Vốn sinh kế và giải pháp nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa bàn xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang
20
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
Vốn sinh kế và giải pháp nâng cao thu nhập cho nông hộ
trên địa bàn xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang
Livelihood assets and solutions for improving households’ income
in new rural areas of Hau Giang Province
Võ Hồng Tú1, Nguyễn Thuỳ Trang1*
1Khoa Phát triển Nông thôn, Trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
soci.vi.16.2.1899.2021
Xây dựng nông thôn mới là một trong những chương trình
trọng điểm với mục tiêu phát triển toàn diện khu vực nông thôn.
Hậu Giang là tỉnh đi đầu ở Đồng bằng sông Cửu Long về thực
hiện nông thôn mới. Do vậy, nghiên cứu thực hiện điều tra 458
quan sát tại Hậu Giang để tìm hiểu nguồn vốn sinh kế và so sánh
sánh nguồn vốn sinh kế ở các nhóm xã có kết quả xây dựng nông
thôn mới khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung
năm nguồn vốn sinh kế nông hộ ở nhóm xã hoàn thành tốt là cao
hơn so với các nhóm xã còn lại. Kết quả hồi quy đa biến cho thấy
có 04 yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa và tỷ lệ thuận đến thu nhập
nông hộ, gồm diện tích đất của nông hộ, tình hình vốn vay, nhân
khẩu trong gia đình và nhóm xã hoàn thành tốt xây dựng nông
thôn mới.
Ngày nhận: 27/05/2021
Ngày nhận lại: 24/06/2021
Duyệt đăng: 19/07/2021
Từ khóa:
ABSTRACT
nông thôn mới; sinh kế; sinh kế
bền vững
New rural construction is one of the key programs with the
goal of comprehensive development of rural areas. Hau Giang is
the leading province in the Mekong Delta in implementing the
new rural program. Therefore, the study carried out interviews of
458 observations in Hau Giang to find out the current status of
rural livelihood assets and compare the livelihood assets among
three groups of communes with different levels of the
complement of New Rural criteria. The research results show
that, in general, the five livelihood assets of households in the
well-performed group of communes are much better than the
remaining two groups. The multiple regression shows four factors
affecting the households’ income significantly and positively,
including farm size, credit access, family size, and the well-
performed communes.
Keywords:
new rural program; livelihood
assets; sustainable livelihood
1. Giới thiệu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và sự cạnh tranh của thị trường nông sản giữa các quốc
gia sản xuất nông nghiệp, Việt Nam cần có những chính sách cụ thể cho phát triển đồng bộ và
toàn diện để nâng cao tính cạnh tranh và khả năng hội nhập của nông nghiệp, nông dân và nông
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
21
thôn. Để góp phần thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa khu vực nông thôn, việc cần làm
hiện nay là xây dựng một mô hình mới để phát huy các khả năng và nội lực của nông dân. Thực
hiện Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung
ương (2008) về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” Thủ tướng chính phủ đã ban hành
“Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông Thôn Mới (NTM) giai đoạn 2010 - 2020”
theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 06/04/2010 (Thủ tướng chính phủ, 2010) và được thay thế
bởi Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/08/2016 (Thủ tướng chính phủ, 2016a). Cùng với đó là
các quyết định về “Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” cũng được ban hành như Quyết định
số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 (Thủ tướng chính phủ, 2009); Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày
17/10/2016 (Thủ tướng chính phủ, 2016b). Mục tiêu của chương trình xây dựng NTM là một
khu vực nông thôn có cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, sự gắn kết chặt chẽ
giữa nông nghiệp với công nghiệp, hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn hiện đại, gắn phát triển
nông thôn với đô thị; môi trường được quan tâm bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; mức sống
người dân nông thôn ngày càng nâng cao.
Hậu Giang là là tỉnh đi đầu trong thực hiện xây dựng NTM ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long (ĐBSCL) và thị xã Ngã Bảy (nay là thành phố Ngã Bảy) là đơn vị cấp huyện đầu tiên của
khu vực được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn NTM. Nhờ sự đầu tư có trọng tâm,
trọng điểm, sự tham gia đóng góp, ủng hộ rộng rãi của doanh nghiệp, người dân và cả hệ thống
chính trị nên kết cấu hạ tầng nông thôn của tỉnh Hậu Giang ngày càng hiện đại, hạ tầng phục vụ
sản xuất, sinh hoạt, y tế, giáo dục, môi trường được đầu tư khang trang. Sau 10 năm thực hiện
chương trình xây dựng NTM, đến nay toàn tỉnh có hơn 60% số xã đã hoàn thành mục tiêu. Đến
cuối năm 2020, Hậu Giang đã có 32 xã trong tổng số 51 xã và 01 huyện, 02 thành phố được công
nhận đạt chuẩn NTM (Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang, 2020). Tuy là tỉnh dẫn đầu
khu vực ĐBSCL về xây dựng NTM, nhưng đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận người
dân nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, chất lượng cuộc sống của người dân chưa được cải thiện,
nhiều tiêu chí thực hiện còn bất cập chưa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Nhận
thấy được tính cấp bách của vấn đề nên đề tài nghiên cứu “Mối liên hệ giữa nguồn vốn sinh kế
của nông hộ và kết quả xây dựng NTM ở Hậu Giang” được thực hiện nhằm tìm ra mối liên hệ
giữa nguồn vốn sinh kế của người dân với kết quả xây dựng NTM ở tỉnh Hậu Giang, từ đó đề
xuất các giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả và bền vững chương trình xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn tỉnh và góp phần nâng cao đời sống người dân.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết
Sinh kế không đơn thuần là kế sinh nhai và nơi ở mà nội hàm của thuật ngữ này còn liên
