Tiền công của người lao động làm thuê phi chính thức - so sánh với tiền lương tối thiểu vùng và lương đủ sống (Trường hợp người thu gom rác và thợ xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh)

12  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
TIỀN CÔNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG LÀM THUÊ  
PHI CHÍNH THỨC - SO SÁNH VỚI TIỀN LƢƠNG  
TỐI THIỂU VÙNG VÀ LƢƠNG ĐỦ SỐNG  
(Trƣờng hợp ngƣời thu gom rác và thợ  
xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh)  
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU*  
Tiền công chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu và thấp hơn lương đủ sống là  
kết quả chung của nhiều nghiên cứu về tiền lương, tiền công ở nhóm lao động  
làm thuê phi chính thức. Nghiên cứu trường hợp lao động làm thuê phi chính  
thức là người thu gom rác dân lập, người lao động trong ngành xây dựng ở  
TPHCM cho thấy vì không có hợp đồng lao động nên họ chưa tiếp cận được bệ  
đỡ “tiền lương tối thiểu”, tiền công được nhận theo thỏa thuận hai bên và trong  
nhiều trường hợp thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. So với lương đủ sống tính  
theo phương pháp Ankers thì nhóm thu gom rac dân l ập chỉ chiếm 72% mức  
́
lương đủ sống. Do đó, rất cần nghiên cứu sâu rộng, hướng đến vận động chính  
sách, để đưa nhóm đối tượng này trở thành đối tượng của Bộ luật Lao động,  
được đảm bảo mức lương đủ sống.  
Từ khóa: tiền công, lao động làm thuê, phi chính thức, TPHCM  
Nhận bài ngày: 11/8/2020; đưa vào biên tập: 12/8/2020; phản biện: 3/9/2020; duyệt  
đăng: 24/10/2020  
1. DẪN NHẬP  
người lao động làm thuê phi chính  
thức (sau đây gọi là lao động phi  
chính thức làm công ăn lương). Đó là  
những người lao động làm thuê không  
có hợp đồng lao động, công việc bấp  
bênh, thời gian làm việc dài nhưng thu  
nhập thấp với nguồn thu chính thường  
xuyên là tiền công. Nhưng cho đến  
nay, nhóm này vẫn chưa thuộc đối  
tượng thụ hưởng của hệ thống chính  
sách lao động Việt Nam và chưa  
được nghiên cứu rộng rãi nhằm  
hướng đến vận động chính sách, đảm  
bảo an sinh xã hội và cụ thể nhất là  
chưa được hưởng theo hệ thống chính  
Tiền lương/tiền công là một trong  
những chủ đề trọng tâm ở cả khía  
cạnh kinh tế và xã hội. Bởi lao động,  
việc làm, tiền lương là một trong bốn  
trụ cột đảm bảo an sinh xã hội trong  
hệ thống chính sách an sinh xã hội  
của Việt Nam đến năm 2020; trong đó  
nhấn mạnh đảm bảo việc làm và thu  
nhập đủ sống, giảm nghèo bền vững  
(ILSSA, 2013). Vấn đề này càng trở  
nên bức thiết hơn đối với những  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
13  
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…  
sách lương tối thiểu.  
vùng và lương đủ sống nhằm trả lời  
câu hỏi nghiên cứu: Tiền công của  
người lao động phi chính thức làm  
công ăn lương cao hay thấp hơn tiền  
lương tối thiểu vùng; Sự cân đối giữa  
tiền công và lương đủ sống, khả năng  
đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu như  
thế nào.  
Đặt trong mối tương quan nghiên cứu  
tiền lương và tiền lương tối thiểu, tiền  
lương tối thiểu chỉ được áp dụng đối  
với người lao động có hợp đồng, lao  
động phi chính thức làm công ăn  
lương đứng ngoài lề chính sách trong  
khi tiền lương tối thiểu là “lưới an  
toàn” cho người lao động.  
