Trí Việt và Tam hóa - Khung khái niệm và thao tác
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 42 (02-2020)
TRÍ VIỆT VÀ TAM HÓA - KHUNG KHÁI NIỆM VÀ THAO TÁC
y Tô Duy Hợp(*)
Tóm tắt
Chủ đề “Trí Việt và Tam hóa” sẽ được làm sáng tỏ qua việc làm rõ các khái niệm then chốt: “Trí
Việt” và “Tam hóa”, tiếp đến là bàn luận về sự cần thiết phải xây dựng cơ sở Trí Việt học, và về Tam
hóa Trí Việt, tức là về Hiện đại hóa, Việt Nam hóa, và Lành mạnh hóa Trí Việt đương đại.
Từ khóa: Tam hóa, Trí Việt.
1. Đặt vấn đề
dung quan trọng sau: (1) Các khái niệm “Trí Việt”
và “Tam hóa”; (2) Trí Việt học với tư cách là cơ
sở lý luận, khoa học của tư duy và hành động đổi
mới sáng tạo Việt; (3) Tam hóa Trí Việt - một giải
pháp chiến lược phát triển lành mạnh, bền vững
con người và xã hội Việt đương đại.
Trong đổi mới tư duy ở nước ta thời gian
qua, người ta nói nhiều về công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, toàn cầu hóa ở tầm chiến lược phát triển
quốc gia và về thị trường hóa, thương mại hóa, cổ
phần hóa, tư nhân hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa, đa
dạng hóa, chuyên nghiệp hóa... ở tầm chương trình,
dự án phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
2. Nội dung
2.1. Khái niệm “Trí Việt” và “Tam hóa”
2.1.1. Trí Việt
Nhằm phát huy thành tựu của công cuộc đổi
mới và hòa nhập thế giới phát triển lành mạnh,
đồng thời góp phần khắc phục những hạn chế
như bất cập, lệch chuẩn, suy thoái trong chuyển
đổi kinh tế - xã hội; Trung tâm Khoa học Tư duy
(CTS) thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam (VUSTA)
Cụm từ biểu đạt khái niệm “Trí Việt” là một
cụm từ kép, bao gồm “Trí” và “Việt”.
Thuật ngữ biểu đạt khái niệm “Trí” có nhiều
diễn ngôn đa dạng, phong phú, như: (1) Trí não
trong nhiệm kỳ II (6/2016 - 6/2019) đã đề xuất hệ (Brain) hay Trí óc (Intelect, Mental), (2) Trí năng
quan điểm “Tam hóa” (tức là Hiện đại hóa, Việt
Nam hóa, Lành mạnh hóa) tư duy Việt nói riêng,
văn hóa và xã hội Việt nói chung.
(Mental/Intellectual Faculties), (3) Trí lực (Force of
Mind), (4) Trí nhớ (Memory), (5) Trí tưởng tượng
(Imagination), (6) Trí khôn (Wit, Intelligence,
Intellect), (7) Trí mưu (Full of Expedient), (8) Trí
dũng (Intelligent and Courageous, Wisdom and
Courage), (9) Trí tuệ (Intelligent, Intelect), (10) Trí
Viện Trí Việt (IVM) thuộc Liên hiệp Hội Việt
Nam (VUSTA) được chuyển đổi từTrung tâm Khoa
học Tư duy (CTS), chính thức ra mắt ngày 30 tháng
6 năm 2019. Viện có sứ mệnh góp phần phát triển dục (Mental Education), (11) Trí thức (Intellectual,
Trí Việt lành mạnh bằng nhiều hoạt động nghiên
cứu, đào tạo, ứng dụng lý luận và khoa học đa dạng,
trong đó sẽ chú trọng thực hành “Tam hóa” (tức là
Hiện đại hóa, Việt Nam hóa, và Lành mạnh hóa)
Trí Việt - yếu tố cốt lõi của con người và xã hội
Việt từ xưa đến nay.
Intelligensia), (12) Trí quyển (Noosphere), (13)
Trí học (Noology, Mind Studies)... (14) Tâm Trí
(Mind, Heart & Mind), (15) Lý trí (Reason), (16)
Dân trí (The People’s Intellectual Standards), (16)
Quan trí (The Official’s Intellectual Standards),
(17) Doanh trí (The Businessman’s Intellectual
Standards), (18) Minh trí/Thấu trí (Wisdom), (19)
Cách trí (Natural Sciences = Khoa học tự nhiên),
(20) Giải trí (Relaxation, Entertainment), (21) Đấu
trí (Intellectual Contest), (22) Nhất trí (Oneness of
Mind), (23) Đãng trí (Forgetful, Absent-minded),
(24) Rối Trí (Become/Grow turbid), (25) Quẫn
trí (Become/Grow Stupid/Foolish), (26) Mù trí
(Intelligent Blind = Mù lòa trí tuệ), (27) Loạn trí
(Go out of one’s mind), (28) Mất trí (Lose mind)...
