Giải pháp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay

TẠPCHÍKHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG  
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY  
HUNG VUONG UNIVERSITY  
Vol. 24, No. 3 (2021): 55-62  
Tập 24, Số 3 (2021): 55-62  
Email: tapchikhoahoc@hvu.edu.vn Website: www.hvu.edu.vn  
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC  
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÙNG  
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY  
Đỗ Thị Thu Hương1*, Chu Thị Diễm Hương2, Nguyễn Hoàng Kiên3  
1Khoa Chính trị và Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ  
2Phòng Đào tạo, Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, Tuyên Quang  
3Trường Trung học Phổ thông số 2 Lào Cai, Lào Cai  
Ngày nhận bài: 18/7/2020; Ngày chỉnh sửa: 10/10/2020; Ngày duyệt đăng: 21/12/2020  
Tóm tắt  
rong những năm qua, vấn đề thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số ở các  
T
tỉnh miền núi phía Bắc nước ta chưa đạt được kết quả cao và bền vững là do chính quyền, nhân dân ở các tỉnh  
chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vai trò của giáo dục đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện  
quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Chính vì vậy, cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính  
quyền và nhân dân về thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số (DTTS) đối với  
sự nghiệp phát triển và thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc hiện nay. Bài viết góp phần làm rõ các giải pháp  
cụ thể để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông vùng  
dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc (thông qua việc khảo sát tại tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang và Lào Cai).  
Từ khóa: Công bằng xã hội, vùng dân tộc thiểu số, giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số  
miền núi phía Bắc, Đảng và Nhà nước ta phải  
làm tốt các giải pháp chủ yếu sau: Nâng cao  
nhận thức của chính quyền địa phương và đồng  
bào các DTTS hiểu được vị trí, vai trò của giáo  
dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo  
dục; phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm  
nghèo bền vững; có cơ chế, chính sách ưu tiên  
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục;  
phát huy nội lực của đồng bào DTTS để đồng  
bào chủ động, tích cực tham gia vào sự nghiệp  
phát triển giáo dục... Trên cơ sở nghiên cứu,  
khảo sát thực trạng thực hiện công bằng xã hội  
trong giáo dục phổ thông vùng DTTS ở một số  
tỉnh miền núi phía Bắc (Phú Thọ, Tuyên Quang  
và Lào Cai), bài viết tập trung làm rõ giải pháp  
nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc  
1. Đặt vấn đề  
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục  
ở các vùng DTTS là một mục tiêu quan trọng  
trong chiến lược phát triển giáo dục của Đảng  
và Nhà nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng  
và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương,  
chính sách phát triển giáo dục ở các vùng  
DTTS nhằm tạo ra nhiều cơ hội cho đồng bào  
các dân tộc tiếp cận với giáo dục để học tập  
và nâng cao trình độ. Các tỉnh miền núi phía  
Bắc là vùng có điều kiện kinh tế, văn hóa - xã  
hội phát triển thấp hơn so với trung bình của cả  
nước, điều kiện và cơ hội học tập của đồng bào  
các DTTS còn nhiều hạn chế, bất cập trong tiếp  
cận, tham gia vào quá trình giáo dục. Do đó,  
trong những năm tới, để thực hiện công bằng  
xã hội trong giáo dục vùng DTTS ở các tỉnh thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ  
55  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Đỗ Thị Thu Hương và ctv.  
thông vùng DTTS khu vực miền núi phía Bắc loại thành dân tộc thiếu số hay đa số là lượng  
hiện nay.  
người thuộc dân tộc đó so với các dân tộc khác  
hoặc so với tổng số dân. Có quốc gia không có  
dân tộc thiểu số, nhưng cũng có những quốc  
gia có rất nhiều dân tộc thiểu số. Tại Điều 5,  
Nghị định 05/NĐ-CP của Chính phủ ngày  
14/01/2011, quy định về công tác dân tộc, thì  
“Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít  
hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ  
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và  
“Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên  
50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân  
số quốc gia” [1].  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận  
Tổng hợp các văn bản, chủ trương, chính  
sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện  
công bằng xã hội trong giáo dục vùng dân  
tộc thiểu số. Từ đó, phân tích và tổng hợp  
nguồn tài liệu, văn bản liên quan để xây dựng  
cơ sở lý luận về thực hiện công bằng xã hội  
trong giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu  
số ở các tỉnh miền núi phía Bắc.  
“Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông  
các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định  
thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa  
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [1]. Như vậy, khái  
niệm vùng dân tộc thiểu số gắn liền với khái  
niệm dân tộc thiểu số, nhưng nó để chỉ vùng,  
khu vực, địa bàn, tức là địa hình đất đai, khoảng  
không gian trong đó có các điều kiện tự nhiên,  
kinh tế - xã hội đặc trưng. Cơ sở để xác định  
“vùng” là đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội [2].  
Vùng dân tộc thiểu số nên được tiếp cận theo  
quy định tại Khoản b, Điều 2, Nghị định số: 53/  
NĐ-CP về Kiện toàn tổ chức bộ máy làm công  
tác dân tộc thuộc UBND các cấp: “Vùng dân  
tộc thiểu số theo nghĩa hẹp được xem xét trên  
cơ sở đơn vị hành chính cấp huyện có số dân  
tộc thiểu số từ 5.000 người trở lên, sinh sống  
thành cộng đồng ổn định” [3]. Như vậy, vùng  
dân tộc thiểu số là một khái niệm để chỉ địa bàn  
có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.  
Chính vì thế, lượng đồng bào dân tộc thiểu số  
trên một địa bàn là tiêu chí chính để phân định  
vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Những vùng  
mà cộng đồng người dân tộc thiểu số sống ít,  
xen kẽ thì được gọi là “vùng có dân tộc thiểu  
số” hoặc “vùng xen kẽ dân tộc thiểu số”. Điều  
này khiến cho “vùng dân tộc thiểu số” trở thành  
một khái niệm có tính tương đối, là khu vực  
đặc thù, có sự khác biệt ở yếu tố dân tộc, yếu tố  
tự nhiên và kinh tế, xã hội nhất định so với các  
vùng khác trong cả nước [2]. Phạm vi của vùng  
dân tộc thiểu số (DTTS) có thể được nhìn nhận  
ở nhiều cấp, có thể ở quy mô cấp huyện (trong  
2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi  
Sử dụng các bảng hỏi dành cho cán bộ  
quản lý, giáo viên và nhân dân địa phương  
để tìm hiểu thực trạng thực hiện công bằng  
xã hội trong giáo dục phổ thông vùng dân tộc  
thiểu số một số tỉnh miền núi phía Bắc như  
Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ.  
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn  
Phỏng vấn cán bộ quản lý và giáo viên về  
việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục  
phổ thông vùng dân tộc thiểu số và thực trạng  
tổ chức thực hiện công bằng xã hội trong giáo  
dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số ở địa bàn  
các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Lào Cai.  
2.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia  
Trưng cầu ý kiến cán bộ quản lý một số  
trường phổ thông, cán bộ quản lý Phòng Giáo  
dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo các  
tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Lào Cai để đánh  
giá tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Khái niệm giáo dục phổ thông vùng  
dân tộc thiểu số  
Dân tộc thiểu số (có lúc gọi là dân tộc ít  
người) là khái niệm được đưa ra trong mối  
tương quan với dân tộc đa số (ở Việt Nam là  
người Kinh). Tiêu chí quan trọng nhất để phân huyện có các vùng dân tộc thiểu số), cấp tỉnh  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 24, Số 3 (2021): 55-62  
và cấp liên tỉnh (khu vực miền núi phía Bắc, hội và khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển  
Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,...). Do đó, vùng giữa các cá nhân, nhóm xã hội dựa trên sự  
DTTS miền núi phía Bắc được tiếp cận trong cống hiến và hưởng thụ, khả năng thực tế của  
phạm vi nghiên cứu trên quy mô của cả vùng, những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.  
gồm 14 tỉnh, với đặc điểm kinh tế, xã hội của  
người DTTS là nổi bật và chủ yếu. Hoạt động  
giáo dục phổ thông vùng DTTS miền núi phía  
Bắc được tiếp cận trên phạm vi toàn vùng, tập  
trung vào những đặc thù trong giáo dục vùng  
DTTS như hệ thống trường phổ thông dân tộc  
nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, lớp ghép,  
chương trình dạy song ngữ, các chính sách cho  
giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh  
cấp học phổ thông vùng DTTS.  
