Vấn đề lao động phi chính thức - kinh nghiệm ở một số quốc gia

No.23_Oct 2021 |p.61-69  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
THE ISSUE OF INFORMAL LABOR – EXPERIENCE IN SOME COUNTRIES  
Nguyen The Thang1,*, Vu Thi Phuong Thao1  
1The Vietnam Institute of Educational Sciences, Vietnam  
*Email address: [email protected]  
Article info  
Abstract  
Informal labor is an indispensable part of labor in all economies despite  
different levels of development, nature and forms of expression. The article  
focuses on studying issues related to the informal labor characteristics of some  
countries and regions, especially the policies that these countries apply to  
increase the efficiency of the labor force, and minimize their limitations to the  
economy and social issues. European countries focus on salary and welfare  
aspects, and with governance adjustment, while other countries like China or  
India mainly carry out welfare support activities but there is no sustainable  
training and social protection system. These are valuable experiences that can  
be learned, applied and built on temporary and long-term solutions to the  
problem of informal labor in Vietnam these days.  
Recieved: 23/6/2021  
Accepted: 05/9/2021  
Keywords:  
labor, informal labor,  
policy  
No.23_Oct 2021 |p.61-69  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG PHI CHÍNH THỨC - KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ QUỐC GIA  
Nguyễn Thế Thắng1,*, Vũ Thị Phương Thảo1  
1Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Việt Nam  
*Địa chỉ email: [email protected]  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Lao động phi chính thức là thành phần lao động tồn tại tất yếu trong mọi nền  
kinh tế dù mức độ phát triển, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Bài  
viết tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đặc điểm lao động phi chính  
thức của một số quốc gia và khu vực, đặc biệt là chính sách mà các quốc gia  
này vận dụng để ra tăng hiệu quả của lực lượng lao động và giảm thiểu những  
hạn chế của họ đối với nền kinh tế và các vấn đề xã hội. Các quốc gia châu Âu  
tập trung vào các khía cạnh lương và phúc lợi, đồng thời với điều chỉnh quản  
trị nhà nước, trong khi đó các nước khác như Trung Quốc hoặc Ấn Độ chủ yếu  
thực hiện các hoạt động hỗ trợ phúc lợi nhưng chưa có hệ thống đào tạo và bảo  
trợ xã hội bền vững. Đây là những kinh nghiệm quí giá có thể học tập, vận  
dụng và xây dựng các giải pháp tình thế và giải pháp lâu dài với vấn đề lao  
động phi chính thức ở Việt Nam hiện nay.  
Ngày nhận bài: 23/06/2021  
Ngày duyệt đăng: 05/9/2021  
Từ khóa:  
lao động, lao động phi chính  
thức, chính sách  
1. Mở đầu  
Lao động phi chính thức là những người tự làm các  
công việc của mình, những người làm việc ở các hộ  
kinh tế gia đình (nông trang, cửa hàng.v.v...), làm  
việc trong các tổ chức, doanh nghiệp hoặc các hình  
thức lao động không được công nhận về mặt pháp  
lý bằng các hợp đồng lao động và điều kiện làm  
việc cụ thể [4], [5]. Lao động phí chính thức tồn tại  
trong mọi nền kinh tế, với nhiều hình thức và mức  
độ đa dạng khác nhau. Tùy thuộc vào các điều kiện  
kinh tế - xã hội hoặc đặc trưng dân số mà vấn đề lao  
động phi chính mỗi quốc gia, mỗi khu vực có  
những đặc điểm khác nhau. Bằng cách hồi cứu tài  
liệu trong nước và quốc tế để tim hiểu vấn đề lao  
động không chính thức ở một số quốc gia và kinh  
nghiệm quản lý vấn đề này dưới góc độ chính sách,  
bài viết này tập trung phân tích các vấn đề lao động  
phi chính thức ở một số quốc gia, trong đó tập trung  
theo khu vực với các thành viên mới của cộng đồng  
châu Âu và hai quốc gia có nền kinh tế hang đầu  
thế giới và cũng là hai nước có cơ cấu lao động phi  
chính thức đa dạng gồm Trung Quốc và Ấn Độ.  
Các phát hiện cho thấy sự thay đổi nhân khẩu do  
nhập cư hoặc di cư, và đặc biệt là dịch COVID 19  
làm cho lao động phi chính thức càng thêm khó  
khăn mặc dù nhiều nước đã có các chính sách hỗ  
trợ. Đây cũng là những kinh nghiệm quí giá để Việt  
Nam có thể tham khảo và xử lý các vấn đề lao động  
phi chính thức của mình cả ở hiện tại và tương lai.  
N.T.Thang et.al/ No.23_Oct 2021|p.61-69  
dục, nhiều nhất trong nông nghiệp, xây dựng, ngoại  
2. Nội dung nghiên cứu  
thương và sửa chữa, công nghiệp thực phẩm và nhà  
ở.  