Chủ đề/vấn đề Trí Việt và Tam hóa đang trở
thành trung tâm của công cuộc đổi mới sáng tạo
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Việt trong bối cảnh
gia tăng hòa nhập toàn cầu hóa nói chung, hòa nhập
cách mạng công nghiệp 4.0 nói riêng. Để làm sáng
tỏ quan hệ qua lại phức hợp (tức là tổng - tích hợp)
giữa Trí Việt và Tam hóa, cần phải xem xét các nội
(*) Viện Trí Việt.
3
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 42 (02-2020)
Lưu ý, “Trí” trong tiếng Việt dịch sang tiếng Anh nhiều tam giác đối/hợp loại hình “Trí” như: (1) Trí
phải sử dụng ít nhất là 4 từ tương đương: Mind, năng - Trí lực - Trí tuệ, (2) Trí đúng - Trí tốt - Trí
Intellect, Intellectual, Intelligent.
đẹp, (3) Trí khoa học - Trí triết học - Trí đạo học,
(4) Trí truyền thống - Trí hiện đại - Trí hậu hiện
đại, (5) Thể trí - Lý trí - Minh trí, (6) Dân trí - Quan
trí - Doanh trí...
“Trí” nói chung thuộc phạm trù tư duy trừu
tượng (abstract thinking), đối lập với trực quan
cảm tính (sensibility, emotion). Trí là một thành
phần của ý thức (hữu thức), đó là lý trí đối lập với
tình cảm, và ý chí với tư cách là những thành phần
khác của ý thức. Trí là năng lực nhận thức lý tính
(rational cognition), tạo ra kiến thức hay tri thức
(knowledge, erudition), đối lập với nhận thức cảm
tính (sensible cognition), tạo ra cảm giác (sense,
sensation, feeling), tri giác (perception). Trí là
phản ánh tinh thần (spiritual reflection), đối lập
với phản ánh vật chất (material reflection), và là
sáng tạo tinh thần (spititual creation), đối lập với
sáng tạo vật chất (material creation) của con người
và loài người.
Thuật ngữ biểu đạt khái niệm “Việt” có nhiều
ý nghĩa khác nhau:
“Việt” là tên gọi tộc người Việt (còn gọi là
người Kinh), là tộc người đa số ở Việt Nam hiện
nay; tộc người Kinh chỉ là một trong 54 tộc người,
quen gọi là 54 dân tộc, bao gồm dân tộc đa số (dân
tộc Kinh) và 53 dân tộc thiểu số (như Mường, Tầy,
Thái, Nùng, Dao, H’mông, Bana, Êđê, Chăm,
Khơme, Hoa,...). Người Việt cổ có rất nhiều loại,
tạo thành “Bách Việt”; trong đó “Lạc Việt” được
nhiều nhà Việt học cho là nguồn gốc tộc người của
người Việt (Kinh) ngày nay.
“Trí” có cấu trúc phức hợp, bao gồm nhiều
đối/hợp thành phần, như: (1) Khách quan hoặc/
và Chủ quan, (2) Tương đối hoặc/và Tuyệt đối,
(3) Trừu tượng hoặc/và Cụ thể, (4) Logic hoặc/
và Trực giác, (5) Logic hoặc/và Lịch sử, (6) Phân
tích hoặc/và Tổng hợp, (7) Luận kết hoặc/và Luận
chứng, (8) Quy nạp hoặc/và Suy diễn, (9) Chứng
minh hoặc/và Phủ bác, (10) Phản ánh hoặc/và
Sáng tạo... và có nhiều tam giác đối/hợp thành
phần như: (a) Khái niệm - Phán định - Lập luận,
(b) Phép hội logic - Phép tuyển logic - Phép kéo
theo logic, (c) Phép tương đương - Phép thứ tự
- Phép bao hàm, (d) Miêu tả - Luận kết - Luận
chứng, (đ) Quy nạp - Suy diễn - Loại tỷ, (e)- Phân
tích - Tổng hợp - So sánh...
“Việt kiều” là người gốc Việt có quốc tịch
nước ngoài, như người Trung Quốc gốc Việt,
người Pháp gốc Việt, người Nga gốc Việt, người
Mỹ gốc Việt...
“Việt Nam” với tư cách quốc gia dân tộc là
tên gọi mới xuất hiện vào thời cận đại, trước đó
đã có nhiều tên gọi khác, như “Đại Việt”, “Đại Cồ
Việt”. Nhà nước Việt Nam đương đại có tên gọi là
“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, trước đó
là “Việt Nam dân chủ cộng hòa”.
Nội dung trên ta đã xác định “Việt” với tư cách
là chủ thể. Nếu quan tâm đến “Việt” với tư cách là
thuộc tính hay đặc tính thì ta có thể phân biệt “Việt”
theo nghĩa “Việt thường” và “Việt” theo nghĩa
“Vượt”, tức là “Việt phi thường” hay “siêu Việt”...
