Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ

DOI: 10.31276/VJST.63(10).52-55  
Khoa học xã hội và nhân văn  
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số  
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ  
Lâm Thị Kho*  
Học viện Chꢀnh trị khu vực IV  
Ngày nhận bài 16/8/2021; ngày chuyển phản biện 20/8/2021; ngày nhận phản biện 19/9/2021; ngày chấp nhận đăng 23/9/2021  
Tóm tắt:  
Bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã và đang đặt ra những thời cơ và thách thức mới đối với việc nâng  
cao chất lượng nguồn nhân lực (NNL), trong đó có NNL các dân tộc thiểu số (DTTS). Nâng cao chất lượng NNL các  
DTTS ở Tây Nam Bộ không chỉ nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ nói riêng, cả nước  
nói chung mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc và bảo vệ an ninh quốc gia.  
Từ khóa: dân tộc thiểu số, nguồn nhân lực, Tây Nam Bộ.  
Chỉ số phân loại: 5.6  
Mở đầu  
Enhancing the quality of human  
resources of ethnic minorities to  
Tây Nam Bộ hay còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long  
có tổng dân số hơn 17,7 triệu người, trong đó người DTTS là  
hơn 1,4 triệu (chiếm tỷ lệ 7,9%). Trong số 23 DTTS, 3 dân tộc:  
meet the need for the sustainable  
Khmer, Hoa và Chăm có dân số đông nhất. Tây Nam Bộ cũng  
là nơi có người Khmer sinh sống nhiều nhất so với cả nước, chủ  
yếu tập trung ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh. Cùng với người  
Kinh, cộng đồng DTTS đã có những đóng góp nhất định đối với  
quá trình xây dựng, phát triển vùng đất Tây Nam Bộ. NNL các  
DTTS vừa là lực lượng lao động đại diện cho trí tuệ của cộng  
đồng DTTS, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy  
sản xuất phát triển, vừa là lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn  
kết dân tộc.  
development of the Southwest region  
Thi Kho Lam*  
Academy of Politics Region IV  
Received 16 August 2021; accepted 23 September 2021  
Abstract:  
The context of increasingly deepening international  
integration has been posing new challenges for the  
improvement of the quality of human resources,  
including human resources of ethnic minorities.  
Enhancing the quality of human resources of ethnic  
minorities in the Southwest region aims at obtaining the  
sustainable development goal in the Southwest region in  
particular and the whole country in general. Moreover,  
it plays a vital role in performing the strategy for great  
national unity and national security protection.  
Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững vùng Tây Nam  
Bộ nói riêng, cả nước nói chung, việc nâng cao chất lượng NNL,  
trong đó có bộ phận nhân lực các DTTS là yêu cầu khách quan  
trong tình hình hiện nay. Bởi vì, ngày nay sự phát triển của mỗi  
quốc gia không còn chủ yếu dựa vào những nguồn lực sẵn có  
(như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn hay các yếu tố khác)  
mà là yếu tố chất lượng của NNL. NNL có chất lượng thật sự là  
nguồn tài nguyên của mọi tài nguyên, yếu tố thúc đẩy khai thác  
các nguồn lực khác hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững  
của quốc gia. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp  
tục khẳng định một trong ba đột phá chiến lược nhằm thực hiện  
thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững đó là: “Phát triển NNL,  
nhất là NNL chất lượng cao, ưu tiên NNL cho công tác lãnh đạo,  
quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước  
chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo  
dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người  
tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển  
mạnh khoa học và công nghệ” [1].  
Keywords: ethnic minority, human resources, the  
Southwest region.  
Classification number: 5.6  
Không chỉ là vùng kinh tế trọng điểm, Tây Nam Bộ còn có  
*Email: lamthikho2[email protected]  
63(10) 10.2021  
52  
Khoa học xã hội và nhân văn  
vị trí chiến lược quan trọng trong bảo vệ an ninh - quốc phòng, ngành nghề, chủ yếu tập trung ở các ngành nông, lâm, thủy sản  
cho nên cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn về chính trị. Đây cũng (chiếm 73,3%); các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ  
chiếm tỷ lệ thấp, lần lượt là 14,8 và 11,9%). Lao động trong  
ngành nông, lâm nghiệp, thủy hải sản chủ yếu gồm hai dân tộc  
người Khmer (42,7%) và Chăm (49,7%) [3]. Nhu cầu phát triển  
vùng Tây Nam Bộ hiện nay rất cần NNL có chuyên ngành đào  
tạo thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật - công nghệ, nông  
nghiệp công nghệ cao, dịch vụ... Với một số vị trí việc làm rất  
cần người DTTS nhưng thực tế nhiều địa phương không tuyển  
dụng được do chuyên môn được đào tạo không phù hợp hoặc có  
trường hợp người lao động có chuyên môn đúng theo yêu cầu  
thì không phải là người DTTS. Sự bất cập trong cơ cấu ngành  
nghề đã dẫn đến tình trạng có nơi thừa, có nơi thiếu nguồn lao  
động ở Tây Nam Bộ hiện nay. Bên cạnh đó, công tác dự báo nhu  
cầu NNL chưa phù hợp, hệ quả là có trường hợp người lao động  
đã qua đào tạo vẫn không bố trí được việc làm. Nhu cầu bố trí  
việc làm đối với sinh viên người DTTS sau khi ra trường không  
được đáp ứng.  
