Huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn: Những bài học kinh nghiệm

226(17): 107 - 115  
TNU Journal of Science and Technology  
COMMUNITY RESOURCES MOBILIZATION IN NEW RURAL DEVELOPMENT  
IN BOC BO COMMUNE, PAC NAM DISTRICT, BAC KAN PROVINCE:  
LEARNED LESSONS  
Hoang Van Cam1, Nguyen Van Tam2*, Ha Thi Hoa2 , Tran Thi Ngoc2  
1Pac Nam district Party Committee's Inspection Committee, Bac Kan province  
2TNU - University of Agriculture and Forestry  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
This study was conducted to find out learned lessons about community  
resources mobilization in Boc Bo commune, Pac Nam district, Bac Kan  
province. The study uses descriptive statistics, comparative statistics  
and the Likert scale is also used. The research results show that, in the  
10 years of implementing new rural development, Boc Bo commune  
has mobilized: 70,000 m2 of donated land, 216.93 billion VND, and  
10,000 work days. The results showed that 92.86% of respondents  
believed that the mobilization method of local authorities greatly affects  
on the result of community resources mobilization. The study also  
found out five learned lessons about community resources mobilization  
in Boc Bo, including: Democracy, publicity, transparency and well  
performing the pioneering role of local staffs and party members; doing  
well propaganda and advocacy work; creatively using the method of  
mobilization; Being fully aware of the local people role of in new rural  
development; effectively using resources to promote infrastructure  
construction, production development, and raising people's incomes.  
Received:  
Revised:  
25/10/2021  
09/11/2021  
09/11/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Sources mobilization  
Community resources  
New rural development  
Learned lessons in sources  
mobilization  
Boc Bo commune  
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN  
MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ BỘC BỐ, HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN:  
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM  
Hoàng Văn Cầm1, Nguyễn Văn Tâm2*, Hà Thị Hòa2, Trần Thị Ngọc2  
1Ủy ban Kiểm tra huyện ủy Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn  
2Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 25/10/2021  
Ngày hoàn thiện: 09/11/2021  
Ngày đăng: 09/11/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm chỉ ra những bài học kinh nghiệm  
trong huy động nguồn lực cộng đồng trên địa bàn xã Bộc Bố huyện Pác  
Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả,  
thống kê so sánh, thang đo likert cũng được sử dụng trong nghiên cứu.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 10 năm thực hiện chương trình xây  
dựng nông thôn mới, xã Bộc Bố đã huy động được 70.000 m2 đất do  
nhân dân hiến; 216,93 tỷ đồng; 10.000 ngày công lao động. Kết quả  
khảo sát cho thấy 92,86% người được hỏi cho rằng hình thức huy động  
của chính quyền địa phương rất ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn  
lực cộng đồng. Nghiên cứu cũng chỉ ra được năm bài học kinh nghiệm  
trong huy động nguồn lực cộng đồng của xã Bộc Bố, gồm: Dân chủ,  
công khai, minh bạch và thực hiện tốt vai trò tiên phong của cán bộ,  
đảng viên; làm tốt công tác tuyên truyền, vận động; vận dụng sáng tạo  
các hình thức huy động; người dân nhận thức được đầy đủ vai trò của  
mình trong xây dựng nông thôn mới; sử dụng hiệu quả các nguồn lực.  
TỪ KHÓA  
Huy động nguồn lực  
Nguồn lực cộng đồng  
Xây dựng nông thôn mới  
Bài học kinh nghiệm trong huy  
động nguồn lực  
Xã Bộc Bố  
* Corresponding author. Email:[email protected]  
107  
226(17): 107 - 115  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Đặt vấn đề  
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương  
khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nhấn mạnh mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới  
(XDNTM) có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (KT-XH) hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức  
tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo  
quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi  
trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được  
tăng cường” [1]. Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định  
số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 phê duyệt Chương trình XDNTM giai đoạn 2010-2020 [2]. Đây  
là chương trình khung toàn diện nhất để cộng đồng chung sức XDNTM hiện đại. Để các địa  
phương có thể về đích trong XDNTM, nhiều tác giả đã đề cập đến việc giải quyết những vấn đề  
then chốt, cấp thiết như: vấn đề môi trường, phát triển kinh tế, huy động nguồn lực… [3]-[5].  
Huy động nguồn lực đóng vai trò quyết định sự thành công của công cuộc phát triển nông thôn  
của mỗi địa phương [6]-[8]. Trong một số nghiên cứu trước đây, các tác giả đã đề xuất được  
những giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh huy động nguồn lực trong và ngoài cộng đồng phục vụ  
xây dựng nông thôn ở từng địa phương [8]-[12].  