“Trí” có nhiều loại hình, giữa chúng có tình
trạng đối/hợp logic, như: (i) Trí chân (= Trí đúng)
hoặc/và Trí giả (= Trí sai), (ii) Trí thiện (= Trí tốt)
hoặc/và Trí ác (= Trí xấu), (iii) Trí khôn hoặc/và
Trí dại, (iv) Trí dũng hoặc/và Trí hèn, (v) Trí thức
hoặc/và Trí ngủ, (vi) Trí tự nhiên hoặc/và Trí nhân
tạo, (vii) Trí cá nhân hoặc/và Trí tập thể, (viii) Trí
kinh nghiệm hoặc/và Trí lý thuyết, (ix) Trí dân gian
hoặc/và Trí bác học, (x) Trí thông thường hoặc/và
Trí khoa học, (xi) Trí truyền thống hoặc/và Trí hiện
đại, (xii) Trí cổ điển hoặc/và Trí phi cổ điển, (xiii)
Trí hiện đại hoặc/và Trí hậu hiện đại, (xiv) Nhất trí
hoặc/và Đấu trí, (xv) Sáng trí hoặc/và Mù trí... và
Như vậy, thuật ngữ biểu đạt khái niệm “Trí
Việt” có ý nghĩa trước hết là trí của người Việt; ở
cấp độ trên cá nhân, đó là trí của dân tộc Việt, của
xã hội Việt, của Nhà nước Việt nói chung, và của
Nhà nước Việt Nam đương đại nói riêng. Nếu phân
đôi Trí Việt ra thành 2 loại hình lớn thì ta có Trí
Việt truyền thống và Trí Việt hiện đại; trong đó, Trí
Việt truyền thống bao gồm Trí Việt cổ truyền, và
Trí Việt tân truyền; còn Trí Việt hiện đại bao gồm
Trí Việt cổ điển, và Trí Việt phi cổ điển. Trong hội
nhập quốc tế hiện nay, đang xuất hiện cặp đối/hợp
“Trí Việt hiện đại hoặc/và Trí Việt hậu hiện đại”.
4
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 42 (02-2020)
2.1.2. Tam hóa
chuyển hóa từ giáo dục Việt Nam thiếu hoặc không
lành mạnh thành giáo dục Việt Nam lành mạnh.
Như đã đề dẫn, thuật ngữ biểu đạt khái niệm
“Tam hóa” do Viện Trí Việt (IVM) kế thừa và tiếp
tục phát huy quan điểm Tam hóa từTrung tâm Khoa
học tư duy (CTS). Dưới dạng khái quát, khung Tam
hóa được thao tác như sau:
2.2. Trí Việt học
Trong khuôn khổ CTS (Centre for Thinking
Science, tức là Trung tâm Khoa học tư duy)
chúng tôi đã đề xuất việc xây dựng tư duy học
(Thinkingogy, Thinking Studies) làm cơ sở lý luận
và khoa học cho công cuộc đổi mới tư duy thành
công tốt đẹp. Cũng theo hướng đổi mới sáng tạo
này, trong khuôn khổ IVM (tức là Viện Trí Việt -
Institute of Viet Mind) chúng tôi đề xuất kiến tạo
Trí Việt học làm cơ sở lý luận và khoa học cho công
cuộc đổi mới Trí Việt đi theo đường lối đúng đắn
và thành công tốt đẹp.
Với X là ký hiệu tượng trưng cho đối tượng
nhất định, chẳng hạn như X = Con người, Gia
đình, Kinh tế, Chính trị, Pháp luật, Văn hóa, Xã
hội, Giáo dục, Y tế, Tôn giáo, Thể thao, Quân sự,
Hành chính, Quản lý, Lãnh đạo, Nhận thức, Tư
duy, Tư tưởng, Ý thức, Tri thức, Trí tuệ, Trí thức,
Triết học, Đạo học, Khoa học... thì Khung Tam
hóa X bao gồm: (1) Hiện đại hóa X, (2) Việt Nam
hóa X, và (3) Lành mạnh hóa X.
2.2.1. Xây dựng cơ sở Trí Việt học
Hiện đại hóa X (X Modernization) có nghĩa
là X hóa thành hiện đại, với hàm ý chính là quá
trình chuyển hóa từ X truyền thống (Traditional
X) thành X hiện đại (Modern X); thí dụ như hiện
đại hóa tư duy có nghĩa là quá trình chuyển hóa từ
tư duy truyền thống (traditional thinking) thành tư
duy hiện đại (modern thinking), hay như hiện đại
hóa giáo dục có nghĩa là quá trình chuyển hóa từ
giáo dục truyền thống (traditional education) thành
giáo dục hiện đại (modern education).
Trí Việt học dựa trên nền tảng kép, đó là Trí
học và Việt học. Cả Trí học và Việt học đều là
những bộ môn mới, hãy còn kém phát triển; do
đó cần được xây dựng cơ sở lý luận - khoa học và
đồng thời triển khai đồng bộ các hoạt động nghiên
cứu, đào tạo và ứng dụng từ hẹp đến rộng, từ nông
đến sâu, từ thấp lên cao.
Trí Việt học bao gồm 5 bộ phận hợp thành sau:
(1) Học Trí Việt (Learning of Viet Mind), tức
là học hỏi, học hiểu, học tập, học hành Trí Việt.