là khu vực có đường biên giới giáp với đất nước Campuchia, nơi  
có nhiều DTTS sinh sống, nhiều tôn giáo cùng hoạt động, đặc  
biệt là điều kiện kinh tế ở khu vực này còn rất khó khăn. Do đó,  
các thế lực phản động cũng lợi dụng vấn đề dân tộc gây chia rẽ,  
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Trong quá khứ, đã từng xảy  
ra nhiều sự việc liên quan đến cộng đồng DTTS, trong đó sự yếu  
kém về kinh tế, lạc hậu về khoa học đã tạo điều kiện cho các thế  
lực phản động lợi dụng đồng bào để chống phá đường lối của  
Đảng, chính sách của Nhà nước.  
Nâng cao chất lượng NNL các DTTS không chỉ có ý nghĩa  
quan trọng trong việc đẩy mạnh sản xuất, cải thiện chất lượng  
cuộc sống đồng bào DTTS mà còn có ý nghĩa chính trị đặc biệt,  
góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, đảm bảo  
cho sự phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ nói riêng, cả nước  
nói chung. Với những ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở  
kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn;  
giữa phương pháp phân tích dự báo với đề xuất chính sách, bài  
viết tập trung phân tích thực trạng chất lượng NNL các DTTS,  
đồng thời đề xuất các giải pháp đặc thù góp phần nâng cao chất  
lượng NNL này ở Tây Nam Bộ.  
Chất lượng NNL nói chung bị quy định bởi nhiều yếu tố: thể  
lực, trí lực, trình độ chuyên môn tay nghề, phẩm chất, năng lực  
sáng tạo, năng suất lao động, khả năng phối hợp, các kỹ năng  
khác... Trong đó, yếu tố quyết định đến chất lượng của NNL  
chính là trình độ tri thức, chuyên môn nghiệp vụ và khả năng  
sáng tạo.  
Thực trạng chất lượng NNL các DTTS vùng Tây Nam Bộ  
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ  
trương, chính sách về phát triển vùng Tây Nam Bộ nói chung,  
NNL nói riêng như: Kết luận số 28-KL/TW ngày 14/8/2012 của  
Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển  
kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng Đồng bằng  
sông Cửu Long đến năm 2020; Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày  
17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững vùng Đồng  
bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu... Quá trình  
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã  
đạt được những thành tựu nhất định về nâng cao chất lượng NNL  
vùng Tây Nam Bộ nói chung, chất lượng NNL các DTTS nói  
riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng  
NNL vẫn còn những bất cập. Trong đó, việc nâng cao chất lượng  
NNL các DTTS ở Tây Nam Bộ đang đứng trước những khó  
khăn, thách thức lớn. Năm 2020, lao động từ 15 tuổi trở lên đã  
qua đào tạo ở Tây Nam Bộ (chiếm 14,9%) có tỷ lệ thấp nhất so  
với cả nước. Nếu so sánh với các vùng kinh tế trọng điểm khác  
như Đồng bằng sông Hồng (32,6%), Bắc Trung Bộ (22,7%) và  
Đông Nam Bộ (29,5%) thì tỷ lệ này có sự chênh lệch lớn. Tỷ  
lệ thất nghiệp của người lao động trong độ tuổi lao động ở Tây  
Nam Bộ là 2,82%, trong đó người lao động thất nghiệp là nữ giới  
cao hơn nam giới, lần lượt là 4,03 và 1,98% [2]. Trong bối cảnh  
chung đó, lao động người DTTS chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ  
cao, gây khó khăn trong giải quyết việc làm, cải thiện thu nhập,  
nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng DTTS. Theo thống  
kê, tỷ lệ thất nghiệp người DTTS của cả nước là 1,40%, trong  
đó Tây Nam Bộ có tỷ lệ người DTTS thất nghiệp là 2,22% (cao  
nhất nước) [3].  