Lao động phi chính thức ở châu Âu  
Mặc dù qui mô kinh tế phi chính thức đã giảm dần  
trong những năm 2000, ở các thành viên mới của  
châu Âu thì qui mô khá ổn định, thậm chí đã  
chuyển được phần nào từ thu nhập trung bình sang  
thu nhập cao hơn. Người lao động phi chính thức  
hầu hết là đàn ông, lao động trẻ, những người chỉ  
có học vấn cơ bản, lao động chân tay với những  
công việc ít cần kỹ năng. Ngoài ra, điều quan trọng  
là người lao động phi chính thức xem họ là một  
phần của những người bị phân biệt đối xử, rất nhiều  
người trong số này bị thất nghiệp kéo dài và được  
thể hiện theo ba tiêu chí: (a) người làm việc ở công  
ty có 5 hoặc ít hơn 5 người cùng làm; (b) người làm  
việc cho những chủ lao động không đóng góp cho  
bảo hiểm xã hội; (c) người làm việc không có hợp  
đồng lao động. Thực tế là các nước Bỉ, Cộng hòa  
Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Israel, Rumani, Slovenia  
và Vương quốc Anh thì cứ 4 người thì 1 người  
không có hợp đồng lao động trong các cơ sở có 100  
hoặc hơn 100 lao động. Ví dụ khác khi xác định lao  
động phi chính thức là những người làm việc phụ  
thuộc mà không được nộp bảo hiểm ở các công ty  
nhỏ không chuyên nghiệp (có 5 người làm hoặc ít  
hơn) khoảng 28%, đa dạng từ 7.7% ở Estonia tới  
39,5% ở Phần Lan. Lao động phi chính thức thấp  
nhất trong lĩnh vực công gồm dịch vụ y tế và giáo  
Lực lượng lao động phi chính thức hầu hết là nam  
giới, đặc biệt là ở các thành viên mới ở châu Âu. Ở  
các nước Bungary, Estonia, Hungary, Latvia và  
Slovakia thì tỉ lệ nam lao động phi chính thức  
không có hợp đồng cao hơn những công việc chính  
thức, xu hướng này cũng tương tự ở Đan Mạch, Hy  
Lạp, Nauy, và Anh và thuộc nhóm tuổi 25-54. Căn  
cứ theo bảo hiểm xã hội ở 12 nước thì có hơn một  
nửa người lao động không đóng góp bảo hiểm ở 35  
tuổi hoặc thấp hơn, ở Slovenia thì 97% người lao  
động không bảo hiểm ở độ tuổi trên và 67% thuộc  
nhóm thấp hơn 25 tuổi.  
Trình độ học vấn của người lao động phi chính thức  
chỉ ở mức cơ bản, ở các nước thành viên mới thì  
người lao động phi chính thức khoảng 2/3 có học  
vấn phổ thông, ngoại trừ Phần Lan và Rumani thì  
lao động phi chính thức có trình độ tương ứng với  
lao động chính thức. Tuy nhiên, ở Bỉ, Cyprus, Pháp,  
Hy Lạp, Israel, Rumania, Nga, Ukraine và Anh có  
từ 20% đến 30% người lao động phi chính thức có  
trình độ đại học. Khi xác định bằng đóng góp với  
các thành viên mới (Bungary, Cộng hòa Séc,  
Estonia, Latvia, Ba Lan, Slovenia và Slovakia) có  
trình độ phổ thông là 70% hoặc cao hơn và Tây Ban  
Nha là 60% có trình độ đại học.  
Bảng 1: Tỉ lệ lao động phi chính thức giữa các nhóm tuổi khác nhau ở các nước thành viên mới của châu  
Âu (2008)  
Bungary  
Cộng  
Estonia  
Latvia  
Ba Lan  
Slovakia  
Tổng  
hòa Séc  
Công việc  
Tự làm  
Làm chủ  
Giới tính  
Nam  
71,4  
7,3  
82,8  
0,1  
71,5  
3,3  
70,9  
6,3  
87,1  
27,1  
81,5  
2,2  
83,9  
16,2  
19,5  
12,9  
17,1  
8,9  
10,8  
4,6  
15,9  
8,6  
42,6  
35,5  
14,2  
6,0  
31,5  
23,7  
Nữ  
Độ tuổi  
15-24  
19,3  
15,4  
15,7  
17,9  
34,4  
7,8  
6,9  
7,4  
7,8  
7,2  
13,2  
11,0  
12,6  
13,4  
9,7  
44,6  
35,6  
40,5  
45,2  
73,7  
7,7  
30,2  
26,2  
28,8  
28,0  
48,4  
25-39  
12,2  
15,8  
13,2  
30,8  
10,2  
11,0  
10,5  
25,2  
40-54  
55-64  
Trên 65  
11,1  
N.T.Thang et.al/ No.23_Oct 2021|p.61-69  
Bungary  
Cộng  
Estonia  
Latvia  
Ba Lan  
Slovakia  
Tổng  
hòa Séc  
Thu nhập (%)  
0
79,8  
37,6  
17,1  
11,8  
11,2  
29,8  
100,0  
23,3  
14,9  
10,3  
13,7  
27,1  
67,8  
29,1  
5,9  
82,8  
29,0  
15,2  
9,7  
92,7  
66,6  
40,4  
29,2  
29,3  
25,7  
80,5  
18,5  
11,8  
8,0  
91,7  
55,4  
30,0  
19,5  
20,9  
25,4  
1-24  
25-49  
50-99  
3,0  
100-200  
6,9  
7,1  
10,9  
21,6  
200 hoặc hơn  
