Bảo đảm quyền trẻ em trong thiết chế văn hóa gia đình ở Việt Nam

Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 21-31  
BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM  
TRONG THIẾT CHẾ VĂN HÓA GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM  
Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Thị Mai Anh  
Trường Đại học Vinh  
Ngày nhận bài 15/10/2020, ngày nhận đăng 11/12/2020  
Tóm tắt: Tiếp cận các vấn đề lý thuyết và phản ánh thực trạng quyền con người,  
quyền công dân nói chung và quyền của trẻ em nói riêng là chủ đề luôn có tính cấp  
thiết trong khoa học pháp lý ở nước ta hiện nay. Nội dung trọng tâm của bài viết đề cấp  
đến những vấn đề lý luận về quyền con người, quyền công dân với chủ thể trực tiếp là  
trẻ em; thực trạng bảo đảm quyền và một số giải pháp bảo đảm quyền trẻ em gắn với  
thiết chế văn hóa gia đình ở Việt Nam. Nội dung nghiên cứu được tiếp cận trong  
phương pháp luận đa ngành khoa học xã hội và nhân văn, thống kê, khảo sát thực  
nghiệm, phân tích và bình luận. Kết quả nghiên cứu có giá trị lý luận và có nhiều thông  
tin để Đảng và Nhà nước có thêm căn cứ xây dựng chính sách pháp luật, đồng thời góp  
phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân về bảo đảm quyền trẻ em, giữ gìn, phát  
huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình người Việt trong bối cảnh, điều kiện mới.  
Từ khóa: Bảo đảm quyền con người; quyền trẻ em; văn hóa gia đình; Việt Nam.  
1. Đặt vấn đề  
Con người luôn là trung tâm của mọi sự quan tâm đặc biệt, là động lực và điều  
kiện của một nền văn hóa phát triển. Ở tất cả các quốc gia, trẻ em luôn được coi là tương  
lai của đất nước, là chủ thể cần được quan tâm chăm sóc và được dành những ưu tiên đặc  
biệt, được tạo điều kiện để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tâm hồn và đạo đức.  
Môi trường xã hội phát triển của trẻ em trước hết cần phải nhấn mạnh đến thiết chế gia  
đình - nơi tồn tại đầy đủ các giá trị sống của mỗi đứa trẻ trong xã hội hiện đại. Gia đình  
thực sự là một xã hội thu nhỏ của trẻ em. Có nhiều giá trị cốt lõi trong văn hóa gia đình,  
trong đó việc tạo dựng được một môi trường sống an toàn, truyền thống, chuẩn mực, tôn  
trọng và đề cao các giá trị chuẩn mực đạo đức luôn được xem là các giá trị cơ bản nhất,  
khó có một môi trường nào có được. Vì vậy, vấn đề bảo đảm quyền cho trẻ em là yêu cầu  
quan trọng cho sự phát triển bền vững của thiết chế gia đình ở Việt Nam hiện nay.  
Văn hóa gia đình cần phải đặt trong nội hàm của khái niệm “phát triển bền  
vững”. Bởi lẽ, phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ  
ngày hôm nay mà không gây ra những khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong  
việc thoả mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngưỡng sống của họ. Phát triển bền  
vững được miêu tả như một sự biến đổi sâu sắc, trong đó yếu tố cốt lõi là nhận thức,  
trách nhiệm, thái độ của thế hệ ngày hôm nay này dành cho thế hệ mai sau (trẻ em là đối  
tượng cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt).  
Bên cạnh đó, có thể khẳng định rằng, bảo đảm các quyền trẻ em ở phương diện  
quyền con người, quyền công dân trước các nguy cơ xâm hại từ các chủ thể khác, đặc  
biệt là các chủ thể có mối quan hệ gần gũi, thân thiết với trẻ em là giải pháp quan trọng  
để gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình người Việt.  
Email: [email protected] (N. V. Đại)  
21  
Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Thị Mai Anh / Bảo đảm quyền trẻ em trong thiết văn hóa gia đình ở Việt Nam  
2. Một số đặc điểm về bảo đảm quyền của trẻ em trong thiết chế văn hóa gia  
đình Việt Nam  
Thứ nhất, bảo đảm quyền của trẻ em trước các nguy cơ bị xâm hại trong môi  
trường sống của gia đình là sự bảo đảm kép, có cơ sở pháp lý đầy đủ  
Bảo đảm quyền của trẻ em là bảo vệ quyền con người của đối tượng nhỏ tuổi, dễ  
bị tổn thương nhất trong xã hội. Điều này đã được minh chứng bởi chính sách bảo vệ,  
chăm sóc và giáo dục trẻ em là một đường lối, chính sách xuyên suốt trong sự nghiệp  
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiến pháp 1959 ra đời tại thời điểm chính quyền  
cách mạng Việt Nam vừa trải qua một bước ngoặt vĩ đại là giành được độc lập ở miền  
Bắc và chuyển miền Bắc sang thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây chính là một  
minh chứng cho sự nhất quán về đường lối, chính sách trong quan điểm bảo đảm quyền  
trẻ em của Đảng ta. Đến năm 1960, thực hiện Chỉ thị số 197 của Ban Bí thư Trung ương,  
toàn dân đã có phong trào chăm lo và bảo vệ thiếu niên, nhi đồng diễn ra rộng khắp các  
địa phương trong cả nước. Năm 1975, giành độc lập tại miền Nam và thống nhất đất  
nước, cả nước ta bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vẫn nhất quán với tư  
tưởng về con người, về trẻ em, Đảng ta lại có thêm những điều kiện mới để chăm lo, giáo  
dục trẻ em. Năm 1979, chính sách, đường lối của Đảng về trẻ em được cụ thể hoá trong  
“Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Có thể coi pháp lệnh này là một trong  
những nền tảng pháp lý đầu tiên cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Cho  
đến nửa cuối những năm 80, Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới Nhà  
nước về nhiều phương diện. Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em trở thành một bộ phận quan  
trọng của công cuộc đổi mới này. Đường lối, chính sách đổi mới của Đảng về công việc  
đối với trẻ em được tiến hành theo cả chiều sâu và chiều rộng. Đường lối của Đảng về  
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được cụ thể hoá trong pháp luật.  