Bộc Bố là một xã vùng cao thuộc huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tính đến tháng 12 năm  
2020, xã Bộc Bố có 15 thôn, 1.059 hộ với 4.457 nhân khẩu (trong đó có 2.617 nhân khẩu trong  
độ tuổi lao động). Trên địa bàn xã có 7 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán Chỉ, Dao, Mông, Mường  
cùng sinh sống. Năm 2020, thu nhập bình quân đầu người/năm của xã đạt 32,2 triệu  
đồng/người/năm. Trong giai đoạn 2010-2020, kết quả huy động nguồn lực phục vụ XDNTM trên  
địa bàn xã còn khiêm tốn (huy động nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước chỉ đạt 3,02 tỷ đồng  
chiếm 1,39%) [13]. Để xây dựng Bộc Bố thành xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), nhu cầu  
nguồn vốn là hàng chục, hàng trăm tỷ đồng. Ngân sách nhà nước không thể đầu tư tất cả các nội  
dung cho XDNTM nên việc huy động một cách đa dạng các nguồn từ cộng đồng đóng vai trò hết  
sức quan trọng.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Phương pháp thu thập thông tin  
2.1.1. Thu thập thông tin thứ cấp  
Tổng hợp các văn bản, tài liệu, số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu liên quan XDNTM và  
huy động nguồn lực trong XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.  
2.1.2. Thu thập thông tin sơ cấp  
Để triển khai nghiên cứu, tác giả phỏng vấn 6 cán bộ địa phương liên quan trực tiếp đến  
XDNTM, gồm: Chủ tịch xã, chủ tịch UBMTTQ xã, chủ tịch Hội Nông dân, bí thư Đoàn Thanh  
niên, trưởng hai xóm trên địa bàn xã.  
Đối với hộ dân, 36 hộ dân được khảo sát, phỏng vấn, các hộ dân được lựa chọn dựa theo  
phương pháp phân tổ với 12 hộ kinh tế khá, 12 hộ kinh tế trung bình, 12 hộ kinh tế nghèo.  
Phương pháp chuyên gia được áp dụng với 6 cán bộ địa phương (những người am hiểu nhất  
về XDNTM) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong  
XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố.  
2.2. Phương pháp phân tích  
2.2.1. Phương pháp thống kê mô tả  
Phương pháp thống kê mô tả [14] sử dụng các chỉ tiêu định lượng: bình quân, cao nhất, thấp  
nhất, tổng số, cơ cấu… để mô tả, phản ánh kết quả huy động nguồn lực cho XDNTM trên địa bàn  
xã Bộc Bố.  
108  
226(17): 107 - 115  
TNU Journal of Science and Technology  
2.2.2. Phương pháp thống kê so sánh  
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê so sánh [14] để tiến hành phân tích thực trạng việc  
huy động các nguồn lực cộng đồng vào XDNTM. Từ đó xác định được kết quả huy động  
nguồn lực cộng đồng trong XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố.  
2.2.3. Thang đo Likert  
Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert để đặt câu hỏi và phân tích mức độ ảnh hưởng của các  
yếu tố đến kết quả huy động nguồn lực cộng đồng và phân tích mức độ cần thiết của huy động  
nguồn lực cộng đồng trong XDNTM trên địa bàn Bộc Bố. Sự đánh giá dựa trên thang đo Likert  
với các cấp độ tương ứng: Rất ảnh hưởng (Rất cần thiết): 4-5; Ảnh hưởng (Cần thiết): 2-3; Không  
ảnh hưởng (Không cần thiết): 0-1 [15].  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Kết quả thực hiện các tiêu chí XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố  
Bộc Bố là xã trung tâm của huyện Pác Nặm. Tính đến tháng 12 năm 2020, xã Bộc Bố đạt chuẩn  
17/19 tiêu chí NTM, còn 2 tiêu chí chưa đạt chuẩn, gồm tiêu chí số 10 về thu nhập (thu nhập bình  
quân đầu người của xã hiện đạt 32,2 triệu đồng/người) và tiêu chí số 11 về giảm nghèo (tỷ lệ hộ  
nghèo của xã theo chuẩn đa chiều là 14,33%). Số liệu chi tiết được thể hiện trong Bảng 1.  