Lĩnh vực  
Y tế  
24,2  
9,8  
3,3  
2,1  
1,9  
3,9  
14,4  
8,4  
10,3  
6,8  
9,4  
7,1  
5,0  
1,0  
1,1  
33,2  
7,7  
2,6  
17,8  
27,5  
49,7  
42,9  
40,1  
49,8  
25,6  
25,6  
24,1  
31,7  
21,1  
15,8  
93,2  
4,2  
11,2  
18,3  
38,2  
32,0  
26,7  
28,1  
18,0  
20,1  
24,4  
11,5  
10,2  
80,6  
28,0  
Mỏ, sản xuất  
Xây dựng  
Ngoại thương  
Vận tải  
7,6  
7,7  
7,8  
8,3  
22,6  
24,4  
13,6  
19,0  
10,0  
1,3  
31,2  
19,0  
9,2  
21,1  
10,9  
11,0  
10,9  
4,5  
27,4  
13,7  
8,1  
Thực phẩm và nhà ở  
ICT  
19,1  
13,0  
22,6  
17,8  
0,7  
7,6  
6,5  
Dịch vụ tài chính  
Dịch vụ chuyên môn  
Lĩnh vực công  
Giáo dục  
5,1  
15,6  
12,2  
2,1  
14,1  
1,6  
10,8  
2,5  
1,1  
2,0  
1,8  
2,7  
Nông nghiệp  
Tổng  
54,3  
16,5  
26,9  
13,6  
46,7  
12,3  
15,4  
10,4  
Nguồn: Koettl và Weber 2012  
Mặc dù sự quan trọng của tin cậy về thể chế để  
Các chính sách về lao động phi chính thức  
tăng và duy trì nhận thức thuế, sự lẫn lộn về thuế và  
cấu trúc thuế làm khác biệt về khích lệ các công ty và  
hộ dân liên quan đến người lao động phi chính thức  
và việc làm phi chính thức. Dù có sự khích lệ đáng  
kể và quản trị hành chính hiệu quả có thể vẫn cần  
điều kiện nhất định để giảm trốn thuế và công việc  
không chính thức, do vậy cải cách cấu trúc và hành  
chính thuế vẫn cần các nhà chính sách xem xét.  
Các thành viên mới của Châu Âu đã thực hiện  
nhiều cải cách hành chính và cấu trúc với mục tiêu  
nhằm tăng thu nhập và khuyến khích tăng trưởng  
kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn khó khăn để trả thuế  
khi giao trách nhiệm cho cơ quan thuế thu và kiểm  
toán không chỉ với thuế mà còn đối với những đóng  
góp bảo hiểm xã hội, có thể đưa ra các ảnh hưởng  
hỗ trợ và giúp giảm các công việc không được nhắc  
đến hoặc đề cập ở mức độ chưa đúng. Ngoài ra,  
những cải cách chính sách để nâng cao cấu trúc  
thuế nhằm làm cho những khích lệ bảo đảm xã hội  
cho những người có lương thấp, và nhằm hiệu quả  
tối đa các qui định về thị trường lao động, các can  
thiệp và cải cách thể chế để chính thức hóa công  
việc phi chính thức.  
Quản trị hành chính thuế hiệu quả yêu cầu chất  
lượng cao và số lượng nhân viên làm việc hiệu quả  
và phân bổ nguồn nhân lực hiệu quả ở mọi chức  
năng, đặc biệt là kiểm toán. Tuy nhiên, chỉ phụ  
thuộc thực mạnh hơn có thể đã đem lại ảnh hưởng  
mập mờ, dù điều này ép buộc một số công ty ưng  
thuận, những công ty khác bỏ thị trường hoặc vận  
hành ngầm. Vì vậy, ngoài nâng cao thu nhập, cơ  
quan thuế nên xem xét chức năng dịch vụ của mình cho  
Điều chỉnh cấu trúc thuế  
N.T.Thang et.al/ No.23_Oct 2021|p.51-60  
người nộp thuế, cho phép họ đáp ứng nghĩa vụ thực  
thuế để người dân thấy trách nhiệm xã hội với nhà  
nước, các hợp đồng lao động đem lại các lợi ích  
nhanh chóng và có giá trị lớn cho xã hội. Ví dụ của  
Tây Ban Nha cho thấy các qui định được thực hiện  
đảm bảo cả khía cạnh chính trị và chính trị.  
hiện thuế dễ dàng và giảm tối đa chi phí giao dịch.  
Cải thiện các sáng kiến bảo vệ xã hội: làm cho  
công việc chính thức tri trả cho những người có thu  
nhập thấp  
Cùng với tăng cường hành chính về thuế là thay  
đổi thái độ của cơ quan thuế từ việc ép buộc và giám  
sát sang phục vụ khách hàng. Khi việc nộp thuế được  
thực hiện dễ dàng thì người nộp sẽ tin tưởng.  
Xem việc bù lại gánh nặng về thuế nhằm phân  
phối lương cho các việc hiệu quả thấp, các tín  
dụng bảo hiểm xã hội, các lợi ích gắn vơi điều  
kiện công việc.  
Tăng cường các cơ cấu thực thi để các hộ gia đình  
có thể tham gia quyết định về sử dụng các nguồn lực.  
Ủy quyền các chức năng và trách nhiệm cho các chính  
quyền địa phương để giảm khoảng cách giữa người  
nộp thuế và nhà nước, gắn thuế với các lựa chọn công  
về cách cung cấp lợi ích và dịch vụ.  
