Tiền công của người lao động làm thuê phi chính thức - so sánh với tiền lương tối thiểu vùng và lương đủ sống (Trường hợp người thu gom rác và thợ xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh)
12
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
TIỀN CÔNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG LÀM THUÊ
PHI CHÍNH THỨC - SO SÁNH VỚI TIỀN LƢƠNG
TỐI THIỂU VÙNG VÀ LƢƠNG ĐỦ SỐNG
(Trƣờng hợp ngƣời thu gom rác và thợ
xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh)
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU*
Tiền công chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu và thấp hơn lương đủ sống là
kết quả chung của nhiều nghiên cứu về tiền lương, tiền công ở nhóm lao động
làm thuê phi chính thức. Nghiên cứu trường hợp lao động làm thuê phi chính
thức là người thu gom rác dân lập, người lao động trong ngành xây dựng ở
TPHCM cho thấy vì không có hợp đồng lao động nên họ chưa tiếp cận được bệ
đỡ “tiền lương tối thiểu”, tiền công được nhận theo thỏa thuận hai bên và trong
nhiều trường hợp thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. So với lương đủ sống tính
theo phương pháp Ankers thì nhóm thu gom rac dân l ập chỉ chiếm 72% mức
́
lương đủ sống. Do đó, rất cần nghiên cứu sâu rộng, hướng đến vận động chính
sách, để đưa nhóm đối tượng này trở thành đối tượng của Bộ luật Lao động,
được đảm bảo mức lương đủ sống.
Từ khóa: tiền công, lao động làm thuê, phi chính thức, TPHCM
Nhận bài ngày: 11/8/2020; đưa vào biên tập: 12/8/2020; phản biện: 3/9/2020; duyệt
đăng: 24/10/2020
1. DẪN NHẬP
người lao động làm thuê phi chính
thức (sau đây gọi là lao động phi
chính thức làm công ăn lương). Đó là
những người lao động làm thuê không
có hợp đồng lao động, công việc bấp
bênh, thời gian làm việc dài nhưng thu
nhập thấp với nguồn thu chính thường
xuyên là tiền công. Nhưng cho đến
nay, nhóm này vẫn chưa thuộc đối
tượng thụ hưởng của hệ thống chính
sách lao động Việt Nam và chưa
được nghiên cứu rộng rãi nhằm
hướng đến vận động chính sách, đảm
bảo an sinh xã hội và cụ thể nhất là
chưa được hưởng theo hệ thống chính
Tiền lương/tiền công là một trong
những chủ đề trọng tâm ở cả khía
cạnh kinh tế và xã hội. Bởi lao động,
việc làm, tiền lương là một trong bốn
trụ cột đảm bảo an sinh xã hội trong
hệ thống chính sách an sinh xã hội
của Việt Nam đến năm 2020; trong đó
nhấn mạnh đảm bảo việc làm và thu
nhập đủ sống, giảm nghèo bền vững
(ILSSA, 2013). Vấn đề này càng trở
nên bức thiết hơn đối với những
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
13
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…
sách lương tối thiểu.
vùng và lương đủ sống nhằm trả lời
câu hỏi nghiên cứu: Tiền công của
người lao động phi chính thức làm
công ăn lương cao hay thấp hơn tiền
lương tối thiểu vùng; Sự cân đối giữa
tiền công và lương đủ sống, khả năng
đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu như
thế nào.
Đặt trong mối tương quan nghiên cứu
tiền lương và tiền lương tối thiểu, tiền
lương tối thiểu chỉ được áp dụng đối
với người lao động có hợp đồng, lao
động phi chính thức làm công ăn
lương đứng ngoài lề chính sách trong
khi tiền lương tối thiểu là “lưới an
toàn” cho người lao động.
