Thực trạng năng lực giao tiếp của trẻ khiếm thính tại trường nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Tháp
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP CỦA TRẺ KHIẾM THÍNH
TẠI TRƢỜNG NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG THÁP
SV.Nguyễn Ngọc Như Ý - SV.Phạm Thanh Hải Thi
Lớp: ĐHCTXH14
GVHD: ThS. Kiều Văn Tu
Tóm tắt: Nhằm đánh giá năng lực giao tiếp, vai trò của các tổ chức xã hội
trong giáo dục, phát triển kỹ năng gia tiếp của trẻ khiếm thính tại trường Nuôi dạy
trẻ khuyết tật tỉnh Đồng Tháp, hướng tới nghiên cứu thử nghiệm công tác xã nhóm
vào việc phát triển năng lực giao tiếp cho trẻ khiếm thính. Nhóm nghiên cứu đã
thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi với trẻ khiếm thính và cộng đồng xã hội. Cuộc
khảo sát với 100 bảng hỏi khảo sát 2 nhóm đối tượng là Giáo viên, phụ huynh và
trẻ khiếm thính. Hơn 50% trên tổng số 100 phiếu hỏi đánh giá khả năng giao tiếp
của trẻ chỉ trên mức trung bình khá và chỉ có một số ít nhận định là tốt. Con số này
phần nào cũng đã phản ảnh được thực tế đang rất cần sự hỗ trợ, hợp tác từ phía
nhà trường, phụ huynh và nhân viên công tác xã hội trong việc thúc đẩy nâng cao
giao tiếp cho trẻ, giúp trẻ có thể tự tin hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Từ khóa: Giao tiếp, Khiếm thính, Khuyết tật, Trẻ em.
1. Giới thiệu
Giao tiếp là một trong những nhu cầu quan trọng của con ngƣời. Giao tiếp là
hành vi và quá trình, trong đó con ngƣời tiến hành trao đi thông tin với nhau, nhận
thức, đánh giá về nhau, tác động qua lại, ảnh hƣởng lẫn nhau. Giao tiếp là điều kiện
để tồn tại và phát triển xã hội, giúp con ngƣời hiểu nhau, gần gũi nhau hơn. Giúp
con ngƣời không chỉ hiểu ngƣời khác mà còn hiểu chính bản thân mình, biết đƣợc
điểm mạnh điểm yếu và không ngừng phấn đấu vƣơn lên. Giao tiếp còn giúp tạo
mối quan hệ, cân bằng cảm xúc và phát triển nhân cách. Do vậy, để trẻ em đƣợc
phát triển một cách toàn diện không chỉ học tập tại nhà trƣờng mà còn phải thông
qua quá trình giao tiếp với môi trƣờng xung quanh.
Ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển khả năng giao tiếp.
Đây đƣợc coi là phƣơng tiện chủ yếu của giao tiếp. Vì vậy mức độ phát triển ngôn
ngữ sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng giao tiếp.
Mức độ điếc của trẻ:
242
Điếc nhẹ (Điếc mức I): Một trẻ điếc mức I sẽ không nghe thấy đƣợc một số
âm thanh lời nói - đặc biệt là các phụ âm nhỏ. Nếu nói rất nhỏ trẻ sẽ không nghe
thấy một số âm thanh. Những trẻ điếc nhẹ vẫn có khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ
nói.
Điếc vừa (Điếc mức II): Trẻ điếc mức II sẽ không nghe thấy một số âm thanh
lời nói. Những trẻ điếc vừa nói không rõ, phát âm thiếu chuẩn xác, ngƣời đối thoại
phải chú ý nghe mới hiểu.
Điếc nặng (Điếc mức III): Trẻ điếc mức III sẽ không nghe đƣợc phần lớn âm
thanh của ngôn ngữ nói trong giao tiếp thông thƣờng.
Điếc sâu (Điếc mức IV): Một trẻ điếc mức IV sẽ không nghe thấy chút nào
âm thanh lời nói trong giao tiếp thông thƣờng, thậm chí ngay cả khi nói to trẻ cũng
không nghe thấy.