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định về  
quyền trẻ em một cách đầy đủ, rõ ràng và cụ thể hơn. Khoản 1, Điều 37 của Hiến pháp  
2013 quy định: “… trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất,  
trí tuệ, tinh thần và đạo đức… quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân  
phẩm và danh dự. Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính  
mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho  
trẻ em. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều  
bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật…” (Quốc hội, 2013).  
Khi trẻ em được bảo vệ trong môi trường gia đình tốt đẹp thì không chỉ có ý  
nghĩa ở phương diện bảo đảm quyền con người được pháp luật ghi nhận và có cơ chế  
thực thi mà ý nghĩa đặc biệt hơn là bảo vệ những giá trị cốt lõi về văn hóa, chuẩn mực  
đạo đức, truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Các quyền cơ bản của con người đã  
được pháp luật xác lập bởi các nhóm quyền cơ bản như: quyền chính trị, quyền tự do dân  
chủ, quyền về kinh tế... Nhưng gắn với chủ thể đặc biệt là trẻ em thì ý nghĩa về nhóm  
quyền nhân thân, về mặt tinh thần lại là những quyền quan trọng hơn. Khi trẻ em được  
sống trong một môi trường gia đình có văn hóa, các giá trị đạo đức được giữ gìn thì có  
nghĩa rằng các quyền về nhân thân của các em đang được bảo vệ tốt nhất.  
Thứ hai, bảo đảm quyền của trẻ em trong môi trường sống của gia đình thường  
gặp nhiều khó khăn, chịu sự tác động của nhiều yếu tố và có tính đặc thù  
Trẻ em cần được cảm thấy an toàn tại gia đình, trong nhà trường và trong cộng  
đồng của mình. Tuy nhiên, kỷ luật mang tính bạo lực vẫn còn phổ biến ở phương pháp  
22  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 21-31  
giáo dục trong các gia đình. 68,4% trẻ em trong độ tuổi từ 1-14 cho biết đã từng bị bạo  
hành bởi cha mẹ hoặc người chăm sóc trong gia đình (Theo báo cáo của Tổ chức Unicef  
tại Việt Nam năm 2020). Trong nhiều gia đình, bạo lực được sử dụng làm phương tiện để  
thiết lập hệ thống phân cấp của nam giới và củng cố nam tính. Hành vi như vậy bị ảnh  
hưởng bởi khả năng tài chính, trình độ học vấn của cha mẹ và các vấn đề khác như lạm  
dụng rượu, bia hoặc ma túy.  
Do kỷ luật mang tính bạo lực vẫn là một tiêu chuẩn được xã hội chấp nhận, trẻ  
em đặc biệt dễ bị tổn thương khi các em có hiểu biết hạn chế về quyền của mình nên  
không lên tiếng và tìm sự giúp đỡ khi bạo hành xảy ra từ môi trường sống của gia đình.  
Tất cả trẻ em đều có quyền được bảo vệ khỏi bạo hành, bất kể bản chất hay mức độ  
nghiêm trọng của hành vi này và mọi hình thức bạo hành đều có thể gây hại cho trẻ em,  
giảm lòng tự trọng, sự tôn trọng nhân phẩm và cản trở sự phát triển của trẻ. Sự xâm hại  
và bạo hành từ môi trường gia đình bởi chính những người thân của đứa trẻ là một sự  
xâm phạm thực sự nguy hại, trong đó đặc biệt là về mặt tinh thần, sẽ ảnh hưởng lâu dài  
đến ký ức, tâm hồn, nhân cánh của đứa trẻ. Với văn hóa của gia đình người Việt, vốn  
coi trọng thứ bậc trong gia đình, vẫn còn tồn tại quan điểm hủ tục về gia trưởng, trọng  
nam khinh nữ; sự chấp nhận, hy sinh của người phụ nữ, của con cái trong gia đình là  
những nguyên nhân ảnh hưởng rất lớn đến nguy cơ xâm hại trẻ em trong chính môi  
trường gia đình.  