Giảm chi phí cơ hội của công việc chính thức cho  
những người xứng đáng với trợ giúp xã hội bằng cách  
rút dần các lơi ích, tính dụng thuế thu nhập.  
Các qui định về thị trường lao động, can thiệp  
và các thể chế  
Duy trì mức lương tối thiểu của lao động phi  
chính thức ở mức thấp tương ứng với mức lương thị  
trường cho các việc cần kỹ năng thấp. Nếu thực  
hiện được điều này, mức lương tối thiểu có thể đáp  
ứng chức năng xã hội đảm bảo cho tiêu dùng tối  
thiểu, không ngăn cản tạo ra công việc, đặc biệt là  
cho những lao động trẻ có học vấn hạn chế, người  
có sản phẩm lao động biên thấp (marginal product).  
Chuyển các công cụ phức tạp từ thuế thu nhập  
để giám sự sai lệch và dễ thực thi. Những loại thuế  
đã cao trong tiêu dùng có thể bọ khỏi thuế lao động  
có thể làm cho tăng áp lực sử dụng thuế trị giá ra  
tăng. Nếu được thực hiên thì thuế lũy tiến sẽ tập  
trung vào bất động sản  
Kinh nghiệm của Ấn Độ  
Trong nhóm các nước G20, Ấn Độ là nước phát  
triển nhanh nhất. Chính sách tiền tệ điều chỉnh phù  
hợp và hỗ trợ tài chính tăng cường đã thúc đẩy tăng  
trưởng kinh tế nước này khá tốt. Thêm vào đó, cũng  
phải kể đến nhu cầu trong nước cao, nhiều chính  
sách hiệu quả, phù hợp như cải cách cơ cấu, hỗ trợ  
thu nhập cho nông dân vùng nông thôn... Đồng  
thời, giá dầu giảm và đồng Rupee tăng giá cũng  
giảm áp lực lạm phát và giảm thâm hụt tài khoản  
vãng lai. [3]  
Thực hiện tiếp cận “linh hoạt” để bảo vệ con  
người hơn bảo vệ công việc. Dù một số qui định  
của thị trwofng lao động cấn ngăn cản lạm dụng,  
bảo vệ công việc có thể gây hại cho kết quả công  
việc hơn là tốt cho cạnh tranh hoặc cho các nền  
kinh tế hội nhập quốc tế. Hạn chế tính đơn lẻ của  
thị trường lao động mà phải gắn với nhu cầu toàn  
cầu, quan trọng hơn là tạo an ninh thu nhập khi bị  
mất việc và cho phép người lao động thay đổi giữa  
các công việc.  
Tổ chức nghiên cứu Báo cáo dân số thế giới có  
trụ sở tại Mỹ cho biết Ấn Độ phát triển nền kinh tế  
thị trường mở và GDP của nước này năm 2019 đạt  
2.940 tỉ USD, đứng ngay trên Anh và Pháp với  
GDP lần lượt là 2.830 tỉ USD và 2.710 tỉ USD. Tuy  
nhiên, do dân số đông nên GDP bình quân đầu  
người của Ấn Độ chỉ là 2.170 USD.[13]  
Nâng cao cơ cấu thưởng bằng các chương trình  
hỗ trợ thu nhập cho người thất nghiệp để đáp ứng  
tốt hơn các rủi ro thất nghiệp và khả năng thực  
hiện. Các minh chứng cho thấy dùng bảo hiểm thất  
nghiệp có tác động tích cực tốt đến thu nhập  
Nâng cao quản trị, tin cậy thể chế về thuế  
Các văn bản chính sách và thực hành đều chỉ ra  
sự quan trọng của trách nhiệm giải trình, quản trị,  
hiệu quả và khung pháp lý minh bạch. Dù có nhiều  
đề xuất nhưng chính sách quản lý lao động phi  
chính thức của châu Âu gồm các điểm sau:  
Theo số liệu từ Cơ quan Thống kê Quốc gia Ấn  
Độ (NSO) vừa công bố, tổng sản phẩm quốc nội  
(GDP) của Ấn Độ trong quý 1 năm tài chính 2020-  
21 (từ tháng 4 đến tháng 6) đã giảm 23,9% so với  
cùng kỳ năm trước, đây là mức giảm tồi tệ nhất kể  
từ khi Ấn Độ bắt đầu báo cáo số liệu hằng quý từ  
năm 1996. Trong quý 1 năm tài chính trước, GDP  
của Ấn Độ tăng 5,2%.[14]. Nguyên nhân của vấn  
Tập trung nỗ lực để giảm tham nhũng, tăng  
minh bạch, xây dựng cơ chế trách nhiệm giải trình  
hiệu quả trong quản lý hành chính. Đó là thông qua  
N.T.Thang et.al/ No.23_Oct 2021|p.61-69  
đề này là do Ấn Độ đã sớm triển khai các biện pháp  
chìm sâu vào đói nghèo (thu nhập dưới 2  
USD/ngày). Quy mô lớn của kinh tế phi chính thức  
tại nhiều nước nghèo cũng tăng nguy cơ COVID-19  
lây lan trong bộ phận lao động dễ bị tổn thương  
nhất, vốn phụ thuộc vào thu nhập kiếm được mỗi  
ngày và nếu không làm việc thì không có gì để  
trang trải [1].  
