Phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính của nghề lưới kéo xa bờ (>90 CV) ở tỉnh Bến Tre

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 38 (2015)(1): 88-94  
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH  
CỦA NGHỀ LƯỚI KÉO XA BỜ (>90 CV) Ở TỈNH BẾN TRE  
Nguyễn Thanh Long1  
1 Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ  
ABSTRACT  
Thông tin chung:  
Ngày nhận: 07/08/2014  
Ngày chấp nhận: 09/06/2015  
Studying offshore trawler activities was conducted from January to June  
2014 in three coastal districts of Ben Tre province such as Ba Tri, Binh  
Dai and Thanh Phu districts. It was interviewed with 35 offshore trawler  
households with main contents such as number of boats, fishing crops,  
fishing grounds, main exploited species, yields and financial performance.  
Results showed that the number of offshore trawler in Ben Tre province  
was 687 fishing boats, accounting for 18.8% of the total number of fishing  
vessels in Ben Tre. Offshore trawlers with average capacity of 258  
CV/vessel and average tonnage 25.3 tons/vessel. The average of yield was  
91.3 tons/vessel/year, which accounted for 52% of trash fish. The total  
average cost of a fishing trip was 276 million VND and net return was  
39.2 million VND/fishing trip, benefit ratio was 0.19. No household trawl  
fishermen offshore was lost. Difficulties of the present offshore trawlers  
application were high fuel prices, consumer product market instability,  
lack of capital and labor shortage.  
Title:  
Performance analysis of  
financial and technical the  
offshore trawlers (> 90 CV)  
in Ben Tre Province  
Từ khóa:  
Khai thác thủy sản, xa bờ,  
lưới kéo, kỹ thuật, tài chính  
Keywords:  
Fishing, offshore, trawler,  
technical, financial  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu hoạt động của nghề lưới kéo xa bờ được thực hiện từ tháng 01  
đến tháng 6/2014 tại 3 huyện ven biển của tỉnh Bến Tre là huyện Ba Tri,  
Bình Đại và Thạnh Phú. Đề tài đã tiến hành phỏng vấn 35 hộ ngư dân làm  
nghề lưới kéo đơn xa bờ với nội dung về số tàu thuyền, ngư trường, mùa  
vụ khai thác, những loài khai thác chính, sản lượng khai thác và hiệu quả  
tài chính. Kết quả cho thấy nghề lưới kéo đơn xa bờ của tỉnh Bến Tre có  
687 chiếc, chiếm 18,8% tổng số tàu khai thác thủy sản của tỉnh Bến Tre.  
Tàu có công suất trung bình là 258 CV/tàu và trọng tải trung bình 25,3  
tấn/tàu. Sản lượng khai thác trung bình là 91,3 tấn/tàu/năm, trong đó cá  
tạp chiếm 52%. Tổng chi phí trung bình của một chuyến biển là 276 triệu  
đồng và lợi nhuận trung bình là 39,2 triệu đồng/chuyến biển, với tỉ suất lợi  
nhuận là 0,19. Không có hộ ngư dân làm nghề lưới kéo đơn xa bờ nào bị  
thua lỗ. Khó khăn chung hiện nay của nghề lưới kéo đơn xa bờ là giá  
nhiên liệu tăng cao, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, thiếu vốn  
và thiếu lao động.  
1 GIỚI THIỆU  
1.1 Đặt vấn đề  
nhỏ trải dọc bờ biển cùng hệ thống sông ngòi  
chằng chịt và hồ chứa tạo nên tiềm năng lớn về  
khai thác thủy sản (KTTS) (Lê Trần Nguyên Hùng,  
Việt Nam có 3.260 km bờ biển, 12 đầm phá, eo  
biển và vịnh, 112 cửa sông và hàng ngàn đảo lớn  
2009).  
88  
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 38 (2015)(1): 88-94  
Tổng sản lượng thủy sản (SLTS) năm 2012 đạt  
5,7 triệu tấn trong đó KTTS đóng góp một phần  
lớn trong SLTS của toàn ngành với sản lượng khai  
thác (SLKT) đạt 2,6 triệu tấn chiếm gần 45,8%  
tổng SLTS của cả nước (Tổng cục Thống kê,  
2013).  
1.2 Mục tiêu nghiên cứu  
Khảo sát phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài  
chính của nghề lưới kéo đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc quản  
lý nghề khai thác xa bờ nói chung và nghề lưới kéo  
đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre nói riêng hoạt động khai  
thác ổn định ở vùng biển xa bờ.  