quan đến khả năng tiếp cận thông tin, quyền sở hữu, kỹ năng và các mối quan hệ giữa nguồn vốn
sinh kế và các hợp phần khác trong khung sinh kế bền vững. Tài sản sinh kế là nguồn lực cơ bản
của một tác nhân nhằm thực hiện, tái sản xuất, ứng phó hoặc thay đổi các nguyên tắc để chi phối
sự kiểm soát, sử dụng chuyển đổi các nguồn lực (Bebbington, 1999). Tài sản sinh kế gồm năm
nguồn vốn khác nhau, cụ thể là vốn con người, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài
chính, trong đó mỗi loại tài sản được quyết định bởi nhiều tiêu chí nhỏ (Carney, 1998; Chambers
& Conway, 1992). Các nguồn vốn này có mối liên hệ và tác động qua lại cũng như hỗ trợ lẫn
nhau, trong đó nguồn vốn con người có vai trò quan trọng trong thúc đẩy việc sử dụng các loại
tài sản sinh kế khác. Sinh kế được xem là bền vững khi khi nó có thể ứng phó được với các tác
động ngắn hạn (shocks) và thích nghi với các ảnh hưởng trong dài hạn hay nói cách khác là các
sinh kế có thể phục hồi (resilience), duy trì (maintainance) và tăng cường (enhance) được những
khả năng và nguồn lực (assets) hiện tại cũng như tương lai, mà không ảnh hưởng đến nguồn tài
nguyên thiên nhiên (Carney, 1998). Khái niệm này được phát triển dựa trên kết quả nghiên cứu
22
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
của Sen (1981) về “Quyền được lựa chọn và thực hiện và khả năng của con người” và Chambers
và Conway (1992) về sinh kế. Sinh kế bền vững dựa vào nguyên tắc tiếp cận lấy con người làm
trung tâm (Ashley & Carney, 1999). Như vậy, khung sinh kế bền vững là một công cụ nhằm giúp
tìm hiểu và phân tích một cách toàn diện liên quan đến sinh kế. Khung sinh kế giúp chỉ ra những
khía cạnh quan trọng và mô tả sự liên hệ giữa chúng (vốn sinh kế và các hợp phần trong khung
sinh kế), mô tả được các ảnh hưởng, tiến trình và nhấn mạnh sự đa dạng tương tác giữa các nhân
tố/hợp phần khác nhau có ảnh hưởng đến sinh kế. Theo Carney (2003) khung sinh kế được thiết
kế như Hình 1 sau:
Các kết quả sinh kế
- Thu nhập nhiều hơn
- Cuộc sống đầy đủ hơn
- Giảm khả năng tổn
thương
- An ninh lương thực
được cải thiện
- Công bằng xã hội được
cải thiện
- Tăng tính bền vững
của tài nguyên thiên
nhiên
Vốn sinh kế
Chính sách, tiến
trình và cơ cấu
- Ở các cấp khác
nhau của chính
phủ: luật pháp,
chính sách công,
các động lực các
quy tắc
Các chiến lược
sinh kế
- Các tác nhân xã
hội (nam, nữ, hộ
gia đình, cộng
đồng…)
Bối cảnh dễ
tổn thương
- Xu hướng
- Thời vụ
Con người
Tự
nhiên
Xã hội
- Chấn động
- Các cơ sở tài
(trong
nhiên
tự
và
nguyên
nhiên
thiên
- Các thiết chế
chính trị và kinh
tế
môi trường,
thị trường,
- Cơ sở thị trường
- Đa dạng
- Sinh tồn hoặc
tính bền vững
Vật
thể
Tài
chính
- Giá trị không sử dụng
của tài nguyên tự nhiên
được bảo vệ
chính
trị:
chiến h)
Hình 1. Khung phân tich sinh kế bền vững
Nguồn: Carney (2003)
Nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước về sinh kế mặc dù có cách tiếp cận khác nhau,
từ các lĩnh vực khác nhau như xã hội học, kinh tế học, … nhưng chủ yếu vẫn dựa vào 05 nguồn
vốn cơ bản: vốn con người, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn vật chất, (Ashley &
Carney, 1999; Carney, 2003; Chambers & Conway, 1992; Morse & McNamara, 2013; Scoones
1998; Solesbury, 2003; Small, 2007; Twigg, 2007).
Vận dụng khung sinh kế bền vững của các nhà nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là khung
sinh kế bền vững của Cơ quan phát triển Quốc tế của Anh (DFID) (Carney, 2003), nhiều nhà
nghiên cứu trong nước đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu về sinh kế, biến đổi sinh kế do
tác động của quá trình công nghiệp hóa (industrialization), di cư (migration), tái định cư
(resettlement), phát triển du lịch (Dao, 2015; Do, 2017; Hoang & Pham, 2012; H. V. Nguyen,
2012; B. V. Tran, 2015).
Nghiên cứu này ứng dụng khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (Carney, 2003)
về 05 nguồn vốn sinh kế dưới tác động của chương trình xây dựng NTM để xem xét mối quan hệ
giữa nguồn vốn sinh kế của người dân tại địa bàn nghiên cứu với kết quả đạt được của chương
trình NTM nhằm góp phần đề xuất giải pháp phát triển toàn diện bộ mặt nông thôn nói chung và
nâng cao mức sống của người dân nói riêng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp chọn vùng và mẫu nghiên cứu
Theo số liệu thống kê từ Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang (2019), tính đến
tháng 06/2018 toàn tỉnh không có xã nào đạt dưới 05 tiêu chí, nhóm xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí chỉ
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
23
có 01 xã, phần lớn tập trung ở nhóm từ 10 - 14 tiêu chí (25 xã), xã đạt từ 05 - 09 tiêu chí có 04 xã.
Từ thực trạng trên, để tạo cở sở cho so sánh, nghiên cứu tiến hành chọn 03 nhóm xã có
mức độ hoàn thành khác nhau: Nhóm 1 (hoàn thành tốt, hoàn thành trên 15 tiêu chí). Nhóm 2
(hoàn thành khá, hoàn thành từ 10 - 14 tiêu chí), Nhóm 3 (hoàn thành trung bình, dưới 10 tiêu chí).
Bảng 1
Địa bàn nghiên cứu
Số tiêu chí
hoàn thành
Nhóm xã
Huyện
Ngã Bảy
Xã
Đại Thành
19
19
16
Châu Thành A
Châu Thành
Trường Long Tây
Hoàn thành tốt
Đông Phước A
Tx. Long Mỹ
Vị Thủy
Long Phú
13
10
Hoàn thành khá
Hoàn thành thấp
Vĩnh Trung
Phụng Hiệp
Long Mỹ
Hòa An
Vĩnh Viễn A
9
8
Nguồn: Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang (2019)
Nghiên cứu được thực hiện trên 07 xã (Đại Thành, Trường Long Tây, Vĩnh Viễn A,
Đông Phước A, Vĩnh Trung, Long Phú và Hòa An) của 07 huyện (Ngã Bảy, Châu Thành A, thị
xã Long Mỹ, Vị Thủy, Phụng Hiệp, Long Mỹ) của tỉnh Hậu Giang. Đối tượng nghiên cứu là
những hộ dân đang sinh sống trên địa bàn 07 xã. Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn ngẫu
nhiên theo hình thức bước nhảy, cụ thể là chọn 03 tuyến xã có điều kiện kinh tế giàu, khá và
trung bình theo sự hướng dẫn của cán bộ địa phương. Trên một tuyến đường, nghiên cứu tiến
hành chọn 01 hộ và sau đó bỏ 01 hộ và phỏng vấn hộ tiếp theo, tiến trình thực hiện được lặp lại
cho đến khi đủ số quan sát theo yêu cầu. Tổng số quan sát là 458.