phong tỏa một cách nghiêm ngặt. Tuy nhiên, theo  
nhận định của nhiều chuyên gia, các biện pháp trên  
“vừa quá chặt, vừa quá rỗng”, không những không  
phát huy được hiệu quả mà đã khiến nhu cầu tiêu  
dùng và đầu tư cá nhân giảm mạnh, làm cho kinh tế  
Ấn Độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất từ  
trước tới nay và sụt giảm nhanh hơn bất cứ quốc gia  
lớn nào.[9]  
Năm 2018, chỉ 50% dân Ấn Độ tham gia lực  
lượng lao động, 81% trong số đó là lao động phi  
chính thức, tỉ lệ này là 86% năm 2005. Mặc dù kinh  
tế phi chính thức thiếu hụt nhiều lao động nhưng  
khu vực chính thức vẫn có nhiều lao động thất  
nghiệp. Hầu hết họ là những lao động có tay nghề  
thấp làm trong các công ty ngoài vòng pháp luật,  
thiếu các phúc lợi xã hội hoặc các điều kiện an toàn  
nghề nghiệp. Họ phải nhận mức lương tối thiểu  
hoặc dưới mức tối thiểu.  
Vấn đề lao động phi chính thức  
Kinh tế phi chính thức ở các nước như  
Bangladesh, Nepal và Pakistan và Ấn Độ chiếm  
hơn 70% trong tổng số việc làm. Nền kinh tế phi  
chính thức đã mở rộng với tốc độ nhanh không ngờ  
trên khắp thế giới. Ở các nước đang phát triển, các  
chương trình điều chỉnh cơ cấu, cải cách kinh tế và  
tăng trưởng nhân khẩu học nằm sau sự mở rộng  
này. [4]. Ủy ban Quốc gia về Doanh nghiệp trong  
Khu vực Không có tổ chức (The National  
Commission for Enterprises in the Unorganised  
Sector - NCEUS) đã định nghĩa khu vực phi chính  
thức / không được tổ chức là tất cả các công ty tư  
nhân chưa được hợp nhất; thuộc sở hữu của các cá  
nhân hoặc hộ gia đình tham gia vào việc bán và sản  
xuất hàng hóa, dịch vụ; hoạt động trên cơ sở sở hữu  
hoặc đối tác với số công nhân ít hơn mười. [10]  
Kinh nghiệm của Trung Quốc  
Trong nhiều thập kỷ, Trung Quốc theo đuổi mô  
hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu và đầu  
tư, nhằm thúc đẩy quốc gia từng lạc hậu trở thành  
một nền thương mại lớn nhất và nền kinh tế lớn thứ  
hai thế giới [12]  
Trung Quốc đã vươn lên từ một nước đang phát  
triển nghèo nàn thành một cường quốc kinh tế lớn  
trong khoảng bốn mươi năm; từ năm 1979 (khi bắt  
đầu cải cách kinh tế) đến năm 2017, tổng sản phẩm  
quốc nội (GDP) thực tế của Trung Quốc tăng  
trưởng với tốc độ trung bình hàng năm gần 10%  
[12]. Trung Quốc đã đưa 55,75 triệu người thoát  
khỏi đói nghèo và tạo được 60 triệu việc làm ở các  
khu vực thành thị [12]. Đô thị hóa được coi là nền  
tảng, động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung  
Quốc [12]. Đến cuối năm 2020, 1,3 tỷ người sẽ  
được hưởng bảo hiểm y tế cơ bản và gần 1 tỷ người  
được nhận trợ cấp hưu trí cơ bản [12]  
NCEUS cũng đưa ra định nghĩa về lao động phi  
chính thức là “Những người làm việc phi chính  
thức bao gồm những người làm việc trong khu vực  
phi chính thức hoặc trong các hộ gia đình. Lao động  
phi chính thức là những người không được hưởng  
bất kỳ các lợi ích nào trong việc làm và phúc lợi an  
sinh xã hội từ phía người sử dụng lao động” [10].  
Lao động phi chính thức thiếu sự bảo vệ của pháp  
luật và xã hội, quyền đại diện và các quyền tại nơi  
làm việc, do đó, cần thiết phải thiết lập một chiến  
lược tổng hợp để đối phó với những nguyên nhân  
này [4].  
Trung Quốc sở hữu một nền kinh tế có thực lực  
hùng hậu, với quyết tâm thực hiện “Giấc mộng  
Trung Quốc, phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”,  
có kinh nghiệm đối phó với dịch bệnh COVID-19  
và đang từng bước khôi phục kinh tế - xã hội. Đó là  
những thuận lợi cơ bản trong nước để thực hiện chủ  
trương, chính sách khôi phục và phát triển kinh tế -  
xã hội trong năm 2020 và những năm tiếp theo [15]  
Văn phòng Tiểu vùng ở New Delhi và Đối thoại  
Xã hội, Luật Lao động và Phòng Lao động Hành  
chính (DIALOGUE) được thành lập năm 2004-  
2005 giúp chỉ ra cách quản lý lao động phi chính  
thức và giúp họ tìm kiếm các công việc phù hợp, có  
một số can thiệp khi họ bị xâm phạm quyền lợi  
trong lao động [4]. Trong năm 2020, đại dịch đã  
phơi bày những mối bất bình đẳng xã hội thâm căn  
cố đế. Tại Ấn Độ, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)  
ước tính rằng, hơn 400 triệu lao động có thể sẽ  
Tuy nhiên, dù là nền kinh tế lớn số hai thế giới  
nhưng Trung Quốc vẫn phải đối mặt với tình trạng  
bất bình đẳng dai dẳng và ngày càng gia tăng giữa  
N.T.Thang et.al/ No.23_Oct 2021|p.51-60  
nông thôn và thành thị, các vấn đề môi trường và sự  
động, không được hưởng bảo hiểm, không được  
hưởng các dịch vụ y tế miễn phí, không có lương  
hưu [7].  
