Vốn sinh kế và giải pháp nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa bàn xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang

20  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
Vốn sinh kế và giải pháp nâng cao thu nhập cho nông hộ  
trên địa bàn xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang  
Livelihood assets and solutions for improving households’ income  
in new rural areas of Hau Giang Province  
Võ Hồng Tú1, Nguyễn Thuỳ Trang1*  
1Khoa Phát triển Nông thôn, Trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: n[email protected].vn  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
soci.vi.16.2.1899.2021  
Xây dựng nông thôn mới là một trong những chương trình  
trọng điểm với mục tiêu phát triển toàn diện khu vực nông thôn.  
Hậu Giang là tỉnh đi đầu ở Đồng bằng sông Cửu Long về thực  
hiện nông thôn mới. Do vậy, nghiên cứu thực hiện điều tra 458  
quan sát tại Hậu Giang để tìm hiểu nguồn vốn sinh kế và so sánh  
sánh nguồn vốn sinh kế ở các nhóm xã có kết quả xây dựng nông  
thôn mới khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung  
năm nguồn vốn sinh kế nông hộ ở nhóm xã hoàn thành tốt là cao  
hơn so với các nhóm xã còn lại. Kết quả hồi quy đa biến cho thấy  
có 04 yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa và tỷ lệ thuận đến thu nhập  
nông hộ, gồm diện tích đất của nông hộ, tình hình vốn vay, nhân  
khẩu trong gia đình và nhóm xã hoàn thành tốt xây dựng nông  
thôn mới.  
Ngày nhận: 27/05/2021  
Ngày nhận lại: 24/06/2021  
Duyệt đăng: 19/07/2021  
Từ khóa:  
ABSTRACT  
nông thôn mới; sinh kế; sinh kế  
bền vững  
New rural construction is one of the key programs with the  
goal of comprehensive development of rural areas. Hau Giang is  
the leading province in the Mekong Delta in implementing the  
new rural program. Therefore, the study carried out interviews of  
458 observations in Hau Giang to find out the current status of  
rural livelihood assets and compare the livelihood assets among  
three groups of communes with different levels of the  
complement of New Rural criteria. The research results show  
that, in general, the five livelihood assets of households in the  
well-performed group of communes are much better than the  
remaining two groups. The multiple regression shows four factors  
affecting the households’ income significantly and positively,  
including farm size, credit access, family size, and the well-  
performed communes.  
Keywords:  
new rural program; livelihood  
assets; sustainable livelihood  
1. Giới thiệu  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và sự cạnh tranh của thị trường nông sản giữa các quốc  
gia sản xuất nông nghiệp, Việt Nam cần có những chính sách cụ thể cho phát triển đồng bộ và  
toàn diện để nâng cao tính cạnh tranh và khả năng hội nhập của nông nghiệp, nông dân và nông  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
21  
thôn. Để góp phần thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa khu vực nông thôn, việc cần làm  
hiện nay là xây dựng một mô hình mới để phát huy các khả năng và nội lực của nông dân. Thực  
hiện Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung  
ương (2008) về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” Thủ tướng chính phủ đã ban hành  
“Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông Thôn Mới (NTM) giai đoạn 2010 - 2020”  
theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 06/04/2010 (Thủ tướng chính phủ, 2010) và được thay thế  
bởi Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/08/2016 (Thủ tướng chính phủ, 2016a). Cùng với đó là  
các quyết định về “Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” cũng được ban hành như Quyết định  
số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 (Thủ tướng chính phủ, 2009); Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày  
17/10/2016 (Thủ tướng chính phủ, 2016b). Mục tiêu của chương trình xây dựng NTM là một  
khu vực nông thôn có cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, sự gắn kết chặt chẽ  
giữa nông nghiệp với công nghiệp, hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn hiện đại, gắn phát triển  
nông thôn với đô thị; môi trường được quan tâm bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; mức sống  
người dân nông thôn ngày càng nâng cao.  
Hậu Giang là là tỉnh đi đầu trong thực hiện xây dựng NTM ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu  
Long (ĐBSCL) và thị xã Ngã Bảy (nay là thành phố Ngã Bảy) là đơn vị cấp huyện đầu tiên của  
khu vực được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn NTM. Nhờ sự đầu tư có trọng tâm,  
trọng điểm, sự tham gia đóng góp, ủng hộ rộng rãi của doanh nghiệp, người dân và cả hệ thống  
chính trị nên kết cấu hạ tầng nông thôn của tỉnh Hậu Giang ngày càng hiện đại, hạ tầng phục vụ  
sản xuất, sinh hoạt, y tế, giáo dục, môi trường được đầu tư khang trang. Sau 10 năm thực hiện  
chương trình xây dựng NTM, đến nay toàn tỉnh có hơn 60% số xã đã hoàn thành mục tiêu. Đến  
cuối năm 2020, Hậu Giang đã có 32 xã trong tổng số 51 xã và 01 huyện, 02 thành phố được công  
nhận đạt chuẩn NTM (Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang, 2020). Tuy là tỉnh dẫn đầu  
khu vực ĐBSCL về xây dựng NTM, nhưng đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận người  
dân nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, chất lượng cuộc sống của người dân chưa được cải thiện,  
nhiều tiêu chí thực hiện còn bất cập chưa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Nhận  
thấy được tính cấp bách của vấn đề nên đề tài nghiên cứu “Mối liên hệ giữa nguồn vốn sinh kế  
của nông hộ và kết quả xây dựng NTM ở Hậu Giang” được thực hiện nhằm tìm ra mối liên hệ  
giữa nguồn vốn sinh kế của người dân với kết quả xây dựng NTM ở tỉnh Hậu Giang, từ đó đề  
xuất các giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả và bền vững chương trình xây dựng nông thôn  
mới trên địa bàn tỉnh và góp phần nâng cao đời sống người dân.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết  
Sinh kế không đơn thuần là kế sinh nhai và nơi ở mà nội hàm của thuật ngữ này còn liên  
quan đến khả năng tiếp cận thông tin, quyền sở hữu, kỹ năng và các mối quan hệ giữa nguồn vốn  