Đồng bằng sông Cửu Long với bờ biển dài trên  
780 km chiếm 23% chiều dài bờ biển cả nước,  
vùng đặc quyền kinh tế khoảng 297.000 km2 giáp  
biển Đông và Vịnh Thái Lan, vùng thềm lục địa có  
thế mạnh về thủy sản với trữ lượng thủy sản ước  
trên 2 triệu tấn và khả năng khai thác khoảng  
830.000 tấn/năm, rất thuận lợi cho phát triển kinh  
tế biển. Sản lượng KTTS hàng năm luôn đứng đầu  
cả nước (Lê Văn Ninh, 2006).  
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2014 đến  
tháng 5/2013 tại huyện Ba Tri, huyện Bình Đại và  
huyện Thạnh Phú thuộc tỉnh Bến Tre.  
2.2 Số liệu thứ cấp  
Số liệu thứ cấp gồm số lượng tàu thuyền, sản  
lượng khai thác thủy sản, hình thức quản lý khai  
thác thủy sản… được tổng hợp từ các báo cáo của  
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến  
Tre, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy  
sản. Các nghiên cứu có liên quan, tạp chí chuyên  
ngành, luận văn tốt nghiệp đại học và các website  
chuyên ngành cũng được tham khảo để viết báo  
cáo này.  
SLKT của nghề lưới kéo chiếm khoảng  
40%/năm tổng sản lượng cá biển khai thác, số  
lượng tàu thuyền của nghề chiếm khoảng 27% tổng  
số tàu thuyền lắp máy của cả nước. Theo công suất,  
tàu lưới kéo từ 20-90 CV chiếm 24,3%, tàu lớn hơn  
90 CV chiếm 46,7% cơ cấu tàu thuyền trong cơ  
cấu nghề KTHS. Tuy nhiên, cơ cấu nghề khai thác  
lưới kéo đang giảm dần (từ 22,5% năm 2001 còn  
17,6% năm 2010). Hiện nay, theo quy hoạch phát  
triển thủy sản, tàu thuyền lưới kéo khai thác sẽ  
giảm, không được khai thác tại vùng biển ven bờ;  
ngư dân hoạt động nghề lưới kéo ven bờ phải  
chuyển đổi nghề hoặc khai thác xa bờ theo hướng  
dẫn, hỗ trợ của cơ quan chức năng (Tổng cục  
Thống kê, 2013).  
2.3 Số liệu sơ cấp  
Nghiên cứu đã phỏng vấn trực tiếp 35 hộ làm  
nghề lưới kéo đơn xa bờ theo bảng câu hỏi soạn  
sẵn để tìm hiểu những thông tin như:  
Những thông tin chung về chủ tàu và  
thuyền trưởng.  
Bến Tre là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông  
Cửu Long, có nhiều điều kiện tự nhiên - xã hội  
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là  
kinh tế thủy sản. Tỉnh có diện tích tự nhiên là 2.360  
km2, do phù sa của 4 con sông lớn bồi tụ thành  
(sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông  
Cổ Chiên) và đã chia địa hình tỉnh thành ba dãy cù  
lao lớn: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh;  
tỉnh có hơn 65 km bờ biển, với hệ thống kênh rạch  
chằng chịt trong nội đồng, nhiều bãi bồi, cồn nổi là  
điều kiện thích hợp cho phát triển kinh tế thủy sản  
(Lê Ngọc Bữu, 2012).  
Lực lượng lao động trong gia đình và  
trên tàu.  
Số năm kinh nghiệm của thuyền trưởng.  
Hiện trạng khai thác của nghề lưới kéo (kết  
cấu tàu, ngư cụ, ngư trường, mùa vụ, thời gian khai  
thác của chuyến biển và trong năm.  
Những loài khai thác (loài kinh tế và cá tạp)  
Sản lượng khai thác thủy sản theo chuyến  
và theo năm.  
Hình thức tiêu thụ sản phẩm.  
Đánh giá hiệu quả tài chính (chi phí, doanh  
Hàng năm, nguồn lợi thủy sản (NLTS) khai  
thác từ nghề lưới kéo đã mang lại thu nhập và là  
nguồn sinh kế chính cho ngư dân vùng ven biển.  
Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển nghề  
KTTS xa bờ nhưng nghề này chưa được phát triển  
mạnh và ổn định, để hiểu rõ về hoạt động của nghề  
khai thác xa bờ đặc biệt là nghề lưới kéo, đề tài  
“Phân tích hiệu quả tài chính của nghề lưới kéo xa  
bờ (>90 CV) ở tỉnh Bến Tre” đã được thực hiện.  
thu, lợi nhuận).  