TPHCM có tỷ lệ lao động phi chính
thức cao nhất cả nước, chiếm trên
10,4% tỷ trọng lao động của cả nước
và 45,2% tỷ trọng lao động của
TPHCM vào năm 2016; nhóm làm
công ăn lương chiếm tỷ lệ hơn 50%
trong nhóm lao động phi chính thức
(Tổng cục Thống kê và ILO, 2016).
Bài viết này chỉ giới hạn nhóm ngành
nghề thu gom rác dân lập và xây dựng,
không mang tính đại diện toàn bộ lao
động làm thuê phi chính thức ở
TPHCM.
Các nghiên cứu trước đây cho rằng,
tiền lương của người lao động khu
vực chính thức thực tế cao hơn so với
mức lương tối thiểu vùng nhưng rất
khó đảm bảo mức sống tối thiểu nếu
không có các khoản phụ cấp, làm
thêm ngoài giờ (Oxfam, 2018). “Thu
nhập từ việc làm phi chính thức hầu
như vẫn không đáp ứng được mức
sống cơ bản vì việc làm phi chính
thức hiếm khi đi kèm với tiền lương
đầy đủ, điều kiện làm việc tốt và bảo
trợ xã hội” (Tổng cục Thống kê và ILO,
2016: i); và có mối tương quan tỷ lệ
thuận giữa tính phi chính thức và
nghèo đói (Maurizio, 2010). Phần lớn
lao động không có chuyên môn kỹ
thuật, trình độ học vấn thấp được xếp
vào nhóm dễ bị tổn thương (Tổng cục
Thống kê và ILO, 2016). Không chỉ
bất bình đẳng về tiền lương/tiền công,
nhóm lao động khu vực phi chính thức
hạn chế trong việc tiếp cận an sinh xã
hội lớn hơn nhiều so với nhóm lao
động khu vực chính thức.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Dữ liệu của bài viết
Bài viết sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp
từ cuộc khảo sát của đề tài nghiên
cứu cấp Cơ sơ “Tiền công của lao động
̉
làm thuê phi chính thức: So sánh với
tiền lương tối thiểu vùng và lương đủ
sống” do tác giả làm chủ nhiệm.
Trong tổng số 152 ngươi được kh ảo
̀
sát năm 2019 có 63 người thu gom
rác dân lập và 89 người làm thợ/phụ
hồ (xây dựng). Với mục tiêu nghiên
cứu tiền công của lao động phi chính
thức làm công ăn lương so với lương
đủ sống đàng hoàng, đủ đáp ứng các
nhu cầu sống cơ bản của bản thân
người lao động và gia đình, mẫu khảo
sát được xác định là những người có
Bài viết cung cấp những luận chứng
khoa học thực tiễn về tiền công của
người lao động làm thuê phi chính
thức, đặt trong mối quan hệ nghiên
cứu so sánh với tiền lương tối thiểu
14
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
vợ/chồng đang sống cùng ở TPHCM được bằng tiền lương và tiền lương
(nhóm thu gom rác dân lập chiếm tối thiểu phải đáp ứng được các nhu
95%, nhóm xây dựng là chiếm 97,8%). cầu sống tối thiểu của họ và gia đình
họ.
Hầu hết ng ười làm thuê phi chính
thức trong mẫu khảo sát là những
người nhập cư từ các tỉnh khác đến
TPHCM sinh sống làm ăn (81,5% từ
các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long;
11% từ các tỉnh miền Trung và miền
Bắc; tỷ lệ còn lại 7,5% là người có hộ
khẩu thường trú tại TPHCM).
Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của
người lao động và gia đình họ, điều
kiện kinh tế - xã hội và mức lương
trên thị trường lao động ở từng vùng,
Chính phủ sẽ quyết định các mức
lương tối thiểu vùng theo sự tư vấn
của Hội đồng Tiền lương Quốc gia.