Bảng 2
Thống kê hộ khảo sát trong xã
Xã
Tần số (hộ)
Tỷ lệ
8.95
15.50
11.57
17.25
19
16.81
10.92
100
Đại Thành
Vĩnh Viễn A
41
71
53
79
87
77
50
458
Đông Phước A
Long Phú
Hòa An
Vĩnh Trung
Trường Long Tây
Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra trong (2019), n = 458
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu
Bước 1: Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả bức tranh tổng quát
về thực trạng sinh kế của nông hộ tại các địa bàn nghiên cứu và thực trạng thu nhập khi có kết
quả xây dựng NTM;
Bước 2: Để tìm mối liên hệ giữa các vốn sinh kế và kết quả của quá trình xây dựng NTM
ở tỉnh Hậu Giang, nghiên cứu sử dụng phân tích bảng chéo (Cross-tabulation);
24
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
Bước 3: Do kết quả đầu ra mong đợi cuối cùng của các hoạt động sinh kế mà nông hộ đặt
trọng tâm nhất là thu nhập nên để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tại
tỉnh Hậu Giang, nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy đa biến: Phương trình được viết dưới
dạng như sau:
푌 = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 … + β푖X푖 + ε푖
푖
(1)
Yi: Thu nhập của nông hộ; βi: Các tham số cần ước lượng trong mô hình; X푖 là các biến
độc lập trong mô hình hồi quy; ε푖 là sai số của mô hình hồi quy có phân phối chuẩn.
Các biến độc lập đưa vào mô hình là các biến đại diện cho 05 nguồn vốn sinh kế và các
biến về điều kiện kinh tế xã hội của hộ cũng như mức độ hoàn thành các tiêu chí.
Bảng 3
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhâp ở nông hộ tỉnh Hậu Giang
Ký
hiệu
Tên biến
Mô tả
Nguồn tài liệu
Dấu
Truong và Dang (2011); Huynh và
Mai (2011)
Diện tích đất
X1
Ha
+
Do thu nhập nông hộ phụ thuộc phần
lớn về sản xuất nông nghiệp, nên
nghiên cứu muốn tìm hiểu về nhận
Tình hình thủy lợi
X8 Thang điểm từ 1 - 10 thức của người dân về sự hoàn chỉnh
của hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho hệ
+
thống sản xuất của họ (1 rất chưa
hoàn chỉnh và 10 là rất hoàn chỉnh)
Kinh nghiệm
Tuổi chủ hộ
X2
X3
Năm
Năm
N. Q. Nguyen và Bui (2011)
-
-
N. Q. Nguyen và Bui (2011); T. V.
Vo và Le (2015); T. Q. Tran (2015)
N. Q. Nguyen và Bui (2011); T. V.
Vo và Le (2015); T. Q. Tran (2015)
Trình độ
Nhân khẩu
Giới tính
X4
X5
X6
Lớp
Người
+
+
+
N. Q. Nguyen và Bui (2011); T. Q.
Tran (2015)
Truong và Dang (2011); T. Q. Tran
(2015)
1 = nam; 0 = nữ
Mai (2016); A. T. T. Vo và Phan
(2010); T. Q. Tran (2015); Nghiem,
Coelli, và Rao (2012)
1 = có vay vốn
Tình hình vay vốn
Hoàn thành tốt
X7
X9
+
+
0 = không vay vốn
1= tốt ; 0 = còn lại Đây là biến mới mà nhóm nghiên cứu
đưa vào trong trường hợp nghiên cứu
này và xem như biến kiểm soát trong
mô hình, được dung để so sánh sự
Hoàn thành khá
X10
1= khá; 0 = còn lại
+
khác biệt về thu nhập giữa hai nhóm.
Nguồn: Tác giả tổng hợp
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Phân tích thực trạng nguồn vốn sinh kế và mối liên hệ với kết quả xây dựng NTM
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
25
3.1.1. Nguồn vốn con người
Nguồn vốn con người đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh kế nông hộ. Để
đánh giá nguồn vốn con người thì phải thông qua các tiêu chí như: tuổi, giới tính, trình độ học
vấn, kinh nghiệm sản xuất, số nhân khẩu, tỷ lệ lao động phụ thuộc tuổi trong lao động, … Qua
kết quả phân tích cho thấy tuổi chủ hộ trung bình là 56.22 tuổi, cho thấy tình hình dân số tỉnh
Hậu Giang đã chuyển sang bước già hóa, cụ thể là có đến 15.1% dân số có độ tuổi lớn hơn 60, tỷ
lệ dân số trẻ dưới 24 tuổi là rất thấp, trong khi đó đây là nguồn lực lao động thay thế quan trọng
trong tương lai (Hình 2). Độ tuổi trung bình của người dân ở nhóm xã mức độ hoàn thành tốt là
56.19 tuổi, ở mức hoàn thành khá là 54.46 tuổi và ở nhóm xã có mức hoàn thành trung bình
(dưới 10 tiêu chí) là 57.89 tuổi. Về giới tính của chủ hộ theo các nhóm xã với mức độ hoàn thành
khác nhau như sau: đa phần chủ hộ đều là nam giới ở mức độ hoàn thành tốt (chiếm 82.64%), ở
mức độ hoàn thành khá (chiếm 87.82%) và mức độ trung bình (chiếm 84.81%). Về trình độ học
vấn trong địa bàn nghiên cứu khá thấp, đa phần chủ hộ hoàn thành trình độ cấp 1 và 2, chiếm
hơn 70%, trình độ từ trung cấp trở lên chiếm khoảng 5.36 - 7.82%. Đa số nhân khẩu từ 04 đến 06
người, chiếm 65.3%, trung bình có 4.29 người/hộ, hộ có số nhân khẩu lớn nhất là 08 người/hộ và
nhỏ nhất là 01 người. Về lao động chính thì đa số hộ có số lao động chính từ 02 đến 04 người/hộ,
chiếm 68.78%.