Bảng 1. Kết quả XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố (tính đến tháng 12/2020)  
Kết quả  
đánh giá  
TT Tên tiêu chí  
I. Quy hoạch  
Kết quả thực hiện  
Xã có đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới được phê duyệt tại Quyết  
định 2081/QĐ-UBND ngày 27/11/2017 của UBND huyện Pác Nặm.  
1 Quy hoạch  
Đạt  
II. Hạ tầng kinh tế - xã hội  
- Đường trục xã: số km được nhựa hóa đạt 88,7%  
2 Giao thông  
3 Thủy lợi  
4 Điện  
- Đường trục thôn được bê tông hóa đạt 73,9%  
- Đường ngõ xóm được bê tông hóa đạt 23%  
Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới chủ động đạt 93,8%.  
- Hệ thống điện sử dụng cho toàn xã là hệ thống điện quốc gia đủ điều kiện  
an toàn  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
- Số hộ được sử dụng điện thường xuyên, an toàn đạt 99,14%  
Tỷ lệ trường mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất và thiết  
bị dạy học đạt chuẩn quốc gia: 95%  
- Xã có 01 nhà văn hóa đạt chuẩn  
- Khu thể dục, thể thao của xã sử dụng chung với huyện  
- Có 15/15 thôn có nhà văn hoá đạt chuẩn  
5 Trường học  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Đạt  
Cơ sở vật chất  
văn hóa  
6
Cơ sở hạ tầng  
thương mại  
7
Xã có 01 chợ trung tâm  
- Điểm phục vụ bưu chính trên địa bàn xã: 01  
- Hệ thống loa phát thanh của xã: Hoạt động tốt  
- Tỷ lệ xóm được phủ sóng điện thoại: 15/15 thôn  
- Tỷ lệ nhà dột nát: Không  
Thông  
Truyền thông  
tin và  
8
9 Nhà ở dân cư  
- Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn theo quy định: 80%  
III. Kinh tế và tổ chức sản xuất  
10 Thu nhập  
11 Hộ nghèo  
Thu nhập bình quân: 32,2 triệu đồng/người/năm  
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều: 14,33%  
Chưa đạt  
Chưa đạt  
Lao động có Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng  
12  
Đạt  
Đạt  
việc làm  
tham gia lao động đạt 92,28%  
- Xã hiện tại xã có 02 HTX hoạt động hiệu quả  
- Xã có 1 mô hình liên kết sản xuất  
13 Tổ chức sản xuất  
109  
226(17): 107 - 115  
Kết quả  
TNU Journal of Science and Technology  
TT Tên tiêu chí  
IV. Văn hóa - xã hội - môi trường  
Kết quả thực hiện  
đánh giá  
- Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, xoá mù chữ, phổ cập giáo dục  
tiểu học, phổ cập THCS  
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học lên đạt 92,7%  
- Tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo đạt 32,9%  
- Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế của xã đạt 95%.  
- Xã đạt chuẩn quốc gia về y tế năm 2014  
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 22,4%  
- Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá: 88,21%.  
- Tỷ lệ thôn đạt danh hiệu văn hoá đạt 100%  
14 Giáo dục  
Đạt  
15 Y tế  
Đạt  
Đạt  
16 Văn hóa  
- Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh theo quy định: 95%.  
Môi trường và an - Tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 85,75%  
toàn thực phẩm - Tỷ lệ hộ chăn nuôi đạt yêu cầu vệ sinh môi trường 61,71%.  
- Tuân thủ các quy định về đảm bảo ATTP đạt 100%.  
17  
Đạt  
V. Hệ thống chính trị  
- Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn 100%  
- Xã có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở  
- Đảng bộ, chính quyền của xã đạt “trong sạch, vững mạnh”  
- Xã được nhận xã đạt chuẩn về tiếp cận pháp luật.  
18 Hệ thống chính trị  
Đạt  
Đạt  
Quốc  
phòng - Hệ thống quốc phòng và an ninh đạt chuẩn nông thôn mới.  
- Không có khiếu kiện kéo dài, không để xảy ra trọng án, tệ nạn xã hội  
19  
và an ninh  
(Nguồn: UBND xã Bộc Bố, 2021)  
Từ khi triển khai chương trình XDNTM, xã Bộc Bố luôn quan tâm tới việc hoàn thiện các tiêu  
chí thuộc 5 nhóm tiêu chí gồm: quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế và tổ chức, văn hóa - xã  
hội - môi trường, hệ thống chính trị. Đến tháng 12 năm 2020, xã đã có đồ án quy hoạch xây dựng  
nông thôn mới được UBND huyện Pác Nặm phê duyệt. Toàn xã đã nhựa hóa được là 25,15 km  
(88,7%). Hệ thống điện sử dụng cho toàn xã là hệ thống điện quốc gia, 15/15 thôn có nhà văn hoá  
đảm bảo đủ diện tích theo quy định. Tỷ lệ người dân trên địa bàn xã có việc làm trong độ tuổi lao  
động đạt trên 90%. Hiện tại, trên địa bàn xã Bộc Bố có hai hợp tác xã (HTX) hoạt động hiệu quả. Tỷ  
lệ hộ gia đình trong xã được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định đạt trên 90%.  