Công bằng xã hội trong giáo dục và thực  
hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng  
DTTS là một nội dung quan trọng trong chính  
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta cần đạt  
tới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,  
để nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn  
nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở quan  
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ  
Chí Minh và Đảng ta về xây dựng nền giáo dục  
Khác với giáo dục phổ thông nói chung xã hội chủ nghĩa, thực hiện công bằng xã hội  
trong cả nước, giáo dục phổ thông ở vùng trong giáo dục – đào tạo, chính là tạo điều kiện  
DTTS có các nội dung, hoạt động xoay quanh cho đồng bào dân tộc có cơ hội tiếp cận các  
đối tượng đặc biệt là học sinh vùng DTTS (hầu hình thức giáo dục phù hợp để học tập và nâng  
hết là học sinh người DTTS) có hệ thống các cao trình độ. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số  
trường chuyên biệt (trường phổ thông dân tộc trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, công bằng xã  
nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, các lớp ghép, hội trong giáo dục quan trọng nhất đối với đồng  
có việc thực hiện các chính sách đối với học bào là tạo điều kiện về vật chất và tinh thần  
sinh, giáo viên và cán bộ quản lý vùng DTTS, cho họ được xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu  
có việc dạy học bằng tiếng dân tộc và dạy Tiếng học, từng bước tiến tới phổ cập giáo dục trung  
Việt cho học sinh DTTS,... vùng có rất nhiều học cơ sở và trung học phổ thông, để họ có cơ  
nội dung, hoạt động đặc thù như chương trình hội tiếp cận các kiến thức khoa học và công  
dạy học, sách giáo khoa riêng, hệ thống chính nghệ hiện đại, nâng cao trình độ dân trí và trình  
sách cho giáo viên và học sinh riêng dành cho độ văn hóa nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát  
thầy và trò vùng DTTS...).  
triển kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc mình.  
3.2. Quan niệm về công bằng xã hội và vấn 3.3. Những thành tựu đã đạt được của việc  
đề thực hiện công bằng xã hội trong giáo thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục  
dục phổ thông ở vùng DTTS  
Công bằng xã hội là một khái niệm mang  
tính lịch sử, bị quy định bởi điều kiện và hoàn  
phổ thông vùng DTTS khu vực miền núi  
phía Bắc  
Một là, cơ hội học tập và nâng cao trình  
cảnh lịch sử cụ thể. Trong mỗi giai đoạn phát độ cho đồng bào vùng DTTS miền núi phía  
triển của lịch sử, con người có quan niệm và Bắc được tạo ra nhiều hơn. Theo kết quả điều  
đánh giá khác nhau về công bằng xã hội, phù tra của nhóm tác giả có 92,63% tổng số phiếu  
hợp với lợi ích và địa vị của từng giai cấp, trả lời cho rằng so với trước đây, điều kiện  
tầng lớp khác nhau trong xã hội đó. Xuất phát học tập và cơ hội tiếp cận các hình thức giáo  
từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư dục cho đồng bào các DTTS ở địa phương  
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng tốt hơn, có 5,87% cho là không có sự phát  
Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội, có triển, 0% cho là khó khăn hơn, 1,48% trả lời  
thể khẳng định rằng công bằng xã hội là một là không biết. Số liệu này cụ thể ở: tỉnh Phú  
giá trị xã hội, phản ánh tính hợp lý những Thọ là 92,8%; 7,2%; 0%; 0%; tỉnh Tuyên  
nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh Quang là 95,54%; 0,41%; 0%; 4,04%; tỉnh  
thần trong quan hệ phân phối sản phẩm xã Lào Cai là 87,99%; 11,5%; 0%; 0,45%.  
57  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Đỗ Thị Thu Hương và ctv.  
Hai là, Đảng và Nhà nước đã quan tâm dục tại các cơ sở giáo dục. Cụ thể thông qua  
tạo điều kiện để đồng bào các DTTS tiếp cận bảng số liệu đã được khảo sát:  
được cơ hội và tham gia vào quá trình giáo  
Bảng 1. Tổng hợp điều tra về đồng bào DTTS được tạo điều kiện trong việc tiếp cận  
các cơ hội nâng cao tri thức và tay nghề ở địa phương  
Đồng bào DTTS được tạo điều kiện trong việc tiếp cận các cơ hội  
nâng cao tri thức và tay nghề ở địa phương  
Khu vực  
Tổng số phiếu  
Không  
thuận lợi  
Rất thuận lợi  
Thuận lợi  
Bình thường  
Phú Thọ  
Tuyên Quang  
Lào Cai  
9,43%  
24,60%  
30,80%  
54,73%  
52,06%  
57,94%  
35,83%  
23,33%  
11,25%  
0,00%  
0,00%  
0,00%  
70 phiếu (100%)  
80 phiếu (100%)  
80 phiếu (100%)  
Nguồn: Khảo sát của nhóm tác giả [4-8].  