sinh kế và các hợp phần khác trong khung sinh kế bền vững. Tài sản sinh kế là nguồn lực cơ bản  
của một tác nhân nhằm thực hiện, tái sản xuất, ứng phó hoặc thay đổi các nguyên tắc để chi phối  
sự kiểm soát, sử dụng chuyển đổi các nguồn lực (Bebbington, 1999). Tài sản sinh kế gồm năm  
nguồn vốn khác nhau, cụ thể là vốn con người, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài  
chính, trong đó mỗi loại tài sản được quyết định bởi nhiều tiêu chí nhỏ (Carney, 1998; Chambers  
& Conway, 1992). Các nguồn vốn này có mối liên hệ và tác động qua lại cũng như hỗ trợ lẫn  
nhau, trong đó nguồn vốn con người có vai trò quan trọng trong thúc đẩy việc sử dụng các loại  
tài sản sinh kế khác. Sinh kế được xem là bền vững khi khi nó có thể ứng phó được với các tác  
động ngắn hạn (shocks) và thích nghi với các ảnh hưởng trong dài hạn hay nói cách khác là các  
sinh kế có thể phục hồi (resilience), duy trì (maintainance) và tăng cường (enhance) được những  
khả năng và nguồn lực (assets) hiện tại cũng như tương lai, mà không ảnh hưởng đến nguồn tài  
nguyên thiên nhiên (Carney, 1998). Khái niệm này được phát triển dựa trên kết quả nghiên cứu  
22  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
của Sen (1981) về “Quyền được lựa chọn và thực hiện và khả năng của con người” và Chambers  
và Conway (1992) về sinh kế. Sinh kế bền vững dựa vào nguyên tắc tiếp cận lấy con người làm  
trung tâm (Ashley & Carney, 1999). Như vậy, khung sinh kế bền vững là một công cụ nhằm giúp  
tìm hiểu và phân tích một cách toàn diện liên quan đến sinh kế. Khung sinh kế giúp chỉ ra những  
khía cạnh quan trọng và mô tả sự liên hệ giữa chúng (vốn sinh kế và các hợp phần trong khung  
sinh kế), mô tả được các ảnh hưởng, tiến trình và nhấn mạnh sự đa dạng tương tác giữa các nhân  
tố/hợp phần khác nhau có ảnh hưởng đến sinh kế. Theo Carney (2003) khung sinh kế được thiết  
kế như Hình 1 sau:  
Các kết quả sinh kế  
- Thu nhập nhiều hơn  
- Cuộc sống đầy đủ hơn  
- Giảm khả năng tổn  
thương  
- An ninh lương thực  
được cải thiện  
- Công bằng xã hội được  
cải thiện  
- Tăng tính bền vững  
của tài nguyên thiên  
nhiên  
Vốn sinh kế  
Chính sách, tiến  
trình và cơ cấu  
- Ở các cấp khác  
nhau của chính  
phủ: luật pháp,  
chính sách công,  
các động lực các  
quy tắc  
Các chiến lược  
sinh kế  
- Các tác nhân xã  
hội (nam, nữ, hộ  
gia đình, cộng  
đồng…)  
Bối cảnh dễ  
tổn thương  
- Xu hướng  
- Thời vụ  
Con người  
Tự  
nhiên  
Xã hội  
- Chấn động  
- Các cơ sở tài  
(trong  
nhiên  
tự  
và  
nguyên  
nhiên  
thiên  
- Các thiết chế  
chính trị và kinh  
tế  
môi trường,  
thị trường,  
- Cơ sở thị trường  
- Đa dạng  
- Sinh tồn hoặc  
tính bền vững  
Vật  
thể  
Tài  
chính  
- Giá trị không sử dụng  
của tài nguyên tự nhiên  
được bảo vệ  
chính  
trị:  
chiến h)  
Hình 1. Khung phân tich sinh kế bền vững  
Nguồn: Carney (2003)  
Nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước về sinh kế mặc dù có cách tiếp cận khác nhau,  
từ các lĩnh vực khác nhau như xã hội học, kinh tế học, … nhưng chủ yếu vẫn dựa vào 05 nguồn  
vốn cơ bản: vốn con người, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn vật chất, (Ashley &  
Carney, 1999; Carney, 2003; Chambers & Conway, 1992; Morse & McNamara, 2013; Scoones  
1998; Solesbury, 2003; Small, 2007; Twigg, 2007).  
Vận dụng khung sinh kế bền vững của các nhà nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là khung  
sinh kế bền vững của Cơ quan phát triển Quốc tế của Anh (DFID) (Carney, 2003), nhiều nhà  
nghiên cứu trong nước đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu về sinh kế, biến đổi sinh kế do  
tác động của quá trình công nghiệp hóa (industrialization), di cư (migration), tái định cư  
(resettlement), phát triển du lịch (Dao, 2015; Do, 2017; Hoang & Pham, 2012; H. V. Nguyen,  
2012; B. V. Tran, 2015).  
Nghiên cứu này ứng dụng khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (Carney, 2003)  
về 05 nguồn vốn sinh kế dưới tác động của chương trình xây dựng NTM để xem xét mối quan hệ  
giữa nguồn vốn sinh kế của người dân tại địa bàn nghiên cứu với kết quả đạt được của chương  
trình NTM nhằm góp phần đề xuất giải pháp phát triển toàn diện bộ mặt nông thôn nói chung và  
nâng cao mức sống của người dân nói riêng.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp chọn vùng và mẫu nghiên cứu  
Theo số liệu thống kê từ Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang (2019), tính đến  
tháng 06/2018 toàn tỉnh không có xã nào đạt dưới 05 tiêu chí, nhóm xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí chỉ  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
23  
có 01 xã, phần lớn tập trung ở nhóm từ 10 - 14 tiêu chí (25 xã), xã đạt từ 05 - 09 tiêu chí có 04 xã.  
Từ thực trạng trên, để tạo cở sở cho so sánh, nghiên cứu tiến hành chọn 03 nhóm xã có  
mức độ hoàn thành khác nhau: Nhóm 1 (hoàn thành tốt, hoàn thành trên 15 tiêu chí). Nhóm 2  
(hoàn thành khá, hoàn thành từ 10 - 14 tiêu chí), Nhóm 3 (hoàn thành trung bình, dưới 10 tiêu chí).  
Bảng 1  
Địa bàn nghiên cứu  
Số tiêu chí  
hoàn thành  
Nhóm xã  
Huyện  
Ngã Bảy  
Xã  
Đại Thành  
19  
19  
16  
Châu Thành A  
Châu Thành  
Trường Long Tây  
Hoàn thành tốt  
Đông Phước A  
Tx. Long Mỹ  
Vị Thủy  
Long Phú  
13  
10  
Hoàn thành khá  
Hoàn thành thấp  
Vĩnh Trung  
Phụng Hiệp  
Long Mỹ  
Hòa An  
Vĩnh Viễn A  
9
8
Nguồn: Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang (2019)  
Nghiên cứu được thực hiện trên 07 xã (Đại Thành, Trường Long Tây, Vĩnh Viễn A,  
Đông Phước A, Vĩnh Trung, Long Phú và Hòa An) của 07 huyện (Ngã Bảy, Châu Thành A, thị  
xã Long Mỹ, Vị Thủy, Phụng Hiệp, Long Mỹ) của tỉnh Hậu Giang. Đối tượng nghiên cứu là  
những hộ dân đang sinh sống trên địa bàn 07 xã. Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn ngẫu  
nhiên theo hình thức bước nhảy, cụ thể là chọn 03 tuyến xã có điều kiện kinh tế giàu, khá và  
trung bình theo sự hướng dẫn của cán bộ địa phương. Trên một tuyến đường, nghiên cứu tiến  
hành chọn 01 hộ và sau đó bỏ 01 hộ và phỏng vấn hộ tiếp theo, tiến trình thực hiện được lặp lại  
cho đến khi đủ số quan sát theo yêu cầu. Tổng số quan sát là 458.  