Những trẻ điếc nặng và sâu khả năng giao tiếp ngôn ngữ nói của trẻ rất hạn
chế (nói sai nhiều, vốn từ ít, khó hiểu…) Vì âm thanh có tần số và cƣờng độ khác
nhau, cho nên mức độ điếc ở những tần số khác nhau cũng dẫn đến khả năng nghe
đƣợc âm thanh lời nói khác nhau. Có những trẻ bị điếc ở tần số cao thì khó có thể
nghe thất những âm thanh lời nói ở tần số đó, nhƣng những âm thanh ở tần số trung
và trầm, trẻ vẫn có thể nghe đƣợc. Ngƣơc lại, những trẻ điếc ở tần số trầm thì lại có
thể nghe đƣợc những âm thanh lời nói ở tần số cao nhiều hơn.
Trẻ khiếm thính do có khó khăn về mặt ngôn ngữ nên nhìn chung thƣờng xuất
hiện tính rụt rè, nhút nhát trong giao tiếp. Đối với một đứa trẻ, cảm giác bị điếc có
thể giống nhƣ việc sống trong một cái hộp kính bao quanh. Trẻ điếc có thể nhìn
thấy mọi ngƣời đang nói nhƣng lại không hiểu họ nói cái gì. Mọi ngƣời đƣợc tiếp
xúc với nhau vì họ học đƣợc ngôn ngữ để giao tiếp. Nhƣng trẻ điếc không thể học
đƣợc ngôn ngữ khi mà trẻ không nghe thấy gì. Điều này có nghĩa là nhiều trẻ điếc
lớn lên mà không thể học hoặc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với những ngƣời ở
xung quanh mình. Thông thƣờng trẻ rất ngại giao tiếp bằng lời nói. Khi phải tiếp
xúc với ngƣời lạ, trẻ thƣờng lẩn tránh. Trẻ khiếm thính cũng thƣờng gặp trở ngại
khi bắt đầu một cuộc giao tiếp. Trẻ ít có thể thu hút sự chú ý của ngƣời khác bằng
lời nói bình thƣờng, do đó việc tổ chức một cuộc giao tiếp với ngƣời nghe khó khăn
hơn bình thƣờng. Để thu hút sự chú ý của ngƣời khác khi muốn bắt đầu giao tiếp,
243
trẻ chủ yếu dùng cử chỉ điệu bộ hoặc sự tiếp xúc. Nhiều trẻ chạm vào ngƣời giao
tiếp, đập tay hoặc đập vào ngƣời khác trƣớc khi nói chuyện không đúng cách, khiến
ngƣời tham gia giao tiếp cảm thấy không bình thƣờng hoặc không thoải mái. Mọi
ngƣời có một nhu cầu rất lớn đó là giao tiếp và xây dựng mối quan hệ với với ngƣời
khác. Khi một đứa trẻ không có kĩ năng giao tiếp để tiếp cận với ngƣời khác, và khi
ngƣời khác không biết làm thế nào để giao tiếp hay tiếp cận với, trẻ có thể bị bỏ rơi.
Một trẻ có ngôn ngữ mạch lạc, có thể giao tiếp và truyền đạt thông tin, trẻ đó sẽ tự
tin trong giao tiếp và tiếp xúc với ngƣời khác. Một trẻ nói mà không ai hiểu hoặc
nhận đƣợc sự nhạo báng, nhắc nhở liên tục có thể dễ rơi vào tự ti, mặc cảm và trở
nên ngại giao tiếp. Cứ nhƣ vậy, sau một thời gian, trẻ bị cô lập về mặt xã hội.
Tuy nhiên không vì gặp khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ nói mà trẻ khiếm
thính không tham gia giao tiếp có phƣơng thức giao tiếp phù hợp.
Trẻ thích giao tiếp với những ngƣời cùng có tật khiếm thính nhƣ mình. Trong
giao tiếp với những trẻ khiếm thính khác, ngôn ngữ ký hiệu đƣợc sử dụng nhanh
nhẹn và hiệu quả hơn là ngôn ngữ lời nói. Trẻ có cảm giác thoải mái, tự tin hơn khi
giao tiếp với bạn và sử dụng ngôn ngữ phù hợp với mình.
Trẻ không chỉ thu nhận thông tin bằng ngôn từ mà qua cả nét mặt và những sự
thể hiện phi lời nói: ngôn ngữ cơ thể.
Trẻ vẫn có thể phát triển phƣơng tiện giao tiếp có lời và có khả năng sử dụng
các phƣơng tiện giao tiếp không lời để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của mình.