Thứ ba, bảo đảm quyền của trẻ em trong môi trường sống của gia đình sẽ góp  
phần tạo cho trẻ em môi trường sống thân thiện, cởi mở, là nền tảng tốt trước khi tiếp  
cận đến các môi trường xã hội mới  
Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta đều phải tạo cho trẻ em môi trường thân thiện, cởi  
mở. Bởi lẽ trong chặng đường phát triển lâu dài của mình, trẻ em sẽ đối mặt, thích ứng  
với nhiều môi trường sống khác nhau. Mỗi môi trường sống của trẻ đều có những yếu tố  
đặc thù riêng nhưng nhìn chung các em vẫn luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử  
thách, áp lực cuộc sống nếu như các em không chuẩn bị tốt cho mình điều kiện thích ứng  
và hành trang tốt từ chính môi trường gia đình của mình. Chẳng hạn, trong môi trường  
giáo dục ở trường học, các em phải nỗ lực để học tập, rèn luyện. Điều quan trọng là các  
em phải có tâm thế tốt, có niềm tin, chỗ dựa tinh thần và có một nền tảng giáo dục tốt từ  
chính những người thân trong gia đình. Vì vậy, bảo đảm quyền trẻ em trong môi trường  
sống của gia đình chính là tiền đề, nền tảng để các em vững bước vào tương lai với nhiều  
môi trường sống khác nhau, đầy thử thách và nhiều cơ hội để trưởng thành.  
Thứ tư, thường khó khắc phục những hậu quả về thể chất và tinh thần đối với trẻ  
em nếu các em không được bảo vệ tốt trong môi trường sống của gia đình  
Những thiệt hại về thể chất và tinh thần đối với trẻ em bị xâm phạm trong môi  
trường sống của gia đình là rất nặng nề và rất khó để khắc phục. Những hệ lụy khó khắc  
phục này được thể hiện trên ba bình diện sau:  
Một là, về mặt thể chất, những đứa trẻ bị xâm phạm không chỉ mang những vết  
sẹo cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng trên cơ thể suốt đời, mà còn phải chịu đựng những  
hậu quả không trực tiếp liên quan đến vết thương trên da thịt. Hậu quả thường thấy nhất  
về mặt thể chất của trẻ là tình trạng chậm phát triển, ví dụ như trong khả năng vận động,  
năng lực xã hội, khả năng nhận thức, thể hiện ngôn ngữ… Đó là do sức lực của trẻ bị dồn  
hết vào việc tự bảo vệ bản thân và không còn đủ để phát triển các kỹ năng phù hợp với  
lứa tuổi hiện tại của bản thân.  
23  
Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Thị Mai Anh / Bảo đảm quyền trẻ em trong thiết văn hóa gia đình ở Việt Nam  
Hai là, về mặt tinh thần, sau khi bị xâm phạm, trẻ không tin tưởng vào bản thân,  
vào những người thân trong gia đình và vào môi trường xung quanh của trẻ. Điều này  
dẫn đến việc trẻ chỉ làm những gì nếu thấy sẽ được đền đáp; trẻ mất khả năng chia sẻ  
cảm xúc của mình với người khác, muốn lợi dụng và điều khiển người khác, nghi ngờ  
hoặc không tin tưởng vào xung quanh. Hơn thế, trẻ thiếu lòng tự trọng về bản thân do  
mặc nhiên coi việc mình bị xâm phạm là do lỗi của mình, do mình không tốt. Điều này  
thường dẫn đến việc trẻ nhỏ có tính tự kỷ rất cao, nhìn nhận bản thân mình và mọi người  
đều xấu, thiếu sự thiện cảm và thường mất niềm tin, luôn có tính thụ động và tự vệ. Trẻ  
thường buồn rầu, chán nản, tự đổ lỗi cho bản thân rằng mình đáng trách như những gì  
cha mẹ đã đối xử với trẻ.  
Ba là, về mặt hành vi, trẻ bị xâm hại sẽ có hành vi thụ động, tránh né mọi khả  
năng phải đối đầu, hoàn toàn phục tùng lời của người lớn trong gia đình một cách cưỡng  
ép và đối phó, lựa chọn thái độ quá cẩn trọng trong mọi việc, luôn tỏ ra cần sự bảo vệ để  
tránh mọi rắc rối và cố gắng làm vui lòng người lớn. Những đứa trẻ như vậy có xu hướng  
rất nhạy cảm với những lời phê bình và mọi sự từ chối của người khác. Trẻ thường thiếu  
tính tự nhiên, chủ động, không giao tiếp bằng mắt với xung quanh, có vẻ quá thẹn thùng,  
không tò mò về môi trường xung quanh mình. Bên cạnh đó, trẻ không bao giờ muốn  
mình gây ra sự chú ý. Cũng có thể, trẻ trở nên rất hiếu chiến và bùng phát ra hành vi bên  
ngoài mà hạn chế hoặc không có khả năng kiểm soát bản thân. Cụ thể, rất nhiều trẻ em  
sau khi bị xâm phạm trở nên tiêu cực, hung hăng và vô cùng nghịch ngợm phá phách, có  
thái độ bất cần.  
3. Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền trẻ em gắn với thiết chế văn hóa gia đình  
ở Việt Nam  
Thứ nhất, bảo đảm quyền của trẻ em trước các hành vi xâm hại là tất yếu bởi trẻ  
luôn là người hứng chịu nhiều thiệt hại nhất  
Số liệu thống kê cho thấy, hiện nay hơn 60% trẻ em nghèo sống ở các vùng nông  
thôn và miền núi, có tới 60% trẻ em được xác định là thuộc diện nghèo. Tình trạng chênh  
lệch về giáo dục khá rõ. Chẳng hạn, khoảng 92% trẻ em thành phố được học mẫu giáo,  
trong khi con số này ở nông thôn chỉ có 51% (Tổng cục Thống kê, 2017). Nhiều trẻ em  
bị rơi vào hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện  
để thực hiện những quyền lợi cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng. Hiện tượng trẻ  
em cơ nhỡ khá phổ biến ở nước ta.  