Việt Nam hóa X (X Vietnamization) trước hết
có nghĩa là quá trình chuyển hóa tinh hoa X du nhập
thành tinh hoa của Việt Nam; thí dụ như Việt Nam
hóa tư duy phương Tây có nghĩa là quá trình chuyển
hóa tinh hoa tư duy phương Tây thành tinh hoa
tư duy Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam hóa còn có
nghĩa là quá trình truyền bá, quảng bá tinh hoa của
Việt Nam ra khắp thế giới xung quanh; thí dụ như
Việt Nam hóa tư duy có nghĩa là quá trình truyền
bá, quảng bá tinh hoa tư duy Việt Nam ra khắp thế
giới xung quanh hay như Việt Nam hóa giáo dục
có nghĩa là quá trình truyền bá, quảng bá tinh hoa
giáo dục Việt Nam ra khắp thế giới xung quanh.
(2) Trí Việt ký (Viet Mindography), tức là
những ghi chép về Trí Việt.
(3) Trí Việt học đơn - chuyên ngành (Viet
Noology/Viet Mindology), bao gồm:
(3.1)NhậpmônTríViệthọcđơn-chuyênngành.
(3.2) Khung khái niệm và lý thuyết Trí Việt
học đơn - chuyên ngành.
(3.3) Khung phương pháp luận và phương
pháp Trí Việt học đơn - chuyên ngành.
(3.4) Khung chủ đề/vấn đề Trí Việt học
đơn - chuyên ngành.
Lành mạnh X (X Healthilization) có nghĩa là
quá trình chuyển hóa từ X thiếu hoặc không lành
mạnh thành X lành mạnh; thí dụ như lành mạnh hóa
tư duy Việt Nam có nghĩa là quá trình chuyển hóa
từ tư duy Việt Nam thiếu hoặc không lành mạnh
thành tư duy Việt Nam lành mạnh hay như lành
mạnh hóa giáo dục Việt Nam có nghĩa là quá trình
(3.5) Ứng dụng Trí Việt học đơn - chuyên
ngành trong mọi lĩnh vực tư duy, nhận thức, và
hoạt động thực tiễn.
(4) Trí Việt học liên - xuyên ngành (Mind
Studies), bao gồm:
(4.1) Nhập mônTríViệt học liên - xuyên ngành.
5
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 42 (02-2020)
(4.2) Khung học - thuyết Trí Việt học liên - ngày 03 tháng 6 năm 2019; (iii)- Quyết định về
xuyên ngành, bao gồm:
việc công nhận Hội đồng quản lý Viện Trí Việt, số
568/QĐ-LHHVN. Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm
2019 do ông Đặng Quốc Bảo làm Chủ tịch, ông
Henry Nguyễn Hữu Thái Hòa làm Phó Chủ tịch,
cùng các Ủy viên: ông Tô Duy Hợp, bà Nguyễn
Hồng Thuận, ông Phạm Huy Thông, ông Đặng
Hữu Hưng; (iv)- Quyết định Bổ nhiệm ông Tô
Duy Hợp làm Viện trưởng Viện Trí Việt, số 569/
QĐ-LHHVN, Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2019;
(v)- Quyết định Bổ nhiệm ông Phạm Huy Thông
làm Phó Viện trưởng Viện Trí Việt, số 570/QĐ-
LHHVN, Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2019;
(vi)- Quyết định Bổ nhiệm bà Vũ Thị Mai làm Phó
Viện trưởng Viện Trí Việt, số 571/QĐ-LHHVN,
Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2019; (vii)- Quyết
định Bổ nhiệm ông Henry Nguyễn Hữu Thái Hòa
làm Phó Viện trưởng Viện Trí Việt, số 572/QĐ-
LHHVN, Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2019.
(2)- Quyết định của Bộ Khoa học và Công nghệ:
Bộ Khoa học và Công nghệ chứng nhận Đăng ký
hoạt động khoa học và công nghệ (Đăng ký lần đầu
tiên, ngày 15/5/2013, đăng ký lần thứ hai, ngày
21/10/2016) và lần thứ ba, ngày 18 tháng 6 năm
2019. Tên tổ chức khoa học & công nghệ: Viện
Trí Việt. Tên viết bằng tiếng nước ngoài: Institute
of Viet Mind. Tên viết tắt bằng tiếng nước ngoài:
IVM, số Đăng ký: A-1105... Cơ quan quản lý trực
tiếp: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt
Nam. Người đứng đầu tổ chức: Họ và tên: Tô Duy
Hợp. (3)- Quyết định của Bộ Công an.
(4.2.1) Khung học Trí Việt liên - xuyên ngành,
dựa trên cơ sở Khung Tam học, đó là: Khoa học
về Trí Việt (Science of Viet Mind), Triết học về
Trí Việt (Philosophy of Viet Mind), Đạo học về Trí
Việt (Taology of Viet Mind) và Khung Tam Triết,
tức là: Triết lý Trí Việt, Triết thuyết Trí Việt, Minh
Triết Trí Việt.