2.2. Cơ sở pháp lý về tiền lƣơng tối
thiểu vùng, lƣơng đủ sống và phƣơng
pháp tính lƣơng đủ sống
Lương đủ sống và phương pháp tính
lương đủ sống
Lương đủ sống được các chuyên gia
nghiên cứu định nghĩa là mức lương
mà người lao động nhận được cho
thời gian làm việc bình thường đủ để
duy trì mức sống đàng hoàng cho bản
thân và gia đình, bao gồm thực phẩm,
nước, nhà ở, giáo dục, y tế, giao
thông, quần áo, và các nhu cầu thiết
yếu khác cũng như chi phí dự trù cho
các sự việc phát sinh ngoài dự tính.
Đây là mức lương đủ để đáp ứng các
nhu cầu cơ bản của người lao động
và gia đình họ.
Theo Điều 55, Bộ luật Lao động: “Tiền
lương là khoản tiền mà người sử
dụng lao động trả cho người lao động
để thực hiện công việc theo thỏa
thuận”. Tiền công chỉ là một biểu hiện,
một tên gọi khác của tiền lương. Khái
niệm tiền công được sử dụng phổ
biến trong những thỏa thuận thuê
nhân công trên thị trường tự do và có
thể gọi là giá công lao động.
Tiền lương tối thiểu vùng
Theo Điều 90, Bộ luật Lao động 2012,
mức lương tối thiểu là mức thấp nhất
Hiện có 2 phương pháp tính lương đủ
trả cho người lao động làm công việc sống được áp dụng, đó là lương đủ
giản đơn nhất, trong điều kiện lao sống của Sàn lương Châu Á (AFWA)
động bình thường và phải bảo đảm và phương pháp tính lương đủ sống
nhu cầu sống tối thiểu của người lao
động và gia đình họ. Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ XI đã đề ra chủ
trương cải cách chính sách tiền lương,
theo đó tiền lương phải được coi là
giá cả sức lao động, được hình thành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, với mục tiêu tiến tới
đảm bảo cho người lao động sống
của Ankers. Trong bài viết này áp
dụng phương pháp tính lương đủ
sống của Ankers để tính mức lương
đủ sống của nhóm lao động làm thuê
phi chính thức ở TPHCM theo số liệu
khảo sát năm 2019. Theo đo , cấu
́
phần của lương đủ sống bao gồm: chi
phí thực phẩm đủ dinh dưỡng, chi phí
nhà ở đạt tiêu chuẩn, các chi phí cần
15
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…
thiết khác đáp ứng nhu cầu cơ bản Lương đủ sống = các khoản thuế và
của một người trung bình, theo sơ đồ nộp bảo hiểm xã hội + lương đủ sống
sau (Hình 1).
thực hưởng
Tương đương, cấu phần chi phí đảm Theo nguyên tắc tính lương của
bảo mức sống cơ bản nhưng đàng người lao động so với lương đủ sống
hoàng của một hộ gia đình tiêu biểu của Ankers: không tính lương tăng ca;
gồm: chi phí thực phẩm, chi phí nhà ở, tiền trợ cấp, phụ cấp.
chi phí phi thực phẩm và phi nhà ở,
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
dự trù cho các chi phí phát sinh.
3.1. Thu nhập của hộ gia đình
Lương đủ sống thực hưởng = chi phí
Với đặc điểm của hộ gia đình có hai
đảm bảo mức sống cơ bản nhưng
vợ/chồng cùng có việc làm, thu nhập
đàng hoàng của một hộ gia đình tiêu
bình quân hàng tháng của hộ gia đình
biểu: số người lao động trong một hộ
là 11.601.776 đồng; trong đó thu nhập
gia đình tiêu biểu (gồm 4 người, trong
ở nhóm xây dựng cao hơn so với
đó có 2 người lao động tạo thu nhập
nhóm thu gom rác, mức chênh lệch
và 2 người phụ thuộc).