3.2. Huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố  
3.2.1. Kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố  
Bảng 2. Kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM của xã Bộc Bố  
(tính đến tháng 12/2020)  
TT  
1
Nguồn lực  
ĐVT  
Kết quả huy động  
Tài chính  
Tỷ đồng  
Tỷ đồng  
Tỷ đồng  
Tỷ đồng  
Tỷ đồng  
Tỷ đồng  
Tỷ đồng  
216,93  
213,91  
212,63  
1,28  
3,02  
3,02  
1.1 Ngân sách nhà nước  
-
-
1.2 Ngoài ngân sách nhà nước  
-
-
Vốn từ trung ương  
Ngân sách địa phương  
Nhân dân đóng góp  
Doanh nghiệp đóng góp  
0
2
-
Đất đai  
Diện tích đất nhân dân hiến  
Chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng lúa chất  
lượng cao và cây ăn quả, rau màu  
Nhân lực  
m2  
Ha  
70.000  
71,7  
-
3
-
Công lao động người dân đóng góp  
Công  
10.000  
(Nguồn: UBND xã Bộc Bố + Số liệu điều tra, 2021)  
110  
226(17): 107 - 115  
TNU Journal of Science and Technology  
Huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM có ý nghĩa quyết định đến thành công của  
chương trình XDNTM ở mỗi địa phương. Kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM  
của xã Bộc Bố giai đoạn 2011-2020 được thể hiện qua bảng 2.  
Trong 10 năm (2011-2020) triển khai thực hiện chương trình XDNTM, xã Bộc Bố đã huy  
động được 216,93 tỷ đồng, nguồn kinh phí được huy động từ các nguồn, gồm: vốn từ ngân sách  
trung ương, vốn từ ngân sách địa phương, vốn do nhân dân đóng góp. Trong đó, nguồn kinh phí  
từ ngân sách nhà nước (NSNN) chiếm đến 98,61% (đạt 213,91 tỷ đồng), nguồn kinh phí ngoài  
NSNN chỉ chiếm 1,39% (3,02 tỷ đồng). Đối với nguồn kinh phí ngoài NSNN, xã Bộc Bố chỉ huy  
động được từ nhân dân địa phương (chiếm 100%), xã không huy động được từ các doanh nghiệp.  
Với đặc thù là xã miền núi, diện tích đất đồi núi, dộ dốc cao chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện  
tích tự nhiên, diện tích đất bằng phẳng để sản xuất nông nghiệp, xây dựng các công trình NTM  
rất ít. Tuy nhiên do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giai đoạn 2011-2020, xã Bộc Bố đã  
huy động người dân hiến được gần 70.000 m2 đất để xây dựng giao thông nông thôn, xây dựng  
các điểm trường, xây dựng nhà văn hóa thôn và các công trình phúc lợi khác. Để nâng cao hiệu  
quả sử dụng nguồn lực đất đai trên địa bàn xã, Đảng ủy, chính quyền xã Bộc Bố đã vận động  
nhân dân chuyển đổi được 71,7 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng lúa chất lượng cao, cây  
ăn quả, rau màu... mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp 1,5 lần trồng lúa thông thường.  