Nhiều trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, không có nơi cư trú ổn định; gia đình  
gần như không có trách nhiệm và không quan tâm đến con cái của mình vì nhiều nguyên  
nhân khác nhau. Trong khi đó, các quyền lợi cơ bản của trẻ em là phải tương đồng nhau,  
dù các em được sinh trưởng và lớn lên ở bất kỳ hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, xã  
hội hay vùng, miền nào. Trẻ em không phân biệt về giới tính, về tính chất pháp lý; không  
phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ  
hoặc người giám hộ, con cái của họ đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng  
các quyền theo quy định của pháp luật trong điều kiện tốt nhất mà xã hội và gia đình  
dành cho.  
Trong cuộc sống gia đình, không chỉ có những hành vi xâm hại trực tiếp đến trẻ  
mới gây ra hậu quả cho trẻ mà chính các mâu thuẫn, xung đột khác phát sinh trong các  
mối quan hệ của gia đình, đặc biệt là giữa cha, mẹ cũng tác động nghiêm trọng đến tinh  
24  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 21-31  
thần, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, tình cảm của người lớn dành cho trẻ. Việc trẻ  
phải chứng kiến những hành vi bạo hành trong gia đình, phải chung sống với cuộc sống  
không có hạnh phúc của cha mẹ, sự bất hiếu của cha mẹ với ông bà... là những dạng hành  
vi gián tiếp xâm hại đến quyền của trẻ em với hậu quả nghiêm trọng.  
Thứ hai, bảo vệ quyền trẻ em trong môi trường sống của gia đình sẽ góp phần  
đấu tranh phòng, chống tội phạm đối với trẻ em  
Bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện  
của trẻ em, thế hệ trẻ tương lai của dân tộc, lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo  
vệ đất nước. Điều 65, Hiến pháp 2013 nêu rõ: “Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã  
hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”. Trong thời gian qua, Việt Nam đã thực hiện nhiều  
hoạt động thiết thực với nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ  
em. Tuy nhiên, có một thực trạng đáng lo ngại là việc xâm phạm tình dục đối với trẻ em  
vẫn diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Tình hình tội phạm xâm phạm trẻ em,  
đặc biệt là xâm hại tình dục trẻ em có nhiều diễn biến phức tạp, đang có xu hướng gia  
tăng và độ tuổi trẻ bị xâm hại ngày càng nhỏ; phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng  
đa dạng hơn, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, báo động về sự suy đồi đạo đức của  
không ít người trong xã hội hiện nay và gây bức xúc trong dư luận nhân dân… Do đó,  
bảo vệ quyền của trẻ em trong môi trường sống của gia đình là góp phần đấu tranh,  
phòng chống tội phạm nói chung, tội phạm xâm phạm tình dục đối với trẻ em nói riêng.  
Thứ ba, bảo vệ quyền của trẻ em trong môi trường sống của gia đình góp phần  
bảo vệ môi trường, cuộc sống bình yên và những giá trị văn hóa tốt đẹp trong cộng đồng  
Nguyên nhân trẻ em bị xâm hại trước hết do mặt trái của nền kinh tế thị trường,  
sự bùng nổ của mạng xã hội, sự du nhập văn hóa ngoại lai không có chọn lọc, sự xuống  
cấp, suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận người trong xã hội. Bên cạnh đó,  
việc cha mẹ, người thân, người chăm sóc thiếu hiểu biết về tâm, sinh lý trẻ em, nhận thức  
không đầy đủ về các nguy cơ xâm phạm trẻ em, thiếu quan tâm, chia sẻ về giới tính đối  
với trẻ em khiến các em thiếu kiến thức và kỹ năng phòng tránh xâm phạm từ bên ngoài.  
Nhiều phụ huynh cấm đoán trẻ, không cho con tiếp cận những vấn đề mà theo họ là “của  
người lớn”, không phân tích, giải thích cho trẻ biết cái gì nên và không nên; không dạy  
cho trẻ biết những bộ phận nào trên cơ thể mà người khác, kể cả người thân, không được  
phép động vào, khiến trẻ thiếu các kỹ năng phòng tránh, tự vệ và phản kháng để chống  
lại các hành vi lạm dụng. Nhiều bậc cha mẹ còn e ngại, thậm chí sợ ảnh hưởng đến danh  
dự nên không tố cáo hành vi bị xâm phạm đối với con mình.  
Trong thời gian qua, số lượng các vụ xâm phạm tình dục đối với trẻ em, đặc biệt  
là trẻ em khu vực miền núi gia tăng. Việc xác định những vụ xâm phạm tình dục đều để  
lại hậu quả rất nặng nề, người bị hại không chỉ bị tổn thương về thể chất mà còn luôn  
sống trong sợ hãi và sự ám ảnh. Người bị hại, nhất là trẻ em gái nhỏ tuổi rất khó hòa  
nhập lại với cộng đồng, sống biệt lập trong một thế giới riêng. Để góp phần ngăn chặn tệ  
nạn xâm phạm tình dục, cùng với việc xét xử tội phạm xâm phạm đối với trẻ em, cần có  
nhiều giải pháp quan trọng, khả thi nhưng trong đó cần phải nhấn mạnh đến vai trò quyết  
định của môi trường gia đình.  