80-85
70-74
60-64
50-54
40-44
30-34
20-24
10-14
0-4
-100
-80
-60
-40
-20
0
20
Nam
40
60
80
100
Nữ
Hình 2. Tháp dân số của tỉnh Hậu Giang
Ghi chú: tháp dân số được tính cho tất cả thành viên hộ
Nguồn: Dựa trên số liệu khảo sát (2019), n = 458
3.1.2. Nguồn vốn tự nhiên
Nguồn vốn tự nhiên là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến sinh kế
của cộng đồng, đặc biệt là người nghèo. Vốn tự nhiên bao gồm tất cả các yếu tố như địa hình, đất
đai, khí hậu, điều kiện thủy lợi có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế hộ. Hậu Giang là tỉnh thuần
nông và đất đai là tư liệu quan trọng để sản xuất nông nghiệp và gắn liền với cuộc sống của
người dân tại đây. Về diện tích đất canh tác, trung bình mỗi hộ sở hữu khoảng 0.66ha. Tỷ lệ hộ
không có đất lại chiếm khá cao, khoảng 22.49%. Đối với nhóm xã có mức độ hoàn thành tốt thì
tỷ lệ hộ không có đất chiếm 17.36%, mức độ hoàn thành khá chiếm 22.43%, mức độ hoàn thành
trung bình chiếm 27.22%. Sinh kế của các hộ không có đất canh tác chủ yếu dựa vào làm thuê.
Về tình trạng điều kiện thủy lợi, kết quả nghiên cứu cho thấy người dân có đánh giá khá
tích cực về sự thay đổi, cụ thể so với trước khi có chương trình xây dựng NTM, có 280 hộ trong
tổng 458 hộ khảo sát cho rằng hệ thống thủy lợi thay đổi theo chiều hướng tốt, thông qua việc
nạo vét sông, kênh, rạch nên tạo điều kiện lưu thông nước từ sông vào các kênh rạch nội đồng, từ
26
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
đó giúp nông hộ dễ có được nguồn nước tưới phục vụ cho sản xuất.
Qua kết quả phân tích bảng chéo cho thấy với mức ý nghĩa α = 10% cho thấy có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê về tình trạng thủy lợi giữa các nhóm xã có mức độ hoàn thành chương
trình NTM khác nhau. Như vậy những xã có mức độ hoàn thành tốt thì người dân đánh giá thuỷ
lợi thay đổi tích cực hơn những xã khoàn thành khá và trung bình, đều này cho thấy ở xã hoàn
thành tốt đã đầu tư cho các công trình thuỷ lợi nhiều nên đã góp phần thay đổi tích cực điều kiện
sống của người dân.
Bảng 4
Tình trạng điều kiện thủy lợi sau xây dựng NTM
Tình trạng
Nhóm Tốt
Nhóm Khá
Nhóm
Tổng
Trung bình
Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số
Tỷ lệ
Thay đổi
98 68.05
46 31.95
87 55.77
69 44.23
95 60.13 280
63 39.87 178
61.14
38.86
100
Không thay đổi
Tổng
144
100 156
100 158
8.25*
100 458
Giá trị 휒2
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458
Qua phân tích về nguồn vốn tự nhiên trên địa bàn nghiên cứu những mặt mạnh là điều
kiện thủy lợi phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp tương đối hoàn chỉnh và thuận lợi.
Tuy nhiên, diện tích đất trung bình tương đối thấp cộng thêm tác động tiêu cực từ tình hình biến
đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu đã đặt ra một thách thức lớn để phát triển kinh tế và nâng cao
thu nhập cho người dân.
3.1.3. Vốn vꢀt chất
Vốn vật chất trong nghiên cứu này được xem xét bao gồm hai hình thức: vốn vật chất
phục vụ cho sinh hoạt và cho hoạt động sản xuất. Phương tiện vật chất phục vụ sinh hoạt rất cần
thiết giúp cho đời sống và sinh hoạt của nông hộ. Theo kết quả nghiên cứu trình bày trong Bảng
5 cho thấy nhìn chung, những phương tiện vật chất phục vụ cho nông hộ rất đa dạng và đầy đủ
cho cuộc sống tiện nghi, có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, vui chơi và giải trí của nông hộ ở ba
địa bàn xã có mức độ hoàn thành chương trình NTM khác nhau.
Bảng 5
Phương tiện vật chất phục vụ sinh hoạt của nông hộ
Đơn vị: số hộ
Nhóm xã
Phương tiện
Tivi
Đơn vị tính
Nhóm tốt
144
Nhóm khá
156
Nhóm trung bình
Cái
Cái
Cái
Cái
Cái
150
138
137
105
139
Bếp gas
143
152
Nồi cơm điện
Tủ lạnh
Quạt gió
142
116
128
150
107
155
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
27
Nhóm xã
Nhóm khá
Phương tiện
Xe gắn máy
Đơn vị tính
Nhóm tốt
Nhóm trung bình
Chiếc
142
152
145
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458
Phương tiện sản xuất là các thiết bị gắn liền với những hoạt động sản xuất của nông hộ.
Hầu hết các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu đều làm nông nghiệp nên phương tiện phục vụ sản
xuất chủ yếu là máy bơm nước, ghe/xuồng, xe vận chuyển và bình xịt để thuận tiện trong việc đi
lại và vận chuyển các phương tiện, vật tư phục vụ hoạt động sản xuất.
Bảng 6
Phương tiện vật chất phục vụ sản xuất của nông hộ
Đơn vị: số hộ
Nhóm xã
Đơn vị
Phương tiện
tính
Nhóm tốt
Nhóm khá
Nhóm trung bình
Máy bơm nước
Ghe/xuồng
Xe vận chuyển
Máy cày
Cái
Chiếc
Chiếc
chiếc
Cái
126
128
115
2
118
116
126
0
98
124
124
2
Máy gặt đập
Bình xịt
4
1
2
Cái
89
77
58
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu ở Bảng 7 cũng cho thấy hệ thống hạ tầng giao thông
phục vụ nhu cầu vận chuyển, đi lại trong sản xuất và sinh hoạt được người dân đánh giá khá hài
lòng, cụ thể có 249 hộ hài lòng chiếm 54.37% và 155 hộ rất hài lòng, chiếm 33.84 %.