Dựa vào phƣơng pháp Công tác xã hội nhóm là một trong những đặc thù của
CTXH. Phƣơng pháp CTXH với nhóm chính là sự vận dụng kĩ năng mang tính
chuyên nghiệp để can thiệp, hổ trợ những nhóm xã hội yếu thế nhằm thay đổi nhận
thức, hành vi, tăng cƣờng năng lực giải quyết các vấn đề xã hội của các thành viên
trong nhóm. Vì thế CTXH nhóm là một hoạt động khá phức tạp bởi nó mang nhiều
yếu tố biến đổi cần quan tâm nhƣ: các nhóm viên, tiểu nhóm, toàn nhóm, mục đích,
chƣơng trình hoạt động của nhóm, cơ sở hoạt động, năng động nhóm, bầu không
khí nhóm,...
Để thuận lợi hơn trong việc đƣa phƣơng pháp vào thực hành, chúng tôi đã
thực hiện cuộc khảo sát về nhiều nội dung khác nhau và chú trọng nhất là thực
trạng giao tiếp của các em. Cuộc khảo sát đã đƣợc thực hiện thông qua việc phát
244
50 phiếu hỏi cho trẻ và 50 phiếu cho giáo viên, phụ huynh của trẻ đang theo học
tại trƣờng Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Tháp và đã thu đƣợc nhiều kết quả rất có
giá trị trong suốt quá trình nghiên cứu của chúng tôi nói riêng và ngành công tác
xã hội nói chung.
2. Thực trạng năng lực giao tiếp của trẻ khiếm thính tại trƣờng nuôi dạy
trẻ khuyết tật tỉnh Đồng Tháp
2.1. Đặc điểm trẻ khiếm thính tại trường nuôi dạy trẻ khuyết tật tỉnh Đồng
Tháp
Trung Bình Trung Bình Khá
Yếu
Tốt
Bảng 1. Biểu đồ về đánh
giá năng lực giao tiếp của
trẻ khiếm thính ( Phụ
huynh và giáo viên ), Yếu,
6, 6%
Bảng 1. Biểu đồ về đánh
giá năng lực giao tiếp của
trẻ khiếm thính ( Phụ
huynh và giáo viên ), Tốt,
12, 12%
Bảng 1. Biểu đồ về đánh
giá năng lực giao tiếp của
trẻ khiếm thính ( Phụ
huynh và giáo viên ),
Trung Bình, 24, 24%
Bảng 1. Biểu đồ về đánh
giá năng lực giao tiếp của
trẻ khiếm thính ( Phụ
huynh và giáo viên ),
Trung Bình Khá, 58, 58%
Bảng 1. Biểu đồ về đánh giá năng lực giao tiếp của trẻ
khiếm thính ( Phụ huynh và giáo viên )
Theo đánh giá của giáo viên và phụ huynh học sinh khi trả lời câu hỏi về mức
độ giao tiếp của học sinh nhƣ thế nào chúng tôi thu đƣợc kết quả: 58% ngƣời trả lời
cho rằng mức độ giao tiếp của trẻ khiếm thính ở mức độ 51%-75%; 24% ngƣời trả
lời câu hỏi đánh giá mức độ giao tiếp của trẻ ở mức 26%-50%; 12% ngƣời trả lời
câu hỏi thấy rằng mức độ giao tiếp của trẻ ở mức 76%-100%; chỉ 6% ngƣời trả lời
chọn mức 10%-25%.
Ở mức 76%-100% là mức độ giao tiếp tốt;
51%-75% là mức giao tiếp khá ,ổn;
26%-50% mức độ giao tiếp trung bình;
245
10%-25% mức độ giao tiếp yếu.
Từ kết quả trên, chúng ta thấy rằng, khả năng giao tiếp của trẻ khiếm thính trong
thời điểm hiện tại chỉ ở mức trung bình khá và con số có khả năng giao tiếp đƣợc
nhận định tốt chỉ chiếm số ít. Qua những con số thực tế, mức độ này chƣa nằm ở
ngƣỡng báo động nhƣng cũng để cho các nhân viên xã hội cũng nhƣ cộng đồng đặc
biệt chú ý để đƣa các em đạt đƣợc kết quả cao hơn, giúp các em có thể hòa nhập.