TPHCM có tỷ lệ lao động phi chính  
thức cao nhất cả nước, chiếm trên  
10,4% tỷ trọng lao động của cả nước  
và 45,2% tỷ trọng lao động của  
TPHCM vào năm 2016; nhóm làm  
công ăn lương chiếm tỷ lệ hơn 50%  
trong nhóm lao động phi chính thức  
(Tổng cục Thống kê và ILO, 2016).  
Bài viết này chỉ giới hạn nhóm ngành  
nghề thu gom rác dân lập và xây dựng,  
không mang tính đại diện toàn bộ lao  
động làm thuê phi chính thức ở  
TPHCM.  
Các nghiên cứu trước đây cho rằng,  
tiền lương của người lao động khu  
vực chính thức thực tế cao hơn so với  
mức lương tối thiểu vùng nhưng rất  
khó đảm bảo mức sống tối thiểu nếu  
không có các khoản phụ cấp, làm  
thêm ngoài giờ (Oxfam, 2018). “Thu  
nhập từ việc làm phi chính thức hầu  
như vẫn không đáp ứng được mức  
sống cơ bản vì việc làm phi chính  
thức hiếm khi đi kèm với tiền lương  
đầy đủ, điều kiện làm việc tốt và bảo  
trợ xã hội” (Tổng cục Thống kê và ILO,  
2016: i); và có mối tương quan tỷ lệ  
thuận giữa tính phi chính thức và  
nghèo đói (Maurizio, 2010). Phần lớn  
lao động không có chuyên môn kỹ  
thuật, trình độ học vấn thấp được xếp  
vào nhóm dễ bị tổn thương (Tổng cục  
Thống kê và ILO, 2016). Không chỉ  
bất bình đẳng về tiền lương/tiền công,  
nhóm lao động khu vực phi chính thức  
hạn chế trong việc tiếp cận an sinh xã  
hội lớn hơn nhiều so với nhóm lao  
động khu vực chính thức.  
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Dữ liệu của bài viết  
Bài viết sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp  
từ cuộc khảo sát của đề tài nghiên  
cứu cấp Cơ sơ “Tiền công của lao động  
̉
làm thuê phi chính thức: So sánh với  
tiền lương tối thiểu vùng và lương đủ  
sống” do tác giả làm chủ nhiệm.  
Trong tổng số 152 ngươi được kh ảo  
̀
sát năm 2019 có 63 người thu gom  
rác dân lập và 89 người làm thợ/phụ  
hồ (xây dựng). Với mục tiêu nghiên  
cứu tiền công của lao động phi chính  
thức làm công ăn lương so với lương  
đủ sống đàng hoàng, đủ đáp ứng các  
nhu cầu sống cơ bản của bản thân  
người lao động và gia đình, mẫu khảo  
sát được xác định là những người có  
Bài viết cung cấp những luận chứng  
khoa học thực tiễn về tiền công của  
người lao động làm thuê phi chính  
thức, đặt trong mối quan hệ nghiên  
cứu so sánh với tiền lương tối thiểu  
14  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
vợ/chồng đang sống cùng ở TPHCM được bằng tiền lương và tiền lương  
(nhóm thu gom rác dân lập chiếm tối thiểu phải đáp ứng được các nhu  
95%, nhóm xây dựng là chiếm 97,8%). cầu sống tối thiểu của họ và gia đình  
họ.  
Hầu hết ng ười làm thuê phi chính  
thức trong mẫu khảo sát là những  
người nhập cư từ các tỉnh khác đến  
TPHCM sinh sống làm ăn (81,5% từ  
các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long;  
11% từ các tỉnh miền Trung và miền  
Bắc; tỷ lệ còn lại 7,5% là người có hộ  
khẩu thường trú tại TPHCM).  
Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của  
người lao động và gia đình họ, điều  
kiện kinh tế - xã hội và mức lương  
trên thị trường lao động ở từng vùng,  
Chính phủ sẽ quyết định các mức  
lương tối thiểu vùng theo sự tư vấn  
của Hội đồng Tiền lương Quốc gia.  