Ba là, Nhà nước đã từng bước thể chế hóa tiền nhà ở, hỗ trợ gạo cho học sinh bán trú,  
và thực hiện quyền bình đẳng trong tiếp cận  
và tham gia vào quá trình giáo dục đối với  
đồng bào DTTS. Cụ thể: “Nhà nước ưu tiên  
đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho  
giáo dục; ưu tiên đầu tư cho phổ cập giáo  
dục, phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo,  
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều  
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa  
bàn có khu công nghiệp” [9].  
Bốn là, Đảng và Nhà nước đã ban hành một  
hệ thống chính sách ưu tiên trong giáo dục đối  
với các vùng DTTS khu vực miền núi phía  
Bắc. Cụ thể: “Nhà nước thành lập trường phổ  
thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc  
bán trú, trường dự bị đại học cho người học  
là người dân tộc thiểu số, người học thuộc gia  
đình định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh  
tế - xã hội đặc biệt khó khăn” [9]. Chính sách  
miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập theo  
học sinh phổ thông ở vùng có điều kiện kinh  
tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Nghị định số  
116/2016/NĐ-CP; thực hiện chế độ chính sách  
đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội  
trú, học sinh khuyết tật; thực hiện chính sách  
quản lý học sinh ở bán trú theo Nghị quyết số  
54/2016/NQ-HĐND.  
3.4. Những hạn chế, yếu kém của việc  
thực hiện công bằng xã hội trong giáo  
dục phổ thông vùng DTTS khu vực miền  
núi phía Bắc  
Thứ nhất, việc tạo cơ hội học tập và  
nâng cao trình độ cho đồng bào DTTS ở  
các vùng DTTS khu vực miền núi phía Bắc  
còn nhiều bất cập, hạn chế. Quy mô giáo  
dục, hệ thống giáo dục vẫn chưa đáp ứng  
được yêu cầu học tập của đồng bào DTTS,  
tình trạng lớp ghép, nhà tạm, điểm trường  
Nghị định số 86/2015/NĐ-CP; hỗ trợ tiền ăn, nhỏ lẻ vẫn còn...  
Bảng 2. Tổng hợp kết quả khảo sát đánh giá về cơ sở trường, lớp phục vụ sự nghiệp phát triển giáo dục  
vùng DTTS khu vực miền núi phía Bắc  
Đánh giá về cơ sở trường lớp phục vụ sự nghiệp phát triển  
giáo dục vùng DTTS khu vực miền núi phía Bắc  
Khu vực  
Tổng số phiếu  
Rất đầy đủ  
Đầy đủ  
Thiếu thốn  
Rất thiếu thốn  
Tỉnh Phú Thọ  
Tỉnh Tuyên Quang  
Tỉnh Lào Cai  
0,0%  
0,0%  
0,0%  
17,09%  
1,97%  
0,1%  
35,53%  
46,59%  
4,13%  
47,37%  
51,43%,  
95,76%  
80 phiếu (100%)  
80 phiếu (100%)  
80 phiếu (100%)  
Nguồn: Kết quả điều tra của nhóm tác giả.  
58  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 24, Số 3 (2021): 55-62  
Thứ hai, cơ hội học tập và nâng cao trình đội ngũ giáo viên, chất lượng giáo dục... giữa  
độ chưa thật sự phù hợp với điều kiện kinh tế - các vùng DTTS, giữa DTTS với dân tộc đa số.  
xã hội, nhu cầu và nguyện vọng của đồng bào Kinh phí bình quân trên đầu người dân còn thấp  
vùng DTTS trong giai đoạn hiện nay. Điều kiện so với yêu cầu thực tế chi phí để phát triển giáo  
học tập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dục, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa.  
giáo dục, cơ hội học tập và nâng cao trình độ  
cho con em đồng bào các DTTS còn khó khăn,  
xuất hiện tình trạng tái mù chữ và tái phổ cập  
giáo dục tiểu học ở nhiều địa phương. Nguồn  
kinh phí Nhà nước đầu tư cho giáo dục vùng  
DTTS chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển  
giáo dục trong thời kỳ hiện nay, kinh phí đầu  
tư trên đầu người còn thấp so với yêu cầu thực  
tế. Trình độ của đội ngũ giáo viên còn thấp, có  
nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn, trình độ chuyên  
môn còn nhiều hạn chế. Số lượng học sinh là  
người DTTS ở một số tỉnh cao nhưng số lượng  
giáo viên là người DTTS chỉ chiếm một tỷ lệ  
nhỏ so với yêu cầu phát triển giáo dục ở vùng  
đồng bào DTTS sinh sống. Kết quả phiếu điều  
tra của nhóm tác giả về tình hình giáo dục ở các  
Thứ năm, những hiện tượng tiêu cực xuất  
hiện trong giáo dục đã dẫn đến sự thiếu công  
bằng xã hội giữa các dân tộc ở các vùng DTTS  
nước ta. Hiện tượng tham nhũng trong tuyển  
dụng, đề bạt và luân chuyển giáo viên; rút  
ruột các công trình xây dựng (như kiên cố hóa  
trường lớp), bớt xén khi mua thiết bị dạy học và  
kinh phí dự án giáo dục. Hiện tượng tiêu cực,  
bất công còn xuất hiện trong quá trình thực hiện  
chính sách đào tạo cử tuyển ở vùng DTTS; một  
số cán bộ giáo viên đã lợi dụng chức quyền để  
đưa con cháu đi học tập tại các cơ sở giáo dục  
theo chế độ chính sách đối với con em đồng  
bào DTTS và con em đồng bào dân tộc ở vùng  
sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn...  