hơn 7 triệu đồng (12.537.032 đồng/
tháng/hộ
so vơi
́
Hình 1. Cấu phần của lương đủ sống theo phương pháp
Ankers
19.814.270
đồng/
tháng/hộ). Mức thu
nhập bình quân hộ
gia đình thấp nhất là
Chi phí thực phẩm đủ Chi phí thực nhà ở đạt
dinh dưỡng tiêu chuẩn
Các chi phí cần
thiết khác
4.500.000
đồng/
tháng/hộ; trong đó ở
Chi phí sinh hoạt cơ bản đạt tiêu
chuẩn của một người TB
nhóm thu gom rác là
Quy mô hộ gia đình
4.500.000
đồng/
Số người đi làm trên 1
cặp vợ chồng
tháng và nhóm xây
dựng là 6.000.000
đồng/tháng (Bảng 1).
Chi phí phát sinh ngoài
kế hoạch
Lƣơng đủ sống
cho ngƣời lao động
Nguồn: Đỗ Quỳnh Chi, 2016.
Bảng 1. Thu nhập bình quân hộ gia đình theo tháng (đvt: đồng)
Hộ gia đình
người thu gom rác
Hộ gia đình
thợ xây dựng
Tổng
Số hộ
63
89
152
Thu nhập bình quân (tháng)
12.537.032
4.500.000
30.900.000
19.814.270
6.000.000
39.200.000
11.601.776
4.500.000
39.200.000
Tô
Tôi đa
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.
́i thiêu
̉
́
16
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
Bảng 2. Nguồn thu nhập bình quân hàng tháng của hộ gia đình
Hộ gia đình
Hộ gia đình
người thu gom rác
thợ xây dựng
Thu nhập bình quân
hộ gia đình (đồng)
Thu nhập bình quân
hộ gia đình (đồng)
%
66
0
%
96
0
Tiền công
8.300.000
-
19.005.056
32.584
224.719
28.090
-
Phụ cấp, trợ cấp từ Nhà nước
Kinh doanh, buôn bán, dịch vụ
Con cái/người thân cho
Bán ve chai, nhặt phế liệu
Người dân cho
95.238
87.302
3.896.825
152.381
-
1
1
1
0
31
1
0
-
0
Thầu xây dựng hỗ trợ
Khác
0
46.067
477.753
19.814.270
0
5.286
0
2
Tổng
12.537.032
100
100
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.
như sau: chi phí nhà ở, chi phí dành
cho lương thực thực phẩm, chi phí về
chăm sóc sức khỏe, chi phí giáo dục,
Cơ cấu nguồn thu nhập của hộ gia
đình (Bảng 2), thu nhập từ việc làm
được thuê mướn chiếm chủ yếu, ở
nhóm xây dựng 96% thu nhập của hộ tiền gửi về quê, giải trí, quần áo,
gia đình là từ tiền công (19.005.056
đồng/tháng cho 2 người lao động); ở
nhóm thu gom rác thì tỷ lệ thu từ tiền
công chiếm 66% (8.300.000 đồng/
tháng/2 người lao động), 31% còn lại
là từ việc nhặt và bán phế liệu (cũng
gắn với công việc được thuê mướn);
các nguồn còn lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ
là 3%. Như vậy, hầu như thu nhập
của hộ gia đình chỉ có từ một nguồn
duy nhất là tiền công và các khoản
khác liên quan (trong đó thu từ tiền
công là khoản cố định hàng tháng;
còn thu từ các hoạt động khác mang
tính biến động, không ổn định). Điều
này cho thấy, các khoản chi tiêu của
gia đình đều phụ thuộc chủ yếu vào
tiền công lao động được thuê mướn.
xăng xe đi lại và một số khoản khác.