Trên thực tế, trình độ học vấn của NNL các DTTS ở Tây  
Nam Bộ còn khá thấp so với mặt bằng chung, chưa đáp ứng  
được yêu cầu của các địa phương trong thực hiện các mục tiêu  
phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2019, số giáo viên có trình độ  
đại học đang làm việc tại các trường vùng DTTS Tây Nam Bộ  
đạt 76,8%. Tuy nhiên, nguồn lực giáo viên có trình độ trên đại  
học đang làm việc ở các trường vùng DTTS Tây Nam Bộ có  
tỷ lệ thấp (1,5%). So với các vùng khác, tỷ lệ tương ứng là:  
Tây Nguyên 2,1%; Đông Nam Bộ 2,5%; Đồng bằng sông Hồng  
3,2%; Trung du và miền núi phía Bắc 1,9 [3]. Tây Nam Bộ có  
9 tỉnh/thành phố có trường phổ thông dân tộc nội trú, với 34  
trường và 9.634 học sinh DTTS, số giáo viên DTTS trong toàn  
vùng có 9.640 người, trong đó số giáo viên ở cấp trung học phổ  
thông chiếm 10,6% [4]. Học sinh DTTS được cử đi học dự bị  
đại học mỗi năm khoảng 1.000 người. Đây là nguồn lực lao động  
được đào tạo sẽ bổ sung cho NNL các DTTS trong thời gian  
tới. Tuy nhiên, so với tổng số dân người DTTS trên địa bàn thì  
nguồn lao động người DTTS đã qua đào tạo là chưa tương xứng,  
chưa đáp ứng yêu cầu của các địa phương.  
Về trình độ chuyên môn, NNL các DTTS có trình độ chuyên  
môn cao chưa tương xứng với số dân người DTTS trên địa bàn.  
Đến nay, toàn vùng có 7 tiến sỹ người DTTS (chủ yếu là người  
Khmer, trong đó: Cần Thơ 4, An Giang 1 và Sóc Trăng 2); 336  
thạc sỹ; hơn 6.150 người có trình độ đại học [4]. Phần lớn các  
tiến sỹ người DTTS đều có chuyên môn thuộc lĩnh vực tôn giáo  
và giáo dục. Trong khi đó, để có thể phát triển kinh tế - xã hội  
vùng DTTS ở Tây Nam Bộ hiện nay rất cần xây dựng được đội  
ngũ chuyên gia, nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao thuộc  
các ngành khoa học, công nghệ, kinh tế, dịch vụ...  
NNL các DTTS ở Tây Nam Bộ phân bố không đều giữa các  
53  
63(10) 10.2021  
Khoa học xã hội và nhân văn  
Về công tác đào tạo, hiện nay, toàn vùng có hơn 45 trường  
thay đổi, dẫn đến những hạn chế trong việc nâng cao năng lực và  
cao đẳng, đại học, hơn 30 trường trung cấp chuyên nghiệp được phát huy những tiềm năng của cá nhân.  
xây dựng nhằm thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nâng cao chất lượng  
Giải pháp phát triển NNL các DTTS  
NNL cho vùng. Có thể thấy, vùng Tây Nam Bộ không thiếu các  
cơ sở đào tạo NNL nhưng thực trạng thiếu NNL chất lượng cao,  
kể cả nhân lực đã qua đào tạo đang trở nên phổ biến. Điều này  
bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, song cơ  
bản có thể dẫn giải một số nguyên nhân chủ yếu sau:  
Trước yêu cầu phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ, với  
mong muốn góp phần nâng cao chất lượng NNL các DTTS,  
chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:  
Một là, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị về sự  
cần thiết nâng cao chất lượng NNL các DTTS trong chiến lược  
phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ. Cấp uỷ, chính  
quyền các cấp vùng Tây Nam Bộ tiếp tục quán triệt trong toàn  
hệ thống chính trị, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp về ý  
nghĩa của việc nâng cao chất lượng NNL đối với sự phát triển  
Một trong những vấn đề hiện nay đó là nhận thức của một  
bộ phận người dân và chính cộng đồng DTTS về vị trí, vai trò  
của việc nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật đối với  
sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương còn hạn chế. Những  
rào cản về nhận thức của đồng bào DTTS vẫn đang ảnh hưởng  
lớn đến việc nâng cao chất lượng NNL. Trong xã hội vẫn còn tư vùng DTTS. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các  
tưởng “trọng nam, khinh nữ”, chưa coi trọng sự học. Ngoài ra, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà  
nước về công tác đào tạo, nâng cao chất lượng NNL trong đồng  
bào DTTS. Nâng cao nhận thức cho đồng bào về vai trò của học  
vấn đối với việc tiếp cận công nghệ mới, khả năng tiếp cận các  
dịch vụ, nâng cao sức sản xuất, cải thiện đời sống nhằm giảm  
nghèo bền vững.  