tỉnh vùng DTTS đã cho thấy: Có 11,92% tổng 3.5. Một số giải pháp chủ yếu góp phần  
số phiếu trả lời là điều kiện học tập của con nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của  
em đồng bào các DTTS rất khó khăn; 19,31% việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo  
cho là khó khăn, 0,60% là rất thuận lợi. Số liệu dục ở các vùng DTTS khu vực miền núi  
này biểu hiện cụ thể ở tỉnh Phú Thọ là 15,22%, phía Bắc hiện nay  
15,71%, 1,1%, 67,95%; tỉnh Tuyên Quang là  
4,41%, 17,04%, 0,74%, 77,79%, tỉnh Lào Cai  
là 15,83%, 24,93%, 0%, 59,23%.  
- Một là, nâng cao nhận thức của các cấp  
ủy Đảng và chính quyền từ Trung ương tới  
địa phương về vai trò của giáo dục và thực  
Thứ ba, vấn đề tạo điều kiện để đồng bào hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ  
DTTS tiếp cận và tham gia vào quá trình giáo thông vùng dân tộc thiểu số góp phần phát  
dục tại các vùng DTTS ở miền núi phía Bắc triển đời sống cho đồng bào các dân tộc.  
còn gặp rất nhiều bất cập. Hiện tại, cuộc sống  
của đồng bào DTTS còn rất khó khăn: Tỷ lệ đói  
nghèo cao, một số DTTS còn sống du canh, du  
cư, đốt rừng làm nương rẫy, nhiều đồng bào  
DTTS không có đủ ăn, đủ mặc... làm cho con  
em đồng bào các vùng này không có điều kiện,  
cơ hội để tiếp cận và tham gia vào quá trình  
giáo dục dẫn đến tình trạng tái mù chữ, phổ cập  
giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học  
không đạt như kết quả mong muốn.  
Đảng và Nhà nước phải thực sự coi giáo  
dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân  
tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế và phát  
triển xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, đầu  
tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển.  
Thực hiện chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với  
giáo dục, đặc biệt là chính sách đầu tư xây  
dựng cơ sở vật chất và chính sách tiền lương  
cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. Kết quả điều  
tra cho thấy rõ vai trò của các cơ quan Đảng,  
Thứ tư, đồng bào các DTTS chưa thật sự Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo  
bình đẳng trong tiếp cận và tham gia vào quá dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo  
trình giáo dục, trong đối xử tại các cơ sở giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số ở khu miền núi  
dục ở địa phương. Có sự chênh lệch lớn về điều phía Bắc: Có 78,56% phiếu điều tra cho rằng  
kiện cơ sở trường lớp, trang thiết bị dạy và học, Đảng và Nhà nước có vai trò quyết định đến  
59  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Đỗ Thị Thu Hương và ctv.  
sự phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc các vùng dân tộc thiểu số về vai trò của thực  
thiểu số, 21,34% số phiếu trả lời không biết.  
hiện công bằng xã hội trong giáo dục đối với  
vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện  
quyền bình đẳng giữa các dân tộc.  
Phát triển giáo dục và thực hiện công  
bằng xã hội trong giáo dục ở các vùng dân  
tộc thiểu số sẽ tạo điều kiện và cơ hội cho  
con em đồng bào các dân tộc thiểu số học tập  
nâng cao trình độ dân trí, tri thức và được đào  
tạo nghề nghiệp để sản xuất của cải vật chất,  
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng  
dân tộc nhằm cải thiện, nâng cao đời sống  
vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc.  
