
nghiệp, thường là những người vừa được tuyển dụng. Sự hiểu
biết hơn về mặt chính sách, cộng thêm với những kiến thức/
kỹ năng CTXH được trang bị thông qua những khóa đào tạo/
tập huấn ngắn hạn, cùng với kinh nghiệm thực tiễn được tích
lũy theo thời gian là những lợi thế giúp cho nhân viên CTXH
bán chuyên nghiệp can thiệp hiệu quả hơn. “Tôi làm việc ở vị
trí này lâu rồi, tôi luôn hiểu rõ đối tượng của mình là ai, chế
độ mà họ được hưởng là gì. Chỉ cần nghe họ trình bày hoàn
cảnh là tôi nắm được vấn đề ngay. Tìm hiểu thêm mà thấy họ
được hưởng chế độ nào thì tôi làm chế độ đó cho họ. Những
trường hợp mà không đủ điều kiện thì tôi tư vấn để họ không
làm hồ sơ nữa. Tôi có hiểu biết chính sách, có kinh nghiệm làm
việc, lại được học thêm về các kỹ năng CTXH nữa. Như vậy,
những trường hợp mà tôi hỗ trợ thì đều thường được hưởng"
(trích đoạn phỏng vấn sâu nhân viên CTXH bán chuyên nghiệp
ở Đắc Lắc).
Kết quả thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và
miễn giảm học phí của người dân thông qua hoạt động CTXH
chuyên nghiệp: kết quả khảo sát cho thấy, số người dân nhận
được sự trợ giúp từ phía nhân viên CTXH được thụ hưởng
các quyền ASXH về giáo dục chiếm tỷ lệ lớn, lên tới 80% với
quyền đi học, kể cả khi trái tuyến; 78,4% với quyền bảo lưu kết
quả học tập vì lý do bất khả kháng (ốm đau, biến cố bất ngờ...)
và 86,5% với quyền miễn giảm học phí (bảng 2). Điều này cho
thấy CTXH có vai trò quan trọng thúc đẩy thực hiện quyền
ASXH về giáo dục của người dân.
Bảng 2. Kết quả hỗ trợ thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và
miễn giảm học phí cho người dân thông qua hoạt động CTXH.
Nhân viên CTXH
chuyên nghiệp
Nhân viên CTXH
bán chuyên nghiệp
Nhân viên
không chuyên
Tổng
Về thụ hưởng quyền đi học, kể cả khi trái tuyến
Có
92,5
0,0
92,6
3,7
60,5
2,3
80,0
1,8
Không
Tỷ lệ người dân thừa nhận được thụ hưởng quyền nhập học,
bảo lưu và miễn giảm học phí sau khi nhận được sự can thiệp trợ
giúp của nhân viên CTXH cũng đạt mức ấn tượng. Theo đó, số
người được thụ hưởng quyền đi học, kể cả khi trái tuyến lên tới
76,2%, quyền bảo lưu kết quả học tập vì lý do bất khả kháng lên
tới 69,6% và quyền miễn giảm học phí lên tới 76,6% (bảng 3).
Đang đợi
kết quả
7,5
3,7
37,2
18,2
N
40
27
43
110
Về thụ hưởng quyền bảo lưu kết quả học tập vì lý do bất khả kháng (ốm đau, biến cố bất ngờ...)
Có
88,9
0,0
85,7
3,6
70,5
3,3
78,4
2,6
Không
Đang đợi
kết quả
11,1
10,7
26,2
19,0
Bảng 3. Kết quả hỗ trợ người dân thực hiện quyền nhập học, bảo lưu và
miễn giảm học phí thông qua hoạt động CTXH chuyên nghiệp.
N
27
28
61
116
Về thụ hưởng quyền miễn giảm học phí
Quảng
Ninh
Hòa
Bình
Đà
Nẵng
TP Hồ Chí
Minh
Bến
Tre
Đắk
Lắk
Có
93,0
0,0
94,4
1,9
74,6
1,5
86,5
1,1
Hà Nội
Tổng
Không
Về thụ hưởng quyền đi học, kể cả khi trái tuyến
Đang đợi
kết quả
Có
75,0
25,0
76,7
10,0
81,9
15,4
100,0
0,0
77,8
7,4
85,5
13,3
52,9
16,8
76,2
13
7,0
3,7
23,9
12,4
Không
Đang đợi
kết quả
N
N
57
54
67
178
0,0
13,3
2,7
0,0
14,8
1,2
30,3
10,8
Nguồn: kết quả khảo sát của đề tài, 2019.