Bảng 7
Đánh giá về hệ thống hạ tầng giao thông
Nhóm xã
Phương tiện
Nhóm tốt
Nhóm khá
Nhóm trung bình
Rất hài lòng
Hài lòng
59
74
54
82
42
93
Không hài lòng
Tổng
11
20
23
144
156
158
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458
Về hệ thống dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe, kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống này ở
các xã được đầu tư khá hoàn thiên. Tại mỗi xã đều có trung tâm y tế được trang bị khá đầy đủ
các phương tiện và đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế được đào tạo. Tình hình phục vụ y tế chăm sóc
sức khỏe được người dân đánh giá khá cao, chủ yếu ở ở mức hài lòng và rất hài lòng. Kết quả
nghiên cứu cũng cho thấy có 394 hộ trong tổng 458 hộ cho rằng việc phục vụ y tế và chăm sóc
người dân tốt hơn so với trước, chiếm 86.03%.
3.1.4. Vốn xã hội
28
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
Nguồn vốn xã hội thể hiện qua việc gia nhập hội, nhóm và các mối quan hệ xã hội khác.
Sự tương trợ qua lại giữa cá nhân và cộng đồng được thể hiện ở các khía cạnh tài chính, nhân
công, kiến thức và tiếp cận thông tin.
Về tình hình tham gia các hội nhóm của chủ hộ (như hội nông dân, hội phụ nữ, …) còn
khá thấp, chỉ có 95 hộ trong tổng 458 hộ (chiếm tỷ lệ 20.74%). Xét theo nhóm xã có mức độ
hoàn thành xây dựng NTM thì nhóm xã hoàn thành tốt có 43 hộ tham gia (chiếm 29.86%) và 101
hộ không tham gia (chiếm 70.14%), nhóm xã hoàn thành khá có 21 hộ tham gia (chiếm 12.18%)
trong tổng 156 hộ, ở nhóm xã có kết quả hoàn thành trung bình có 33 hộ tham gia (chiếm
20.89%) trong tổng 158 hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa tham gia vào hội
nhóm và mức độ hoàn thành xây dựng NTM bằng phân tích bảng chéo ở mức ý nghĩa α = 1%,
kết quả này cho thấy ở nhóm xã với kết quả hoàn thành tốt thì tỷ lệ người dân tham gia vào hội
nhiều hơn.
Bảng 8
Tình hình tham gia hội của chủ hộ
Nhóm
Trung bình
Nhóm Tốt
Nhóm Khá
Tổng
Tình hình tham gia
Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số
Tỷ lệ
hội
Có
43
29.86
70.14
100
19
12.18
87.82
100
33
125
20.89
79.11
100
95
20.74
79.26
100
Không
Tổng
101
144
137
156
363
458
158
Giá trị 휒2
16.45***
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458
Về quan hệ xã hội thì có 425 hộ trong tổng 458 hộ, chiếm 92.79% cho rằng mối quan hệ
xã hội hiện tại thay đổi so với lúc trước khi xây dựng NTM do điều kiện đi lại thuận tiện hơn,
các hoạt động cộng đồng được triển khai nhiều hơn.
3.1.5. Vốn tài chính
Nguồn vốn tài chính bao gồm nguồn tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản dễ thanh
toán như vàng và vật nuôi. Nông hộ có thể tăng thu nhập của mình bằng cách đa dang hóa các
hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp. Những nông hộ có hoạt động sinh kế và
nguồn thu nhập đa dạng sẽ góp phần hạn chế tính dễ bị tổn thương trước sự biến động như thiên
tai làm giảm năng suất, mất mùa, hay biến động về giá cả thị trường, … Tính đa dạng nguồn thu
nhập tuy không nói lên mức thu nhập nhưng phần nào cho thấy khả năng phân bổ nguồn lực của
nông hộ cũng như giảm tính dễ bị tổn thương trước những ảnh hưởng xấu.
- Đa dạng nguồn thu nhập
Để đánh giá được sự đa dạng trong thu nhập của nông hộ, nghiên cứu phỏng vấn trên
cùng đối tượng và hỏi trước và sau khi có chương trình xây dựng NTM, sự đa dạng thu nhập của
nông hộ có thay đổi đáng kể, cụ thể như sau:
+ Trước NTM: Về tính đa dạng thu nhập trước khi có chương trình NTM (cụ thể là năm
2011) của 458 hộ cho thấy có 40 hộ không có nguồn thu nhập, nhóm hộ này phụ thuộc chính vào
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
29
tiền gửi của con hoặc hỗ trợ từ địa phương, có 336 hộ có một nguồn thu nhập, chiếm 73.36%, có
79 hộ có từ 02 nguồn, chiếm 17.25% và có 03 hộ có nguồn thu nhập từ 03 nguồn, chiếm 0.66%;
+ Sau NTM: Sau khi thực hiện xây dựng NTM, sự đa dạng về hoạt động sinh kế của 458
hộ cho thấy có 202 hộ có một nguồn thu nhập, chiếm 44.1%, giảm khoảng 30% so với trước
NTM; có 242 hộ có nguồn thu nhập từ 02 nguồn, chiếm 52.84%, tăng thêm khoảng 25% so với
trước NTM; có 13 hộ có nguồn thu nhập từ 03 nguồn, chiếm 2.84% và có 01 hộ có bốn nguồn
thu nhập. Từ kết quả này cho thấy thu nhập của người dân có sự thay đổi đáng kể so với trước
khi thực hiện xây dựng NTM. Đối với từng nhóm xã có mức độ hoàn thành NTM khác nhau, kết
quả nghiên cứu cho thấy nhóm khá và trung bình có sự thay đổi đáng kể về nguồn thu nhập hơn
so với nhóm hoàn thành tốt.
Bảng 9
Thống kê nguồn thu nhập của nông hộ trước và sau NTM
Nhóm tốt
Nhóm khá
Nhóm trung bình
Tổng
Số nguồn
Trước
Sau
Trước
Sau
Trước
Sau
Trước Sau
NTM
NTM
NTM
NTM
NTM
NTM NTM NTM
Không nguồn
Một nguồn
Hai nguồn
Ba nguồn
8
83
51
2
0
61
80
3
17
0
71
80
5
15
124
18
1
0
70
82
5
40
336
79
3
0
202
242
13
129
10
0
Bốn nguồn
0
0
0
0
0
1
1
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458
- Thu nhập nông hộ
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng thu nhập trung bình của nông hộ giai đoạn trước khi
thực hiện xây dựng NTM là 133.64 triệu đồng/hộ/năm, hộ có thu nhập cao nhất là 602 triệu
đồng/hộ/năm và thấp nhất là 15 triệu đồng/hộ/năm, từ đó cho thấy khoảng cách giữa hộ có thu
nhập cao nhất và hộ có thu thấp nhất là rất lớn. Giai đoạn sau khi thực hiện xây dựng NTM, tổng
thu nhập bình quân của nông hộ có xu hướng tăng lên, cụ thể là 168.7 triều đồng/hộ/năm, cao
hơn so với trước xây dựng NTM khoảng 35 triệu/hộ/năm. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy
khoảng cách về thu nhập giữa hộ cao nhất và thấp nhất cũng có xu hướng tăng lên, cụ thể hộ có
thu nhập cao nhất là 906 triệu đồng/ hộ/năm và thấp nhất là 20 triệu đồng/hộ/năm.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thu nhập của hộ gia đình từ khi có chương trình xây
dựng NTM có sự thay đổi tăng đáng kể, cụ thể tăng 83 hộ có thu nhập trên 100 triệu/hộ/năm. Về
tình hình vay vốn tại địa bàn nghiên cứu cho thấy có 58.08% hộ cho rằng việc tiệp cận vốn vay
trở nên dễ dàng hơn.