Trên cơ sở đó, đồng bào các dân tộc thiểu số  
ở nước ta có thể từng bước làm chủ về kinh  
tế, văn hóa, xã hội của dân tộc mình, nhằm  
thực hiện quyền bình đẳng thực sự giữa các  
dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa  
xã hội hiện nay.  
Để nâng cao nhận thức đúng đắn cho cán  
bộ, đảng viên trong các cơ quan của Đảng và  
Nhà nước về vai trò của thực hiện công bằng  
xã hội trong giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số  
khu vực miền núi phía Bắc, cần phải tổ chức  
cho đội ngũ cán bộ, đảng viên học tập, nghiên  
cứu và đưa nội dung phát triển giáo dục vào  
sinh hoạt đảng, sinh hoạt chuyên môn của các  
cơ quan Đảng, Nhà nước. Sau khóa học sẽ tổ  
chức cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc  
trong các cơ quan Đảng, Nhà nước đi thực tế  
tại các vùng dân tộc thiểu số để nghiên cứu  
về vai trò, tác động của giáo dục, thực hiện  
công bằng xã hội trong giáo dục đối với sự  
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện  
quyền bình đẳng cho các dân tộc.  
Sự nghiệp phát triển giáo dục và thực hiện  
công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng dân  
tộc thiểu nước ta chỉ có thể thực hiện khi đội  
ngũ cán bộ, giáo viên trong ngành giáo dục  
công tác ở những vùng này nhận thức được  
vai trò của giáo dục đối với sự nghiệp phát  
triển kinh tế - xã hội, thực hiện quyền bình  
đẳng giữa các dân tộc. Kết quả điều tra tình  
hình giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số của  
nước ta về điều kiện để phát triển giáo dục và  
đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục ở  
địa phương đã cho thấy có 88,90% tổng số  
phiếu điều tra cho rằng cần phải xây dựng  
được đội ngũ đủ về số lượng và chất lượng...  
Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ, giáo viên  
trong ngành giáo dục ở các vùng dân tộc  
thiểu số cần nhận thức rõ vai trò quyết định  
của mình đối với sự nghiệp phát triển kinh  
tế, văn hóa xã hội và thực hiện quyền bình  
đẳng giữa các dân tộc trong thời kỳ đổi mới  
ở nước ta. Cán bộ, giáo viên cần phát huy  
truyền thống, đạo đức của ngành giáo dục  
và đức hy sinh để phát triển giáo dục, tạo ra  
nhiều sáng kiến, hình thức giáo dục phù hợp  
nhất với đồng bào các dân tộc để nâng cao  
trình độ dân trí, tạo ra nhiều cơ hội, điều kiện  
học tập cho đồng bào các dân tộc nhằm thực  
hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng  
dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nước ta  
trong giai đoạn hiện nay.  
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn, đầy đủ về  
vai trò của giáo dục và thực hiện công bằng  
xã hội trong giáo dục đối với sự phát triển  
kinh tế - xã hội của các dân tộc, các cơ quan  
Đảng và Nhà nước phải đưa ra chính sách, kế  
Đảng và Nhà nước ta phải tổ chức giáo dục,  
tuyên truyền và học tập ngôn ngữ, văn hóa,  
phong tục tập quán cho đội ngũ cán bộ, giáo  
hoạch và chiến lược phát triển giáo dục phù viên trước khi lên làm công tác phát triển giáo  
hợp với từng vùng dân tộc để tạo cơ hội học  
tập đầy đủ, phù hợp cho đồng bào các dân  
tộc học tập tri thức, học nghề để từng bước tự  
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc  
mình, thực hiện quyền bình đẳng giữa các  
dân tộc ở nước ta.  
dục ở vùng dân tộc thiểu số. Để thực hiện tốt  
sự nghiệp phát triển giáo dục và thực hiện công  
bằng xã hội trong giáo dục cho đồng bào các  
dân tộc thiểu số, Nhà nước cần có chính sách  
thu hút đủ giáo viên có trình độ, đạo đức và tâm  
huyết cống hiến lên các vùng dân tộc thiểu số  
trên cơ sở chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền  
- Hai là, nâng cao nhận thức của đội ngũ  
cán bộ và giáo viên trong ngành giáo dục ở thưởng, nghỉ ngơi và phúc lợi xã hội thỏa đáng  
60  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 24, Số 3 (2021): 55-62  
cho đội ngũ cán bộ, giáo viên khi công tác ở chưa đúng về giáo dục khi cho rằng cái ăn  
các vùng này.  
quan trọng hơn cái chữ, cái chữ không có vai  
trò, ý nghĩa gì đối với đồng bào các dân tộc.  