thiếu đổi mới về chất bất chấp việc từ lâu chính phủ  
đã rất chú trọng vào vấn đề này [15]. Bên cạnh đó,  
Trung Quốc cũng đang đứng trước những khó khăn  
trong nước, như dịch bệnh COVID-19 vừa tái bùng  
phát tại Bắc Kinh, cơn hồng thủy dữ dội ngập tràn  
diện rộng tại miền Nam Trung Quốc… Về môi  
trường quốc tế, Trung Quốc đang đứng trước ba thử  
thách lớn: Một là, dịch bệnh COVID-19 tiếp tục  
diễn biến phức tạp trên thế giới, tác động nghiêm  
trọng tới thương mại và đầu tư của Trung Quốc; hai  
là, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc có hậu  
quả khó lường; ba là, tình hình an ninh khu vực bất  
ổn do các hoạt động quân sự của Trung Quốc và  
Mỹ diễn ra trên Biển Đông và các vùng biển khác  
dọc bờ Tây Thái Bình Dương. [15]  
Trong thực tế, lao động phi chính thức thường  
không có những cam kết, thỏa thuận rõ ràng và  
đúng pháp luật về vấn đề tiền lương, về chế độ bồi  
thường, về nghỉ phép, về an toàn lao động hay  
những trợ cấp, phúc lợi khác. Trong khi, lao động  
phi chính thức là một trong những đối tượng dễ bị  
tổn thương nhất. Ngoài ra, kinh tế phi chính thức  
còn có đặc điểm là năng suất của các doanh nghiệp  
thấp do trình độ của người lao động phi chính thức  
thấp, hệ thống sản xuất lạc hậu và năng lực quản lý  
hạn chế. Đối với lao động phi chính thức làm tại  
các doanh nghiệp nhỏ của Trung Quốc sẽ được thuê  
làm việc tạm thời, bán thời gian, hoặc giúp việc gia  
đình,…(được gọi là việc làm linh hoạt) [5].  
Theo số liệu do Tổng cục Thống kê Trung Quốc  
công bố mới đây cho thấy nền kinh tế nước này  
tăng 6,5% trong quý 4/2020, một mức tăng vượt xa  
dự báo trước đó của giới phân tích. Cả năm, tổng  
sản phẩm trong nước (GDP) của Trung Quốc tăng  
2,3%, đưa nước này trở thành nền kinh tế lớn duy  
nhất trên thế giới tăng trưởng trong 2020 [6]. Vì  
vậy, trong bối cảnh hiện nay, triển vọng của công  
cuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội của  
Trung Quốc trong thời gian tới vẫn là vấn đề chưa  
thể dự đoán một cách chính xác được. [15]  
Về một số chính sách, tại Bắc Kinh có các  
chương trình, Trung tâm dịch vụ công tác xã hội  
Hong yan (Bắc Kinh, Trung Quốc) [2] hỗ trợ đào  
tạo lao động phi chính thức và mở rộng bảo trợ xã  
hội cho lao động phi chính thức. Theo Tổ chức Lao  
động Thế giới (ILO), đã cung cấp tư vấn và hỗ trợ  
kỹ thuật trong việc xây dựng Luật Hợp đồng lao  
động ban hành năm 2008 hướng tới tất cả người lao  
động trong khu vực kinh tế phi chính thức [5].  
Trong vài năm qua, thị trường lao động Trung  
Quốc được giữ ổn định nhờ sự tăng trưởng của lĩnh  
vực dịch vụ, chẳng hạn tìm một công việc giao thức  
ăn hoặc bán hàng không khó đối với đa số lao động  
phi chính thức. Tuy nhiên, do dịch COVID-19; cửa  
hiệu đóng cửa ngừng kinh doanh, nhà hàng ăn uống  
chật vật vì ít khách, nhà máy trùm mền vì nhu cầu  
tiêu dùng thế giới giảm mạnh... Trung Quốc đã  
công bố một gói hỗ trợ phúc lợi dành cho người  
nghèo bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, bao gồm lao  
động di cư, nhưng chương trình này rất hạn chế,  
không bao trùm hết số lao động bị ảnh hưởng [8].  
Vấn đề lao động phi chính thức  
Phát triển kinh tế phi chính thức được triển khai  
chủ yếu ở nhiều nước đang phát triển trong khu vực  
Châu Á và Thái Bình Dương, cung cấp việc làm  
cho 60% lực lượng lao động [5]  
Ở Trung Quốc, các doanh nghiệp có hơn bảy  
nhân viên phải đăng ký giấy phép kinh doanh với  
chính phủ. Các doanh nghiệp có ít hơn bảy nhân  
viên được xác định là một phần của khu vực phi  
chính thức. Những người làm trong các doanh  
nghiệp thuộc khu vực phi chính thức (getihu) được  
gọi là lao động phi chính thức sẽ chịu ít quy định  
hơn so với các doanh nghiệp đã đăng ký giấy phép  
kinh doanh mặc dù về nguyên tắc, doanh nghiệp  
thuộc khu vực phi chính thức vẫn phải đăng ký với  
các phòng công nghiệp và thương mại địa phương  
(gongshangju) [7].  