Chi tiêu bình quân hộ gia đình là
12.713.875 đồng/tháng, và mức độ
chênh lệch về chi tiêu giữa nhóm thu
gom rác và xây dựng không quá lớn:
ở nhóm thu gom rác là 12.169.651
đồng/tháng, nhóm xây dựng là
13.099.112 đồng/tháng (Bảng 3). Nếu
so sánh giữa các dòng chi cho lương
thực thực phẩm thì ở 2 nhóm lao động
có sự khá tương đồng. Khoản gửi về
quê ở nhóm xây dựng cao hơn so với
nhóm thu gom rác bởi như đề cập ở
quy mô hộ gia đình; tỷ lệ di cư hộ gia
đình ở nhóm này thấp hơn nhóm thu
gom rác; tức nhóm xây dựng thông
thường di cư theo mô hình cha mẹ đi
làm, con cái ở lại quê; nên có thể lý
giải là số tiền gửi về quê cho con cái
nhiều hơn.
3.2. Chi tiêu hộ gia đình
Chi tiêu của các hộ gia đình được
nhóm thành các khoản chi tiêu chính
17
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…
Bảng 3. Các khoản chi tiêu cơ bản bình quân hàng tháng của hộ gia đình (đvt: đồng)
Các khoản chi phí
bình quân hàng tháng/hộ
Hộ gia đình
người thu gom rác
Hộ gia đình
thợ xây dựng
Tổng
Nhà ở
2.501.429
5.592.857
298.302
1.979.326
5.559.551
278.989
2.195.724
5.573.355
286.993
Lương thực, thực phẩm
Chăm sóc sức khỏe
Giáo dục
426.452
251.163
324.595
Gửi về quê
Giải trí
1.381.371
676.855
2.402.636
954.386
1.980.513
839.673
Quần áo
179.758
406.270
313.265
Khác
287.692
834.000
618.788
Xăng xe đi lại
Tổng chi
146.032
163.636
156.291
12.169.651
13.099.112
12.713.875
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.
nhóm chi tiêu cơ bản theo tiêu
chí tính lương đủ sống của
Ankers, thì cơ cấu chi tiêu của
hộ gia đình trong tháng sẽ bao
gồm: chi cho lương thực thực
phẩm chiếm 45%, chi cho nhà ở
là 18% và 37% còn lại chi cho
các khoản phi thực phẩm và nhà
ở cần thiết khác. Cơ cấu chi tiêu
(Biểu đồ 1) phản ánh đúng với
đặc điểm nhóm lao động, chẳng
hạn chi phí về nhà ở của nhóm
thu gom rác cao hơn nhóm xây
dựng bởi tỷ lệ người thu gom
rác sống theo hộ gia đình tại
TPHCM cao hơn nên chi phí
dành cho nhà ở cũng cao hơn.
Biểu đồ 1. Cơ cấu chi tiêu bình quân hộ gia đình
trong tháng phân theo tiêu chí tính lương đủ
sống của Ankers
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.
Biểu đồ 2. Thu - chi hộ gia đình
Thu nhập và chi tiêu hàng tháng
̉
của hộ gia đình (Biêu đồ 2) cho
thấy tổng thu nhập bình quân hộ
gia đình trong tháng đáp ứng đủ
mức chi tiêu bình quân trong
tháng; cũng có một tỷ lệ khá cao
gửi tiết kiệm từ khoản chênh
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019
lệch này. Chẳng hạn ở nhóm xây
Nếu chia chi tiêu hộ gia đình thành 3
18
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
dựng, có số chênh lệch thu chi khá tiền làm ngoài giờ, tăng ca hay phụ
lớn, gần 6,8 triệu đồng/tháng, trong cấp, thì tiền công bình quân của lao
khi nhóm thu gom rác thì hầu như thu động thu gom rác là 4.351.048 đồng/
chỉ đủ chi.
tháng/người và của người làm xây
dựng là 8.768.051 đồng/tháng/người.
So với mức lương tối thiểu năm 2019
là 4.180.000 đồng/tháng, thì tiền công
bình quân của người làm thuê thu
gom rác dân lập chỉ cao hơn khoảng
200.000 đồng, trong khi ngành xây
dựng thì thu nhập cao hơn gấp đôi so
với lương tối thiểu.