Những thuận lợi và khó khăn của nghề lưới  
kéo xa bờ.  
2.4 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu  
Phần mềm Excel được sử dụng để nhập và phân  
tích số liệu. Các số liệu về khí cạnh kỹ thuật và tài  
chính được thể hiện qua tần số suất hiện, giá trị  
89  
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 38 (2015)(1): 88-94  
trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị  
nhỏ nhất.  
nghề câu… chiếm tỉ trọng nhỏ trong KTTS ở tỉnh  
Bến Tre. Lưới vây ánh sáng có số lượng tàu khai  
thác thấp (chiếm khoảng 2,3% tổng số lượng tàu  
KTTS), nhưng hiệu quả tương đối cao với SLKT  
chiếm gần 6% tổng SLKT (Chi cục KT&BVNLTS  
tỉnh Bến Tre, 2013).  
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính dựa  
trên những công thức sau (tính cho 1 chuyến biển):  
Tổng thu nhập = tổng số tiền bán sản phẩm.  
Tổng chi phí = Tổng chi phí biến đổi +  
Tổng chi phí cố định (chi phí khấu hao một  
chuyến).  
Song song đó, dịch vụ hậu cần nghề cá ngày  
càng được hoàn thiện, kết cấu hạ tầng đã được đầu  
tư khá đồng bộ. Toàn tỉnh có 5 nhà máy chế biến  
thủy sản, với tổng công suất thiết kế là 50.000  
tấn/năm. Hai cảng cá Ba Tri và Bình Đại hàng năm  
tiếp nhận trên 60.000 tấn thủy sản các loại và cung  
cấp nhu yếu phẩm cho tàu cá ra khơi hoạt động;  
cảng cá Thạnh Phú, khu neo đậu tránh trú bão cho  
tàu cá của huyện Bình Đại hoạt động cũng đạt hiệu  
quả góp phần quan trọng đưa nghề KTTS tỉnh Bến  
Tre phát triển ổn định (Chi cục KT&BVNLTS tỉnh  
Bến Tre, 2013).  
Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí.  
Tỉ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng  
chi phí.  
Đối với các câu hỏi mở (nêu những thuận và  
khó khăn) thì 1 ý trả lời được cho 1 lần quan sát,  
sau đó các ý được xếp hạng từ cao đến thấp để xác  
định tầm quan trọng của các ý.  
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.2 Khía cạnh kỹ thuật của nghề lưới kéo  
xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
3.1 Tình hình phát triển nghề KTTS ở Bến Tre  
Nghề KTTS ở tỉnh Bến Tre đã có từ lâu đời,  
hầu hết cộng đồng dân cư ven biển đông đúc chủ  
yếu sinh kế dựa vào nghề KTTS truyền thống. Tính  
đến tháng 12/2013, toàn tỉnh có 3.651 tàu KTTS,  
với tổng SLKT là 152.659 tấn. Từ năm 2008 đến  
năm 2013, số lượng tàu KTTS có xu hướng giảm,  
từ 4.422 chiếc năm 2008 giảm xuống còn 3.651  
chiếc vào năm 2013. Nhưng SLKT lại tăng, từ  
89.983 tấn năm 2008 tăng lên 152.659 tấn trong  
năm 2013. Các nghề chủ lực là lưới kéo với 2.571  
tàu, chiếm 70,4% tổng số tàu thuyền KTTS và lưới  
rê với 547 tàu, chiếm 15% tổng số tàu thuyền  
KTTS.  
Kết quả khảo sát cho thấy lưới kéo đơn xa bờ ở  
tỉnh Bến Tre có công suất trung bình là 258  
CV/tàu, tải trọng trung bình là 25,3 tấn/tàu (Bảng  
2). Loại tàu có công suất từ 90-150 CV/tàu chiếm  
khoảng 18% tổng số tàu làm nghề lưới kéo đơn xa  
bờ (Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Bến Tre, 2013).  
Bảng 2: Công suất và tải trọng của tàu lưới kéo  
đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Nội dung  
Tải trọng của tàu (tấn)  
Công suất của máy tàu (CV)  
Giá trị  
25,3±8,9  
258±92  
Để trang bị cho tàu hoạt động xa bờ, máy tàu  
thường được trang bị công suất lớn, những tàu có  
công suất từ 90-150 CV thường là những tàu  
chuyển đổi nghề từ khai thác ven bờ ra xa bờ. Đây  
cũng là hướng đi chung của ngành KTTS cả nước,  
để bảo vệ NLTS và phát triển bền vững nghề  
KTTS.  