Bảng 2  
Thống kê hộ khảo sát trong xã  
Xã  
Tần số (hộ)  
Tỷ lệ  
8.95  
15.50  
11.57  
17.25  
19  
16.81  
10.92  
100  
Đại Thành  
Vĩnh Viễn A  
41  
71  
53  
79  
87  
77  
50  
458  
Đông Phước A  
Long Phú  
Hòa An  
Vĩnh Trung  
Trường Long Tây  
Tổng  
Nguồn: Số liệu điều tra trong (2019), n = 458  
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu  
Bước 1: Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả bức tranh tổng quát  
về thực trạng sinh kế của nông hộ tại các địa bàn nghiên cứu và thực trạng thu nhập khi có kết  
quả xây dựng NTM;  
Bước 2: Để tìm mối liên hệ giữa các vốn sinh kế và kết quả của quá trình xây dựng NTM  
ở tỉnh Hậu Giang, nghiên cứu sử dụng phân tích bảng chéo (Cross-tabulation);  
24  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
Bước 3: Do kết quả đầu ra mong đợi cuối cùng của các hoạt động sinh kế mà nông hộ đặt  
trọng tâm nhất là thu nhập nên để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tại  
tỉnh Hậu Giang, nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy đa biến: Phương trình được viết dưới  
dạng như sau:  
푌 = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 … + β푖X푖 + ε푖  
푖
(1)  
Yi: Thu nhập của nông hộ; βi: Các tham số cần ước lượng trong mô hình; X푖 là các biến  
độc lập trong mô hình hồi quy; ε푖 là sai số của mô hình hồi quy có phân phối chuẩn.  
Các biến độc lập đưa vào mô hình là các biến đại diện cho 05 nguồn vốn sinh kế và các  
biến về điều kiện kinh tế xã hội của hộ cũng như mức độ hoàn thành các tiêu chí.  
Bảng 3  
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhâp ở nông hộ tỉnh Hậu Giang  
Ký  
hiệu  
Tên biến  
Mô tả  
Nguồn tài liệu  
Dấu  
Truong và Dang (2011); Huynh và  
Mai (2011)  
Diện tích đất  
X1  
Ha  
+
Do thu nhập nông hộ phụ thuộc phần  
lớn về sản xuất nông nghiệp, nên  
nghiên cứu muốn tìm hiểu về nhận  
Tình hình thủy lợi  
X8 Thang điểm từ 1 - 10 thức của người dân về sự hoàn chỉnh  
của hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho hệ  
+
thống sản xuất của họ (1 rất chưa  
hoàn chỉnh và 10 là rất hoàn chỉnh)  
Kinh nghiệm  
Tuổi chủ hộ  
X2  
X3  
Năm  
Năm  
N. Q. Nguyen và Bui (2011)  
-
-
N. Q. Nguyen và Bui (2011); T. V.  
Vo và Le (2015); T. Q. Tran (2015)  
N. Q. Nguyen và Bui (2011); T. V.  
Vo và Le (2015); T. Q. Tran (2015)  
Trình độ  
Nhân khẩu  
Giới tính  
X4  
X5  
X6  
Lớp  
Người  
+
+
+
N. Q. Nguyen và Bui (2011); T. Q.  
Tran (2015)  
Truong và Dang (2011); T. Q. Tran  
(2015)  
1 = nam; 0 = nữ  
Mai (2016); A. T. T. Vo và Phan  
(2010); T. Q. Tran (2015); Nghiem,  
Coelli, và Rao (2012)  
1 = có vay vốn  
Tình hình vay vốn  
Hoàn thành tốt  
X7  
X9  
+
+
0 = không vay vốn  
1= tốt ; 0 = còn lại Đây là biến mới mà nhóm nghiên cứu  
đưa vào trong trường hợp nghiên cứu  
này và xem như biến kiểm soát trong  
mô hình, được dung để so sánh sự  
Hoàn thành khá  
X10  
1= khá; 0 = còn lại  
+
khác biệt về thu nhập giữa hai nhóm.  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Phân tích thực trạng nguồn vốn sinh kế và mối liên hệ với kết quả xây dựng NTM  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
25  
3.1.1. Nguồn vốn con người  
Nguồn vốn con người đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh kế nông hộ. Để  
đánh giá nguồn vốn con người thì phải thông qua các tiêu chí như: tuổi, giới tính, trình độ học  
vấn, kinh nghiệm sản xuất, số nhân khẩu, tỷ lệ lao động phụ thuộc tuổi trong lao động, … Qua  
kết quả phân tích cho thấy tuổi chủ hộ trung bình là 56.22 tuổi, cho thấy tình hình dân số tỉnh  
Hậu Giang đã chuyển sang bước già hóa, cụ thể là có đến 15.1% dân số có độ tuổi lớn hơn 60, tỷ  
lệ dân số trẻ dưới 24 tuổi là rất thấp, trong khi đó đây là nguồn lực lao động thay thế quan trọng  
trong tương lai (Hình 2). Độ tuổi trung bình của người dân ở nhóm xã mức độ hoàn thành tốt là  
56.19 tuổi, ở mức hoàn thành khá là 54.46 tuổi và ở nhóm xã có mức hoàn thành trung bình  
(dưới 10 tiêu chí) là 57.89 tuổi. Về giới tính của chủ hộ theo các nhóm xã với mức độ hoàn thành  
khác nhau như sau: đa phần chủ hộ đều là nam giới ở mức độ hoàn thành tốt (chiếm 82.64%), ở  
mức độ hoàn thành khá (chiếm 87.82%) và mức độ trung bình (chiếm 84.81%). Về trình độ học  
vấn trong địa bàn nghiên cứu khá thấp, đa phần chủ hộ hoàn thành trình độ cấp 1 và 2, chiếm  
hơn 70%, trình độ từ trung cấp trở lên chiếm khoảng 5.36 - 7.82%. Đa số nhân khẩu từ 04 đến 06  
người, chiếm 65.3%, trung bình có 4.29 người/hộ, hộ có số nhân khẩu lớn nhất là 08 người/hộ và  
nhỏ nhất là 01 người. Về lao động chính thì đa số hộ có số lao động chính từ 02 đến 04 người/hộ,  
chiếm 68.78%.  