8
60
149
46
27
83
119
492
So sánh tương quan giữa nhân viên CTXH chuyên nghiệp
với nhân viên CTXH bán chuyên nghiệp và không chuyên cho
thấy tồn tại sự khác biệt về mặt hiệu quả của các biện pháp
trợ giúp người dân thực hiện quyền ASXH về giáo dục. Thực
tế cho thấy, sự can thiệp của nhân viên CTXH chuyên nghiệp
giúp cho người dân dễ dàng thụ hưởng quyền cao hơn so với
sự trợ giúp của nhân viên không chuyên. Tỷ lệ người dân thụ
hưởng quyền đi học, kể cả khi trái tuyến sau khi được nhân
viên CTXH chuyên nghiệp hỗ trợ lên tới 92,5%, trong khi đó,
tỷ lệ này ở phía nhân viên không chuyên mới đạt 60,5%. Tương
tự, tỷ lệ thụ hưởng quyền bảo lưu kết quả học tập vì lý do bất
khả kháng (ốm đau, biến cố bất ngờ...) đạt 88,9 so với 70,5%;
Về thụ hưởng quyền bảo lưu kết quả học tập vì lý do bất khả kháng
Có
69
31
54,5
26,1
87,8
8,2
84,4
15,6
75,0
25,0
92,6
4,9
42,6
24,3
69,6
18,0
Không
Đang đợi
kết quả
0,0
19,3
4,1
0,0
0,0
2,5
33,1
12,4
N
58
88
147
45
28
81
148
595
Về thụ hưởng quyền miễn giảm học phí
Có
80,0
20,0
47,8
27,8
96,1
2,6
84,8
12,1
87,2
12,8
92,3
4,6
48,5
20,5
76,6
12,2
Không
Đang đợi
kết quả
0,0
24,4
1,3
3,0
0,0
3,1
31,1
11,2
N
20
90
229
33
47
65
132
616
Nguồn: kết quả khảo sát của đề tài, 2019.
21
63(4) 4.2021
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tỷ lệ người dân được thụ hưởng cao nhất là Đà Nẵng với 80% được tiếp cận và thụ hưởng quyền được ghi nhận trong
quyền đi học, kể cả khi trái tuyến (100,0%), Bến Tre với quyền hệ thống ASXH về giáo dục. Thực tế này minh chứng vai trò
bảo lưu kết quả học tập vì lý do bất khả kháng (92,6%) và Hòa
Bình với quyền miễn giảm học phí (96,1%). Địa bàn có tỷ lệ
người dân được thụ hưởng các quyền tương ứng này ở mức
thấp nhất thuộc về Đắk Lắk (52,9, 42,6 và 48,5%), nhưng kết
quả đạt được này cũng phản ánh sự can thiệp khá hiệu quả của
đội ngũ nhân viên CTXH trong việc trợ giúp người dân ở nơi
đây thụ hưởng quyền ASXH về giáo dục (bảng 3). Sự khác
biệt về kết quả can thiệp theo địa bàn nêu trên dường như bắt
nguồn từ chính năng lực thực hiện hồ sơ của người dân. Theo
kết quả phỏng vấn sâu nhân viên CTXH ở Đắk Lắk thì kết quả
can thiệp đạt hiệu quả thấp là do nhiều trường hợp không có đủ
giấy tờ cần thiết, hoặc do người dân chỉ tham gia nửa chừng rồi
bỏ cuộc, hay mải đi làm kinh tế mà không quan tâm. Điều này
được minh chứng qua trích đoạn phỏng vấn sâu sau đây: “Ở
chỗ tôi thì nhận thức của người dân còn thấp. Họ cũng không
quan tâm, không coi trọng chuyện đi học của con. Tôi có muốn
đến giúp họ thì họ cũng coi như đấy là việc của tôi. Có trường
hợp thì không giữ giấy tờ khai sinh. Bảo họ đi làm lại thì họ
ngại. Có trường hợp thì nói họ còn phải đi làm kiếm tiền, không
có thời gian. Có trường hợp cứ uống rượu vào là quên hết, bỏ
hết, nói thế nào cũng không làm nữa. Như vậy thì làm sao mà
tôi có thể giúp họ hết được. Họ bỏ cuộc thì tôi cũng đành thôi
chứ biết làm sao”.