2.2. Cơ sở pháp lý về tiền lƣơng tối  
thiểu vùng, lƣơng đủ sống và phƣơng  
pháp tính lƣơng đủ sống  
Lương đủ sống và phương pháp tính  
lương đủ sống  
Lương đủ sống được các chuyên gia  
nghiên cứu định nghĩa là mức lương  
mà người lao động nhận được cho  
thời gian làm việc bình thường đủ để  
duy trì mức sống đàng hoàng cho bản  
thân và gia đình, bao gồm thực phẩm,  
nước, nhà ở, giáo dục, y tế, giao  
thông, quần áo, và các nhu cầu thiết  
yếu khác cũng như chi phí dự trù cho  
các sự việc phát sinh ngoài dự tính.  
Đây là mức lương đủ để đáp ứng các  
nhu cầu cơ bản của người lao động  
và gia đình họ.  
Theo Điều 55, Bộ luật Lao động: “Tiền  
lương là khoản tiền mà người sử  
dụng lao động trả cho người lao động  
để thực hiện công việc theo thỏa  
thuận”. Tiền công chỉ là một biểu hiện,  
một tên gọi khác của tiền lương. Khái  
niệm tiền công được sử dụng phổ  
biến trong những thỏa thuận thuê  
nhân công trên thị trường tự do và có  
thể gọi là giá công lao động.  
Tiền lương tối thiểu vùng  
Theo Điều 90, Bộ luật Lao động 2012,  
mức lương tối thiểu là mức thấp nhất  
Hiện có 2 phương pháp tính lương đủ  
trả cho người lao động làm công việc sống được áp dụng, đó là lương đủ  
giản đơn nhất, trong điều kiện lao sống của Sàn lương Châu Á (AFWA)  
động bình thường và phải bảo đảm và phương pháp tính lương đủ sống  
nhu cầu sống tối thiểu của người lao  
động và gia đình họ. Nghị quyết Đại  
hội Đảng lần thứ XI đã đề ra chủ  
trương cải cách chính sách tiền lương,  
theo đó tiền lương phải được coi là  
giá cả sức lao động, được hình thành  
theo cơ chế thị trường có sự quản lý  
của Nhà nước, với mục tiêu tiến tới  
đảm bảo cho người lao động sống  
của Ankers. Trong bài viết này áp  
dụng phương pháp tính lương đủ  
sống của Ankers để tính mức lương  
đủ sống của nhóm lao động làm thuê  
phi chính thức ở TPHCM theo số liệu  
khảo sát năm 2019. Theo đo , cấu  
́
phần của lương đủ sống bao gồm: chi  
phí thực phẩm đủ dinh dưỡng, chi phí  
nhà ở đạt tiêu chuẩn, các chi phí cần  
15  
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…  
thiết khác đáp ứng nhu cầu cơ bản Lương đủ sống = các khoản thuế và  
của một người trung bình, theo sơ đồ nộp bảo hiểm xã hội + lương đủ sống  
sau (Hình 1).  
thực hưởng  
Tương đương, cấu phần chi phí đảm Theo nguyên tắc tính lương của  
bảo mức sống cơ bản nhưng đàng người lao động so với lương đủ sống  
hoàng của một hộ gia đình tiêu biểu của Ankers: không tính lương tăng ca;  
gồm: chi phí thực phẩm, chi phí nhà ở, tiền trợ cấp, phụ cấp.  
chi phí phi thực phẩm và phi nhà ở,  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
dự trù cho các chi phí phát sinh.  
3.1. Thu nhập của hộ gia đình  
Lương đủ sống thực hưởng = chi phí  
Với đặc điểm của hộ gia đình có hai  
đảm bảo mức sống cơ bản nhưng  
vợ/chồng cùng có việc làm, thu nhập  
đàng hoàng của một hộ gia đình tiêu  
bình quân hàng tháng của hộ gia đình  
biểu: số người lao động trong một hộ  
là 11.601.776 đồng; trong đó thu nhập  
gia đình tiêu biểu (gồm 4 người, trong  
ở nhóm xây dựng cao hơn so với  
đó có 2 người lao động tạo thu nhập  
nhóm thu gom rác, mức chênh lệch  
và 2 người phụ thuộc).  