80-85  
70-74  
60-64  
50-54  
40-44  
30-34  
20-24  
10-14  
0-4  
-100  
-80  
-60  
-40  
-20  
0
20  
Nam  
40  
60  
80  
100  
Nữ  
Hình 2. Tháp dân số của tỉnh Hậu Giang  
Ghi chú: tháp dân số được tính cho tất cả thành viên hộ  
Nguồn: Dựa trên số liệu khảo sát (2019), n = 458  
3.1.2. Nguồn vốn tự nhiên  
Nguồn vốn tự nhiên là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến sinh kế  
của cộng đồng, đặc biệt là người nghèo. Vốn tự nhiên bao gồm tất cả các yếu tố như địa hình, đất  
đai, khí hậu, điều kiện thủy lợi có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế hộ. Hậu Giang là tỉnh thuần  
nông và đất đai là tư liệu quan trọng để sản xuất nông nghiệp và gắn liền với cuộc sống của  
người dân tại đây. Về diện tích đất canh tác, trung bình mỗi hộ sở hữu khoảng 0.66ha. Tỷ lệ hộ  
không có đất lại chiếm khá cao, khoảng 22.49%. Đối với nhóm xã có mức độ hoàn thành tốt thì  
tỷ lệ hộ không có đất chiếm 17.36%, mức độ hoàn thành khá chiếm 22.43%, mức độ hoàn thành  
trung bình chiếm 27.22%. Sinh kế của các hộ không có đất canh tác chủ yếu dựa vào làm thuê.  
Về tình trạng điều kiện thủy lợi, kết quả nghiên cứu cho thấy người dân có đánh giá khá  
tích cực về sự thay đổi, cụ thể so với trước khi có chương trình xây dựng NTM, có 280 hộ trong  
tổng 458 hộ khảo sát cho rằng hệ thống thủy lợi thay đổi theo chiều hướng tốt, thông qua việc  
nạo vét sông, kênh, rạch nên tạo điều kiện lưu thông nước từ sông vào các kênh rạch nội đồng, từ  
26  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
đó giúp nông hộ dễ có được nguồn nước tưới phục vụ cho sản xuất.  
Qua kết quả phân tích bảng chéo cho thấy với mức ý nghĩa α = 10% cho thấy có sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê về tình trạng thủy lợi giữa các nhóm xã có mức độ hoàn thành chương  
trình NTM khác nhau. Như vậy những xã có mức độ hoàn thành tốt thì người dân đánh giá thuỷ  
lợi thay đổi tích cực hơn những xã khoàn thành khá và trung bình, đều này cho thấy ở xã hoàn  
thành tốt đã đầu tư cho các công trình thuỷ lợi nhiều nên đã góp phần thay đổi tích cực điều kiện  
sống của người dân.  
Bảng 4  
Tình trạng điều kiện thủy lợi sau xây dựng NTM  
Tình trạng  
Nhóm Tốt  
Nhóm Khá  
Nhóm  
Tổng  
Trung bình  
Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số  
Tỷ lệ  
Thay đổi  
98 68.05  
46 31.95  
87 55.77  
69 44.23  
95 60.13 280  
63 39.87 178  
61.14  
38.86  
100  
Không thay đổi  
Tổng  
144  
100 156  
100 158  
8.25*  
100 458  
Giá trị 휒2  
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458  
Qua phân tích về nguồn vốn tự nhiên trên địa bàn nghiên cứu những mặt mạnh là điều  
kiện thủy lợi phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp tương đối hoàn chỉnh và thuận lợi.  
Tuy nhiên, diện tích đất trung bình tương đối thấp cộng thêm tác động tiêu cực từ tình hình biến  
đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu đã đặt ra một thách thức lớn để phát triển kinh tế và nâng cao  
thu nhập cho người dân.  
3.1.3. Vốn vꢀt chất  
Vốn vật chất trong nghiên cứu này được xem xét bao gồm hai hình thức: vốn vật chất  
phục vụ cho sinh hoạt và cho hoạt động sản xuất. Phương tiện vật chất phục vụ sinh hoạt rất cần  
thiết giúp cho đời sống và sinh hoạt của nông hộ. Theo kết quả nghiên cứu trình bày trong Bảng  
5 cho thấy nhìn chung, những phương tiện vật chất phục vụ cho nông hộ rất đa dạng và đầy đủ  
cho cuộc sống tiện nghi, có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, vui chơi và giải trí của nông hộ ở ba  
địa bàn xã có mức độ hoàn thành chương trình NTM khác nhau.  
Bảng 5  
Phương tiện vật chất phục vụ sinh hoạt của nông hộ  
Đơn vị: số hộ  
Nhóm xã  
Phương tiện  
Tivi  
Đơn vị tính  
Nhóm tốt  
144  
Nhóm khá  
156  
Nhóm trung bình  
Cái  
Cái  
Cái  
Cái  
Cái  
150  
138  
137  
105  
139  
Bếp gas  
143  
152  
Nồi cơm điện  
Tủ lạnh  
Quạt gió  
142  
116  
128  
150  
107  
155  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
27  
Nhóm xã  
Nhóm khá  
Phương tiện  
Xe gắn máy  
Đơn vị tính  
Nhóm tốt  
Nhóm trung bình  
Chiếc  
142  
152  
145  
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458  
Phương tiện sản xuất là các thiết bị gắn liền với những hoạt động sản xuất của nông hộ.  
Hầu hết các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu đều làm nông nghiệp nên phương tiện phục vụ sản  
xuất chủ yếu là máy bơm nước, ghe/xuồng, xe vận chuyển và bình xịt để thuận tiện trong việc đi  
lại và vận chuyển các phương tiện, vật tư phục vụ hoạt động sản xuất.  
Bảng 6  
Phương tiện vật chất phục vụ sản xuất của nông hộ  
Đơn vị: số hộ  
Nhóm xã  
Đơn vị  
Phương tiện  
tính  
Nhóm tốt  
Nhóm khá  
Nhóm trung bình  
Máy bơm nước  
Ghe/xuồng  
Xe vận chuyển  
Máy cày  
Cái  
Chiếc  
Chiếc  
chiếc  
Cái  
126  
128  
115  
2
118  
116  
126  
0
98  
124  
124  
2
Máy gặt đập  
Bình xịt  
4
1
2
Cái  
89  
77  
58  
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458  
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu ở Bảng 7 cũng cho thấy hệ thống hạ tầng giao thông  
phục vụ nhu cầu vận chuyển, đi lại trong sản xuất và sinh hoạt được người dân đánh giá khá hài  
lòng, cụ thể có 249 hộ hài lòng chiếm 54.37% và 155 hộ rất hài lòng, chiếm 33.84 %.  