Khác với những nền kinh tế như Anh,  
Singapore, Hong Kong, vốn yêu cầu nhà tuyển  
dụng duy trì việc làm và trả lương nhân viên, Trung  
Quốc đại lục không có chính sách bảo vệ tiền lương  
quy mô cỡ đó. Điều này có nghĩa phần lớn lao động  
mất việc không có nguồn thu nhập nào. Chỉ có 123  
triệu di dân nông thôn trở lại làm việc ở các thành  
phố trong quý 1-2020, giảm 30% so với năm trước.  
Số lao động bị kẹt ở quê tương đương 50 triệu  
người, một số chấp nhận làm công việc đồng áng  
Ngoài ra, quan niệm về lao động phi chính thức  
ở Trung Quốc còn dành cho đối tượng làm trong cơ  
quan nhà nước nhưng không được ký hợp đồng lao  
N.T.Thang et.al/ No.23_Oct 2021|p.61-69  
thu nhập thấp nhưng còn lại không có gì để làm.  
Các điểm tương đồng có thể nhận thấy đó là: lao  
động phi chính thức tồn tại ở cả các quốc gia phát  
triển và các quốc gia đang phát triển; nguồn nhân  
lực này có những đóng góp quan trọng cho nền  
kinh tế nhưng không được ghi nhân hoặc hoàn toàn  
được ghi nhận trong hệ thống chính sách phúc lợi  
xã hội; lực lượng lao động này biến động tùy theo  
tình hình kinh tế - xã hội. Hệ thống chính sách phúc  
lợi đóng vai trò quyết định trong giải quyết lao  
động phi chính thức.  
Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc ghi nhận thu  
nhập của 149 triệu lao động phi chính thức (người  
bán trái cây, rau cá...) giảm trung bình 7,3 - 12,6%  
trong quý 1. [8].  
3. Kết luận  
Khác với lao động trong nền kinh tế chính thức  
được bảo vệ về mặt pháp lý và xã hội, lao động phi  
chính thức phải kiếm sống trong cảnh không có  
mạng lưới an sinh. Những người này chủ yếu là tự  
kiếm việc làm, đủ loại nghề như buôn bán ở vỉa hè,  
giúp việc nhà, xe lai, ve chai… Một số lại làm lao  
động thời vụ trả công nhật trong các nhà máy, trang  
trại, và các doanh nghiệp chính thức khác không  
triển khai đầy đủ quyền lợi hay bảo vệ cho tất cả  
lao động làm việc cho họ [1]. Cuộc khủng hoảng  
trong nền kinh tế phi chính thức không chỉ đang tác  
động đến các nước nghèo, mà cả các nước giàu  
cũng chịu cảnh tương tự [1]. Trong những yếu tố  
nguy cơ lớn nhất của dịch COVID-19 có sự bất  
bình đẳng về xã hội và kinh tế, được phóng đại  
thêm nhờ kinh tế phi chính thức. Nhiều lao động  
phi chính thức vốn đã đối diện với rủi ro nay đột  
nhiên còn bị phân vào nhóm “thiết yếu”, có trọng  
trách duy trì hoạt động của nền kinh tế trong đại  
dịch kể cả khi họ không được hưởng những sự bảo  
vệ lao động căn bản. Số này bao gồm nhân viên nhà  
hàng, những người làm việc trong trang trại, người  
dọn dẹp vệ sinh, giao hàng… - không một ai có thể  
làm việc từ xa tại nhà.  
Các điểm khác biệt là lao động phi chính thức ở  
các nước đang phát triển thường có biến động lớn  
so với các nước phát triển vì sự khác biệt trong hệ  
thống phúc lợi xã hội, do hệ thống chính sách phúc  
lợi ở các nước phát triển có cấu trúc ổn định hơn và  
hiệu quả hơn theo các điều kiện tối thiểu của người  
lao động trong toàn xã hội. Do vậy, các quốc gia ở  
châu Âu có nhiều giải pháp giải quyết vấn đề lao  
động phi chính thức theo các khía cạnh kinh tế, đặc  
biệt là khuyến khích tăng trường kinh tế, điều chỉnh  
cấu trúc thuế như mức lương tối thiểu và nâng cao  
cơ cấu thường, phúc lợi, các hình thức duy trì công  
việc.v.v…mặc dù, quá trình phát triển cộng đồng  
chung châu Âu có nhiều yếu tố có thể làm cho vấn  
đề lao động phi chính thức diễn ra phức tạp như  
dòng người nhập cư từ các nước có chiến tranh  
hoặc thiên tai, từ các nước thành viên mới. Ngược  
lại, các nước đang phát triển chủ yếu là các chương  
trình hỗ trợ ngắn hạn, điều này dễ mất ổn định khi  
nền kinh tế gặp khó khăn, làm cho một lực lượng  
lớn lao động từ chính thức trở thành phí chính thức,  
hậu quả là nhiều bất ổn xã hội xuất hiện.  