hơn 7 triệu đồng (12.537.032 đồng/  
tháng/hộ  
so vơi  
́
Hình 1. Cấu phần của lương đủ sống theo phương pháp  
Ankers  
19.814.270  
đồng/  
tháng/hộ). Mức thu  
nhập bình quân hộ  
gia đình thấp nhất là  
Chi phí thực phẩm đủ Chi phí thực nhà ở đạt  
dinh dưỡng tiêu chuẩn  
Các chi phí cần  
thiết khác  
4.500.000  
đồng/  
tháng/hộ; trong đó ở  
Chi phí sinh hoạt cơ bản đạt tiêu  
chuẩn của một người TB  
nhóm thu gom rác là  
Quy mô hộ gia đình  
4.500.000  
đồng/  
Số người đi làm trên 1  
cặp vợ chồng  
tháng và nhóm xây  
dựng là 6.000.000  
đồng/tháng (Bảng 1).  
Chi phí phát sinh ngoài  
kế hoạch  
Lƣơng đủ sống  
cho ngƣời lao động  
Nguồn: Đỗ Quỳnh Chi, 2016.  
Bảng 1. Thu nhập bình quân hộ gia đình theo tháng (đvt: đồng)  
Hộ gia đình  
người thu gom rác  
Hộ gia đình  
thợ xây dựng  
Tổng  
Số hộ  
63  
89  
152  
Thu nhập bình quân (tháng)  
12.537.032  
4.500.000  
30.900.000  
19.814.270  
6.000.000  
39.200.000  
11.601.776  
4.500.000  
39.200.000  
Tô  
Tôi đa  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.  
́i thiêu  
̉
́
16  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
Bảng 2. Nguồn thu nhập bình quân hàng tháng của hộ gia đình  
Hộ gia đình  
Hộ gia đình  
người thu gom rác  
thợ xây dựng  
Thu nhập bình quân  
hộ gia đình (đồng)  
Thu nhập bình quân  
hộ gia đình (đồng)  
%
66  
0
%
96  
0
Tiền công  
8.300.000  
-
19.005.056  
32.584  
224.719  
28.090  
-
Phụ cấp, trợ cấp từ Nhà nước  
Kinh doanh, buôn bán, dịch vụ  
Con cái/người thân cho  
Bán ve chai, nhặt phế liệu  
Người dân cho  
95.238  
87.302  
3.896.825  
152.381  
-
1
1
1
0
31  
1
0
-
0
Thầu xây dựng hỗ trợ  
Khác  
0
46.067  
477.753  
19.814.270  
0
5.286  
0
2
Tổng  
12.537.032  
100  
100  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.  
như sau: chi phí nhà ở, chi phí dành  
cho lương thực thực phẩm, chi phí về  
chăm sóc sức khỏe, chi phí giáo dục,  
Cơ cấu nguồn thu nhập của hộ gia  
đình (Bảng 2), thu nhập từ việc làm  
được thuê mướn chiếm chủ yếu, ở  
nhóm xây dựng 96% thu nhập của hộ tiền gửi về quê, giải trí, quần áo,  
gia đình là từ tiền công (19.005.056  
đồng/tháng cho 2 người lao động); ở  
nhóm thu gom rác thì tỷ lệ thu từ tiền  
công chiếm 66% (8.300.000 đồng/  
tháng/2 người lao động), 31% còn lại  
là từ việc nhặt và bán phế liệu (cũng  
gắn với công việc được thuê mướn);  
các nguồn còn lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ  
là 3%. Như vậy, hầu như thu nhập  
của hộ gia đình chỉ có từ một nguồn  
duy nhất là tiền công và các khoản  
khác liên quan (trong đó thu từ tiền  
công là khoản cố định hàng tháng;  
còn thu từ các hoạt động khác mang  
tính biến động, không ổn định). Điều  
này cho thấy, các khoản chi tiêu của  
gia đình đều phụ thuộc chủ yếu vào  
tiền công lao động được thuê mướn.  
xăng xe đi lại và một số khoản khác.  