Bảng 1: Số lượng và sản lượng của tàu KTTS  
theo nghề năm 2013 ở tỉnh Bến Tre  
Số lượng tàu  
Chiếc Tỉ lệ (%)  
Sản lượng  
Tấn Tỉ lệ (%)  
49,8 41.731 27,3  
Nghề khai  
thác  
Cào đơn  
Cào đôi  
Lưới rê  
Nghề câu  
Vây  
1.799  
772  
547  
160  
82  
21,4 89.839  
58,9  
4,91  
0,21  
5,97  
2,71  
100  
15,1  
4,43  
2,34  
6,93  
7.502  
322  
9.104  
4.161  
Lưới kéo đơn xa bờ có kích thước mắt lưới lớn  
nhất ở cánh trung bình là 2a=226 mm, giảm dần  
xuống đụt lưới, có kích thước nhỏ nhất trung bình  
là 2a=20,3 mm (Bảng 3).  
Nghề khác  
250  
Tổng  
3.610  
100 152.659  
Bảng 3: Kích thước mắt lưới của lưới kéo đơn  
xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Nghề lưới kéo đơn có số lượng tàu KTTS nhiều  
nhất, chiếm 49,8% tổng số lượng tàu KTTS toàn  
tỉnh nhưng SLKT chỉ chiếm 27,3% tổng SLKT  
toàn tỉnh. Lưới kéo đôi có 772 tàu, chiếm 21,4%  
tổng số lượng tàu KTTS toàn tỉnh nhưng SLKT rất  
lớn, chiếm 58,9% SLKT toàn tỉnh (Bảng 1). Các  
ngành nghề KTTS khác như: lưới rê, lưới vây,  
Nội dung  
Giá trị  
226±58  
Kích thước 2a ở cánh lưới (mm)  
Kích thước 2a ở thân lưới (mm)  
Kích thước 2a ở đụt lưới (mm)  
94,8±24,2  
20,3±4,01  
90  
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 38 (2015)(1): 88-94  
Theo qui định kích thước tối thiểu 2a phải lớn  
hơn hoặc bằng 40 mm (Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn, 2013). Theo kết quả nghiên cứu thì  
kích thước mắt lưới ở đụt lưới kéo nhỏ hơn kích  
thước mắt lưới qui định, đều này cho thấy hoạt  
động của nghề lưới kéo xa bờ sẽ làm ảnh hưởng  
đến nguồn lợi thủy sản vì lưới đánh bắt nhiều cá  
con. Chính vì vậy, cần phải thường xuyên kiểm tra  
ngư cụ đồng thời tuyên truyền cho ngư dân để đảm  
bảo kích thước mắt lưới đúng với quy định, bảo vệ  
và phát triển bền vững NLTS.  
Bảng 4: Lực lượng lao động của tàu lưới kéo đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Nội dung  
Giá trị  
2,54±0,89  
1,97±0,71  
3,91±1,72  
5,88±1,34  
Tỉ lệ (%)  
Tổng số lao động trong gia đình (người/hộ)  
Số lao động trong gia đình tham gia nghề này (người)  
Số lao động thuê mướn thêm trên tàu (người)  
Tổng số lao động trên tàu (người/tàu)  
33,5  
66,5  
100  
di chuyển ra vùng Tây Nam Bộ; vụ cá Nam tàu tập  
trung ở vùng biển miền Đông Nam Bộ (Chi cục  
KT&BVNLTS tỉnh Bến Tre, 2013).  
Trung bình mỗi hộ KTTS có 2,54 lao động,  
trong đó có 1,97 lao động gia đình tham gia sản  
xuất trực tiếp trên tàu (77,6%), ngoài ra ở một số  
hộ có lao động gia đình tham gia lao động gián tiếp  
như quản lý tài chính, tiêu thụ sản phẩm KTTS  
hoặc chuẩn bị nhiên liệu, lương thực và các thứ cần  
thiết phục vụ cho chuyến khai thác trên biển. Bên  
cạnh đó, qua kết quả khảo sát cho thấy tổng số lao  
động trên tàu lưới kéo xa bờ trung bình là 5,88  
người/tàu (Bảng 4) thì lao động gia đình chỉ đáp  
ứng được 33,5% lao động trên tàu, còn lại là 66,5%  
phải thuê mướn thêm lao động, có nghĩa là phát  
triển nghề lưới kéo xa bờ không những tạo việc  
làm cho gia đình mà còn tạo việc làm cho người  
dân sống vùng ven biển. Tuy nhiên thời gian qua  
do giá nhiên liệu tăng cao, thu nhập không ổn định  
và thấp nên nhiều lao động vùng ven biển đã tìm  
những việc làm khác có thu nhập cao hơn nên việc  
thuê mướn nhân công để KTTS hiện nay cũng gặp  
nhiều khó khăn.  