quan trọng của nhân viên CTXH trong việc kết nối người dân
với chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống. Hiệu quả của
các biện pháp can thiệp trợ giúp này là nhân tố tích cực thúc
đẩy mở rộng vai trò của nhân viên CTXH theo hướng chuyên
nghiệp, phổ cập rộng khắp trong các giai đoạn tiếp theo. Thực
tế cũng cho thấy sự cần thiết của việc thiết kế, thực thi các
chính sách khuyến khích, thúc đẩy phát triển hoạt động CTXH
trong lĩnh vực giáo dục nhằm nâng cao cơ hội cho người dân
thực hiện quyền đi học.
LỜI CẢM ƠN
Bài báo là kết quả khảo sát của đề tài cấp nhà nước “Thực
hiện quyền ASXH của người dân thông qua hoạt động CTXH
chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, mã số KX.01.36/16-
20, thuộc chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước
KX.01/16-20 “Nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa
học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”. Các
tác giả xin trân trọng cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đại hội đồng Liên hợp quốc (1966), Công ước quốc tế các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa (được thông qua và để ngỏ cho các nước ký, phê chuẩn
và gia nhập theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966; có hiệu lực từ
ngày 03/01/1976, căn cứ theo Điều 27; Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982).
Kết luận
[2] Liên hợp quốc (1989), Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em.
[3] Quốc hội Việt Nam (2016), Luật Trẻ em.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhu cầu được can thiêp trợ
giúp thực hiện quyền ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn
giảm học phí thông qua hoạt động CTXH là nhu cầu thiết thực
(khoảng gần 40% người dân có nhu cầu này). Thực tế đó phản
ánh sự quan tâm cao của xã hội dành cho giáo dục. Nhận thức
xã hội đó phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước “coi
đầu tư cho giáo dục là cửa khẩu đột phá phát triển nhanh nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội với hàm lượng tri thức ngày càng
tăng”. Trên cơ sở coi đầu tư cho giáo dục là trọng tâm của sự
phát triển, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo quyết liệt đối với việc
thực hiện phổ cập giáo dục, mở rộng cơ hội học tập cho người
dân, đồng thời huy động sự tham gia của các chủ thể xã hội vào
can thiệp trợ giúp người dân thực hiện quyền ASXH về giáo
dục, trong đó có sự tham gia của nhân viên CTXH.
[4] IFSW (2014), Global Definition of Social Work. International
global-definition-of-social-work/, truy cập ngày 2/2/2020.
[5] Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa (đồng chủ biên) (2015),
Giáo trình Công tác xã hội đại cương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
[6] Jo Moriarty, et al. (2011), “Making the transition: comparing research
on newly qualified social workers with other professions”, British Journal of
Social Work, 41(7), pp.1340-1356.
[7] Kana Matsuo (2012), “Asian and pacific association for social work
education (APASWE) social work research institute Asian center for welfare
in society (ACWelS)”, Japan College of Social Work, Waseda University,
Tokyo, Japan.
[8] Saidou Ouedraogo (2017), Consultation nationale sur le rôle du
travailleur social et les compétences clés pour un meilleur accompagnement
des enfants et leur famille, Terre des hommes, Suisse.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, đội ngũ nhân viên CTXH
đã tham gia tích cực vào trợ giúp người dân thực hiện quyền
ASXH về nhập học, bảo lưu và miễn giảm học phí. Trong số
những người được nhân viên CTXH can thiệp trợ giúp, có tới
[9] Dhavaleshwar (2016), “The role of social worker in community
development”, International Research Journal of Social Sciences, 5(10),
pp.61-63.
63(4) 4.2021
22
Bạn đang xem tài liệu "Thực hiện quyền an sinh xã hội về nhập học, bảo lưu và miễn giảm học phí cho người dân thông qua hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_hien_quyen_an_sinh_xa_hoi_ve_nhap_hoc_bao_luu_va_mien_g.pdf