Thứ tư, bảo vệ quyền trẻ em trong môi trường sống của gia đình giúp trẻ em xóa  
bỏ mặc cảm, phát triển bình thường  
Các tổ chức quốc tế đã khẳng định: “Các quốc gia thành viên phải thi hành mọi  
biện pháp thích hợp để thúc đẩy sự phục hồi về thể chất, tâm lý và sự tái hoà nhập xã hội  
25  
Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Thị Mai Anh / Bảo đảm quyền trẻ em trong thiết văn hóa gia đình ở Việt Nam  
của trẻ em là nạn nhân của bất kỳ hình thức bỏ mặc, bóc lột hay xúc phạm nào, tra tấn  
hay bất kỳ hình thức đối xử hay trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và nhục hình nào khác,  
hoặc của các cuộc xung đột vũ trang. Sự phục hồi và tái hoà nhập như thế phải diễn ra  
trong môi trường có tác dụng bồi dưỡng sức khỏe, lòng tự trọng và phẩm giá của trẻ em”  
(Liên hợp quốc, 1989). Trên thực tế, việc làm cho trẻ em là nạn nhân trong các vụ án  
xâm phạm đến các giá trị nhân thân không bị mặc cảm và có sự phát triển bình thường là  
rất khó khăn vì chính hậu quả nặng nề của hành vi xâm phạm. Đa số các em đều có tâm  
lý hết sức nặng nề sau khi bị xâm phạm, nhất là trẻ em đang ở độ tuổi dậy thì. Do vậy,  
đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, bệnh viện, các cơ quan, tổ  
chức, chính quyền cơ sở nơi nạn nhân cư trú để động viên, khám, chữa bệnh và tạo mọi  
điều kiện thuận lợi nhất để các em hòa nhập cộng đồng, được chăm sóc và nhận được  
nhiều tình cảm từ gia đình.  
4. Thực trạng về bảo đảm quyền trẻ em gắn với thiết chế văn hóa gia đình ở  
Việt Nam  
Tại Việt Nam, xây dựng và phát triển hệ thống các thiết chế bảo vệ quyền trẻ  
em được Đảng và Nhà nước coi là một trong những ưu tiên hàng đầu. Việc bảo đảm  
quyền trẻ em vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho tương lai phát triển bền vững của đất  
nước. Hiện nay, pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam đã được xây dựng khá toàn diện  
và đầy đủ. Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra rằng việc thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ  
em vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.  
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong báo cáo  
năm 2019, từ ngày 1/1/2015 đến ngày 30/6/2019 cả nước có 8.442 vụ xâm hại trẻ em  
được phát hiện, xử lý với 8.709 trẻ em bị xâm hại. Trong đó xâm hại tình dục chiếm  
75,4% tổng số vụ xâm hại trẻ em. Số trẻ em lao động trái pháp luật lên tới 790.518  
trường hợp, 156.932 trẻ bị bỏ rơi, bỏ mặc và gần 13.500 trẻ 15 tuổi tảo hôn. Đối tượng  
xâm hại trẻ em rất đa dạng, có trình độ, tuổi tác, nghề nghiệp khác nhau, nhiều đối tượng  
có mối quan hệ với trẻ. Việc giám sát tại một số địa phương cho thấy đối tượng xâm hại  
trẻ em là người ruột thịt, người thân thích và người quen biết với trẻ có xu hướng gia  
tăng, chiếm khoảng 90%.  
Không chỉ phải đối mặt với vấn nạn xâm hại, bạo lực ngoài đời thường, trẻ em  
thời nay còn gặp nhiều rủi ro, thách thức với những tệ nạn trên mạng xã hội. Trong bối  
cảnh thế giới và Việt Nam đang bước vào thời đại chuyển đổi số rộng khắp, trẻ em đã trở  
thành công dân số từ rất sớm, sống trên môi trường mạng nhiều giờ mỗi ngày, thay đổi  
hoàn toàn cách các em học tập, kết bạn, giao tiếp so với thế hệ trước. Báo cáo mới đây  
của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho thấy hiện nay học sinh học tập, giao lưu  
nhiều hơn trên môi trường mạng. Việc dành nhiều thời gian hơn trên các nền tảng ảo có  
thể khiến trẻ dễ bị bóc lột tình dục, dụ dỗ và lừa gạt, tiếp xúc với những nội dung độc hại,  
bạo lực…  
Một số địa phương chưa khơi dậy và phát huy hết các nguồn lực, vai trò, trách  
nhiệm của gia đình, trường học, cộng đồng cơ sở đối với việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em;  
công tác truyền thông để mọi người dân thực hiện tốt các văn bản pháp luật về bảo vệ trẻ  
em còn hạn chế, chưa rộng khắp. Chẳng hạn, tại Hà Nội, từ đầu năm 2015 đến hết tháng  
6 năm 2019, có 365 vụ xâm hại trẻ em với 313 trẻ em bị xâm hại, trong đó có 199 vụ  
xâm hại tình dục (chiếm 54,5%) với 220 trẻ em bị xâm hại. Từ năm 2015 đến 2018, tình  
26  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 21-31  
trạng xâm hại trẻ em có xu hướng tăng. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, việc  
đầu tư nguồn lực cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được các địa phương quan tâm;  
đầu tư ngân sách cho công tác này trong tổng chi ngân sách của các địa phương đều cao  
và theo hướng năm sau cao hơn năm trước.  
Các nhà chuyên môn nhận định: để phòng, chống nạn xâm hại trẻ em thì gia đình  
có vị trí đặc biệt quan trọng bởi gia đình là môi trường sống đầu tiên, là nơi hình thành,  
nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người cũng như là chốn bình yên nhất của mỗi  
người. Do đó, mỗi gia đình, thành viên gia đình, đặc biệt là những bậc cha mẹ trước hết  
phải hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc phòng, chống xâm hại con, cháu  
của mình.  