Chi tiêu bình quân hộ gia đình là  
12.713.875 đồng/tháng, và mức độ  
chênh lệch về chi tiêu giữa nhóm thu  
gom rác và xây dựng không quá lớn:  
ở nhóm thu gom rác là 12.169.651  
đồng/tháng, nhóm xây dựng là  
13.099.112 đồng/tháng (Bảng 3). Nếu  
so sánh giữa các dòng chi cho lương  
thực thực phẩm thì ở 2 nhóm lao động  
có sự khá tương đồng. Khoản gửi về  
quê ở nhóm xây dựng cao hơn so với  
nhóm thu gom rác bởi như đề cập ở  
quy mô hộ gia đình; tỷ lệ di cư hộ gia  
đình ở nhóm này thấp hơn nhóm thu  
gom rác; tức nhóm xây dựng thông  
thường di cư theo mô hình cha mẹ đi  
làm, con cái ở lại quê; nên có thể lý  
giải là số tiền gửi về quê cho con cái  
nhiều hơn.  
3.2. Chi tiêu hộ gia đình  
Chi tiêu của các hộ gia đình được  
nhóm thành các khoản chi tiêu chính  
17  
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…  
Bảng 3. Các khoản chi tiêu cơ bản bình quân hàng tháng của hộ gia đình (đvt: đồng)  
Các khoản chi phí  
bình quân hàng tháng/hộ  
Hộ gia đình  
người thu gom rác  
Hộ gia đình  
thợ xây dựng  
Tổng  
Nhà ở  
2.501.429  
5.592.857  
298.302  
1.979.326  
5.559.551  
278.989  
2.195.724  
5.573.355  
286.993  
Lương thực, thực phẩm  
Chăm sóc sức khỏe  
Giáo dục  
426.452  
251.163  
324.595  
Gửi về quê  
Giải trí  
1.381.371  
676.855  
2.402.636  
954.386  
1.980.513  
839.673  
Quần áo  
179.758  
406.270  
313.265  
Khác  
287.692  
834.000  
618.788  
Xăng xe đi lại  
Tổng chi  
146.032  
163.636  
156.291  
12.169.651  
13.099.112  
12.713.875  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.  
nhóm chi tiêu cơ bản theo tiêu  
chí tính lương đủ sống của  
Ankers, thì cơ cấu chi tiêu của  
hộ gia đình trong tháng sẽ bao  
gồm: chi cho lương thực thực  
phẩm chiếm 45%, chi cho nhà ở  
là 18% và 37% còn lại chi cho  
các khoản phi thực phẩm và nhà  
ở cần thiết khác. Cơ cấu chi tiêu  
(Biểu đồ 1) phản ánh đúng với  
đặc điểm nhóm lao động, chẳng  
hạn chi phí về nhà ở của nhóm  
thu gom rác cao hơn nhóm xây  
dựng bởi tỷ lệ người thu gom  
rác sống theo hộ gia đình tại  
TPHCM cao hơn nên chi phí  
dành cho nhà ở cũng cao hơn.  
Biểu đồ 1. Cơ cấu chi tiêu bình quân hộ gia đình  
trong tháng phân theo tiêu chí tính lương đủ  
sống của Ankers  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.  
Biểu đồ 2. Thu - chi hộ gia đình  
Thu nhập và chi tiêu hàng tháng  
̉
của hộ gia đình (Biêu đồ 2) cho  
thấy tổng thu nhập bình quân hộ  
gia đình trong tháng đáp ứng đủ  
mức chi tiêu bình quân trong  
tháng; cũng có một tỷ lệ khá cao  
gửi tiết kiệm từ khoản chênh  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019  
lệch này. Chẳng hạn ở nhóm xây  
Nếu chia chi tiêu hộ gia đình thành 3  
18  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
dựng, có số chênh lệch thu chi khá tiền làm ngoài giờ, tăng ca hay phụ  
lớn, gần 6,8 triệu đồng/tháng, trong cấp, thì tiền công bình quân của lao  
khi nhóm thu gom rác thì hầu như thu động thu gom rác là 4.351.048 đồng/  
chỉ đủ chi.  
tháng/người và của người làm xây  
dựng là 8.768.051 đồng/tháng/người.  