Bảng 7  
Đánh giá về hệ thống hạ tầng giao thông  
Nhóm xã  
Phương tiện  
Nhóm tốt  
Nhóm khá  
Nhóm trung bình  
Rất hài lòng  
Hài lòng  
59  
74  
54  
82  
42  
93  
Không hài lòng  
Tổng  
11  
20  
23  
144  
156  
158  
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458  
Về hệ thống dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe, kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống này ở  
các xã được đầu tư khá hoàn thiên. Tại mỗi xã đều có trung tâm y tế được trang bị khá đầy đủ  
các phương tiện và đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế được đào tạo. Tình hình phục vụ y tế chăm sóc  
sức khỏe được người dân đánh giá khá cao, chủ yếu ở ở mức hài lòng và rất hài lòng. Kết quả  
nghiên cứu cũng cho thấy có 394 hộ trong tổng 458 hộ cho rằng việc phục vụ y tế và chăm sóc  
người dân tốt hơn so với trước, chiếm 86.03%.  
3.1.4. Vốn xã hội  
28  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
Nguồn vốn xã hội thể hiện qua việc gia nhập hội, nhóm và các mối quan hệ xã hội khác.  
Sự tương trợ qua lại giữa cá nhân và cộng đồng được thể hiện ở các khía cạnh tài chính, nhân  
công, kiến thức và tiếp cận thông tin.  
Về tình hình tham gia các hội nhóm của chủ hộ (như hội nông dân, hội phụ nữ, …) còn  
khá thấp, chỉ có 95 hộ trong tổng 458 hộ (chiếm tỷ lệ 20.74%). Xét theo nhóm xã có mức độ  
hoàn thành xây dựng NTM thì nhóm xã hoàn thành tốt có 43 hộ tham gia (chiếm 29.86%) và 101  
hộ không tham gia (chiếm 70.14%), nhóm xã hoàn thành khá có 21 hộ tham gia (chiếm 12.18%)  
trong tổng 156 hộ, ở nhóm xã có kết quả hoàn thành trung bình có 33 hộ tham gia (chiếm  
20.89%) trong tổng 158 hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa tham gia vào hội  
nhóm và mức độ hoàn thành xây dựng NTM bằng phân tích bảng chéo ở mức ý nghĩa α = 1%,  
kết quả này cho thấy ở nhóm xã với kết quả hoàn thành tốt thì tỷ lệ người dân tham gia vào hội  
nhiều hơn.  
Bảng 8  
Tình hình tham gia hội của chủ hộ  
Nhóm  
Trung bình  
Nhóm Tốt  
Nhóm Khá  
Tổng  
Tình hình tham gia  
Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số  
Tỷ lệ  
hội  
Có  
43  
29.86  
70.14  
100  
19  
12.18  
87.82  
100  
33  
125  
20.89  
79.11  
100  
95  
20.74  
79.26  
100  
Không  
Tổng  
101  
144  
137  
156  
363  
458  
158  
Giá trị 휒2  
16.45***  
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458  
Về quan hệ xã hội thì có 425 hộ trong tổng 458 hộ, chiếm 92.79% cho rằng mối quan hệ  
xã hội hiện tại thay đổi so với lúc trước khi xây dựng NTM do điều kiện đi lại thuận tiện hơn,  
các hoạt động cộng đồng được triển khai nhiều hơn.  
3.1.5. Vốn tài chính  
Nguồn vốn tài chính bao gồm nguồn tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản dễ thanh  
toán như vàng và vật nuôi. Nông hộ có thể tăng thu nhập của mình bằng cách đa dang hóa các  
hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp. Những nông hộ có hoạt động sinh kế và  
nguồn thu nhập đa dạng sẽ góp phần hạn chế tính dễ bị tổn thương trước sự biến động như thiên  
tai làm giảm năng suất, mất mùa, hay biến động về giá cả thị trường, … Tính đa dạng nguồn thu  
nhập tuy không nói lên mức thu nhập nhưng phần nào cho thấy khả năng phân bổ nguồn lực của  
nông hộ cũng như giảm tính dễ bị tổn thương trước những ảnh hưởng xấu.  
- Đa dạng nguồn thu nhập  
Để đánh giá được sự đa dạng trong thu nhập của nông hộ, nghiên cứu phỏng vấn trên  
cùng đối tượng và hỏi trước và sau khi có chương trình xây dựng NTM, sự đa dạng thu nhập của  
nông hộ có thay đổi đáng kể, cụ thể như sau:  
+ Trước NTM: Về tính đa dạng thu nhập trước khi có chương trình NTM (cụ thể là năm  
2011) của 458 hộ cho thấy có 40 hộ không có nguồn thu nhập, nhóm hộ này phụ thuộc chính vào  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
29  
tiền gửi của con hoặc hỗ trợ từ địa phương, có 336 hộ có một nguồn thu nhập, chiếm 73.36%, có  
79 hộ có từ 02 nguồn, chiếm 17.25% và có 03 hộ có nguồn thu nhập từ 03 nguồn, chiếm 0.66%;  
+ Sau NTM: Sau khi thực hiện xây dựng NTM, sự đa dạng về hoạt động sinh kế của 458  
hộ cho thấy có 202 hộ có một nguồn thu nhập, chiếm 44.1%, giảm khoảng 30% so với trước  
NTM; có 242 hộ có nguồn thu nhập từ 02 nguồn, chiếm 52.84%, tăng thêm khoảng 25% so với  
trước NTM; có 13 hộ có nguồn thu nhập từ 03 nguồn, chiếm 2.84% và có 01 hộ có bốn nguồn  
thu nhập. Từ kết quả này cho thấy thu nhập của người dân có sự thay đổi đáng kể so với trước  
khi thực hiện xây dựng NTM. Đối với từng nhóm xã có mức độ hoàn thành NTM khác nhau, kết  
quả nghiên cứu cho thấy nhóm khá và trung bình có sự thay đổi đáng kể về nguồn thu nhập hơn  
so với nhóm hoàn thành tốt.  
Bảng 9  
Thống kê nguồn thu nhập của nông hộ trước và sau NTM  
Nhóm tốt  
Nhóm khá  
Nhóm trung bình  
Tổng  
Số nguồn  
Trước  
Sau  
Trước  
Sau  
Trước  
Sau  
Trước Sau  
NTM  
NTM  
NTM  
NTM  
NTM  
NTM NTM NTM  
Không nguồn  
Một nguồn  
Hai nguồn  
Ba nguồn  
8
83  
51  
2
0
61  
80  
3
17  
0
71  
80  
5
15  
124  
18  
1
0
70  
82  
5
40  
336  
79  
3
0
202  
242  
13  
129  
10  
0
Bốn nguồn  
0
0
0
0
0
1
1
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458  
- Thu nhập nông hộ  
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng thu nhập trung bình của nông hộ giai đoạn trước khi  
thực hiện xây dựng NTM là 133.64 triệu đồng/hộ/năm, hộ có thu nhập cao nhất là 602 triệu  
đồng/hộ/năm và thấp nhất là 15 triệu đồng/hộ/năm, từ đó cho thấy khoảng cách giữa hộ có thu  
nhập cao nhất và hộ có thu thấp nhất là rất lớn. Giai đoạn sau khi thực hiện xây dựng NTM, tổng  
thu nhập bình quân của nông hộ có xu hướng tăng lên, cụ thể là 168.7 triều đồng/hộ/năm, cao  
hơn so với trước xây dựng NTM khoảng 35 triệu/hộ/năm. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy  
khoảng cách về thu nhập giữa hộ cao nhất và thấp nhất cũng có xu hướng tăng lên, cụ thể hộ có  
thu nhập cao nhất là 906 triệu đồng/ hộ/năm và thấp nhất là 20 triệu đồng/hộ/năm.  