(4.2.2) Khung thuyết Trí Việt liên - xuyên
ngành, dựa trên cơ sở Tam thuyết về Trí Việt, đó
là: Thuyết biện chứng về Trí Việt (Dialectics of
Viet Mind), Thuyết toàn thể về Trí Việt (Holism
of Viet Mind), Thuyết khinh trọng về Trí Việt
(Khinhtrongism of Viet Mind) và Tam luận tổng
quát về Trí Việt, tức là: Bản thể luận về Trí Việt
(Ontologism of Viet Mind), Nhận thức luận về Trí
Việt (Epistemologism of Viet Mind), Phương pháp
luận về Trí Việt (Methodologism of Viet Mind).
(4.3) Khung nghiên cứu Trí Việt học liên -
xuyên ngành, bao gồm: (i) Nghiên cứu cơ bản về
Trí Việt, (ii) Nghiên cứu ứng dụng về Trí Việt,
(iii) Nghiên cứu triển khai về Trí Việt.
(4.4) Khung đào tạo Trí Việt học liên - xuyên
ngành, bao gồm: (i) Đào tạo Trí Việt theo hệ trường
quy (chính quy/phi chính quy), (ii) Đào tạo Trí Việt
phi trường quy (tức là trong Gia đình, Cộng đồng,
Tự học hành).
(5) Ứng dụng Trí Việt học liên - xuyên ngành
(Application of Viet Noology/Viet Mind Studies)
trong mọi lĩnh vực tư duy, nhận thức, và hoạt động
thực tiễn.
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã
hội, Bộ Công an cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu
con dấu Viện Trí Việt, có giá trị sử dụng từ ngày
10 tháng 7 năm 2019.
2.2.2. Thành lập Viện Trí Việt
a. Tư cách pháp nhân của Viện Trí Việt
b. Cơ cấu tổ chức Viện Trí Việt (IVM)
(1)- Các Quyết định của Liên hiệp hội Việt
Nam: Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam, gọi tắt là Liên hiệp hội Việt Nam
(VUSTA) đã ký các Quyết định quan trọng sau:
(i)- Quyết định về việc đổi tên Trung tâm Khoa
học tư duy (CTS) thành Viện Trí Việt (IVM), số
566/QĐ-LHHVN, Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm
2019, nhiệm kỳ I (6/2019-6/2024); (ii)- Quyết
định Phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của
Viện Trí Việt, gồm 06 chương, 19 điều (có Bản
Điều lệ kèm theo), số 567/QĐ-LHHVN, Hà Nội,
Hệ thống cơ cấu tổ chức của Viện Trí Việt
nhiệm kỳ I (6/2019 - 6/2024) được hình dung dưới
dạng tổng quát sau đây: (i) Hội đồng quản lý IVM,
bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các Ủy viên;
(ii) Ban lãnh đạo IVM, bao gồm: Viện trưởng, các
Phó Viện trưởng; (iii) Văn phòng IVM, bao gồm:
Văn phòng IVM trung ương, Văn phòng đại diện
IVM tại các địa phương; (iv) Hội đồng khoa học
và đào tạo Trí Việt, bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ
tịch, các Ủy viên; (v) Các trung tâm nghiên cứu,
6
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 42 (02-2020)
đào tạo, ứng dụng Trí Việt, bao gồm: các trung tâm khu vực, hòa bình thế giới); hòa thuận (bao gồm
nhập môn Trí Việt học, các trung tâm X học tổng hòa thuận gia đình, hòa thuận cộng đồng, hòa thuận
xã hội); hòa hợp (bao gồm hòa hợp đa nhân cách,
hòa hợp đa dân tộc, hòa hợp toàn nhân loại). Trí
học tứ minh, bao gồm: minh trí, minh đức, minh
triết, minh đạo.
quát và chuyên biệt thuộc Viện Trí Việt, các trung
tâm hành dụng Trí Việtc; (vi) Các tổ chức bổ trợ
Viện Trí Việt, bao gồm: Tạp chí Phát triển Trí Việt,
Diễn đàn Trí Việt phát triển lành mạnh, Câu lạc bộ
Trí Việt đổi mới sáng tạo.
2.3. Tam hóa Trí Việt
Phát triển lành mạnhd Trí Việt hay phát triển
Trí Việt lành mạnh sẽ tuân theo quy luật chuyển
đổi kép: vừa từ Trí Việt truyền thống đến Trí Việt
hiện đại, vừa từ Trí Việt hiện đại hóa kiểu cũ sang
Trí Việt hiện đại hóa kiểu mới. Muốn thế, người
Việt, cộng đồng người Việt, dân tộc Việt, Nhà nước
Việt, xã hội Việt phải thực hiện chiến lược Tam hóa
Trí Việt, bao gồm: (1) Hiện đại hóa tinh hoa truyền
thống Trí Việt; (2) Việt hóa tinh hoa trí tuệ du nhập;
(3) Lành mạnh hóa Trí Việt đương đại.
c. Cơ sở văn hóa khởi nghiệp IVM
(1) Tầm nhìn IVM: Trí Việt học sáng tạo
(Creative Viet Mind Studies).
(2) Sứ mệnh IVM: Góp phần phát triển Trí
Việt lành mạnh; hành dụng Tam hóa, tức là Hiện
đại hóa, Việt Nam hóa, Lành mạnh hóa Trí Việt.