Trung Quốc có kinh nghiệm đối phó với dịch  
bệnh COVID-19 và đang từng bước khôi phục kinh  
tế - xã hội [6]. Lao động phi chính thức là những  
đối tượng dễ bị tổn thương; ngoài ra, do dịch  
COVID-19; cửa hiệu đóng cửa ngừng kinh doanh,  
nhà hàng ăn uống chật vật vì ít khách, nhà máy  
trùm mền vì nhu cầu tiêu dùng thế giới giảm  
mạnh... Trung Quốc đã công bố một gói hỗ trợ phúc  
lợi dành cho người nghèo bị ảnh hưởng bởi dịch  
bệnh, bao gồm lao động di cư, nhưng chương trình  
này rất hạn chế, không bao trùm hết số lao động bị  
ảnh hưởng. Vì vậy Trung Quốc cần có một số chính  
sách, hỗ trợ đào tạo lao động phi chính thức và mở  
rộng bảo trợ xã hội cho lao động phi chính thức  
trong thời gian tới.  
Tóm lại, kinh nghiệm của các nước cho thấy có  
rất nhiều vấn đề cần được thực hiện để giải quyết  
vấn đề lao động phi chính thức, như chính phủ cần  
xem xét xây dựng các chương trình, chính sách để  
giảm thiểu tác động của các cuộc khủng hoảng và  
vấn đề cốt yếu là mở rộng mạng lưới an sinh xã hội  
và tăng các biện pháp bảo vệ đối với lao động phi  
chính thức, đặc biệt là những người là lao động thời  
vụ/ ngắn hạn ở các khu công nghiệp và lao động tự  
do ở các khu đô thị.  
REFERENCES  
[1] Bach, H. (2020). COVID-19 exposes the  
dangers of the informal economy. Baonghean.  
N.T.Thang et.al/ No.23_Oct 2021|p.51-60  
cua-nen-kinh-te-phi-chinh-thuc-267762.html Feature (Confederation of Indian Industry): Vol.  
[2] GFCD. (2019). International Conference  
"Sharing on Informal Labor in  
September-  
(pp.  
40–46).  
http://www.ies.gov.in/pdfs/CII  
2014.pdf  
EM-october-  
se-ve-lao-dong-phi-chinh-thuc-o-viet-nam.html  
[3] Nhi, H. (2019). India is the fastest growing  
economy in the world. Baothuathienhue.Vn.  
dang-phat-trien-nhanh-nhat-the-gioi-a72524.html  
[4] International Labour Organization (ILO).  
(2005). INFORMAL ECONOMYꢀ: The Growing  
Challenge For Labour Administration.  
[11] Swider, S. (2015). Building Chinaꢀ:  
Informal Work and the New Precariat Building  
Chinaꢀ: Informal Work and the New Precariat.  
[12] The World & Vietnam Report. (2020).  
China's economy is about to undergo changes not  
seen  
in  
the  
past  
100  
years,  
nhung-thay-doi-chua-tung-thay-trong-100-nam-  
qua-128234.html  
[5] International Labour Organization (ILO).  
(2012). Informal economy in China and Mongolia.  
economy/lang--en/index.htm  
[13] Vietnam News Agency. (2020). India  
becomes the 5th largest economy in the world.  
kinh-te-lon-thu-5-the-gioi-  
[6] Oanh, K. (2021). Getting over the COVID-  
19, China's economic picture is even brighter.  
tranh-kinh-te-trung-quoc-cang-ruc-ro-  
20200219152059993.htm  
[14] Vietnam Trade Office in India. (2021).  
India's economy decreased by 23.9% in the first  
20210121123430684.htm  
quarter  
of  
fiscal  
year  
2020-2021.  
[7] Liang, Z., Appleton, S., Song, L. (2016).  
Informal Employment in China: Trends, Patterns  
and Determinants of Entry. In IZA Discussion  
Paper (Issue 10139).  
tiet/kinh-te-an-đo-giam-23-9-trong-quy-i-nam-tai-  
chinh-2020-2021-20407-22.html  
[15] Luu, T. (2020). The guidelines and  
policies in China's socio-economic recovery and  
[8] Long, P. (2020). Unemployment is hard to  
measure:  
China's  
"black  
swan"  
development  
in  
2020.  
thien-nga-den-cua-trung-quoc-  
20200511142747277.htm  
su-kien/-/2018/820712/chu-truong%2C-chinh-sach-  
khoi-phuc-va-phat-trien-kinh-te---xa-hoi--cua-  
trung-quoc-nam-2020.aspx  
[9] Vinh, Q. (2020). India heavily suffered by  
COVID-19.  
[16] Wayne, M. Morison. (2019). China’s  
Economic Rise: History, Trends, Challenges, and  
do-hung-chiu-suc-ta-n-pha-nang-ne-tu-covid-  
19.htm  
Implications  
for  
the  
United  
States.  
https://www.everycrsreport.com/files/20190625_R  
L33534_088c5467dd11365dd4ab5f72133db289fa1  
0030f.pdf  
[10] Srija, A., Shirke, S. V. (2014). An Analysis  
of the Informal Labour Market in India. In Special  
pdf 9 trang baolam 22780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề lao động phi chính thức - kinh nghiệm ở một số quốc gia", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_lao_dong_phi_chinh_thuc_kinh_nghiem_o_mot_so_quoc_gia.pdf