Bảng 5: Thời gian khai thác của nghề lưới kéo  
đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Nội dung  
Giá trị  
Thời gian trung bình một mẻ lưới (giờ)  
5,03±1,04  
Số ngày khai thác/một chuyến biển (ngày) 32,5±8,41  
Số chuyến biển/năm (chuyến) 11,4±3,14  
Số tháng khai thác trong một năm (tháng) 7,63±1,46  
Sản lượng trung bình của một chuyến biển là  
17.080 kg/tàu và SLKT trung bình cả năm là 91,3  
tấn/tàu/năm (Bảng 6). SLKT cao nhất vào tháng 4  
và tháng 5, thấp nhất vào tháng 1 chủ yếu do tập  
quán nghỉ mùa của ngư dân, tàu ngưng hoạt động  
với số lượng lớn. Kết quả cho thấy SLKT của nghề  
lưới kéo đơn là rất cao so với các ngành nghề khai  
thác khác (chỉ kém hơn SLKT của lưới kéo đôi xa  
bờ), tuy nhiên chất lượng sản phẩm khai thác còn  
kém, tỉ lệ cá tạp cao. Nghề cào đơn năm 2013 giảm  
nhiều so với 2012 do kém hiệu quả trong khai  
thác và xu hướng chuyển từ nghề cào đơn sang  
cào đôi, từ 55.657 tấn trong năm 2012 giảm xuống  
còn 41.731 tấn trong năm 2013 (Chi cục  
KT&BVNLTS tỉnh Bến Tre, 2013).  
Thời gian kéo một mẻ lưới trung bình là 5,03  
giờ, thời gian khai thác một chuyến biển của nghề  
lưới kéo đơn xa bờ tương đối dài (trung bình kéo  
dài 32,5 ngày/chuyến biển). Trung bình mỗi năm  
có thể khai thác được 11,3 chuyến biển. Ở các ngư  
trường khai thác gần vùng biển Bến Tre, thời gian  
khai thác chỉ khoảng 5-6 tháng/năm. Hàng năm,  
các tàu lưới kéo đơn xa bờ có thể khai thác được  
trung bình 7,63 tháng (Bảng 5).  
Bảng 6: Sản lượng của nghề lưới kéo đơn xa bờ  
ở tỉnh Bến Tre  
Nội dung  
Giá trị  
Với hình thức tổ chức tổ đội tàu KTTS ngày  
càng phổ biến thì thời gian bám biển của tàu lưới  
kéo đơn xa bờ ngày càng tăng, SLKT cũng tăng  
đáng kể, tiết kiệm được chi phí vận chuyển đồng  
thời chất lượng sản phẩm cũng tốt hơn.  
Sản lượng một mẻ lưới (kg)  
267±56,6  
Sản lượng một chuyến (kg/tàu/chuyến) 17.080±8.701  
Sản lượng một năm (tấn/tàu/năm) 91,3±23,5  
Lưới kéo đơn xa bờ khai thác chủ yếu các loài  
có giá trị kinh tế như: mực (9,46% tổng SLKT), cá  
hố (8,21%), cá đổng (7,11%). Ngoài ra, còn có  
những loài có giá trị kinh tế cao nhưng sản lượng  
tương đối thấp như: ghẹ (2,82%), tôm các loại  
(4,77%). Cá tạp chiếm 52% tổng SLKT của tàu  
lưới kéo đơn xa bờ (Bảng 7).  
Tàu lưới kéo xa bờ ở tỉnh Bến Tre khai thác ở  
cả 2 ngư trường là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.  