Bảng 10
Thu nhập hộ trước và sau NTM
Thu nhâp nông hộ
Trước NTM
Sau NTM
30
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
Tần số
169
284
5
Tỷ lệ
36.9
62.01
1.09
100
Tần số
86
Tỷ lệ
18.78
79.26
1.96
Dưới 100 triêu
100 - 500 triệu
363
9
Trên 500 triệu
Tổng
458
458
100
Thu nhập trung bình
Thu nhập cao nhất
Thu nhập thấp nhất
Độ lệch chuẩn
133.64
602
168.82
906
15
20
84.72
104.47
Nguồn: Số liệu khảo sát (2019), n = 458
Để tìm hiểu thêm về sự khác biệt thu nhập theo nhóm xã có mức độ thành khác nhau,
Bảng 11 cho thấy thu nhập bình quân nhỏ hơn 25 triệu đồng/người/năm ở cả 03 nhóm xã chiếm
tỷ lệ thấp (2.8% trong tổng số). Trong khi đó, thu nhập khoảng 25 triệu đến 45 triệu
đồng/người/năm ở cả 03 nhóm hộ chiếm tỷ lệ cao nhất 65.5% và từ trên 45 - 60 triệu
đồng/người/năm, chiếm 22.05%. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa phần đời sống của người dân
chưa cao do thu nhập còn nằm trong mức trung bình khá từ 25 - 45 triệu đồng/người/năm.
Bảng 11
Phân nhóm thu nhập theo các nhóm xã hoàn thành NTM
Thu nhập
(Triệu/người/năm)
Hoàn thành Hoàn thành Hoàn thành
Tổng
tốt
khá
trung bình
Nhỏ hơn 25 triệu
1
4
8
115
27
8
13
300
101
44
Từ > 25 triệu đến 45 triệu
Trên > 45 triệu đến 60 triệu
Trên 60 triệu
82
41
20
144
103
33
16
Tổng
156
158
458
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019), n = 458
Từ kết quả phân tích cũng cho thấy, thu nhập bình quân là 38.13 triệu đồng/người/năm.
Trong đó, những hộ gia đình có mức thu nhập bình quân cao nhất khoảng 150 triệu đồng và mức
thu nhập thấp nhất khoảng 11.6 triệu đồng.
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
Nghiên cứu sẽ tìm hiểu các yếu tố về điều kiện kinh tế xã hội, đặc điểm hộ và mức độ
hoàn thành kết quả NTM có ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ. Thu nhập được nâng cao và ổn
định sẽ góp phần nâng cao các nguồn vốn sinh kế khác, chẳng hạn như đối với vốn vật chất, thu
nhập góp phần tăng cường nguồn vốn vật chất thông qua việc mua sắm thêm các phương tiện sản
xuất, ... thu nhập góp phần tăng vốn tự nhiên qua việc mua thêm đất đai để thực hiện các hoạt
động sản xuất nông nghiệp, và góp phần tăng các nguồn vốn xã hội qua việc hợp tác sản xuất giữa
mọi người với nhau tăng thêm các mối quan hệ xã hội giúp ích cho việc tạo dựng sinh kế cho họ
và thu nhập cũng sẽ góp phần làm tăng nguồn vốn con người qua việc tiếp cận với giáo dục.
Để xác định và sử dụng kết quả từ mô hình hồi quy trong đề xuất giải pháp, nghiên cứu
đã thực hiện kiểm định các sai phạm trong mô hình hồi quy như đa cộng tuyến và phương sai sai
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
31
số thay đổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình hồi quy không có hiện tượng phương sai sai
số thay đổi với giá trị 휒2 = 1.25 (chấp nhận giả thuyết H0 = phương sai không thay đổi) và kết
quả từ ma trận tương quan cho thấy không có mối quan hệ tuyến tính nào giữa các cặp biến độc
lập trong mô hình hồi quy (với tất cả r < 0.4).Như vậy, mô hình hồi quy có thể được sử dụng để
giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ.
Kết quả hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa thu nhập và các yếu tố về đặc điểm hộ cũng
như điều kiện kinh tế xã hội nông hộ được trình bày ở Bảng 12 sau:
Bảng 12
Kết quả phân tích hồi qui về các yếu tố sinh kế ảnh hưởng đến thu nhập
Biến
Hằng số (constant)
X1: Diện tích
Hệ số hồi qui
- 67.80**
24.77***
-0.28ns
S.E.
33.38
5.21
0.30
1.83
0.38
1.23
3.02
12.02
1.97
10.27
9.93
Giá trị t
-2.03
4.75
X2: Kinh nghiệm
X3: Vốn vay
-0.95
4.07
7.44***
0.33ns
X4: Tuổi
0.87
X5: Trình độ
1.82ns
1.48
X6: Nhân khẩu
X7: Giới tính
29.48***
-11.11ns
2.36ns
9.77
-0.92
1.20
X8: Thủy lợi
X9: Hoàn thành tốt
X10: Hoàn thành khá
Số quan sát
39.27***
14.47ns
3.82
1.46
458
Giá trị F
22.09
0.316
Hệ số xác định (R2)
Ghi chú: *, **, ***, và ns: tương ứng với mức ý nghĩa thống kê 10%, 5%, 1% và không có ý nghĩa ở mức 10%
Nguồn: Kết quả được tác giả phân tích (2019)
Kết quả phân tích hồi quy ở Bảng 12 cho thấy thu nhập của nông hộ chịu tác động của
các yếu tố sau: diện tích đất, vốn vay, nhân khẩu và mức độ hoàn thành tốt chương trình xây
dựng NTM.