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thu nhập của hộ gia đình từ khi có chương trình xây  
dựng NTM có sự thay đổi tăng đáng kể, cụ thể tăng 83 hộ có thu nhập trên 100 triệu/hộ/năm. Về  
tình hình vay vốn tại địa bàn nghiên cứu cho thấy có 58.08% hộ cho rằng việc tiệp cận vốn vay  
trở nên dễ dàng hơn.  
Bảng 10  
Thu nhập hộ trước và sau NTM  
Thu nhâp nông hộ  
Trước NTM  
Sau NTM  
30  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
Tần số  
169  
284  
5
Tỷ lệ  
36.9  
62.01  
1.09  
100  
Tần số  
86  
Tỷ lệ  
18.78  
79.26  
1.96  
Dưới 100 triêu  
100 - 500 triệu  
363  
9
Trên 500 triệu  
Tổng  
458  
458  
100  
Thu nhập trung bình  
Thu nhập cao nhất  
Thu nhập thấp nhất  
Độ lệch chuẩn  
133.64  
602  
168.82  
906  
15  
20  
84.72  
104.47  
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458  
Để tìm hiểu thêm về sự khác biệt thu nhập theo nhóm xã có mức độ thành khác nhau,  
Bảng 11 cho thấy thu nhập bình quân nhỏ hơn 25 triệu đồng/người/năm ở cả 03 nhóm xã chiếm  
tỷ lệ thấp (2.8% trong tổng số). Trong khi đó, thu nhập khoảng 25 triệu đến 45 triệu  
đồng/người/năm ở cả 03 nhóm hộ chiếm tỷ lệ cao nhất 65.5% và từ trên 45 - 60 triệu  
đồng/người/năm, chiếm 22.05%. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa phần đời sống của người dân  
chưa cao do thu nhập còn nằm trong mức trung bình khá từ 25 - 45 triệu đồng/người/năm.  
Bảng 11  
Phân nhóm thu nhập theo các nhóm xã hoàn thành NTM  
Thu nhập  
(Triệu/người/năm)  
Hoàn thành Hoàn thành Hoàn thành  
Tổng  
tốt  
khá  
trung bình  
Nhỏ hơn 25 triệu  
1
4
8
115  
27  
8
13  
300  
101  
44  
Từ > 25 triệu đến 45 triệu  
Trên > 45 triệu đến 60 triệu  
Trên 60 triệu  
82  
41  
20  
144  
103  
33  
16  
Tổng  
156  
158  
458  
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019), n = 458  
Từ kết quả phân tích cũng cho thấy, thu nhập bình quân là 38.13 triệu đồng/người/năm.  
Trong đó, những hộ gia đình có mức thu nhập bình quân cao nhất khoảng 150 triệu đồng và mức  
thu nhập thấp nhất khoảng 11.6 triệu đồng.  
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ  
Nghiên cứu sẽ tìm hiểu các yếu tố về điều kiện kinh tế xã hội, đặc điểm hộ và mức độ  
hoàn thành kết quả NTM có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ. Thu nhập được nâng cao và ổn  
định sẽ góp phần nâng cao các nguồn vốn sinh kế khác, chẳng hạn như đối với vốn vật chất, thu  
nhập góp phần tăng cường nguồn vốn vật chất thông qua việc mua sắm thêm các phương tiện sản  
xuất, ... thu nhập góp phần tăng vốn tự nhiên qua việc mua thêm đất đai để thực hiện các hoạt  
động sản xuất nông nghiệp, và góp phần tăng các nguồn vốn xã hội qua việc hợp tác sản xuất giữa  
mọi người với nhau tăng thêm các mối quan hệ xã hội giúp ích cho việc tạo dựng sinh kế cho họ  
và thu nhập cũng sẽ góp phần làm tăng nguồn vốn con người qua việc tiếp cận với giáo dục.  
Để xác định và sử dụng kết quả từ mô hình hồi quy trong đề xuất giải pháp, nghiên cứu  
đã thực hiện kiểm định các sai phạm trong mô hình hồi quy như đa cộng tuyến và phương sai sai  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
31  
số thay đổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình hồi quy không có hiện tượng phương sai sai  
số thay đổi với giá trị 휒2 = 1.25 (chấp nhận giả thuyết H0 = phương sai không thay đổi) và kết  
quả từ ma trận tương quan cho thấy không có mối quan hệ tuyến tính nào giữa các cặp biến độc  
lập trong mô hình hồi quy (với tất cả r < 0.4).Như vậy, mô hình hồi quy có thể được sử dụng để  
giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ.  
Kết quả hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa thu nhập và các yếu tố về đặc điểm hộ cũng  
như điều kiện kinh tế xã hội nông hộ được trình bày ở Bảng 12 sau:  
Bảng 12  
Kết quả phân tích hồi qui về các yếu tố sinh kế ảnh hưởng đến thu nhập  
Biến  
Hằng số (constant)  
X1: Diện tích  
Hệ số hồi qui  
- 67.80**  
24.77***  
-0.28ns  
S.E.  
33.38  
5.21  
0.30  
1.83  
0.38  
1.23  
3.02  
12.02  
1.97  
10.27  
9.93  
Giá trị t  
-2.03  
4.75  
X2: Kinh nghiệm  
X3: Vốn vay  
-0.95  
4.07  
7.44***  
0.33ns  
X4: Tuổi  
0.87  
X5: Trình độ  
1.82ns  
1.48  
X6: Nhân khẩu  
X7: Giới tính  
29.48***  
-11.11ns  
2.36ns  
9.77  
-0.92  
1.20  
X8: Thủy lợi  
X9: Hoàn thành tốt  
X10: Hoàn thành khá  
Số quan sát  
39.27***  
14.47ns  
3.82  
1.46  
458  
Giá trị F  
22.09  
0.316  
Hệ số xác định (R2)  
Ghi chú: *, **, ***, và ns: tương ứng với mức ý nghĩa thống kê 10%, 5%, 1% và không có ý nghĩa ở mức 10%  
Nguồn: Kết quả được tác giả phân tích (2019)  
Kết quả phân tích hồi quy ở Bảng 12 cho thấy thu nhập của nông hộ chịu tác động của  
các yếu tố sau: diện tích đất, vốn vay, nhân khẩu và mức độ hoàn thành tốt chương trình xây  
dựng NTM.  