Mùa vụ khai thác hải sản có 2 vụ chính, đó là vụ cá  
Nam (tháng 4 - 10) và vụ cá Bắc (tháng 11 đến  
tháng 3 năm sau). Hàng năm, tùy theo mùa vụ mà  
tàu di chuyển ngư trường khác nhau. Vụ Bắc, tàu  
91  
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 38 (2015)(1): 88-94  
Bảng 7: SLKT theo thành phần loài của nghề lưới kéo đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Tên loài  
Sản lượng bình quân/mẻ (kg)  
43,1±15  
Tỷ lệ (%)  
9,46  
8,21  
7,11  
6,72  
5,62  
4,77  
3,29  
2,82  
52  
Mực (Sthenoteuthis oualaniensis)  
Cá hố (Trihiurus muiticus)  
Cá đổng (Branchiostegus japonicus)  
Cá mối (Saurida tumbil)  
Cá đù (Argyrosomus argentatus)  
Tôm (các loại)  
Cá chai (Platyce phalus indicus)  
Ghẹ (Portunus pelagicus)  
Tỉ lệ cá tạp  
37,5±3,54  
32,5±14,3  
30,6±14  
25,7±10,2  
21,7±7,12  
15  
12,5±4,98  
140±53,7  
Tổng  
267±86,6  
100  
3.3 Khía cạnh tài chính của nghề lưới kéo  
xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
trung bình là 258 triệu đồng (Bảng 9), chủ yếu là  
chi phí nhiên liệu (69,9%) và tiền nhân công  
(16,5%). Các chi phí khác như lương thực, nhớt,  
nước đá… chiếm tỉ lệ thấp. Chi phí cho một  
chuyến biển chủ yếu là nhiên liệu, nhưng do không  
có vốn, vay ngân hàng khó khăn nên đa số ngư dân  
phải chấp nhận lấy dầu với giá cao hơn thị trường  
hoặc chịu lãi suất cao hơn lãi suất của ngân hàng  
để đầu tư sản xuất. Chi phí biến đổi thường tăng  
cao trong khi giá bán sản phẩm chỉ tăng nhẹ hoặc  
biến động thất thường làm cho thu nhập của ngư  
dân làm nghề kéo đơn xa bờ giảm đáng kể.  
Kết quả khảo sát cho thấy để đầu tư cho một  
tàu lưới kéo đơn xa bờ cần trung bình khoảng 943  
triệu đồng (Bảng 8), trong đó tàu và máy tàu chiếm  
tỉ lệ cao (chiếm hơn 90%), ngư cụ và các chi phí  
khác chỉ chiếm chưa đến 10% tổng vốn đầu tư.  
Thời gian khấu hao cho vỏ tàu từ 15-20 năm tùy  
thuộc vào chất liệu gỗ và điều kiện sửa chữa của  
chủ tàu. Trong khi đó, máy tàu thường được sử  
dụng khoảng 10 năm. Tổng chi phí khấu hao cho  
một chuyến biển trung bình là 18,9 triệu đồng.  
Bảng 9: Chi phí biến đổi cho một chuyến biển của  
tàu lưới kéo đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Bảng 8: Chi phí cố định và chi phí khấu hao của  
tàu lưới kéo đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Giá trị  
(triệu đồng/  
chuyến)  
Giá trị  
(triệu  
đồng/năm)  
Tỷ lệ  
(%)  
Chi phí cố định Chi phí khấu  
Nội dung  
hao (Triệu  
đồng/chuyến)  
7,37±2,88  
6,37±3,82  
4,17±3,62  
0,76±1,04  
1,37±2,04  
2,05±1,25  
18,9±6,1  
Nội dung  
Triệu  
đồng  
562±85 59,5  
341±94 36,2  
24,4±5,25 2,59  
5,43±1,42 0,58  
3,81±3,78 0,41  
6,73±1,23 0,72  
943±131 100  
Tỉ lệ  
(%)  
Nhiên liệu  
185±29 69,9 911±171  
44±19,4 16,5 231±93  
Vỏ tàu  
Máy tàu  
Ngư cụ  
Chi phí khác  
Máy định vị  
Máy bộ đàm  
Tổng  
Tiền nhân công  
Tiền lãi ngân hàng  
Chi phí sửa chữa  
Nước đá  
Lương thực  
Chi phí khác  
Nhớt  
1±1,37 0,37 4,26±2,11  
5,71±2,52 2,14 31,4±10,4  
15,7±8,1 5,91 51,9±12,6  
7,66±3,30 2,88 43,7±11,8  
3,06±1,13 1,15 20,5±3,92  
2,83±1,92 1,09 21,2±8,4  
258±103 100 1.319±325  
Tổng chi phí  
Tổng chi phí biến đổi cho một chuyến biển  
Bảng 10: Hiệu quả tài chính của nghề lưới kéo đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Nội dung  
Tổng chi phí (triệu đồng)  
Tổng chi phí khấu hao (triệu đồng)  
Tổng chi phí biến đổi (triệu đồng)  
Tổng doanh thu (triệu đồng)  