Chương trình XDNTM được thực hiện với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, với  
việc chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác dân chủ, công khai, minh bạch; công tác  
tuyên truyền, vận động được thực hiện thường xuyên, liên tục; người dân nhận thức được đầy đủ  
vai trò của mình trong XDNTM;… Trong 10 năm (2010-2020), người dân xã Bộc Bố đã đóng  
góp trực tiếp khoảng 10.000 ngày công lao động cho các hoạt động XDNTM, gồm: Làm đường  
giao thông nông thôn, xây dựng nhà văn hóa, vệ sinh môi trường nông thôn…  
3.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM trên địa  
bàn xã Bộc Bố  
Bảng 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn lực cộng đồng  
vào XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố  
Tỷ lệ % người được hỏi trả lời (n= 42)  
STT  
Yếu tố ảnh hưởng  
Rất  
ảnh hưởng  
90,48  
Không  
ảnh hưởng  
7,14  
Ảnh hưởng  
1
2
3
4
5
Sự hiểu biết của người dân về chương trình XDNTM  
Sự phù hợp của mức đóng góp  
Thu nhập của người dân  
Hình thức huy động của chính quyền địa phương  
Sự công khai, minh bạch trong sử dụng nguồn lực huy động được  
2,38  
7,14  
4,76  
4,76  
14,29  
78,57  
83,33  
92,86  
76,19  
14,29  
11,90  
2,38  
9,52  
(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2021)  
Kết quả khảo sát trên địa bàn xã Bộc Bố về những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động  
nguồn lực cộng đồng trong XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố được thể hiện qua bảng 3. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy có đến 92,86% người được hỏi cho rằng hình thức huy động của chính  
quyền địa phương rất ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn lực cộng đồng. Thực tế cho thấy  
nếu cán bộ địa phương là người gần gũi, sát sao với người dân địa phương, cán bộ địa phương có  
cách tuyên truyền vận động hợp lý thì người dân sẽ thực hiện theo. Sự hiểu biết của người dân về  
chương trình XDNTM cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả huy động nguồn lực (92,86% người  
được hỏi đánh giá rất ảnh hưởng và ảnh hưởng), nếu người dân hiểu được mục đích, ý nghĩa của  
chương trình XDNTM, hiểu được vai trò của mình trong chương trình thì người dân sẽ tham gia  
đóng góp với tâm thế chủ động, tích cực. Bên cạnh đó các yếu tố như: Sự phù hợp của mức độ  
đóng góp; thu nhập của người dân; sự công khai, minh bạch trong sử dụng nguồn lực huy động  
được cũng có ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM.  
111  
226(17): 107 - 115  
TNU Journal of Science and Technology  
3.2.3. Sự cần thiết của huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố  
Nhận thức của cán bộ, người dân về huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM có ý nghĩa  
quyết định đến thành công của công tác huy động. Kết quả nghiên cứu sự cần thiết của huy động  
nguồn lực cộng đồng vào XDNTM trên địa bàn xã Bộc Bố được thể hiện qua Hình 1.  
Hình 1. Sự cần thiết của huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM  
(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2021)  
Hình 1 cho thấy, 78,57% cán bộ và người dân được hỏi cho rằng việc huy động nguồn lực cộng  
đồng trong XDNTM rất cần thiết; 14,29% người được hỏi đánh giá ở mức cần thiết, tuy nhiên vẫn  
còn 7,14% người được hỏi đánh giá không cần thiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy cán bộ và người  
dân địa phương đã nhận thức được tầm quan trọng của huy động nguồn lực cộng đồng trong  
XDNTM, đây là cơ sở thuận lợi cho các hoạt động nguồn lực trên địa bàn xã Bộc Bố sau này.  
Mặc dù, phần lớn cán bộ, người dân (78,57%) xã Bộc Bố nhận thấy huy động nguồn lực cộng  
đồng trong XDNTM là rất cần thiết nhưng việc huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM  
vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như: công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao giá trị  
sử dụng đất còn hạn chế; đề án quy hoạch của xã Bộc Bố còn nhiều bất cấp ảnh hưởng đến huy  
động, sử dụng; nguồn vốn huy động được từ nhân dân, doanh nghiệp còn thấp; chưa huy động  
được trí lực của nhân dân trong XDNTM.  
3.3. Những bài học kinh nghiệm huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM trên địa bàn  
xã Bộc Bố  
3.3.1. Dân chủ, công khai, minh bạch và thực hiện tốt vai trò tiên phong của cán bộ, đảng viên  
Đảng ủy, chính quyền xã Bộc Bố xác định dân chủ, công khai, minh bạch tất cả các nội dung  
liên quan đến huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM là rất cần thiết để tạo lòng tin trong  
dân, bởi nếu dân không tin tưởng thì sẽ không tham gia đóng góp các nguồn lực của mình cho  
XDNTM. Để tạo niềm tin trong nhân dân, xã Bộc Bố luôn tham khảo, lấy ý kiến góp ý của nhân  
dân cho tất cả các hoạt động liên quan đến XDNTM như: đề án quy hoạch XDNTM, kế hoạch xây  
dựng giao thông nông thôn… và công khai rõ ràng tất cả nguồn lực cần huy động, nguồn lực huy  
động được, sử dụng nguồn lực trong XDNTM như thế nào… Với việc công khai, minh bạch, nhân  
dân xã Bộc Bố luôn tin tưởng và hăng hái đóng góp tài chính, đất đai, nhân lực cho XDNTM.  