Kết quả điều tra về điều kiện để phát triển giáo  
dục cho đồng bào dân tộc thiểu số đã cho thấy  
có 92,67% tổng số phiếu điều tra cho rằng để  
phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số  
miền núi phía Bắc phải tuyên truyền cho đồng  
bào hiểu về vai trò của giáo dục.  
Hiện nay, để thực hiện công bằng xã  
hội trong giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số  
ở miền núi phía Bắc, vấn đề quan trọng đặt  
ra là phải huy động mọi tiềm năng, phương  
tiện, phương pháp để làm tốt tuyên truyền,  
phổ biến chủ trương chính sách, pháp luật  
của Đảng và Nhà nước về giáo dục, thực hiện  
công bằng xã hội trong giáo dục... cho cán bộ  
và đồng bào dân tộc thiểu số đúng đắn, đầy  
đủ và thực hiện tốt ở từng địa phương.  
Chính quyền ở các địa phương cần tăng  
cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính  
trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ và đồng bào  
các dân tộc thiểu số. Với những địa phương  
có nhiều dân tộc thiểu số cư trú, bên cạnh  
tiếng Kinh, cần mở rộng mạng lưới phát  
thanh, truyền hình bằng tiếng của các dân tộc  
thiểu số. Thông qua việc tổng kết quá trình  
thực hiện Nghị quyết Trung ương... để đánh  
giá lại kết quả của việc phát triển và thực  
hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở từng  
địa phương. Nội dung, phương pháp để triển  
- Ba là, nâng cao nhận thức của cán bộ và  
đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền  
núi phía Bắc về vai trò của giáo dục và thực  
hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở các  
địa phương.  
Một nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự  
nghiệp phát triển giáo dục và thực hiện công  
bằng xã hội trong giáo dục ở vùng dân tộc  
thiểu số miền núi phía Bắc nước ta chưa thực  
hiện có hiệu quả và nghiêm túc là do cán bộ,  
đồng bào các dân tộc thiểu số chưa nhận thức  
được đầy đủ, đúng đắn về vai trò của giáo  
dục đối với phát triển kinh tế - xã hội, nâng  
cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào  
các dân tộc thiểu số nên chưa huy động được  
sự tham gia của đội ngũ cán bộ, đồng bào các  
dân tộc thiểu số đóng góp vào sự nghiệp phát  
triển giáo dục ở những vùng này. Do đó, trên  
cơ sở nhận thức được vị trí, vai trò của giáo  
dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo  
dục đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã  
hội, nâng cao đời sống cho các vùng dân tộc,  
đồng bào dân tộc thiểu số sẽ có ý thức tích  
cực, chủ động, tự giác và nỗ lực vươn lên để  
phát triển giáo dục, nâng cao trình độ dân trí  
và tri thức cho đồng bào của dân tộc mình  
trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa đất nước.  
Vì vậy, đối với các vùng dân tộc thiểu số,  
việc mở rộng tuyên truyền phổ biến, quán triệt khai công tác tuyên truyền, giáo dục ở vùng  
đầy đủ cho đồng bào các dân tộc hiểu đúng dân tộc thiểu số cần được đổi mới cho phù  
đắn, đầy đủ quan điểm của Đảng, pháp luật hợp với truyền thống văn hóa, phong tục tập  
của Nhà nước về giáo dục, về quan hệ giữa  
giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội, về vị  
trí, tầm quan trọng của việc thực hiện công  
bằng xã hội trong giáo dục ở các vùng dân  
tộc thiểu số đối với việc thực hiện quyền bình  
đẳng dân tộc là vấn đề cấp bách, có vai trò  
quyết định đến thực hiện công bằng xã hội  
trong giáo dục cho đồng bào dân tộc hiện nay.  
Tuyên truyền, vận động cho đồng bào dân  
tộc thiểu số hiểu được vị trí, vai trò của giáo  
dục đối với sự nghiệp phát triển và thực hiện  
quán và điều kiện kinh tế - xã hội của từng  
dân tộc. Coi trọng đúng mức những nội dung  
liên quan đến phát triển văn hóa, giáo dục,  
khoa học, công nghệ và những chính sách  
góp phần thực hiện quyền bình đẳng dân tộc.  
4. Kết luận  
Nhậnthức của các cấpủyĐảng, chínhquyền  
và đồng bào DTTS khu vực miền núi phía Bắc  
về vị trí, vai trò của giáo dục chính là điều kiện  
quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tránh tình quyết định đến quá trình phát triển, thực hiện  
trạng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số hiểu công bằng xã hội trong giáo dục ở khu vực này.  