So với mức lương tối thiểu năm 2019  
là 4.180.000 đồng/tháng, thì tiền công  
bình quân của người làm thuê thu  
gom rác dân lập chỉ cao hơn khoảng  
200.000 đồng, trong khi ngành xây  
dựng thì thu nhập cao hơn gấp đôi so  
với lương tối thiểu.  
3.3. Tiền công của lao động làm  
thuê phi chính thức trong so sánh  
với tiền lƣơng tối thiểu vùng  
Theo chính sách lương tối thiểu, tất cả  
người lao động tại TPHCM làm việc  
theo chế độ hợp đồng lao động của  
Bộ luật Lao động được hưởng lương  
tối thiểu vùng I. Mức lương tối thiểu  
vùng này tăng dần qua các năm, từ  
năm 2015 là 3.100.000 đồng/tháng,  
năm 2017 tăng lên 3.750.000đồng/  
tháng. Từ ngày 1/1/2018, theo Nghị  
định số 141/2017/NĐ-CP, hầu hết các  
quận huyện tại TPHCM đều áp dụng  
mức lương tối thiểu vùng I là  
3.980.000 đồng/tháng, trừ huyện Cần  
Giờ thuộc vùng II có mức lương tối  
thiểu là 3.530.000 đồng/tháng. Từ  
ngày 1/1/2019 lương tối thiểu vùng I  
tăng lên 4.180.000 đồng/tháng.  
Trong nhóm làm thuê thu gom rác dân  
lập, 60,3% có thu nhập từ 1.333.000  
đồng/tháng đến 4.000.000 đồng/tháng;  
chỉ có tỷ lệ 39,7% từ 4.500.000 đến  
10.000.000 đồng/tháng. Tức khoảng  
60% người thu gom rác dân lập có  
tiền công được trả từ làm thuê dưới  
mức lương tối thiểu; tiền công thấp  
nhất của người làm thuê thu gom rác  
là 1.300.000 đồng/tháng và mức cao  
nhất là 10.000.000 đồng/tháng.  
Đối với nhóm xây dựng, tiền công từ  
việc làm được thuê cao hơn nhiều so  
với nhóm thu gom rác và so với mức  
lương tối thiểu. Biểu đồ 4  
Trong tổng thu nhập từ việc làm, nếu  
chỉ tính tiền công, không tính khoản  
Biểu đồ 3. Tiền công từ việc làm thuê của người thu gom  
rác so với đường mức lương tối thiểu (đvt: triệu đồng)  
cho thấy, hầu hết là trên  
mức lương tối thiểu, mức  
tiền công thấp nhất là 1  
triệu đồng/tháng (chỉ có 1  
trường hợp), 3 triệu đồng/  
tháng cũng chỉ có 1  
trường hợp; mức tiền  
công của thợ xây d ựng  
phổ biến ở mức từ 9 triệu  
đồng đến 10 triệu đồng;  
mức tiền công cao nhất là  
18 triệu đồng/tháng.  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019  
19  
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…  
Biểu đồ 4. Tiền công từ việc làm thuê của thợ xây d ựng so  
với đường mức lương tối thiểu (đvt: triệu đồng)  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019  
Bảng 4. Các khoản chi phí cơ bản của hộ gia đình tiêu biểu và lương đủ sống (đvt:  
đồng)  
Hô  
̣
gia đinh  
Hô  
̣
gia đinh thơ  
xây dựng  
̣
̀
̀
ngươi thu gom rac  
̀
́
Chi phí lương thực, thực phẩm  
Chi phí nhà ở  
5.592.857  
2.501.429  
5.559.551  
1.979.326  
Các khoản cần thiết khác (giáo dục, y tế, giải trí,  
hiếu hỉ, gửi về quê cho con)  
3.396.462  
5.291.080  
Tổng các khoản chi phí  
11.490.748  
574.537  
12.829.957  
641.498  
Chi phí dự phòng phát sinh (5%)  
Tổng chi phí cơ bản cho hộ gia đình tiêu biểu(* )  
Lương đủ sống(** )  
12.065.285  
6.032.642  
6.032.642  
13.471.455  
6.735.727  
6.735.727  
Lương đủ sống thực hưởng(*** )  
(*) Hộ gia đình tiêu biểu là hộ gồm có 4 người (2 người lao động và 2 người phụ thuộc).  