Biến mức độ hoàn thành tốt có hệ số hồi quy lớn nhất và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%,  
kết quả này cho thấy nông hộ ở nhóm xã hoàn thành tốt có thu nhập cao hơn so với hai nhóm còn  
lại khoảng 39.27 triệu đồng/năm/hộ. Điều này cho thấy kết quả điều tra đã góp phần khẳng định  
thu nhập hộ của nhóm xã hoàn thành tốt là cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với hai nhóm xã  
có mức độ hoàn thành khá và trung bình. Từ số liệu này cho thấy kết quả chương trình xây dựng  
NTM đã phần nào làm gia tăng thu nhập của nông hộ và việc xây dựng chương trình NTM là hết  
32  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
sức cần thiết và cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện trong thời gian tới. Tuy nhiên, việc  
duy trì và nâng cấp (NTM nâng cao và kiểu mẫu) kết quả xậy dựng NTM là hết sức cần thiết.  
Biến diện tích đất có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với thu nhập ở mức ý nghĩa 1%, điều này có  
thể dễ dàng giải thích là nông hộ ở địa bàn nghiên cứu có hoạt động sinh kế chính là sản xuất  
nông nghiệp.  
Biến tiếp cận vốn vay cũng có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với thu nhập ở mức ý nghĩa 1%, kết  
quả này cho thấy sự cần thiết của các chương trình hỗ trợ tín dụng nông nghiệp. Biến nhân khẩu  
hộ cũng có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến thu nhập nông hộ ở mức ý nghĩa 1%.  
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm xã có mức độ hoàn thành tốt chương trình  
xây dựng NTM thì thu thập khác biệt có ý nghĩa so với nhóm xã có mức độ hoàn thành khá và  
trung bình. Nghiên cứu cũng cho thấy những hộ có nhiều đất sản xuất, nhiều lao động và có tiếp  
cận vốn tín dụng sẽ là tiền đề quan trọng để gia tăng thu nhập cho nông hộ.  
4. Kết luận  
Nghiên cứu đã góp phần đánh giá thực trạng sinh kế của nông hộ và so sánh sự khác biệt  
về nguồn vốn sinh kế hộ với kết quả xây dựng nông thôn mới cũng như các yếu tố ảnh hưởng  
đến thu nhập nông hộ tại tỉnh Hậu Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy năm nguồn vốn sinh kế  
hộ ở nhóm xã có mức độ hoàn thành tốt chương trình NTM tốt hơn so với hai nhóm xã còn lại,  
cụ thể là hoạt động sinh kế đa dạng hơn, thu nhập cao hơn, nguồn vốn xã hội được mở rộng hơn  
tuy nhiên tỷ lệ tham gia hội/nhóm còn khá thấp, vốn tự nhiên được cải thiện và vốn vật chất được  
tăng cường tốt hơn.  
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao thu  
nhập, cải thiện nguồn vốn sinh kế của người dân cũng như thúc đẩy nhanh kết quả thực hiện  
chương trình xây dựng NTM của người dân trên địa bàn nghiên cứu:  
- Kết quả nghiên cứu cho thấy tiếp cận vốn vay có tác động tích cực đến thu nhập nông  
hộ trên địa bàn nghiên cứu, do vậy nhà nước cần tiếp tục duy trì và thiết kế các chương trình hỗ  
trợ người dân vay vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất;  
- Về nguồn vốn tự nhiên, với diện tích đất nhỏ, đặc biệt còn nhiều hộ không có đất sản  
xuất, chiếm 22.49% thì việc tạo thêm việc làm phi nông nghiệp là cần thiết để tận dụng thời gian  
nông nhàn cho các nhóm đối tượng này ở tất cả các nhóm xã có mức độ hoàn thành chương trình  
NTM khác nhau. Thêm vào đó, việc liên kết trong sản xuất để có quy mô diện tích lớn hơn nhằm  
tận dụng lợi thế về quy mô cũng rất cần thiết.  
Khi sinh kế của nông hộ địa bàn nghiên cứu còn gắn với sản xuất nông nghiệp, chính  
quyền địa phương cần chú trọng công tác dự báo và nghiên cứu thị trường để tránh tình trạng  
được mùa mất giá, tạo điều kiện để nông dân nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó nâng cao thu  
nhập của người dân. Theo vào đó, cần chú trọng phát triển ngành công nghiệp chế biến để góp  
phần gia tăng giá trị các mặt hàng nông - thủy sản.  
LỜI CÁM ƠN  
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang và Sở Khoa học  
và Công nghệ tỉnh Hậu Giang đã cấp kinh phí cho nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài này.  
Nghiên cứu không có mâu thuẫn về lợi ích với bất kỳ cá nhân và tổ chức nào trong quá  
trình thực hiện đề tài nghiên cứu này.  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
33  
Tài liệu tham khảo  
Ashley, C., & Carney, D. (1999). Sustainable livelihoods: Lessons from early experience.  
London, UK: Department for International Development.  
Ban chấp hành Trung ương. (2008). Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/08/2008, Hội nghị lần thứ  
bảy Ban chấp hành Trung ương Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn [Resolution  
26-NQ/TW dated August 5, 2008, the Seventh Conference of the 10th Central Committee  
on agriculture, farmers and rural areas]. Retrieved May 10, 2021, from  
uong/khoa-x/nghi-quyet-so-26-nqtw-ngay-0582008-hoi-nghi-lan-thu-bay-ban-chap-hanh-  
trung-uong-dang-khoa-x-ve-nong-nghiep-nong-dan-nong-613  
Bebbington, A. (1999). Capitals and capabilities: A framework for analyzing peasant viability,  
rural livelihoods and poverty. World Development, 27(12), 2021-2044.  
Carney, D. (1998). Sustainable rural livelihoods. Nottingham, UK: Russell Press Ltd.  
Carney, D. (2003). Sustainable livelihoods approaches: Progress and possibilities for change.  
London, UK: Department for International Development.  
Chambers, R. (1983). Rural development-putting the last first. Harlow, UK: Longman Scientific  
and Technical.  
Chambers, R., & Conway, G. (1992) Sustainable rural livelihoods: Practical concepts for the  
21st century (IDS Discussion Paper, No. 296). Brighton, UK: Institute of Development  
Studies.  
Chambers, R., & Conway, G. R. (1991). Sustainable rural livelihoods: Practical concepts for the  
21st century (IDS Discussion Paper, No. 296). Brighton, UK: Institute of Development  
Studies.  
Dao, T. T. (2015). Biến đổi sinh kế của người Dao di cư tự do tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk  
[Changes in livelihoods of freely migratory Dao people in Cu M’gar district, Dak Lak  
province] (Doctoral dissertation). Học Viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã  
hội Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.  