trong xã hội vẫn còn tồn tại tâm lý tiểu nông, lấy kinh tế nông  
nghiệp làm thước đo, lấy các quan hệ họ hàng, làng xóm làm  
chuẩn mực ứng xử, dẫn đến nhiều trẻ em DTTS không được  
khuyến khích học tập, nâng cao trình độ.  
Những ảnh hưởng của văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào  
DTTS ở đây cũng tạo rào cản nhất định đối với việc nâng cao  
chất lượng NNL. Cụ thể, đối với người Khmer Tây Nam Bộ,  
nam giới khi còn nhỏ sẽ được gửi vào chùa để học tập và tu cho  
nên khi tiếp xúc với môi trường bên ngoài thiếu sự năng động  
hơn so với các bạn cùng trang lứa; với cộng đồng người Hoa,  
vẫn còn tồn tại tâm lý mong muốn con cái của họ làm kinh tế  
theo nghề truyền thống của gia đình, chưa chú trọng việc học.  
Khuyến khích và khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá  
nhân người DTTS có các sáng kiến, sáng chế đóng góp cho sự  
phát triển của địa phương. Những việc làm này không chỉ động  
viên những người làm công tác khoa học có thêm động lực để  
phấn đấu mà còn có sức lan tỏa tích cực trong cộng đồng DTTS.  
Tuyên truyền nâng cao nhận thức của mỗi người dân về sự cần  
thiết nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn. Mỗi người cần  
chuẩn bị một số yếu tố tâm lý bao gồm: năng lực tự giáo dục  
(mỗi người cần làm tất cả những gì có thể để nâng cao trình độ  
tri thức, kỹ năng); năng lực về sự linh hoạt (mỗi người phải nắm  
bắt và thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của thời đại); năng lực  
về sự tự chủ (mỗi người cần tự chịu trách nhiệm cá nhân đối với  
hiệu quả, kết quả sản xuất).  
Ngoài ra, giữa đào tạo và sử dụng hiệu quả NNL các DTTS  
ở Tây Nam Bộ còn thiếu sự gắn kết. Chương trình đào tạo, phát  
triển NNL ở các cơ sở giáo dục đào tạo còn chưa bám sát nhu  
cầu của đơn vị sử dụng nhân lực. Khái niệm “đào tạo theo nhu  
cầu thực tế” chưa sát và chưa đủ chi tiết ở các cơ sở đào tạo.  
Hiện nay, việc bố trí, sử dụng NNL các DTTS có trình độ chuyên  
môn không đúng ngành, nghề được đào tạo gây lãng phí cho bản  
thân người lao động, gia đình của họ và xã hội. Đây là một trong  
những vấn đề cấp bách cần được nghiên cứu, tháo gỡ. Bởi vì, sử  
dụng hiệu quả NNL cũng là cách để người lao động tự nhào nặn  
mình, tự nâng cao trình độ, tự vượt lên để trở thành người lao  
động tiên tiến, đáp ứng yêu cầu của xã hội và thời đại.  
Hai là, quy hoạch tạo nguồn, đào tạo đi đôi với sử dụng hiệu  
quả NNL các DTTS. Tạo nguồn cho phát triển NNL chất lượng  
cao, trước hết đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy và  
học ở các trường dân tộc nội trú; hỗ trợ điều kiện kinh tế cho học  
sinh DTTS ở vùng sâu, vùng xa, giúp hạn chế tình trạng nghỉ học  
sớm. Mục tiêu đào tạo phải gắn kết với yêu cầu thực tiễn phát  
triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Nam Bộ. Có như vậy mới hạn  
chế tình trạng đào tạo lại đối với một bộ phận lao động sau khi  
được tuyển dụng, giúp tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của.  