(**) Lương đủ sống = tổng chi phí cơ bản cho hộ gia đình tiêu biểu/số người lao động trong  
hộ gia đình (ở đây là 2 người) =Tổng chi phí cơ bản cho hộ gia đình tiêu biểu/2.  
(***) Lương đủ sống thực hưởng = Lương đủ sống + các khoản thuế + Bảo hiểm xã hội.  
Trong nghiên cứu này, người lao động phi chính thức không nộp các khoản thuế và bảo  
hiểm xã hội.  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, tính toán dựa vào kết quả khảo sát tháng 7 - 8/2019 và  
cách tính lương đủ sống của Ankers.  
Căn cứ vào phương pháp tính lương  
đủ sống của Ankers, dựa vào thu  
nhập cũng như chi tiêu của hộ gia  
đình, kết quả tính lương đủ sống của  
nhóm lao động làm thuê phi chính  
thức trong mẫu khảo sát như sau:  
Kết quả khảo sát cho thấy, tiền công  
của nhóm lao động phi chính thức làm  
công ăn lương ở nghề thu gom rác dân  
lập thấp hơn so với chính sách lương  
tối thiểu vùng. Tiền công cua nhom  
̉
́
lao đông nay do thị trường điều tiết.  
̣
̀
Qua Bảng 4 chúng ta thấy, lương đủ  
sống của hộ gia đình thu gom rác dân  
lập là 6.032.642 đồng/tháng và của hộ  
3.4. Tiền công và lƣơng đủ sống  
của lao động làm thuê phi chính  
thức ở TPHCM  
20  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
Bảng 5. So sánh tiền công thực nhận và lương đủ sống ở TPHCM  
Hô gia đinh  
̣
Hô  
thơ  
̣
gia đinh  
xây dựng  
̀
̀
ngươi thu gom rac  
̣
̀
́
Tiền công thực nhận bình quân  
Lương đủ sống  
4.351.048  
6.032.642  
72%  
8.768.652  
6.735.727  
130%  
Chênh lệch tiền công/lương đủ sống  
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.  
gia đình thợ xây dựng là 6.735.727 lao động làm thuê phi chính thức hầu  
đồng/tháng. So sánh tiền công thực như phụ thuộc vao bàn tay vô hình  
̀
nhận hiện nay với mức lương đủ sống của thị trường điều tiết về tiền công  
được tính toán ở trên (xem Bang 5)  
lao động, chưa có sự can thiệp của  
nhà nước như là nhóm lao động chính  
thức. Với mục tiêu đảm bảo an sinh  
xã hội toàn dân, theo chúng tôi, cần  
đưa nhóm lao động phi chính thức  
vào đối tượng điều chỉnh của Bộ luật  
Lao động và được hưởng các chính  
sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, để xây  
dựng những luận cứ khoa học mang  
tính thuyết phục cao về mối tương  
quan giữa tính phi chính thức của việc  
làm và tình trạng nghèo; tạo nền tảng  
cơ sở để xây dựng giải pháp nâng  
cao chất lượng sống, đảm bảo an sinh  
xã hội cho nhóm lao động phi chính  
thức, cần nghiên cứu sâu những vấn  
đề như:  
̉
thì tiền công của nhóm thu gom rác  
dân lập chỉ đáp ứng được 72% so với  
mức lương đủ sống; với nhóm xây  
dựng thì tiền công khá cao so với mức  
lương đủ sống, cao hơn 30%. Như  
vậy, có thể xem nhóm thu gom rác  
dân lập thuộc nhóm dễ bị tổn thương,  
bởi tiền công chưa đáp ứng được  
mức lương đủ sống, và thi ếu hụt về  
an sinh xã hội (không có bảo hiểm y tế,  
bảo hiểm xã hội...), môi trường làm  
việc độc hại.  