Biến mức độ hoàn thành tốt có hệ số hồi quy lớn nhất và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%,
kết quả này cho thấy nông hộ ở nhóm xã hoàn thành tốt có thu nhập cao hơn so với hai nhóm còn
lại khoảng 39.27 triệu đồng/năm/hộ. Điều này cho thấy kết quả điều tra đã góp phần khẳng định
thu nhập hộ của nhóm xã hoàn thành tốt là cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với hai nhóm xã
có mức độ hoàn thành khá và trung bình. Từ số liệu này cho thấy kết quả chương trình xây dựng
NTM đã phần nào làm gia tăng thu nhập của nông hộ và việc xây dựng chương trình NTM là hết
32
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
sức cần thiết và cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện trong thời gian tới. Tuy nhiên, việc
duy trì và nâng cấp (NTM nâng cao và kiểu mẫu) kết quả xậy dựng NTM là hết sức cần thiết.
Biến diện tích đất có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với thu nhập ở mức ý nghĩa 1%, điều này có
thể dễ dàng giải thích là nông hộ ở địa bàn nghiên cứu có hoạt động sinh kế chính là sản xuất
nông nghiệp.
Biến tiếp cận vốn vay cũng có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với thu nhập ở mức ý nghĩa 1%, kết
quả này cho thấy sự cần thiết của các chương trình hỗ trợ tín dụng nông nghiệp. Biến nhân khẩu
hộ cũng có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến thu nhập nông hộ ở mức ý nghĩa 1%.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm xã có mức độ hoàn thành tốt chương trình
xây dựng NTM thì thu thập khác biệt có ý nghĩa so với nhóm xã có mức độ hoàn thành khá và
trung bình. Nghiên cứu cũng cho thấy những hộ có nhiều đất sản xuất, nhiều lao động và có tiếp
cận vốn tín dụng sẽ là tiền đề quan trọng để gia tăng thu nhập cho nông hộ.
4. Kết luận
Nghiên cứu đã góp phần đánh giá thực trạng sinh kế của nông hộ và so sánh sự khác biệt
về nguồn vốn sinh kế hộ với kết quả xây dựng nông thôn mới cũng như các yếu tố ảnh hưởng
đến thu nhập nông hộ tại tỉnh Hậu Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy năm nguồn vốn sinh kế
hộ ở nhóm xã có mức độ hoàn thành tốt chương trình NTM tốt hơn so với hai nhóm xã còn lại,
cụ thể là hoạt động sinh kế đa dạng hơn, thu nhập cao hơn, nguồn vốn xã hội được mở rộng hơn
tuy nhiên tỷ lệ tham gia hội/nhóm còn khá thấp, vốn tự nhiên được cải thiện và vốn vật chất được
tăng cường tốt hơn.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao thu
nhập, cải thiện nguồn vốn sinh kế của người dân cũng như thúc đẩy nhanh kết quả thực hiện
chương trình xây dựng NTM của người dân trên địa bàn nghiên cứu:
- Kết quả nghiên cứu cho thấy tiếp cận vốn vay có tác động tích cực đến thu nhập nông
hộ trên địa bàn nghiên cứu, do vậy nhà nước cần tiếp tục duy trì và thiết kế các chương trình hỗ
trợ người dân vay vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất;
- Về nguồn vốn tự nhiên, với diện tích đất nhỏ, đặc biệt còn nhiều hộ không có đất sản
xuất, chiếm 22.49% thì việc tạo thêm việc làm phi nông nghiệp là cần thiết để tận dụng thời gian
nông nhàn cho các nhóm đối tượng này ở tất cả các nhóm xã có mức độ hoàn thành chương trình
NTM khác nhau. Thêm vào đó, việc liên kết trong sản xuất để có quy mô diện tích lớn hơn nhằm
tận dụng lợi thế về quy mô cũng rất cần thiết.
Khi sinh kế của nông hộ địa bàn nghiên cứu còn gắn với sản xuất nông nghiệp, chính
quyền địa phương cần chú trọng công tác dự báo và nghiên cứu thị trường để tránh tình trạng
được mùa mất giá, tạo điều kiện để nông dân nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó nâng cao thu
nhập của người dân. Theo vào đó, cần chú trọng phát triển ngành công nghiệp chế biến để góp
phần gia tăng giá trị các mặt hàng nông - thủy sản.
LỜI CÁM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang và Sở Khoa học
và Công nghệ tỉnh Hậu Giang đã cấp kinh phí cho nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài này.
Nghiên cứu không có mâu thuẫn về lợi ích với bất kỳ cá nhân và tổ chức nào trong quá
trình thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
33
Tài liệu tham khảo
Ashley, C., & Carney, D. (1999). Sustainable livelihoods: Lessons from early experience.
London, UK: Department for International Development.
Ban chấp hành Trung ương. (2008). Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/08/2008, Hội nghị lần thứ
bảy Ban chấp hành Trung ương Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn [Resolution
26-NQ/TW dated August 5, 2008, the Seventh Conference of the 10th Central Committee
on agriculture, farmers and rural areas]. Retrieved May 10, 2021, from
uong/khoa-x/nghi-quyet-so-26-nqtw-ngay-0582008-hoi-nghi-lan-thu-bay-ban-chap-hanh-
trung-uong-dang-khoa-x-ve-nong-nghiep-nong-dan-nong-613
Bebbington, A. (1999). Capitals and capabilities: A framework for analyzing peasant viability,
rural livelihoods and poverty. World Development, 27(12), 2021-2044.
Carney, D. (1998). Sustainable rural livelihoods. Nottingham, UK: Russell Press Ltd.
Carney, D. (2003). Sustainable livelihoods approaches: Progress and possibilities for change.
London, UK: Department for International Development.
Chambers, R. (1983). Rural development-putting the last first. Harlow, UK: Longman Scientific
and Technical.
Chambers, R., & Conway, G. (1992) Sustainable rural livelihoods: Practical concepts for the
21st century (IDS Discussion Paper, No. 296). Brighton, UK: Institute of Development
Studies.
Chambers, R., & Conway, G. R. (1991). Sustainable rural livelihoods: Practical concepts for the
21st century (IDS Discussion Paper, No. 296). Brighton, UK: Institute of Development
Studies.
Dao, T. T. (2015). Biến đổi sinh kế của người Dao di cư tự do tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk
[Changes in livelihoods of freely migratory Dao people in Cu M’gar district, Dak Lak
province] (Doctoral dissertation). Học Viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã
hội Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
Do, Y. H. (2017). Biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành
phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển du lịch [Changing livelihood culture of residents in
Huong Son commune, My Duc district, Hanoi city in the context of tourism development]
(Doctoral dissertation). Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội, Việt Nam.