Việc ban hành và thực thi các chính sách về nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực các DTTS ở từng địa phương vẫn chưa  
đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Chính sách của Đảng, Nhà nước  
đối với việc nâng cao chất lượng NNL là đúng đắn, khoa học  
nhưng đi vào thực hiện các chính sách thì có nơi chưa thật phù  
hợp, việc triển khai chậm các chính sách cũng ảnh hưởng đến  
hiệu quả thực hiện, hoặc có chính sách đưa vào thực hiện đã biểu  
hiện sự không phù hợp. Nguyên nhân là do chính sách được ban  
hành ở một thời điểm nhất định nhưng khi thực hiện thì thực tiễn  
đã có sự thay đổi. Mặt khác, chế độ tiền lương, chế độ ưu tiên,  
đãi ngộ đối với người DTTS vẫn chưa tạo được động lực để họ  
phấn đấu học tập, nâng cao trình độ. Ở chừng mực nhất định,  
một bộ phận người DTTS vẫn còn tâm lý tự ti, ngại đổi mới, ngại  
Đặc biệt, cần chú trọng công tác hướng nghiệp, nhất là hướng  
nghiệp trong các trường phổ thông dân tộc nội trú, khuyến khích  
các hoạt động hướng nghiệp của các trường đại học lớn đến với  
các trường phổ thông dân tộc nội trú. Làm tốt công tác tư vấn  
tuyển sinh sẽ giúp các học sinh DTTS lựa chọn đúng ngành nghề  
theo yêu cầu của xã hội và phù hợp với năng lực, sở trường của  
bản thân, giúp phát huy hiệu quả của giáo dục, khắc phục tình  
trạng mất cân đối về ngành nghề như hiện nay.  
Xã hội hóa các dự án cho phát triển NNL vùng DTTS. Tăng  
mức đầu tư từ ngân sách cho đào tạo nghề; từng bước mở rộng  
63(10) 10.2021  
54  
Khoa học xã hội và nhân văn  
mô hình gắn cơ sở đào tạo với đơn vị sử dụng lao động, đào tạo  
lao động theo địa chỉ, đơn đặt hàng của nhà tuyển dụng lao động;  
tạo điều kiện, khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn thực  
hiện chính sách hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn. Phát  
triển các loại hình dịch vụ du lịch trên cơ sở khai thác các yếu tố  
văn hóa, tín ngưỡng trong cộng đồng DTTS; đầu tư mở rộng các  
làng nghề truyền thống như: dệt vải, dệt chiếu của người Chăm,  
làm bánh của người Hoa...  
cho học sinh, sinh viên người DTTS thông qua các chương trình  
hướng nghiệp.  
Năm là, thực hiện bình đẳng giới, đồng thời tạo động lực để  
mỗi người lao động DTTS tự vươn lên phát triển toàn diện năng  
lực cá nhân. Tuyên truyền trong cộng đồng về ý nghĩa của việc  
thực hiện bình đẳng giới, từng bước xóa bỏ những định kiến về  
giới trong các hộ gia đình DTTS, tiến tới thực hiện bình đẳng  
giới thật sự trong cộng đồng và xã hội. Khuyến khích và tạo điều  
Đối với các cấp chính quyền ở địa phương, cần chú trọng  
việc bố trí, sắp xếp nhân lực người DTTS sao cho vị trí việc làm kiện phát triển lực lượng học sinh nữ người DTTS. Tuyên dương  
phù hợp với năng lực cá nhân nhằm phát huy tối đa sở trường của  
người lao động, có cơ chế đột phá trong bố trí và sử dụng NNL  
trẻ người DTTS, xây dựng môi trường làm việc năng động, dân  
chủ nhằm phát huy những ưu điểm của người lao động DTTS.  
những tấm gương phụ nữ người DTTS tiêu biểu trong phong  
trào lao động, sản xuất giỏi, có thành tích trong học tập, nâng cao  
trình độ và có những đóng góp cho hoạt động xã hội. Khơi dậy,  
phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các DTTS.  
Đối với từng cá nhân người lao động, cần đổi mới tư duy, xóa bỏ  
mặc cảm, tự ti, tự vượt mình để học tập và tiến bộ.  