Xã Bộc Bố cũng xác định, UBND xã có trách nhiệm cùng các thôn tuyên truyền để nhân dân  
hiểu và tham gia đóng góp nguồn lực trong XDNTM. Để đảm bảo sự công khai, minh bạch, khi  
người dân đóng góp nguồn lực cho XDNTM thì nguồn lực sẽ để lại ngay tại thôn đó để người  
112  
226(17): 107 - 115  
TNU Journal of Science and Technology  
dân giữ lại và bàn bạc cách sử dụng. Qua cách làm này, người dân thấy tin tưởng ở xã, nguồn lực  
(đất đai, tài chính, nhân lực) của mình góp để sử dụng cho chính các hoạt động XDNTM tại thôn  
mình ở, không bị thất thoát và không nghi ngờ gì.  
Theo ông Cà Ngọc Pao, Phó chủ tịch UBND xã Bộc Bố: “Do Bộc Bố là xã miền núi, người dân  
chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số với nhận thức còn hạn chế, nhiều khi việc giải thích bằng lời  
qua tuyên truyền vận động cũng khó, cán bộ cần có hành động trực tiếp thì dân mới theo. Để dân  
theo thì những người lãnh đạo phải góp nhiều tiền của hơn thì mới làm gương được”.  
3.3.2. Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động  
Trong XDNTM nói chung, huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM nói riêng, tuyên  
truyền đóng vai trò quan trọng, giúp nhân dân hiểu được NTM là gì, tại sao cần thực hiện  
XDNTM, vai trò của người dân trong XDNTM cần được phát huy như thế nào?… Nhận thức  
được điều này, Đảng ủy, chính quyền xã Bộc Bố luôn quan tâm đến công tác tuyên truyền, coi  
đây là giải pháp quan trọng để huy động sự tham gia của nhân dân trong huy động nguồn lực  
cộng đồng trong XDNTM.  
Đảng ủy, chính quyền xã Bộc Bố đã đề ra mục tiêu cụ thể cho công tác tuyên truyền là phải  
đạt được hai mục tiêu: (i) Huy động người dân tham gia đầy đủ các hoạt động, các cuộc họp để  
người dân góp ý vào những nội dung liên quan đến huy động nguồn lực cộng đồng như: công  
trình nào cần thực hiện huy động, mức huy động là bao nhiêu? Thời gian tổ chức huy động?... (ii)  
Huy động người dân đóng góp sức lao động, tiền của, đất đai phục vụ XDNTM của địa  
phương… Lãnh đạo xã Bộc Bố khẳng định, nếu không làm tốt công tác tuyên truyền, thì người  
dân không hiểu về chương trình XDNTM, thì người dân sẽ không ủng hộ việc huy động, sử dụng  
hiệu quả nguồn lực vào XDNTM.  
3.3.3. Vận dụng sáng tạo các hình thức huy động sự đóng góp của nhân dân  
Lãnh đạo xã Bộc Bố hiểu được việc vận động người dân đóng góp các nguồn lực trong  
XDNTM là một việc khó. Vì vậy, lãnh đạo xã đã nghiên cứu, thảo luận và áp dụng nhiều cách  
làm sáng tạo. Ví dụ, đối với huy động nguồn lực tài chính từ nhân dân, bên cạnh việc tuyên  
truyền, vận động, chính quyền xã và các thôn trong xã đã có các cách làm hay như:  
Hàng năm, các thôn tổ chức tuyên dương, khen thưởng các cá nhân, hộ gia đình có nhiều đóng  
góp cho XDNTM ở xã, thôn. Hiện nay, ở tất cả các nhà văn hoá thôn đều có danh sách những  
người góp tiền cho XDNTM của thôn, của xã. Cách làm này đã động viên được các hộ cùng tham  
gia đóng góp một cách tự nguyện, dù nhiều hay ít, để không vắng tên của gia đình mình trong  
danh sách đóng góp. UBND xã Bộc Bố vận động con em địa phương đang đi làm ăn, công tác xa  
gửi tiền về đóng góp cho XDNTM của địa phương. Đây cũng là một nguồn lực bằng tiền có giá  
trị không nhỏ, xã Bộc Bố đã thành lập ban vận động, liên lạc với các hộ gia đình có con em đi  
làm xa để tuyên truyền, vận động. UBND xã Bộc Bố hướng dẫn các thôn chia thành các mức huy  
động đóng góp khác nhau để đảm bảo các hộ gia đình trong thôn đều tham gia được, tránh trường  
hợp mức đóng góp đề ra quá cao với các hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn.  