3.3. Tiền công của lao động làm
thuê phi chính thức trong so sánh
với tiền lƣơng tối thiểu vùng
Theo chính sách lương tối thiểu, tất cả
người lao động tại TPHCM làm việc
theo chế độ hợp đồng lao động của
Bộ luật Lao động được hưởng lương
tối thiểu vùng I. Mức lương tối thiểu
vùng này tăng dần qua các năm, từ
năm 2015 là 3.100.000 đồng/tháng,
năm 2017 tăng lên 3.750.000đồng/
tháng. Từ ngày 1/1/2018, theo Nghị
định số 141/2017/NĐ-CP, hầu hết các
quận huyện tại TPHCM đều áp dụng
mức lương tối thiểu vùng I là
3.980.000 đồng/tháng, trừ huyện Cần
Giờ thuộc vùng II có mức lương tối
thiểu là 3.530.000 đồng/tháng. Từ
ngày 1/1/2019 lương tối thiểu vùng I
tăng lên 4.180.000 đồng/tháng.
Trong nhóm làm thuê thu gom rác dân
lập, 60,3% có thu nhập từ 1.333.000
đồng/tháng đến 4.000.000 đồng/tháng;
chỉ có tỷ lệ 39,7% từ 4.500.000 đến
10.000.000 đồng/tháng. Tức khoảng
60% người thu gom rác dân lập có
tiền công được trả từ làm thuê dưới
mức lương tối thiểu; tiền công thấp
nhất của người làm thuê thu gom rác
là 1.300.000 đồng/tháng và mức cao
nhất là 10.000.000 đồng/tháng.
Đối với nhóm xây dựng, tiền công từ
việc làm được thuê cao hơn nhiều so
với nhóm thu gom rác và so với mức
lương tối thiểu. Biểu đồ 4
Trong tổng thu nhập từ việc làm, nếu
chỉ tính tiền công, không tính khoản
Biểu đồ 3. Tiền công từ việc làm thuê của người thu gom
rác so với đường mức lương tối thiểu (đvt: triệu đồng)
cho thấy, hầu hết là trên
mức lương tối thiểu, mức
tiền công thấp nhất là 1
triệu đồng/tháng (chỉ có 1
trường hợp), 3 triệu đồng/
tháng cũng chỉ có 1
trường hợp; mức tiền
công của thợ xây d ựng
phổ biến ở mức từ 9 triệu
đồng đến 10 triệu đồng;
mức tiền công cao nhất là
18 triệu đồng/tháng.
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019
19
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…
Biểu đồ 4. Tiền công từ việc làm thuê của thợ xây d ựng so
với đường mức lương tối thiểu (đvt: triệu đồng)
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019
Bảng 4. Các khoản chi phí cơ bản của hộ gia đình tiêu biểu và lương đủ sống (đvt:
đồng)
Hô
̣
gia đinh
Hô
̣
gia đinh thơ
xây dựng
̣
̀
̀
ngươi thu gom rac
̀
́
Chi phí lương thực, thực phẩm
Chi phí nhà ở
5.592.857
2.501.429
5.559.551
1.979.326
Các khoản cần thiết khác (giáo dục, y tế, giải trí,
hiếu hỉ, gửi về quê cho con)
3.396.462
5.291.080
Tổng các khoản chi phí
11.490.748
574.537
12.829.957
641.498
Chi phí dự phòng phát sinh (5%)
Tổng chi phí cơ bản cho hộ gia đình tiêu biểu(* )
Lương đủ sống(** )
12.065.285
6.032.642
6.032.642
13.471.455
6.735.727
6.735.727
Lương đủ sống thực hưởng(*** )
(*) Hộ gia đình tiêu biểu là hộ gồm có 4 người (2 người lao động và 2 người phụ thuộc).