61  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Đỗ Thị Thu Hương và ctv.  
[2] Nguyễn Lâm Thành (2014). Chính sách phát  
triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam,  
Luận án Tiến sĩ quản lý hành chính công. Học  
viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội.  
[3] Chính phủ (2004). Nghị định số: 53/NĐ-CP  
ngày 18/02/2004 về Kiện toàn tổ chức bộ máy  
làm công tác dân tộc thuộc UBND các cấp.  
[4] Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai (2018). Báo  
cáo số 420/BC-SGD&ĐT ngày 20/8/2018 về  
việc Tổng kết năm học 2017 - 2018.  
[5] Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ (2020). Báo  
cáo số 16/BC-SGD&ĐT ngày 02/02/2020 về  
việc Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ giáo  
dục và đào tạo giai đoạn 2015 - 2020; Nhiệm vụ,  
giải pháp trọng tâm giai đoạn 2020 - 2025.  
[6] Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai (2019). Báo  
cáo số 356/BC-SGD&ĐT ngày 20/8/2019 về  
việc Tổng kết năm học 2018 - 2019.  
[7] Sở Giáo dục và Đào tạo Tuyên Quang (2018).  
Báo cáo số 221/BC-SGDĐT ngày 15/8/2018 về  
việc Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm  
học 2017 - 2018, phương hướng, nhiệm vụ năm  
học 2018 - 2019.  
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của  
Đảng và Nhà nước về công tác phát triển giáo  
dục, xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở  
các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng đồng  
bào dân tộc thiểu số, ngành giáo dục và chính  
quyền đoàn thể đã từng bước thay đổi nhận  
thức về vai trò của thực hiện công bằng xã hội  
trong giáo dục đối với sự nghiệp phát triển giáo  
dục, kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách dân  
tộc của Đảng ta. Chính sự thay đổi nhận thức  
bước đầu của các cấp ủy Đảng, chính quyền  
địa phương, của ngành giáo dục và nhân dân  
các dân tộc ở vùng DTTS khu vực miền núi  
phía Bắc về thực hiện công bằng xã hội trong  
giáo dục là cơ sở để thúc đẩy sự nghiệp phát  
triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa và thực hiện  
xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và trung  
học cơ sở cho đồng bào các dân tộc, từng bước  
thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở  
vùng DTTS khu vực miền núi phía Bắc nước  
ta trong thời gian tới.  
[8] Sở Giáo dục và Đào tạo Tuyên Quang (2019).  
Báo cáo số 191/BC-SGDĐT ngày 27/8/2019 về  
việc Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm  
học 2018 - 2019 và phương hướng, nhiệm vụ,  
giải pháp chủ yếu năm học 2019 - 2020.  
[9] Quốc hội (2019). Luật số 43/2019/QH14 của  
Quốc hội: Luật Giáo dục.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Chính phủ (2011). Nghị định số: 05/2011/NĐ-CP  
ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc.  
SOLUTIONS TO IMPROVE THE AWARENESS OF THE IMPORTANCE OF SOCIAL  
JUSTICE IN THE GENERAL EDUCATION IN ETHNIC MINORITY AREAS IN THE  
NORTHERN MOUNTAINOUS REGION OF VIETNAM  
Do Thi Thu Huong1*, Chu Thi Diem Huong2, Nguyen Hoang Kien3  
1Faculty of Political Education and Educational Psychology, Hung Vuong University, Phu Tho  
2Department of Academic Affairs, Tuyen Quang Political School, Tuyen Quang  
3Lao Cai 2 High School, Lao Cai  
Abstract  
n recent years, the issue of social justice in general education for ethnic minority people in the Northern  
mountainous provinces of our country has not achieved and sustainable results because the local authorities  
I
and people in the province have not fully and properly perceived the role of education for the cause of socio-  
economic development and the implementation of equality among ethnic groups. Therefore, it is necessary to  
raise the awareness of the Party committees, local authorities and the people about the implementation of social  
justice in ethnic minority education for ethnic minority development and exercise the right of equality among  
ethnic groups today. The paper clarified specific solutions to improve the awareness about the importance of  
implementing social justice in general education for ethnic minority people in the Northern Uplands (such as  
Phu Tho, Tuyen Quang and Lao Cai provinces).  
Keywords: Social justice, ethnic minority, general education for ethnic minority.  
62  
pdf 8 trang baolam 20800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_nang_cao_nhan_thuc_ve_tam_quan_trong_cua_viec_thuc.pdf