(3) Mục tiêu IVM: Sớm đạt được danh hiệu,
học hiệu, thương hiệu “Viện Trí Việt tiên phong
đổi mới sáng tạo”; vì mục tiêu chung toàn xã hội:
thịnh vượng, dân chủ, công bằng, văn minh hiện
đại hóa.
(1) Hiện đại hóa tinh hoa truyền thống Trí
Việt: Hiện đại hóa ở đây được hiểu là quá trình
chuyển hóa từ truyền thống đến hiện đại, theo
nguyên tắc: kế thừa, phát huy, phát triển tinh hoa
truyền thống Trí Việt. Tiêu biểu như quá trình hiện
đại hóa tinh hoa nông nghiệp Việt, thủ công mỹ
nghệ Việt, văn nghệ Việt, ẩm thực Việt, lễ hội Việt,
chính trị Việt, pháp luật Việt, quân sự Việt, giáo
dục Việt, y dược Việt, tín ngưỡng và tôn giáo Việt,
cộng đồng làng Việt, gia đình Việt... Viện Trí Việt
(IVM) sẽ xây dựng một đề án nghiên cứu, đào tạo,
ứng dụng tinh hoa truyền thống Trí Việt thể hiện
(4) Hệ giá trị cốt lõi IVM: Hệ giá trị cốt lõi cội
nguồn: Nhân - Trí - Dũng; Hệ giá trị cốt lõi tiến hóa:
Trung thực - Thiết thực - Chất lượng - Hiệu quả.
(5) Nguyên tắc tổ chức IVM: Tự do đi cùng
với thiết chế hóa đúng mức; dân chủ đi cùng với
tập trung hóa đúng mức; đa dạng văn hóa đi cùng
với nhất thể hóa đúng mức.
(6) Nguyên tắc hoạt động IVM: “Ba cùng”,
tức là cùng đóng góp, cùng xây dựng, cùng phát
triển lành mạnh (bao gồm phát triển toàn diện,
phát triển bao trùm, phát triển hài hòa, phát triển trong “Tam quan” (tức là thế giới quan, nhân sinh
bền vững); “Ba dám”, tức là dám nghĩ, dám nói, quan, giá trị quan), “Tam thuật” (tức là học thuật,
dám làm theo hệ giá trị: (i) của toàn nhân loại: chân kỹ thuật, nghệ thuật), “Tam triết” (tức là triết lý,
triết học, minh triết) của người Việt, của Nhà nước
Việt, và của xã hội Việt...
(= cái đúng), thiện (= cái tốt), mỹ (= cái đẹp), lợi
(ích), linh (thiêng)...; (ii) của toàn dân tộc: yêu nước
(cộng hòa), (chính trị) dân chủ, (dân tộc) độc lập,
(dân quyền) tự do, (dân sinh) hạnh phúc...; (iii) của
toàn cộng đồng: đồng thuận, đoàn kết, trách nhiệm,
chia sẻ, hợp tác...; (iv) của nhân cách cá nhân: nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín, cần, kiệm, liêm, chính... Tam hợp,
bao gồm: hợp lý (tức là hợp pháp lý, hợp luân lý,
hợp chân lý); hợp tình (tức là hợp tình yêu, hợp
tình thương, hợp tình nghĩa); hợp đạo (tức là hợp
nhân đạo, hợp địa đạo, hợp thiên đạo).
(2) Việt Nam hóa tinh hoa trí tuệ du nhập:
Việt hóa nói chung, Việt Nam hóa nói riêng ở đây
trước hết được thao tác theo nguyên tắc: tiếp thu,
cải biên, chuyển hóa tinh hoa trí tuệ du nhập thành
tinh hoa Trí Việt. Quá trình tiếp biến, tiếp hợp tư
tưởng, văn hóa, văn minh này đã diễn ra trong lịch
sử Trí Việt; tiêu biểu như Tam giáo Việt hóa (tức
là Nho giáo Việt hóa, Phật giáo Việt hóa, Đạo giáo
Việt hóa), tôn giáo du nhập (như Công giáo, Tin
lành, Hồi giáo…) Việt hóa, chế độ chính trị dân chủ
cộng hòa Việt hóa, Thuyết Tam dân (Dân tộc độc
(7) Lý tưởng IVM: Cộng đồng tam hòa, tức
là: hòa bình (bao gồm hòa bình quốc gia, hòa bình
7
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 42 (02-2020)
lập - Dân quyền tự do - Dân sinh hạnh phúc) Việt lành mạnh, trước mắt: xây dân trí thông minh, xây
quan trí sáng suốt, xây doanh trí sáng nghiệp, làm
tiền đề cho về lâu về dài cùng nhau: xây trí tuệ
phát triển, xây trí họce tinh hoa, xây trí quyểnf
lành mạnh.