3.3.4. Người dân nhận thức được đầy đủ vai trò của mình trong XDNTM  
Lãnh đạo xã Bộc Bố xác định, người dân trong xã có nhận thức được đầy đủ vai trò của mình  
trong XDNTM hay không có vai trò quyết định đến kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong  
XDNTM. Xác định được điều đó, Đảng ủy, chính quyền xã Bộc Bố luôn luôn để người dân trong  
xã thể hiện đầy đủ vai trò của mình là dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra,  
dân quản lý và dân hưởng lợi.  
Theo quan điểm của xã Bộc Bố: Dân biết là người dân trong xã nắm được đầy đủ thông tin về  
công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu  
đóng góp từ cộng đồng... Dân bàn là người dân trong xã được bàn bạc, thảo luận về các định mức  
chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng  
113  
226(17): 107 - 115  
TNU Journal of Science and Technology  
lợi. Dân đóng góp là người dân trong xã tích cực tham gia đóng góp đất đai, tài chính, nhân lực  
cho XDNTM của địa phương. Dân làm chính là sự tham gia lao động trực tiếp của người dân trong  
xã vào các hoạt động huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM. Dân kiểm tra là người dân  
trong xã luôn có sự giám sát, đánh giá việc huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM của địa  
phương để đảm bảo sự minh bạch, hiệu quả. Dân quản lý là người dân trong xã tham gia trực tiếp  
vào việc quản lý các nguồn quỹ (tài chính), quản lý, tổ chức sử dụng (công lao động)... để người  
dân chủ động và thấy được sự minh bạch, dân chủ đối với việc huy động nguồn lực cộng đồng. Dân  
hưởng lợi, chính quyền xã Bộc Bố luôn đảm bảo người dân trong xã phải được hưởng lợi từ chính  
những công trình được thực hiện có sự đóng góp của nhân dân. Từ những kết quả XDNTM do  
chính người dân địa phương mình đóng góp, người dân xã Bộc Bố có được sự phấn khởi, có được  
niềm tin, sự hăng say trong phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập hộ gia đình.  
3.3.5. Sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất,  
nâng cao thu nhập cho người dân  
Đảng ủy, chính quyền xã Bộc Bố xác định, chỉ khi nào cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, sản xuất của  
nhân dân phát triển, đời sống của người dân địa phương được cải thiện thì khi đó mới đảm bảo sự  
bền vững trong huy động nguồn lực cộng đồng trong XDNTM. Do đó, chính quyền xã Bộc Bố đã  
tận dụng mọi nguồn lực để đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, nâng cao thu  
nhập cho người dân. Từ nguồn kinh phí được cấp trên giao, xã Bộc Bố thực hiện xong việc mở  
mới, nâng cấp các tuyến đường như: Nà Phẩn - Khâu Đấng, Tẩn Cọ - Nà Viều, Cốc Cại - Nà  
Phầy, đường thôn Khâu Phảng... Để hoàn thành những tuyến đường này, bên cạnh nguồn kinh  
phí được cấp trên giao, nhân dân địa phương đã đóng góp 2.053 ngày công, hiến 1.120 m2 đất.  
Xác định phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập người dân có vai trò quyết định đến kết quả  
huy động nguồn lực vào XDNTM một cách bền vững nên Đảng ủy, chính quyền xã Bộc Bố luôn  
quan tâm đến các hoạt động nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất trên địa bàn xã. Trong phát triển  
sản xuất nông nghiệp, xã Bộc Bố tập trung ưu tiên phát triển cây trồng, vật nuôi mũi nhọn của xã.  
Xã Bộc Bố đã đưa vào canh tác một số loại cây trồng mới như xoài, khoai tây, cam, quýt…  
Trong đó, triển vọng hơn cả là cây cam quýt trồng ở thôn Phiêng Lủng. Đối với chăn nuôi, cán bộ  
xã Bộc Bố đã tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân chuyển từ phương thức chăn nuôi truyền thống,  
phân tán, quy mô nhỏ sang phương thức chăn nuôi gia trại có liên kết trong tiêu thụ sản phẩm  
theo hướng sản xuất hàng hoá.  
4. Kết luận  
Bộc Bố là một xã vùng cao thuộc huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, với sự nỗ lực cố gắng của  
chính quyền và nhân dân địa phương, tính đến tháng 12 năm 2020, xã đã đạt 17/19 tiêu chí NTM.  