5. Một số giải pháp bảo đảm quyền trẻ em nhằm góp phần gìn giữ, phát huy  
các giá trị cốt lõi trong văn hóa gia đình Việt Nam  
Cơ sở pháp lý về quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam đã được bảo đảm một  
cách khá toàn diện. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định đó trong đời sống chưa đạt  
được kết quả như mong muốn. Thời gian qua, nạn bạo hành, mua bán, bắt cóc, đánh tráo,  
chiếm đoạt trẻ em; tước đoạt quyền sống của trẻ em; xâm hại tình dục, bạo lực, lạm  
dụng, bóc lột trẻ em; sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc  
trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật… diễn ra khá phổ biến. Có những vụ việc hết  
sức đau lòng đã xảy ra. Điều đáng nói là các hành vi này lại diễn ra trong một thời gian  
dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tâm sinh lý cũng như sự phát triển về trí tuệ,  
nhân cách của trẻ em, gây hoang mang dư luận.  
Để các quy định của pháp luật về quyền trẻ em được thực hiện trong đời sống;  
hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi các hành vi vi phạm; đảm bảo trẻ em được phát triển một  
cách toàn diện, trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ  
bản như sau:  
Thứ nhất, cần phải nâng cao nhận thức, coi việc bảo vệ trẻ em là một nhiệm vụ  
chiến lược, trọng tâm để phát triển bền vững; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và  
của toàn thể cộng đồng, trong đó gia đình là thiết chế quyết định  
Tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách bảo vệ quyền trẻ em từ phòng ngừa, hỗ  
trợ đến can thiệp, ngăn chặn, xử lý vi phạm và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia  
đình và cá nhân để đảm bảo cho trẻ em được an toàn, can thiệp kịp thời khi có nguy cơ  
hoặc đã, đang bị xâm hại. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức chính trị -  
xã hội có liên quan cần tăng cường giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ  
em; giám sát việc bố trí nhân lực và ngân sách để thực hiện công tác này ở cấp cơ sở.  
Gia đình, trực tiếp là cha mẹ, cần xác định rõ những nguy cơ mà trẻ em đang phải  
đối mặt cả ngoài đời thực lẫn trên môi trường mạng. Thời gian vừa qua, hàng loạt chính  
sách, văn bản quy phạm pháp luật về chăm sóc, bảo vệ trẻ em; phòng, chống xâm hại trẻ  
em đã được các cấp từ Trung ương đến địa phương ban hành, nổi bật nhất là việc đưa  
vào thực thi Luật Trẻ em năm 2016. Tuy nhiên, một khảo sát nhanh do Hội Bảo vệ quyền  
trẻ em Việt Nam thực hiện gần đây cho thấy ở vùng nông thôn, hơn 40% người lớn  
không biết về Luật Trẻ em, chưa biết trẻ em có quyền gì; tuyệt đại bộ phận trẻ em nông  
thôn hiện nay không biết được mình có quyền gì. Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên  
27  
Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Thị Mai Anh / Bảo đảm quyền trẻ em trong thiết văn hóa gia đình ở Việt Nam  
cứu quản lý phát triển bền vững cho thấy chỉ 10,4% tổng số trẻ em và 8,6% bố mẹ được  
khảo có kiến thức cơ bản về xâm hại tình dục qua mạng.  
Vì vậy, tất cả các chủ thể cần phải nhận thức đầy đủ về quyền trẻ em và các cơ  
chế hữu hiệu để bảo đảm quyền trẻ em trong các môi trường xã hội nói chung và trong  
môi trường gia đình nói riêng.  
Thứ hai, tăng cường công tác truyền thông, giáo dục, vận động xã hội thực thi  
quyền trẻ em; lồng ghép thực hiện quyền trẻ em trong các chương trình, kế hoạch, dự án  
Trước hết, các địa phương cần phải kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ  
làm công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Cần thực hiện có hiệu quả công tác giáo  
dục quyền con người trong cộng đồng nói chung và trong hệ thống các trường học nói  
riêng. Cần có các hình thức, nội dung giáo dục quyền con người phù hợp với từng đối  
tượng công dân. Chú trọng tuyên truyền, phổ biến đến mọi người dân về trách nhiệm của  
cộng đồng đối với việc bảo vệ quyền trẻ em. Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã  
hội, chính quyền cần tiếp cận sâu đối với gia đình để tăng cường công tác tuyên truyền,  
phổ biến pháp luật cho các bậc cha mẹ và những người thân của trẻ về trách nhiệm, nghĩa  
vụ đối với trẻ. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần phải được thực hiện thường  
xuyên, liên tục với nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, phù hợp với đối tượng và  
nội dung tuyên truyền.  
Bên cạnh đó, cần tăng cường hoạt động giáo dục quyền con người trong trường  
học. Mặc dù trong chương trình môn học Giáo dục công dân của các cấp học đã có một  
số nội dung về quyền con người song các nội dung này còn ít và mờ nhạt. Hình thức dạy  
và học các nội dung này trong các nhà trường chưa mang lại hiệu quả cao. Chúng ta tin  
tưởng rằng, khi trẻ em có nhận thức đầy đủ về quyền của mình thì chính các em sẽ bảo  
vệ được bản thân mình, dám đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại quyền trẻ em.  