Do, Y. H. (2017). Biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành  
phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển du lịch [Changing livelihood culture of residents in  
Huong Son commune, My Duc district, Hanoi city in the context of tourism development]  
(Doctoral dissertation). Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội, Việt Nam.  
Ellis, F. (2000). Rural livelihoods and diversity in developing countries. London, UK: Oxford  
University Press.  
Fillenbaum, G. G., & Wallman, L. M. (1984). Change in household composition of the elderly:  
A preliminary investigation. Journal of Gerontology, 39(3), 342-349.  
Hoang, C., & Pham, P. Q. (2012). Diễn ngôn, Chính sách và sự biến đổi văn hóa - sinh kế tộc  
người [Discourses, policies and cultural change - ethnic livelihoods]. Hanoi, Vietnam:  
Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE).  
Huynh, X. T. D., & Mai, N. V. (2011). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ  
chăn nuôi gia cầm ở Đồng bằng sông Cửu Long [Analysis of determinants of poultry-  
raising household income in the Mekong River Delta]. Tạp chí Khoa học Trường Đại học  
Cần Thơ, 17b(2011), 87-96.  
34  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
Mai, D. T. H. (2016). Tác động của tài chính vi mô đến thu nhập của hộ nghèo ở Việt Nam  
[Impact of microfinance on income of poor households in Vietnam]. Tạp chí Khoa học Đại  
học Văn Hiến, 4, 38-44.  
Morse, S., & McNamara, N. (2013). Sustainable livelihood approach: A critique of theory and  
practice. Netherlands: Springer Science & Business Media.  
Nghiem, S., Coelli, T., & Rao, P. (2012). Assessing the welfare effects of microfinance in  
Vietnam: Empirical results from a quasi-experimental survey. Journal of Development  
Studies, 48(5), 619-632.  
Nguyen, H. V. (2012). Nghiên cứu sự thích ứng với đời sống mới của dân di cư Sơn La [Study  
on the adaptation to the new life of Son La migrants] (Doctoral dissertation). Học viện  
Khoa học Xã hội - Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.  
Nguyen, N. Q., & Bui, T. V. (2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu  
số ở Đồng Bằng Sông Cửu Long [Factors influencing the income of minority ethnic groups  
in the Mekong Delta]. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 18a, 240-250.  
Scoones, I. (1998). Sustainable rural livelihoods: A framework for analysis (IDS Working Paper,  
No. 72). Brighton, UK: Institute of Development Studies.  
Scoones, I. (2009). Livelihoods perspectives and rural development. The Journal of Peasant  
Studies, 36(1), 171-196  
Sen, A. (1981). Ingredients of famine analysis: Availability and entitlements. The Quarterly  
Journal of Economics, 96(3), 433-464.  
Small, L. A. (2007). The sustainable rural livelihoods approach: A critical review. Canadian  
Journal of Development Studies, 28(1), 27-38.  
Solesbury, W. (2003). Sustainable livelihoods: A case study of the evolution of DFID policy.  
London, UK: Overseas Development Institute.  
Thủ tướng chính phủ. (2009). Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 về việc ban  
hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [Decision No. 491/QD-TTg of April 16, 2009,  
on national set of criteria on new rural development]. Retrieved May 10, 2021, from  
quoc-gia-nong-thon-moi-87345.aspx?v=d  
Thủ tướng chính phủ. (2010). Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 về phê duyệt  
chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020  
[Decision No. 800/QD-TTg of June 04, 2010, approving the national target program on  
building a new countryside during 2010 - 2020]. Retrieved May 10, 2021, from  
chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-106910.aspx  
Thủ tướng chính phủ. (2016a). Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 08 năm 2016 về phê  
duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020  
[Decision 1600/QD-TTg dated August 16, 2016 approving the national target program on  
building new rural areas for the 2016-2020 period]. Retrieved May 10, 2021, from  
trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi-2016-2020-320132.aspx  
Thủ tướng chính phủ. (2016b). Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 về việc  
ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 [Decision  
1980/QD-TTg dated October 17, 2016 promulgating the national set of criteria for new  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
35  
rural communes for the 2016-2020 period]. Retrieved May 10, 2021, from  
chi-quoc-gia-xa-nong-thon-moi-2016-2020-325989.aspx  
Tran, B. V. (2015). Biến đổi sinh kế của cộng đồng người Dao vùng lòng hồ Thủy Điện Tuyên  
Quang sau tái định cư [Changes in livelihoods of Dao community in Tuyen Quang  
hydropower reservoir after resettlement]. Hanoi, Vietnam: Quỹ phát triển Khoa học và  
Công nghệ Quốc gia và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.  
Tran, T. Q. (2015). Socio-economic determinants of household income among ethnic minorities  
in the North-West Mountains, Vietnam. Croatian Economic Survey, 17(1), 139-159.  
Truong, L. D., & Dang, T. T. T. (2011). Ảnh hưởng của tín dụng nhỏ đến thu nhập của nông hộ  
ở tỉnh Hậu Giang [Impact of microcredit on household income in Hau Giang province].  
Tạp chí Khoa học đào tạo và Ngân hàng, 111, 20-23.  
Twigg, J. (2007). Sustainable livelihoods approaches (Guidance Note 10): Tools for  
mainstreaming disaster risk reduction series. Switzerland: International Federation of Red  
Cross and Red Crescent Societies/ProVention Consortium.  
Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang. (2019). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình  
MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2018 [Report on the implementation results of the  
National Target Program on building new rural areas in 2018]. Hau Giang, Vietnam: Ủy  
ban nhân dân tỉnh Hậu Giang.  
Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang. (2020). Báo cáo tóm tắt kết quả 10 năm thực hiện  
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 [Report  
summarizing the results of 10 years of implementation of the national target program on  
building new rural areas for the period 2010 - 2020]. Hau Giang, Vietnam: Ủy ban nhân  
dân tỉnh Hậu Giang.  
Vo, A. T. T., & Phan, P. D. M. (2010). Nâng cao hiệu quả chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo  
của ngân hàng chính sách xã hội tại thành phố Đà Nẵng [Improving the efficiency of  
capital aid programme for low income households of Vietnam bank for social policies in  
Da Nang city]. Tạp chí Khoa học công nghệ - Đại học Đà Nẵng, 5, 52-29.  
Vo, T. V., & Le, D. C. (2015). Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của nông hộ ở Đồng  
Bằng Sông Cửu Long [Driving factors affecting livelihood outcomes of farm households  
in the Mekong Delta]. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 38(2015), 120-129.  
36  
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35  
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.  
pdf 17 trang baolam 20420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vốn sinh kế và giải pháp nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa bàn xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvon_sinh_ke_va_giai_phap_nang_cao_thu_nhap_cho_nong_ho_tren.pdf