hóa, Tam quan khoa học (tức là Thế giới quan khoa
học - Nhân sinh quan khoa học - Giá trị quan khoa
học) Việt hóa, Tam thuật phương Tây (tức là Học
thuật phương Tây - Kỹ thuật phương Tây - Nghệ
thuật phương Tây) Việt hóa... Cần có chương trình
nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng Việt hóa tinh hoa
trí tuệ đương đại du nhập trong các lĩnh vực quan
trọng của xã hội tổng thể như trong kinh tế, chính
(3.3) Cách mạng Trí Việt đương đại: Mức
độ cao nhất của quá trình lành mạnh hóa Trí Việt
đương đại. Đó sẽ là quá trình chuyển hóa kép của
khung mẫu Trí Việt từ khung mẫu truyền thống đến
trị, văn hóa, xã hội, môi trường; cũng như trong khung mẫu hiện đại, và từ khung mẫu hiện đại hóa
kiểu cũ sang khung mẫu hiện đại hóa kiểu mới. Đặc
trưng cơ bản nhất của cách mạng Trí Việt đương
đại sẽ là sự chuyển hóa từ khung mẫu Trí Việt kém
phát triển (ưa chuộng đơn giản, quy giản, chia tách)
sang khung mẫu Trí Việt phát triển (đủ năng lực
tổng - tích hợp và liên - xuyên ngành khoa học và
đời sống, lý luận và thực tiễn, đạo và đời).
các thiết chế xã hội cơ bản và quan trọng như gia
đình, kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế, tôn giáo,
thể thao, pháp luật, quân sự, khoa học; chú trọng
Việt hóa thành tựu cách mạng công nghiệp 4.0
đang diễn ra hiện nay (như Số hóa, Dữ liệu lớn
(Big Data), Artificial Intelligence (Trí tuệ nhân
tạo), Robot hóa, Internet of Things (Siêu kết nối
vạn vật)...) để sớm có Trí Việt 4.0 đủ sức hướng
dẫn kiến tạo thành công quốc gia khởi nghiệp
4.0 sánh vai với các cường quốc phát triển công
nghiệp 4.0 trên thế giới đương đại. Ngoài ra, Việt
Nam hóa Trí Việt còn có nghĩa là người Việt,
cộng đồng Việt, Nhà nước Việt tích cực, chủ động
tuyên truyền, quảng bá tinh hoa Trí Việt ra khắp
thế giới xung quanh.
3. Kết luận
Trí Việt và Tam hóa tác động lẫn nhau theo
phương thức “Nước lên Thuyền nổi”: Trí Việt sáng
suốt sẽ chỉ đạo Tam hóa (tức là, Hiện đại hóa, Việt
Nam hóa, và Lành mạnh hóa) thành công tốt đẹp,
hiệu quả; Tam hóa Trí Việt thành công sẽ làm cho
Trí Việt phát triển lành mạnh và bền vững./.
Ghi chú:
(3) Lành mạnh hóa Trí Việt đương đại: Lành
mạnh hóa là quá trình chuyển hóa từ tình trạng
không hoặc thiếu lành mạnh sang lành mạnh. Lành
mạnh hóa Trí Việt đương đại bao gồm 3 bước cơ
bản sau:
c Cho đến nay đã thành lập và đi vào hoạt
động các Trung tâm sau đây:
Trung tâm Khoa học Tư duy (Centre for
Thinking Science, CTS): Giám đốc ThS. DN.
Chuyên gia kiến tạo Trí Việt 4.0 Henry Nguyễn
Hữu Thái Hòa.
(3.1) Cải tiến Trí Việt đương đại: Phát huy
thành tựu đổi mới Trí Việt nhằm khắc phục khủng
hoảng kinh tế - xã hội do mô hình xây dựng chủ
nghĩa xã hội kiểu cũ gây ra trong những thập niên
70-90 của thế kỷ XX, đồng thời giải quyết tốt những
vấn đề mới nảy sinh khi chuyển sang mô hình xây
dựng chủ nghĩa xã hội kiểu mới, bắt đầu từ cuối
thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Chú trọng “Giảm 3Đ”,
tức là: giảm trí đóng (kín), giảm trí (tất) định, giảm
trí đặc (cứng) và đồng thời “Tăng 3M”, tức là: tăng
trí mở, tăng trí mờ, tăng trí mềm.
Trung tâm Trí Việt học (Centre for Viet
Mind Studies, CVMS): Giám đốc PGS,TS. Đặng
Quốc Bảo.
Trung tâm Triết học (Centre for Philosophy,
CPh): Giám đốc TS. Phạm Huy Thông.
Trung tâm Đạo học (Centre for Taology, CTa):
Giám đốc GS,TS. Công Nghĩa Tụ.
Trung tâm Xã hội học (Centre for Sociology,
CSo): Giám đốc TS. Nguyễn Tuấn Minh.
Trung tâm Giáo dục học (Centre for
Education Studies, CES): Giám đốc PGS,TS.
Phạm Minh Giản.
(3.2) Cải cách Trí Việt đương đại: Tái cấu
trúc cơ sở Trí Việt đương đại. Chú trọng chống ba
“Trí” phản nhân văn, tức là: chống trí điên, chống
trí đểu, chống trí độc; và đồng thời xây tam “Trí”
Trung tâm Phát triển Trí Việt (Centre for Viet
8
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 42 (02-2020)
Mind Development, CVMD): Giám đốc NNC.