Ngày 05 tháng 9 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án đưa nội  
dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục  
tiêu của Đề án là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người nhằm tạo sự chuyển  
biến trong nhận thức của người học, của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục về  
tầm quan trọng, ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân, tôn trọng nhân phẩm, các  
quyền và tự do của người khác; ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với nhà  
nước và xã hội, góp phần phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội  
nhập và phát triển bền vững của đất nước. Việc xây dựng và thực hiện Đề án là vô cùng  
cần thiết. Tuy nhiên, Đề án này mới chỉ được thực hiện thí điểm ở một số rất ít các  
trường học tại một số địa phương trong giai đoạn 2017-2020. Đến năm 2025, 100% các  
cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân mới tổ chức giáo dục quyền con người  
cho người học.  
Thứ ba, cần bảo đảm trợ giúp cho trẻ em với những điều kiện tốt nhất từ xã hội  
Bảo đảm trợ giúp trẻ em bao gồm hỗ trợ cho trẻ em có nguy cơ hoặc đã, đang bị  
xâm hại được bảo đảm an toàn, chăm sóc, tạo điều kiện để phục hồi và phòng ngừa  
những tổn thương có thể xảy đến trong tương lai. Các biện pháp trợ giúp cho trẻ em cần  
được thực hiện một cách đa dạng, linh hoạt, bao gồm: chăm sóc y tế, trị liệu tâm lý; giám  
sát, đảm bảo sự an toàn của trẻ em; bố trí người chăm sóc; giáo dục cho trẻ em kỹ năng  
tự mình phòng tránh xâm hại; giáo dục người thân, gia đình về cách thức hỗ trợ, chăm  
sóc trẻ em bị xâm hại.  
28  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 21-31  
Bên cạnh đó, các cấp chính quyền, tổ chức và cá nhân cần có cơ chế để phát hiện  
và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền trẻ em. Ngoài các chế tài của  
pháp luật, cần có sự cộng tác chặt chẽ với công tác truyền thông và dư luận xã hội để có  
thái độ và ứng xử một cách thỏa đáng đối với các hành vi vi phạm quyền trẻ em.  
Thứ tư, cần phải gìn giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp trong văn hóa gia  
đình Việt - mối quan hệ biện chứng với bảo đảm quyền trẻ em  
Về những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình cần được giữ gìn và phát huy  
trong việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay, có người xem gia lễ hay gia phong là  
then chốt, có người nhấn mạnh đến hai chữ hiếu - đễ, cũng có người nhấn mạnh đến chữ  
tình… Nhưng nhìn chung, những giá trị văn hóa truyền thống đó đều thể hiện đậm nét  
yếu tố văn hóa dân tộc Việt Nam đã được bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử.  
Gia lễ được hiểu một cách đơn giản là những lễ nghi theo tập tục ở trong gia  
đình. Những lễ nghi này được phân loại và thực hiện thường xuyên và có tính lặp lại theo  
thời gian trong năm của mỗi gia đình. Những nghi lễ trong gia đình, thường được thực  
hiện theo lời giáo huấn truyền khẩu, người đời trước truyền dạy cho đời sau. Vì vậy,  
trong các gia đình truyền thống trọng lễ nghĩa, các thế hệ hậu sinh thường được răn dạy  
về những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp ngay ở tuổi đầu đời. Thực tế xưa nay đã  
chứng minh rằng, chỉ có những người nào hấp thụ được một truyền thống giáo dục gia  
đình có quy củ, biết tôn trọng gia lễ, gia phong mới có thể là người biết trọng danh dự,  
chấp hành kỷ luật, luật pháp Nhà nước cũng như chu toàn những trọng trách do xã hội  
giao phó.  
Nhìn rộng ra, gia lễ không chỉ tồn tại trong phạm vi mỗi một gia đình, trong mỗi  
quan hệ của các thành viên; mà gia lễ còn có tầm ảnh hưởng rộng tới mọi giao lưu xã hội,  
mà gần nhất là trong mỗi quan hệ xóm làng, cộng đồng dân cư. Khi mỗi cá nhân được  
hấp thụ giá trị văn hóa của gia lễ thì ở họ sẽ hình thành cho mình cách thức đối nhân xử  
thế đúng mực với người khác. Bởi lẽ, con người sống trong cộng đồng không chỉ sống  
riêng rẽ, mà cần tới sự giúp đỡ của những người khác và ngược lại. Người sống trong  
một gia đình có gia phong, đạo lý không thể có những lối ứng xử thiếu suy nghĩ, không  
thể có những hành động, lời ăn, tiếng nói xô bồ, khiếm nhã với người chung quanh.  
Ngược lại, người nào không được giáo dục rèn luyện trong gia đình có nền nếp gia phong  
thì trong cuộc sống, trong lời ăn, tiếng nói với mọi người thường sẽ thấy ở họ sự thô  
thiển, cọc cằn. Do đó, chính gia lễ tăng hiệu năng cho gia giáo, định mức phẩm cách của  
từng người trong mối tương quan của các quan hệ xã hội. Cho nên, trong việc xây dựng  
gia đình Việt Nam hiện đại, cần nhận thức rõ mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa gia đình  
và xã hội, giữa nền nếp trong mỗi gia đình với việc xây dựng các mối quan hệ người với  
người trong cộng đồng cùng hướng tới những giá trị tốt đẹp và nhân văn.  