Ellis, F. (2000). Rural livelihoods and diversity in developing countries. London, UK: Oxford
University Press.
Fillenbaum, G. G., & Wallman, L. M. (1984). Change in household composition of the elderly:
A preliminary investigation. Journal of Gerontology, 39(3), 342-349.
Hoang, C., & Pham, P. Q. (2012). Diễn ngôn, Chính sách và sự biến đổi văn hóa - sinh kế tộc
người [Discourses, policies and cultural change - ethnic livelihoods]. Hanoi, Vietnam:
Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE).
Huynh, X. T. D., & Mai, N. V. (2011). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ
chăn nuôi gia cầm ở Đồng bằng sông Cửu Long [Analysis of determinants of poultry-
raising household income in the Mekong River Delta]. Tạp chí Khoa học Trường Đại học
Cần Thơ, 17b(2011), 87-96.
34
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
Mai, D. T. H. (2016). Tác động của tài chính vi mô đến thu nhập của hộ nghèo ở Việt Nam
[Impact of microfinance on income of poor households in Vietnam]. Tạp chí Khoa học Đại
học Văn Hiến, 4, 38-44.
Morse, S., & McNamara, N. (2013). Sustainable livelihood approach: A critique of theory and
practice. Netherlands: Springer Science & Business Media.
Nghiem, S., Coelli, T., & Rao, P. (2012). Assessing the welfare effects of microfinance in
Vietnam: Empirical results from a quasi-experimental survey. Journal of Development
Studies, 48(5), 619-632.
Nguyen, H. V. (2012). Nghiên cứu sự thích ứng với đời sống mới của dân di cư Sơn La [Study
on the adaptation to the new life of Son La migrants] (Doctoral dissertation). Học viện
Khoa học Xã hội - Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
Nguyen, N. Q., & Bui, T. V. (2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu
số ở Đồng Bằng Sông Cửu Long [Factors influencing the income of minority ethnic groups
in the Mekong Delta]. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 18a, 240-250.
Scoones, I. (1998). Sustainable rural livelihoods: A framework for analysis (IDS Working Paper,
No. 72). Brighton, UK: Institute of Development Studies.
Scoones, I. (2009). Livelihoods perspectives and rural development. The Journal of Peasant
Studies, 36(1), 171-196
Sen, A. (1981). Ingredients of famine analysis: Availability and entitlements. The Quarterly
Journal of Economics, 96(3), 433-464.
Small, L. A. (2007). The sustainable rural livelihoods approach: A critical review. Canadian
Journal of Development Studies, 28(1), 27-38.
Solesbury, W. (2003). Sustainable livelihoods: A case study of the evolution of DFID policy.
London, UK: Overseas Development Institute.
Thủ tướng chính phủ. (2009). Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 về việc ban
hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [Decision No. 491/QD-TTg of April 16, 2009,
on national set of criteria on new rural development]. Retrieved May 10, 2021, from
quoc-gia-nong-thon-moi-87345.aspx?v=d
Thủ tướng chính phủ. (2010). Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 về phê duyệt
chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
[Decision No. 800/QD-TTg of June 04, 2010, approving the national target program on
building a new countryside during 2010 - 2020]. Retrieved May 10, 2021, from
chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-106910.aspx
Thủ tướng chính phủ. (2016a). Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 08 năm 2016 về phê
duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020
[Decision 1600/QD-TTg dated August 16, 2016 approving the national target program on
building new rural areas for the 2016-2020 period]. Retrieved May 10, 2021, from
trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi-2016-2020-320132.aspx
Thủ tướng chính phủ. (2016b). Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 về việc
ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 [Decision
1980/QD-TTg dated October 17, 2016 promulgating the national set of criteria for new
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
35
rural communes for the 2016-2020 period]. Retrieved May 10, 2021, from
chi-quoc-gia-xa-nong-thon-moi-2016-2020-325989.aspx
Tran, B. V. (2015). Biến đổi sinh kế của cộng đồng người Dao vùng lòng hồ Thủy Điện Tuyên
Quang sau tái định cư [Changes in livelihoods of Dao community in Tuyen Quang
hydropower reservoir after resettlement]. Hanoi, Vietnam: Quỹ phát triển Khoa học và
Công nghệ Quốc gia và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
Tran, T. Q. (2015). Socio-economic determinants of household income among ethnic minorities
in the North-West Mountains, Vietnam. Croatian Economic Survey, 17(1), 139-159.
Truong, L. D., & Dang, T. T. T. (2011). Ảnh hưởng của tín dụng nhỏ đến thu nhập của nông hộ
ở tỉnh Hậu Giang [Impact of microcredit on household income in Hau Giang province].
Tạp chí Khoa học đào tạo và Ngân hàng, 111, 20-23.
Twigg, J. (2007). Sustainable livelihoods approaches (Guidance Note 10): Tools for
mainstreaming disaster risk reduction series. Switzerland: International Federation of Red
Cross and Red Crescent Societies/ProVention Consortium.
Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang. (2019). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình
MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2018 [Report on the implementation results of the
National Target Program on building new rural areas in 2018]. Hau Giang, Vietnam: Ủy
ban nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Văn phòng điều phối NTM tỉnh Hậu Giang. (2020). Báo cáo tóm tắt kết quả 10 năm thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 [Report
summarizing the results of 10 years of implementation of the national target program on
building new rural areas for the period 2010 - 2020]. Hau Giang, Vietnam: Ủy ban nhân
dân tỉnh Hậu Giang.
Vo, A. T. T., & Phan, P. D. M. (2010). Nâng cao hiệu quả chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo
của ngân hàng chính sách xã hội tại thành phố Đà Nẵng [Improving the efficiency of
capital aid programme for low income households of Vietnam bank for social policies in
Da Nang city]. Tạp chí Khoa học công nghệ - Đại học Đà Nẵng, 5, 52-29.
Vo, T. V., & Le, D. C. (2015). Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của nông hộ ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long [Driving factors affecting livelihood outcomes of farm households
in the Mekong Delta]. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 38(2015), 120-129.
36
Võ H. Tú, Nguyễn T. Trang. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 16(2), 20-35
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.
Bạn đang xem tài liệu "Vốn sinh kế và giải pháp nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa bàn xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
von_sinh_ke_va_giai_phap_nang_cao_thu_nhap_cho_nong_ho_tren.pdf