2.2. Phương pháp giao tiếp của giáo viên và phụ huynh đối với học sinh
Cử chỉ điệu bộ
chỉ điệu bộ,
Sales, Vừa nói vừa dùng
2, 24%
cử chỉ điệu bộ, 30.3, 30%
Chữ cái ngón tay
Viết ra giấy
Sales, Chữ cái ngón tay,
20%
Sales, Viết ra giấy, 25.8,
Vừa nói vừa dùng cử chỉ điệu bộ
26%
Bảng 2. Biểu đồ về nhận định của GV và PHHS về
phương pháp giao tiếp của trẻ
Phƣơng pháp giao tiếp với ngƣời khuyết tật khiếm thính có nhiều cách và
nhiều dạng tùy theo ngƣời giao tiếp là ngƣời thân hay ngƣời lạ đối với ngƣời khuyết
tật khiếm thính. Qua cuộc khảo sát với giáo viên và phụ huynh học sinh của hơn 50
em học sinh khiếm thính tại trƣờng Nuôi dạy trẻ khuyết tật tỉnh Đồng Tháp thu
đƣợc kết quả các phƣơng pháp giao tiếp bao gồm cử chỉ điệu bộ, chữ cái ngón tay,
viết ra giấy hoặc kết hợp việc sử dụng cử chỉ điệu bộ và nói để trẻ nhìn khẩu hình
miệng và đoán đƣợc ý nghĩa một cách dễ dàng hơn. Với phƣơng pháp sử dụng cử
chỉ điệu bộ đƣợc sử dụng chiếm 24.2%, phƣơng pháp chữ cái ngón tay chiếm
19.7%, sử dụng giấy viết đƣợc sử dụng nhiều chiếm 25.8% và cuối cùng việc kết
hợp vừa nói vừa sử dụng cử chỉ điệu bộ chiếm tỷ lệ cao nhất 30.3%. Với tỷ lệ phần
trăm khảo sát đƣợc cho thấy việc vừa nói vừa dùng cử chỉ điệu bộ là phù hợp và dễ
dàng hơn cho trẻ khi giao tiếp với những ngƣời thân quen, giúp cho trẻ khái quát
đƣợc nội dung lời nói và rèn luyện nhìn khẩu hình miệng để việc giao tiếp đƣợc tốt
hơn. Tỷ lệ thấp nhất thuộc về phƣơng pháp chữ cái ngón tay vì đây là phƣơng pháp
chuyên môn và thích hợp hơn cho việc giao tiếp giữa giáo viên và học sinh.
246
Tuy nhiên, cùng câu hỏi đó, với đối tƣợng trẻ khiếm thính, chúng tôi lại nhận
đƣợc một kết quả khác. Trong khi giáo viên và phụ huynh sử dụng phƣơng pháp
viết giấy ở mức độ khá cao là 25,8% thì trẻ khiếm thính lại ít sử dụng phƣơng pháp
này trong giao tiếp. Điều này đƣợc thể hiện rõ qua kết quả khảo sát chỉ chiếm
18,8% và các phƣơng pháp còn lại đều mở mức 27,7%. Dựa vào so sánh kết quả
giữa hai nhóm đối tƣợng, chúng ta có thể thấy rằng, chƣa có sự đồng nhất trong
giao tiếp của trẻ, đứng ở một góc độ khác, trẻ đã thực hiện kỹ năng giao tiếp của
mình với cộng đồng với sự đa dạng trong cách thức giao tiếp. Tuy nhiên, do sự
không đồng điệu về cách thức này cũng gây nên sự trở ngại không nhỏ khiến trẻ
cũng hạn chế tiếp xúc với mọi ngƣời hơn.