Trong gia đình Việt Nam truyền thống, bên cạnh gia lễ, người ta còn nhấn mạnh  
đến hai chữ hiếu - đễ. Ở phạm trù triết lý, khi nhấn mạnh đến yếu tố đạo lý trong văn hóa  
gia đình, tác giả - nhà văn hóa lớn Vũ Khiêu cũng đặc biệt nhấn đến yếu tố này. Theo  
ông, trong ba mỗi quan hệ (cha con, vợ chồng, anh em) ấy, thì mỗi quan hệ giữa cha con,  
anh em tiêu biểu bằng hai chữ hiếu và đễ, đã được Nho giáo tôn lên rất cao và đặt vào  
một vị trí trang trọng, trở thành cốt lõi trong các mỗi quan hệ xã hội gồm 5 mối quan hệ  
(ngũ luân) là: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè và các mỗi quan hệ khác như  
thầy trò, lớn bé, chủ khách… Nho giáo đặt vấn đề: “Có được Hiếu, Đễ thì có được các  
đức khác. Hiếu, Đễ là cái gốc mà người quân tử phải nắm lấy, vì cái gốc được vững tốt,  
29  
Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Thị Mai Anh / Bảo đảm quyền trẻ em trong thiết văn hóa gia đình ở Việt Nam  
tự nhiên đạo lý từ đó mà sinh ra”, hay “Cao đẹp rộng lớn như Đạo của vua Nghiêu vua  
Thuấn mà cũng chỉ có Hiếu, Đễ mà thôi”… (Vũ Khiêu, 1997, tr. 140-142).  
6. Kết luận  
Trẻ em là hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước. Bảo vệ quyền  
trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội. Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013  
về quyền con người, các văn bản quy phạm pháp luật khác của Việt Nam đã kịp thời bổ  
sung, sửa đổi để hoàn thiện quy định về quyền trẻ em. Tuy nhiên, để quyền trẻ em được  
tôn trọng và được thực hiện một cách nghiêm chỉnh tuyệt đối thì Đảng, Nhà nước và toàn  
hệ thống chính trị cần phải nhận thức rõ ràng, nhất quán công tác bảo vệ quyền trẻ em là  
một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đất nước; cần nâng cao ý thức của  
toàn thể cộng đồng cũng như ý thức của chính trẻ em về quyền trẻ em và các biện pháp  
cần thiết để chống lại những hành vi xâm hại quyền trẻ em; hoàn thiện các chế tài và xử  
lý kịp thời, nghiêm minh những đối tượng xâm hại quyền trẻ em.  
Hoàn thiện hệ thống pháp luật cùng với việc nâng cao hiểu biết, ý thức trách  
nhiệm của hệ thống chính trị và toàn thể cộng đồng, quyền trẻ em sẽ được thực hiện và  
bảo vệ một cách tốt hơn, góp phần cho sự phát triển văn minh, phồn thịnh của đất nước  
trong tương lai. Đó sẽ là động lực quan trọng để gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa tốt  
đẹp của gia đình Việt Nam trong xã hội hiện đại.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nguyễn Duy Bắc (2015). Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong xây  
dựng đạo đức cách mạng. Tạp chí Thông tin khoa học Lý luận chính trị, số 2(3).  
Vũ Khiêu (1997). Nho giáo và phát triển ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Khoa học xã hội.  
Hoàng Thị Lan (2016). Việt Nam phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo trong thời kỳ  
mới. Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2016.  
Liên hợp quốc (1989). Công ước về quyền trẻ em 1989.  
Nguyễn Thị Nga (2016). Xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền  
vững đất nước hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị, số 1/2016.  
Quốc hội (2004). Luật Chăm sóc và bảo vệ trẻ em năm 1991, sửa đổi bổ sung 2004.  
Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.  
Quốc hội (2014). Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.  
Quốc hội (2016). Luật Trẻ em năm 2016.  
Quốc hội (2017). Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.  
Nguyễn Thị Phương Thủy, Nguyễn Thị Thọ (2014). Gia đình và giáo dục gia đình. Hà  
Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật.  
Tổng cục Thống kê (2017). Niên giám thống kê năm 2017. Hà Nội: NXB Thống kê.  
30  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 21-31  
SUMMARY  
ENSURING CHILDREN’S RIGHTS  
IN THE FAMILY CULTURE INSTITUTION IN VIETNAM  
Nguyen Van Dai, Nguyen Thi Mai Anh  
Vinh University  
Received on 15/10/2020, accepted for publication on 11/12/2020  
Approaching theoretical issues and reflecting the real situation of human rights,  
civil rights in general and children's rights in particular, is a topic of great interest in legal  
science in Vietnam recently. The article deals with theoretical issues about human rights,  
civil rights, in which the child is the direct subject; the current situation of ensuring the  
rights and some solutions to ensure childen’s rights within the family culture institution  
in Vietnam. In this article, the authors used the interdisciplinary methodology, including  
statistics, empirical surveys, analysis and review. The research results contribute the  
theoritical values to the current literature and provide the Party and the State more  
evidence to build the regulation, and to increase the legal awareness of the citizens in  
ensuring the children’s rights, protecting and promoting the great cultural values in the  
Vietnamese families in the new context.  
Keywords: Ensuring human rights; children’s rights; family culture; Vietnam.  
31  
pdf 11 trang baolam 22800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền trẻ em trong thiết chế văn hóa gia đình ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_quyen_tre_em_trong_thiet_che_van_hoa_gia_dinh_o_viet.pdf