Chuyên gia Tiến hóa luận Đặng Hữu Hưng.
e Xem thêm: Edgar Morin, 2008. Phương
pháp 4. Tư tưởng. Nơi cư trú, cuộc sống, tập tính,
tổ chức của tư tưởng. La Méthode 4. Les Idées. Leur
habitat, leur vie, leurs moeurs, leur organisation.
NXB ĐHQG Hà Nội. Phần thứ ba: Tổ chức của tư
tưởng (Trí học), trang 323-499. Theo quan niệm
của E. Morin thì Trí học (Noology) bao gồm 3 bộ
phận cơ bản: (1) Ngôn ngữ và Ngôn ngữ học, (2)
Lý tính và Logic học, và (3) Tư duy hậu kỳ (Chuẩn
thức học). Thuật ngữ “Chuẩn thức học” được dịch
từ tiếng Anh là “Paradigmatology”, chúng tôi dịch
là “Khung mẫu học”. Thực ra, Noology là Trí học
theo nghĩa bộ môn đơn - chuyên ngành; ngoài ra,
còn có Mind Studies là Trí học theo nghĩa bộ môn
liên - xuyên ngành. Chúng tôi cho rằng Trí học
theo nghĩa đầy đủ sẽ bao gồm 5 cấp độ/thành phần
cơ bản sau: (1) Học Trí (Learning of Mind), tức là
học hỏi, học hiểu, học tập, học hành Trí; (2) Trí ký
(Mindography), tức là ghi chép về Trí; (3) Trí học
đơn - chuyên ngành (Noology), (4) Trí học liên
- xuyên ngành (Mind Studies), (5) Ứng dụng Trí
học đơn - chuyên ngành (Application of Noology/
Mind Studies).
Trung tâm Truyền thông Trí Việt (Centre for
Viet Mind Communication, CVMC): Giám đốc
DN.CEO Vũ Thị Mai.
Trung tâm Khởi nghiệp Trí Việt 4.0 (Centre
for Viet Mind Start up 4.0, CVMS 4.0): Giám đốc
DN.ThS. Lê Thị Dung.
Trung tâm Sức khỏe Việt (Centre for Viet
Health, CVH): Giám đốc BS. TS. Y tế cộng đồng
Lê Thị Kim Dung.
Trung tâm hướng nghiệp (Centre for
Professional Orientation, CPO): Giám đốc GS,TS.
Tô Duy Hợp, Phó Giám đốc điều hành CN. Luật
Nguyễn Thành Văn.
d Trong lý luận và thực tiễn, khoa học và đời
sống đương đại, người ta nói và viết rất nhiều về
phát triển, thậm chí có tình trạng ngộ nhận hoặc
cố tình nhầm lẫn giữa phát triển (development)
và tăng trưởng (growth) ở cấp làm chiến lược
phát triển của Chính phủ, và các bộ, ban, ngành...
Người ta cũng nói và viết nhiều về các quan điểm
phát triển kiểu mới, như quan điểm phát triển
toàn diện (all-round development, comprehensive
development perspective), quan điểm phát triển hài
hòa (harmonious development perspective), quan
điểm phát triển bền vững (sustainable development
perspective). Chúng tôi đề xuất quan điểm tổng-tích
hợp hạt nhân hợp lý, hợp tình của các quan điểm
phát triển nêu trên và gọi chung là quan điểm phát
triển lành mạnh (healthy development perspective),
cho rằng sự phát triển lành mạnh là sự phát triển
toàn diện, hài hòa, bền vững. Một cách tương ứng,
phát triển Trí Việt phải là phát triển lành mạnh Trí
Việt, nghĩa là phát triển toàn diện, hài hòa, bền
vững Trí Việt.
f Xem thêm: Edgar Morin, 2008. Phương
pháp 4. Tư tưởng. Nơi cư trú, cuộc sống, tập tính,
tổ chức của tư tưởng. La Méthode 4. Les Idées. Leur
habitat, leur vie, leurs moeurs, leur organisation.
NXB ĐHQG Hà Nội. Phần thứ hai: Cuộc sống
của tư tưởng (Trí quyển), trang 221-322. Theo E.
Morin thì từ Sinh quyển (Biosphere) trồi lên Nhân
quyển (Anthroposphere), và trong Nhân quyển thì
từ Tâm lý quyển (Psychosphere) và Xã hội quyển
(Sociosphere) trồi lên Trí quyển (Noosphere). Trí
quyển là Quyển lý tính, tinh thần với các “Cư
dân” tiêu biểu là Tri thức khách quan (Objective
Knowledge), Thông tin (Information).
VIET MIND AND THREE TRANSFORMATIONS
FRAMEWORK OF CONCEPT AND ACTION
Abstract
The issue “Viet Mind and Three Transformations” is to be identified by vertifying the key terms
of “Viet Mind” and “Three Transformations”, followed by necessiating the construction of Viet Mind
Studies and Three Transformations of Viet Mind, i.e. Modernization, Vietnamization, Healthilizaton of
current Viet Mind.
Keywords: Three Transformations, Viet Mind.
9
Bạn đang xem tài liệu "Trí Việt và Tam hóa - Khung khái niệm và thao tác", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tri_viet_va_tam_hoa_khung_khai_niem_va_thao_tac.pdf