Lợi nhuận (triệu đồng)  
Chuyến biển  
276±117  
Cả năm  
1.337±340  
18,9±3,1  
1.319±725  
1.662±839  
343±83  
18,2±2,7  
258±93  
315±68  
39,2±13,2  
0,19±0,12  
Tỉ suất lợi nhuận (lần)  
0,19±0,12  
đối cao, tuy nhiên vốn đầu tư là tương đối lớn nên  
tỉ suất lợi nhuận vẫn còn thấp (0,19 lần). Nếu so  
với nghề lưới kéo ven bờ có tổng lợi nhuận trung  
bình từ 123 triệu đồng/tàu/năm (Lê Xuân Sinh và  
Tổng thu nhập một chuyến biển trung bình là  
315 triệu đồng và có lợi nhuận trung bình một  
chuyến là 39,2 triệu đồng (Bảng 10). Kết quả cho  
thấy nghề lưới kéo đơn xa bờ có lợi nhuận tương  
92  
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 38 (2015)(1): 88-94  
ctv., 2009) thì nghề kéo đơn xa bờ đạt hiệu quả tài  
chính cao hơn nhiều (trung bình lợi nhuận đạt 343  
triệu đồng/năm), nhưng nếu so với nghề lưới kéo  
đôi (lợi nhuận trung bình khoảng 1,2 tỉ đồng/cặp  
tàu/năm) hay nghề lưới vây ánh sáng (lợi nhuận  
trung bình khoảng 1 tỉ đồng/tàu/năm) thì hiệu quả  
sản xuất của nghề lưới kéo đơn xa bờ là không cao  
(Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Bến Tre, 2013).  
thác được nhiều sản phẩm cùng loại thì vựa lại ép  
giá. Đây cũng là khó khăn chung trong đầu tư  
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của ngành KTTS.  
Bên cạnh đó, do thu nhập không ổn định và thấp,  
nên nhiều lao động vùng ven biển đã tìm những  
việc làm khác có thu nhập cao hơn nên việc thuê  
mướn nhân công để KTTS hiện nay cũng gặp  
nhiều khó khăn.  
3.4 Những thuận lợi và khó khăn của nghề  
lưới kéo đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Bảng 12: Những khó khăn của nghề lưới kéo  
đơn xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Kết quả cho thấy ngư dân ở Bến Tre duy trì  
nghề lưới kéo đơn xa bờ là do những thuận lợi chủ  
yếu như: (i) Lợi nhuận tương đối cao, (ii) Có hỗ trợ  
của Nhà nước và chính quyền địa phương, (iii)  
Ngân hàng cho vay vốn ưu đãi.  
Số quan Xếp  
Nội dung  
sát hạng  
Giá dầu cao  
Nhân công ít, khó tìm  
Vựa ép giá  
Không vay được vốn ưu đãi  
Sản lượng giảm  
Thị trường tiêu thụ không ổn định  
Thủ tục vay vốn khó  
Tàu KTTS tăng nhanh, nhiều  
26  
24  
15  
10  
9
6
5
4
1
2
3
4
5
6
7
8
Bảng 11: Những thuận lợi khi thực hiện nghề  
lưới kéo xa bờ ở tỉnh Bến Tre  
Số quan Xếp  
Nội dung  
sát hạng  
Lợi nhuận cao  
33  
32  
1
2
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
4.1 Kết luận  
Có hỗ trợ của Nhà nước và chính  
quyền địa phương  
Ngân hàng cho vay ưu đãi  
Vốn đầu tư phù hợp  
Kinh nghiệm đi biển  
Khác  
12  
10  
9
3
4
5
6
Nghề lưới kéo đơn xa bờ của tỉnh Bến Tre  
có 687 chiếc, chiếm 18,8% tổng số tàu khai thác  
thủy sản của tỉnh Bến Tre. Tàu có công suất  
trung bình là 258 CV/tàu và trọng tải trung bình  
25,3 tấn/tàu.  
4
Để giảm áp lực cho KTTS ven bờ gây ảnh  
hưởng xấu đến NLTS nên công tác vận động, hỗ  
trợ ngư dân chuyển đổi từ khai thác ven bờ ra khai  
thác xa bờ theo định hướng chung của cả nước  
được chính quyền địa phương cũng như Uỷ ban  
nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức triển khai rất tốt,  
đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu tàu  
thuyền cũng như chuyển đổi ngành nghề khai thác  
là Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Bến Tre. Vì vậy,  
ngư dân yên tâm bám biển, chuẩn bị tích cực trong  
chuyển đổi ra khai thác xa bờ nhằm nâng cao hiệu  
quả sản xuất.  