Bảng 3. Biểu đồ về sự nhận định của GV và PHHS về
đối tượng giao tiếp của trẻ
2.3. Đối tượng giao tiếp
Qua quan sát và nhận xét của giáo viên và phụ huynh của trẻ khiếm thính đều
nhận thấy rằng đối tƣợng giao tiếp của trẻ chủ yếu là bạn bè cùng trƣờng lên tới
56.3%, thầy cô chiếm 23.8% và ngƣời thân trong gia đình 15%. Môi trƣờng học tập
ở Trƣờng nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Tháp có hai hình thức nội trú và bán trú mà
đa số là nội trú nên đa số thời gian sinh hoạt của trẻ là ở trƣờng ít tiếp xúc với gia
đình, ngƣời thân. Thầy cô hay cha mẹ đều là những ngƣời thân thuộc với trẻ ít có
khoảng cách giữa hai ngƣời sẽ dễ dàng hơn trong việc giao tiếp với trẻ nhƣng đối
với các đối tƣợng là hàng xóm hay ngƣời lạ là những trƣờng hợp đặc biệt ít tiếp xúc
với trẻ và chƣa có sự hiểu biết về ý nghĩa của các ký hiệu hay cử chỉ mà trẻ sử dụng
do đó tạo khoảng cách nhất định. Đối với bạn bè, hàng xóm trẻ giao tiếp chỉ có
247
3.8% và đối với ngƣời lạ là 1.3%. Điều này cho trẻ em khuyết tật rất ít các hoạt
động giao tiếp với ngƣời lạ và mọi ngƣời chƣa có sự quan tâm nhất định đối với trẻ
khuyết tật để có thể chủ động giao tiếp với các em. Mặt khác trẻ em khuyết tật còn
nhiều mặc cảm với xã hội về khiếm khuyết của mình và rụt rè chƣa cởi mở để có
thể hòa nhập tốt với mọi ngƣời.
Để nhận đƣợc kết quả khách quan hơn, chúng tôi thực hiện câu hỏi này với
chính trẻ khiếm thính tại trƣờng Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Tháp, giống nhƣ đánh
giá ban đầu từ phía thầy cô và phụ huynh, các em đều tập trung giao tiếp nhiều với
các bạn bè và thầy cô tại trƣờng. Thế nhƣng, ở khía cạnh trẻ khiếm thính, trẻ lại cho
rằng mình ít tiếp xúc với cả ngƣời thân và hàng xóm với con số 27,7%, một con số
chỉ chiếm ¼ trong các nhóm đối tƣợng.
Không quá khó khăn để lý giải cho sự khác biệt này bởi nhƣ chúng ta đã nhận
thấy trong phần khảo sát về phƣơng pháp giao tiếp của các em, giữa trẻ khiếm thính
và các nhóm đối tƣợng giao tiếp của trẻ đã gặp rất nhiều khó khăn trong sự đồng
nhất cách thức. Ở trƣờng học, các thầy cô, bạn bè của trẻ đều đƣợc học và sử dụng
thành thạo phƣơng thức chuyên môn bằng cử chỉ điệu bộ hoặc chữ cái ngón tay.
Trong khi đó, hiện tại rất hiếm gia đình và hàng xóm của trẻ đƣợc học về những
phƣơng pháp này. Thế nên, có thể kết luận rằng, ngoài khoảng cách, sự thân thiết có
thể chi phối giao tiếp của trẻ thì phƣơng pháp giao tiếp cũng tác động không nhỏ.
2.4. Sự tham gia của trẻ khiếm thính
Thành viên , Bạn cùng
lớp, 23
Tham dự, Bạn cùng lớp,
Tham dự, Học tập, 14
9
Thành viên , Học tập, 9
Trưởng nhóm, Bạn
Trưởng nhóm, Học
tập, 1
cùng lớp, 1
Trưởng nhóm, Thể
Tham dự, Văn nghệ,
thao, 1
2
Trưởng nhóm, Bạn
hàng xóm, 0
Tham dự, Bạn hàng
xóm, 1
Trưởng nhóm, Văn
nghệ, 0
Thành viên , Văn Thành viên , Thể thao,
nghệ, 0
Tham dự, Thể thao, 2
1
Thành viên , Bạn hàng
xóm, 1
Thành viên
Tham dự
Trƣởng nhóm
Bảng 4. Biểu đồ tham gia nhóm của trẻ khiếm thính
248
Một biểu hiện khác thể hiện khả năng giao tiếp của các em là việc tham gia
vào các hội nhóm và vị trí trong nhóm. Trong bài nghiên cứu chỉ hƣớng đến các
nhóm cơ bản mà trẻ dễ tiếp cận và tham gia nhƣ: nhóm bạn bè, nhóm học tập, nhóm
thể thao,…Đƣợc khảo sát trên 50 em học sinh khiếm thính ở các lớp khác nhau có
33 em tham gia vào nhóm bạn cùng lớp - nhóm nhiều nhất so với các nhóm khác
trong khảo sát – cho thấy việc giao tiếp với bạn bè cùng lớp sẽ dễ dàng và thuận tiện
hơn các nhóm khác rất nhiều; nhóm bạn cùng lớp có 1 em giữ vai trò trƣởng nhóm,
13 em thành viên và 9 em tham dự. Tiếp theo là nhóm học tập có số lƣợng học sinh
tham gia nhiều thứ hai sau nhóm bạn cùng lớp. Trong nhóm học tập có 2 nhóm
trƣởng, 23 em là thành viên và 9 em chỉ tham dự. Các nhóm còn lại có rất ít thành
viên tham gia gồm nhóm thể thao, nhóm văn nghệ và nhóm bạn bè cùng xóm.