Từ khi triển khai chương trình XDNTM, xã Bộc Bố đã huy động người dân tự nguyện hiến  
khoảng 70.000 m2 đất; tổng kinh phí xã huy động được cho XDNTM đạt 216,93 tỷ đồng; người  
dân đóng góp gần 10.000 ngày công lao động. Những bài học thành công về huy động nguồn lực  
cộng đồng trong XDNTM ở xã Bộc Bố, gồm: Dân chủ, công khai, minh bạch và thực hiện tốt vai  
trò tiên phong của cán bộ, đảng viên; làm tốt công tác tuyên truyền, vận động; vận dụng sáng tạo  
các hình thức huy động sự đóng góp của nhân dân; người dân nhận thức được đầy đủ vai trò của  
mình trong XDNTM; sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, phát  
triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] General Secretary of the Communist Party of Vietnam (10th Tenure), Resolution No. 26-NQ/TW, dated  
August 5, 2008 on agriculture, farmers and rural areas, 2008.  
[2] The Prime Minister, Decision No. 800/QD-TTg dated June 4, 2010 of the Prime Minister approving the  
national target program on a new rural development during 2010-2020, Government of the Socialist  
Republic of Vietnam, 2010.  
114  
226(17): 107 - 115  
TNU Journal of Science and Technology  
[3] T. N. H. Tran, “Solutions in the collection and treatment of domestic waste to serve the process of  
building a new rural area in Binh Thuan commune, Dai Tu district, Thai Nguyen province,” TNU  
Journal of Science and Technology, vol. 196, no. 3, pp. 57-62, 2019.  
[4] B. V. Le and T. A. Do, “Determining the factors affecting economic development in new rural  
construction towards urbanization in Pho Yen town, Thai Nguyen province,” TNU Journal of Science  
and Technology, vol. 226, no. 1, pp. 148-158, 2021.  
[5] B. V. Le and S. V. Duong, “Solutions for agricultural economic development in new rural construction  
towards urbanization in Pho Yen town, Thai Nguyen province,” TNU Journal of Science and  
Technology, vol. 226, no. 1, pp. 127-134, 2021.  
[6] B. Sukul, “Role of local resources in rural development,” International Journal of Business and  
Management Invention, vol. 6, no. 1, pp. 69-71, 2017.  
[7] J. A. Ukah, “Community mobilization awareness: Strategy for rural development in Nigeria,” American  
Journal of Social Science Research, vol. 4, no. 1, pp. 12-16, 2017.  
[8] T. V. Nguyen, H. T. Ha, and N. T. Tran, “Solutions to mobilize community resources for new rural  
development in Pac Nam district, Bac Kan province,” Vietnam Journal of Agriculture and Rural  
Development, vol. 8, no. 2, pp. 244-251, 2017.  
[9] C. C. Huynh, “Solutions to mobilize community resources for new rural development in Tien Giang  
province,” Can Tho University Journal of Science, vol. 46, no. 4, pp. 84-93, 2016.  
[10] C. D. Nguyen, P. D. Tran, T. T. V. Pham, and T. S. Le, “Assess and mobilize community resources  
for new rural development in Vinh Vien commune, Hau Giang,” Can Tho University Journal of  
Science, vol. 24, no. 4, pp. 199-209, 2016.  
[11] T. V. Nguyen, “Promoting people's participation and contributions to the new rural development:  
Lessons learned from the Thuy Huong pilot model,” Journal of Forestry Science and Technology, vol.  
[12] H. T. Doan, “Solutions to mobilize financial resources for new rural development in pilot model -  
Hoang Dieu commune, Gia Loc district, Hai Duong province,” Journal of Forestry Science and  
[13] Chairman of Boc Bo commune People's Committee, Report summarizing 10 years of implementation  
of new rural development program in Boc Bo commune, Pac Nam district, Bac Kan province, 2021.  
[14] T. K. T. Tran and H. V. Do, Statistics in Market Research. National Economics University Publishing  
House, 2018.  
[15] N. X. P. Le and Y. T. T. Le, “The level of interest of students of Can Tho University about labor  
mobility in the ASEAN economic community,” Can Tho University Journal of Science, vol. 54, no. 1,  
pp. 224-232, 2018.  
115  
pdf 9 trang baolam 15140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn: Những bài học kinh nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhuy_dong_nguon_luc_cong_dong_trong_xay_dung_nong_thon_moi_tr.pdf