Nghề lưới kéo xa bờ ở tỉnh Bến Tre có thể  
khai thác quanh năm ở cả hai ngư trường Đông  
Nam Bộ và Tây Nam Bộ và khai thác trung bình  
11,4 chuyến biển/năm. Kích thước mắt lưới ở đụt  
2a=20,3 mm nhỏ hơn qui định nên sản lượng khai  
thác trung bình đạt khá cao (91,3 tấn/tàu/năm) và  
cá tạp chiếm tỉ lệ cao (52%).  
Tổng chi phí trung bình của một chuyến  
biển là 276 triệu đồng và lợi nhuận trung bình là  
39,2 triệu đồng/chuyến biển, với tỉ suất lợi nhuận  
là 0,19. Không có hộ ngư dân làm nghề lưới kéo  
đơn xa bờ nào bị thua lỗ.  
Bên cạnh đó, nghề lưới kéo đơn xa bờ còn gặp  
nhiều khó khăn như: (i) giá nhiên liệu cao, (ii) nhân  
công khó tìm, (iii) thị trường tiêu thụ sản phẩm  
không ổn định, vựa ép giá.  
Khó khăn chung hiện nay của nghề lưới kéo  
đơn xa bờ là giá nhiên liệu tăng cao, thị trường tiêu  
thụ sản phẩm không ổn định, thiếu vốn và thiếu  
lao động.  
Giá dầu tăng lên thường xuyên, đa số ngư dân  
lại không có sẵn nguồn vốn, phải mua dầu với giá  
cao hơn giá thị trường hoặc chịu lãi suất cao là khó  
khăn lớn nhất trong đầu tư sản xuất của các hộ ngư  
dân làm nghề lưới kéo đơn xa bờ. Ngoài ra, thị  
trường tiêu thụ sản phẩm thường không ổn định,  
giá cả chỉ tăng nhẹ so với sự tăng cao của chi phí  
đầu tư sản xuất. Nếu các tàu kéo đơn xa bờ khai  
4.2 Đề xuất  
Các cơ quan quản lý khai thác thủy sản địa  
phương cần tổ chức liên kết sản xuất trong nghề  
lưới kéo xa bờ để hỗ trợ nhau trong sản xuất, giảm  
chi phí sản xuất, ổn định đầu ra, bảo quản tốt sản  
phẩm thủy sản khai thác nhầm tăng lợi nhuận cho  
ngư dân và nghề khai thác phát triển ổn định.  
93  
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 38 (2015)(1): 88-94  
4. Lê Trần Nguyên Hùng, 2009. Tổng quan  
mô hình đồng quản lý nghề cá ở Việt Nam.  
Báo cáo tham luận tại Hội nghị Đồng quản  
lý nghề cá quy mô nhỏ tại Việt Nam, Đà  
Nẵng từ 26 -27 tháng 10/2009, 22 trang.  
Nhà nước cần tiếp tục chính sách hỗ trợ chi  
phí dầu để ngư dân có thể tiếp tục khai thác xa bờ.  
Nhà nước cần có chính sách, tạo điều kiện  
cho ngư dân vay vốn để ngư dân có đủ chi phí sản  
xuất dài ngày ở vùng biển xa bờ.  
5. Lê Văn Ninh, 2006. Hiện trạng nghề khai  
thác hải sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và một  
số định hướng phát triển trong thời gian tới.  
Tạp chí thuỷ sản số 11/2006.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,  
2013. Quy định về quản lý nghề lưới kéo khai  
thác hải sản tại vùng biển Việt Nam. 6 trang.  
6. Lê Xuân Sinh, Nguyễn Thanh Long và Đỗ  
Minh Chung, 2009. Phân tích hiện trạng  
nghề lưới kéo ven bờ và nhận thức của ngư  
dân ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tuyển tập  
Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh học  
biển và phát triển bền vững. Nhà xuất bản  
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ. 275-285  
2. Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Bến Tre, 2013.  
Báo cáo Tổng kết tình hình khai thác thủy  
sản năm 2013. 11 trang.  
3. Lê Ngọc Bữu, 2012. Tài liệu dạy học  
Chương trình địa lí địa phương Trung học  
cơ sở tỉnh Bến Tre. Nhà xuất bản giáo dục  
Việt Nam. Bến Tre. 36 trang.  
7. Tổng cục Thống kê, 2013. Niên giám  
Thống kê 2012. NXB Thống kê Hà Nội  
94  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 20680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính của nghề lưới kéo xa bờ (>90 CV) ở tỉnh Bến Tre", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_hieu_qua_ky_thuat_va_tai_chinh_cua_nghe_luoi_keo_x.pdf