Nhóm thể thao có 4 em tham gia trong đó có 1 nhóm trƣơng, 1 thành viên và 2 em
tham dự; nhóm văn nghệ có 2 em tham dự; nhóm bạn bè cùng xóm có 1 thành viên
và 1 em tham dự. Qua thống kê về các nhóm mà trẻ tham gia cho thấy đối với các
nhóm sẳn có nhƣ nhóm bạn cùng lớp hoặc nhóm học tập trẻ đều tham gia tích cực
tuy nhiên đối với các nhóm đòi hỏi nhiều hoạt động bên ngoài học tập thì trẻ ít tiếp
xúc, tham gia. Có thể thấy trẻ khiếm thính chƣa ở thế chủ động để tham gia các hội
nhóm để rèn luyện thêm các kỹ năng trong cuộc sống cũng nhƣ trong giao tiếp. Về
việc giữ vai trò trong nhóm có rất ít trẻ giữ vai trò trƣởng nhóm đa số trẻ còn thiếu
tự tin để đảm nhận vai trò này, đa phần trẻ chọn hình thức là thành viên để tham gia
vào nhóm.
3. Kết luận
Giao tiếp đóng vai trò thật sự rất quan trọng trong quá trình đƣa trẻ khiếm
thính hòa chung với xã hội, xóa bỏ khoảng cách về sự phân biệt cũng nhƣ để trẻ có
thể tự tin thể hiện bản thân trong mọi lĩnh vực, khẳng định năng lực của mình. Và
một lần nữa, để giao tiếp phát huy đƣợc sự tác động của mình đến sự phát triển của
trẻ cần có sự kết hợp của nhiều phƣơng pháp khác nhau từ phía nhà trƣờng, gia đình
và nhân viên công tác xã hội. Thông qua nghiên cứu và sự khảo sát trên, chúng ta
thấy đƣợc rằng đối tƣợng, phƣơng pháp giao tiếp và sự tham gia của trẻ có sự tác
động qua lại, ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng giao tiếp. Khi không có sự thống nhất
trong phƣơng pháp giữa các nhóm đối tƣợng, khi sự tham gia của trẻ vào các nhóm
không đa dạng, phong phú cũng làm cho kỹ năng giao tiếp không đƣợc phát huy tối
249
đa. Từ đó, bƣớc đầu, chúng ta cũng đã tìm ra một số nguyên nhân tác động và cần
có sự nghiên cứu nhiều hơn để đƣa ra những giải pháp, những mô hình phƣơng
pháp mới hỗ trợ cho trẻ khiếm thính trong suốt quá trình phát triển và hòa nhập với
cộng đồng.
Tài liệu tham khảo
[1]. Nguyễn Thị Kim Hoa, Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội.
[2]. Tài liệu tập huấn về chính sách trợ giúp ngƣời khuyết tật, quyền và qui trình
thực thi quyền của ngƣời khuyết tật, Nxb. Dân trí, Hà Nội.
[3]. Đào Thị Vân Anh (2005), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt
động học tập cho học sinh khuyết tật, Đề tài cấp bộ.
[4]. Đại học LĐTB&XH và Hội trợ giúp Ngƣời khuyết tật Việt Nam (2014), Giáo
trình CTXH với người khuyết tật, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội.
[5]. Nguyễn Thị Thái Lan (2008), Công tác xã hội nhóm, Nxb. Lao động - Xã hội,
Hà Nội.
250
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng năng lực giao tiếp của trẻ khiếm thính tại trường nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Tháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_nang_luc_giao_tiep_cua_tre_khiem_thinh_tai_truong.pdf