(**) Lương đủ sống = tổng chi phí cơ bản cho hộ gia đình tiêu biểu/số người lao động trong
hộ gia đình (ở đây là 2 người) =Tổng chi phí cơ bản cho hộ gia đình tiêu biểu/2.
(***) Lương đủ sống thực hưởng = Lương đủ sống + các khoản thuế + Bảo hiểm xã hội.
Trong nghiên cứu này, người lao động phi chính thức không nộp các khoản thuế và bảo
hiểm xã hội.
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, tính toán dựa vào kết quả khảo sát tháng 7 - 8/2019 và
cách tính lương đủ sống của Ankers.
Căn cứ vào phương pháp tính lương
đủ sống của Ankers, dựa vào thu
nhập cũng như chi tiêu của hộ gia
đình, kết quả tính lương đủ sống của
nhóm lao động làm thuê phi chính
thức trong mẫu khảo sát như sau:
Kết quả khảo sát cho thấy, tiền công
của nhóm lao động phi chính thức làm
công ăn lương ở nghề thu gom rác dân
lập thấp hơn so với chính sách lương
tối thiểu vùng. Tiền công cua nhom
̉
́
lao đông nay do thị trường điều tiết.
̣
̀
Qua Bảng 4 chúng ta thấy, lương đủ
sống của hộ gia đình thu gom rác dân
lập là 6.032.642 đồng/tháng và của hộ
3.4. Tiền công và lƣơng đủ sống
của lao động làm thuê phi chính
thức ở TPHCM
20
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
Bảng 5. So sánh tiền công thực nhận và lương đủ sống ở TPHCM
Hô gia đinh
̣
Hô
thơ
̣
gia đinh
xây dựng
̀
̀
ngươi thu gom rac
̣
̀
́
Tiền công thực nhận bình quân
Lương đủ sống
4.351.048
6.032.642
72%
8.768.652
6.735.727
130%
Chênh lệch tiền công/lương đủ sống
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, 2019.
gia đình thợ xây dựng là 6.735.727 lao động làm thuê phi chính thức hầu
đồng/tháng. So sánh tiền công thực như phụ thuộc vao bàn tay vô hình
̀
nhận hiện nay với mức lương đủ sống của thị trường điều tiết về tiền công
được tính toán ở trên (xem Bang 5)
lao động, chưa có sự can thiệp của
nhà nước như là nhóm lao động chính
thức. Với mục tiêu đảm bảo an sinh
xã hội toàn dân, theo chúng tôi, cần
đưa nhóm lao động phi chính thức
vào đối tượng điều chỉnh của Bộ luật
Lao động và được hưởng các chính
sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, để xây
dựng những luận cứ khoa học mang
tính thuyết phục cao về mối tương
quan giữa tính phi chính thức của việc
làm và tình trạng nghèo; tạo nền tảng
cơ sở để xây dựng giải pháp nâng
cao chất lượng sống, đảm bảo an sinh
xã hội cho nhóm lao động phi chính
thức, cần nghiên cứu sâu những vấn
đề như:
̉
thì tiền công của nhóm thu gom rác
dân lập chỉ đáp ứng được 72% so với
mức lương đủ sống; với nhóm xây
dựng thì tiền công khá cao so với mức
lương đủ sống, cao hơn 30%. Như
vậy, có thể xem nhóm thu gom rác
dân lập thuộc nhóm dễ bị tổn thương,
bởi tiền công chưa đáp ứng được
mức lương đủ sống, và thi ếu hụt về
an sinh xã hội (không có bảo hiểm y tế,
bảo hiểm xã hội...), môi trường làm
việc độc hại.