Ba là, tiếp tục đổi mới, bổ sung và hoàn thiện chính sách  
đặc thù đối với công tác đào tạo, nâng cao chất lượng NNL các  
DTTS. Cần có sự điều chỉnh và bổ sung chính sách ưu tiên trong  
cử tuyển đối với học sinh người DTTS. Từng bước chuyển hình  
thức cử tuyển sang hình thức thi tuyển bình đẳng giữa học sinh  
DTTS và dân tộc đa số. Bởi vì hình thức cử tuyển đối với học  
sinh DTTS ở vùng sâu, vùng xa là hợp lý, nhưng áp dụng chung  
sẽ vô tình tạo ra một bộ phận người lao động có bằng cấp nhưng  
chất lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Mặt  
khác, khi áp dụng những chính sách ưu tiên trong cử tuyển ở  
đại học trở lên đối với học sinh DTTS, vô tình chúng ta đã tạo  
khoảng cách về trình độ, khả năng tiếp cận tri thức mới, dẫn đến  
tình trạng không đồng đều về năng lực giữa các học sinh trong  
cùng một ngành, một lớp học, gây khó khăn đối với các sinh viên  
người DTTS. Đồng thời, từng bước thu hẹp dần các trường phổ  
thông dân tộc nội trú, nâng cấp về cơ sở vật chất và chất lượng  
đào tạo của các trường này theo hướng dần chuyển sang các  
trường phổ thông chất lượng cao.  
Kết luận  
Tây Nam Bộ đang từng ngày đổi mới, phát triển nhằm hướng  
đến mục tiêu phát triển bền vững quốc gia. NNL có chất lượng  
cao, với số lượng và cơ cấu hợp lý, giàu trí tuệ, giàu ý chí và  
khát vọng, có lý tưởng cách mạng và kỷ luật tốt sẽ là động lực  
lớn, sớm đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao  
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Tuy nhiên, cần  
thẳng thắn nhìn nhận rằng, công tác đào tạo, sử dụng và nâng  
cao chất lượng NNL ở Tây Nam Bộ những năm qua có nhiều  
chuyển biến tốt nhưng chưa được như kỳ vọng. Xu thế phát triển  
của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 cùng với những diễn  
biến phức tạp của tình hình dịch bệnh Covid-19 đang có những  
tác động lớn đến sự tăng trưởng kinh tế của vùng Tây Nam Bộ  
nói riêng, cả nước nói chung. Chính vì vậy, việc nâng cao chất  
lượng NNL các DTTS đang đứng trước những thời cơ và thách  
thức mới. Để có được NNL chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của  
thời kỳ phát triển mới, thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội gắn với  
yêu cầu phát triển bền vững, cần có thêm những nghiên cứu mới  
về hiệu quả khai thác, phát triển và sử dụng NNL các DTTS ở  
Tây Nam Bộ dưới góc độ xã hội học, kinh tế học, dân tộc học…  
Bốn là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững  
trong các hộ gia đình DTTS, đồng thời có biện pháp nâng cao thể  
lực, kỹ năng cho người lao động DTTS. Trên cơ sở định hướng  
mục tiêu phát triển sản xuất, hướng đến nâng cao chất lượng  
nông sản, tạo giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng nông sản  
là thế mạnh của vùng Tây Nam Bộ. Tuyên truyền giúp đồng bào  
DTTS thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ sản xuất nông nghiệp  
thuần túy, chủ yếu là lúa sang tư duy phát triển kinh tế nông  
nghiệp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường; chuyển từ phát  
triển theo số lượng sang chất lượng; phát triển mạnh mẽ nông  
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và nông  
nghiệp sạch gắn với chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu, góp  
phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ gia đình DTTS.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn  
quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tập 1.  
[2] Tổng cục Thống kê (2020), Niên giám Thống kê 2020, Nhà xuất  
bản Thống kê.  
Khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền  
vững trong cộng đồng DTTS. Đa dạng các nguồn vốn vay ưu  
đãi đối với đồng bào DTTS, đồng thời hướng dẫn đồng bào sử  
dụng nguồn vốn vay một cách hiệu quả. Đẩy nhanh ứng dụng  
tiến bộ khoa học và công nghệ ở nông thôn. Thực hiện tốt công  
tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em DTTS, chăm sóc sức  
khỏe học đường. Tuyên truyền, giáo dục tinh thần tự khởi nghiệp  
[3] ꢀy ban Dân tộc, Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả điều tra thu  
thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm  
2019, Nhà xuất bản Thống kê.  
[4] Ban Tổ chức Trung ương (2019), Báo cáo tổng hợp số lượng cán  
bộ công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trên địa bàn Tây Nam Bộ.  
55  
63(10) 10.2021  
pdf 4 trang baolam 20140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_chat_luong_nguon_nhan_luc_cac_dan_toc_thieu_so_dap.pdf