Với kết quả trên, làm thế nào để đảm  
bảo tiền công của nhóm người thu  
gom rác dân lập đáp ứng được mức  
lương đủ sống ở TPHCM? Vấn đề  
này có thể được giải quyết ở nhóm  
lao động chính thức với sự điều tiết  
của mức lương tối thiểu vùng. Song,  
đối với nhóm lao động phi chính thức,  
trường hợp ở đây là nhóm người thu  
gom rác dân lập, vẫn là câu hỏi bỏ  
ngỏ; cần được thúc đẩy để đảm bảo  
cuộc sống đàng hoàng, đảm bảo an  
sinh xã hội.  
- Nghiên cứu phân khúc vị thế nghề  
nghiệp của nhóm lao động phi chính  
thức và ảnh hưởng của nó đối với sự  
khác biệt lớn về tình trạng nghèo (bao  
gồm nghèo đơn chiều và nghèo đa  
chiều) của những người này.  
- Phân tích tương quan giữa tình trạng  
phi chính thức và nghèo, các yếu tố  
nghèo của lao động phi chính thức; cả  
nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều  
theo lát cắt phân khúc vị thế nghề  
4. THAY LỜI KẾT  
Cho đến nay, mức tiền công của nhóm  
21  
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…  
nghiệp. Các nghiên cứu về lao động tương quan giữa thu nhập từ việc làm  
phi chính thức cần xác định rõ vị thế phi chính thức vơi vi ệc tiếp cận các  
́
nghề nghiệp cụ thể trong từng phân dịch vụ xã hội cơ bản va gi ảm nghèo  
̀
khúc của lao động phi chính thức.  
bền vững; trên cơ sở đó đưa ra các  
nhóm giải pháp vận động chính sách  
- Nghiên cứu phạm vi rộng về tiền  
lương/tiền công của nhóm lao động  
hướng đến đảm bảo thu nhập đu sống.  
̉
làm thuê, làm công ăn lương trong - Xác định mức lương đủ sống của  
mối tương quan so sánh với mức người lao động tại TPHCM; trên cơ sở  
sống tối thiểu và lương đủ sống, nhằm đó thiết kế chính sách tiền lương của  
xác định mức tiền lương/tiền công đáp nhóm lao động phi chính thức làm  
ứng đủ mức sống tối thiểu cho người công ăn lương, đáp ứng lương đủ  
lao động làm thuê phi chính thức. sống tại TPHCM.  
Nghiên cứu này cần đặt trong mối  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Đỗ Quỳnh Chi. 2016. Global Living Wage Series Vietnam - Urban Ho Chi Minh City.  
Báo cáo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ lao động. Tháng  
3/2016.  
2. ILSSA. 2013. Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020. Xuất bản  
bởi GIZ.  
3. Maurizio, Roxana. 2010. “Lao động phi chính thức và nghèo đói ở Châu Mỹ Latinh”,  
trong Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển. Hà Nội: Nxb. Tri thức.  
4. Nguyễn Thị Minh Châu. 2019. Tiền công của người lao động làm thuê phi chính thức  
tại TPHCM: So sánh với tiền lương tối thiểu vùng và lương đủ sống. Báo cáo đề tài cấp  
Viện.  
5. Oxfam. 2018. Tiền lương không đủ sống và hệ lụy - Nghiên cứu một số doanh nghiệp  
may xuất khẩu ở Việt Nam. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu.  
6. Tổng cục Thống kê và ILO. 2016. Báo cáo lao động phi chính thức 2016. Hà Nội: Nxb.  
Hồng Đức.  
7. Viện Khoa học Thống kê. 2010. Tổng quan về kết quả điều tra thống kê khu vực kinh  
tế phi chính thức ở Việt Nam và một số khuyến nghị về quản lý thông tin thị trường lao  
động và phát triển nguồn nhân lực. Báo cáo kết quả nghiên cứu.  
pdf 10 trang baolam 28340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiền công của người lao động làm thuê phi chính thức - so sánh với tiền lương tối thiểu vùng và lương đủ sống (Trường hợp người thu gom rác và thợ xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftien_cong_cua_nguoi_lao_dong_lam_thue_phi_chinh_thuc_so_sanh.pdf