Với kết quả trên, làm thế nào để đảm
bảo tiền công của nhóm người thu
gom rác dân lập đáp ứng được mức
lương đủ sống ở TPHCM? Vấn đề
này có thể được giải quyết ở nhóm
lao động chính thức với sự điều tiết
của mức lương tối thiểu vùng. Song,
đối với nhóm lao động phi chính thức,
trường hợp ở đây là nhóm người thu
gom rác dân lập, vẫn là câu hỏi bỏ
ngỏ; cần được thúc đẩy để đảm bảo
cuộc sống đàng hoàng, đảm bảo an
sinh xã hội.
- Nghiên cứu phân khúc vị thế nghề
nghiệp của nhóm lao động phi chính
thức và ảnh hưởng của nó đối với sự
khác biệt lớn về tình trạng nghèo (bao
gồm nghèo đơn chiều và nghèo đa
chiều) của những người này.
- Phân tích tương quan giữa tình trạng
phi chính thức và nghèo, các yếu tố
nghèo của lao động phi chính thức; cả
nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều
theo lát cắt phân khúc vị thế nghề
4. THAY LỜI KẾT
Cho đến nay, mức tiền công của nhóm
21
NGUYỄN THỊ MINH CHÂU – TIỀN CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG…
nghiệp. Các nghiên cứu về lao động tương quan giữa thu nhập từ việc làm
phi chính thức cần xác định rõ vị thế phi chính thức vơi vi ệc tiếp cận các
́
nghề nghiệp cụ thể trong từng phân dịch vụ xã hội cơ bản va gi ảm nghèo
̀
khúc của lao động phi chính thức.
bền vững; trên cơ sở đó đưa ra các
nhóm giải pháp vận động chính sách
- Nghiên cứu phạm vi rộng về tiền
lương/tiền công của nhóm lao động
hướng đến đảm bảo thu nhập đu sống.
̉
làm thuê, làm công ăn lương trong - Xác định mức lương đủ sống của
mối tương quan so sánh với mức người lao động tại TPHCM; trên cơ sở
sống tối thiểu và lương đủ sống, nhằm đó thiết kế chính sách tiền lương của
xác định mức tiền lương/tiền công đáp nhóm lao động phi chính thức làm
ứng đủ mức sống tối thiểu cho người công ăn lương, đáp ứng lương đủ
lao động làm thuê phi chính thức. sống tại TPHCM.
Nghiên cứu này cần đặt trong mối
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Đỗ Quỳnh Chi. 2016. Global Living Wage Series Vietnam - Urban Ho Chi Minh City.
Báo cáo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ lao động. Tháng
3/2016.
2. ILSSA. 2013. Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020. Xuất bản
bởi GIZ.
3. Maurizio, Roxana. 2010. “Lao động phi chính thức và nghèo đói ở Châu Mỹ Latinh”,
trong Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
4. Nguyễn Thị Minh Châu. 2019. Tiền công của người lao động làm thuê phi chính thức
tại TPHCM: So sánh với tiền lương tối thiểu vùng và lương đủ sống. Báo cáo đề tài cấp
Viện.
5. Oxfam. 2018. Tiền lương không đủ sống và hệ lụy - Nghiên cứu một số doanh nghiệp
may xuất khẩu ở Việt Nam. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu.
6. Tổng cục Thống kê và ILO. 2016. Báo cáo lao động phi chính thức 2016. Hà Nội: Nxb.
Hồng Đức.
7. Viện Khoa học Thống kê. 2010. Tổng quan về kết quả điều tra thống kê khu vực kinh
tế phi chính thức ở Việt Nam và một số khuyến nghị về quản lý thông tin thị trường lao
động và phát triển nguồn nhân lực. Báo cáo kết quả nghiên cứu.
Bạn đang xem tài liệu "Tiền công của người lao động làm thuê phi chính thức - so sánh với tiền lương tối thiểu vùng và lương đủ sống (Trường hợp người thu gom rác và thợ xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tien_cong_cua_nguoi_lao_dong_lam_thue_phi_chinh_thuc_so_sanh.pdf

