Ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật trong quy trình chăn nuôi gà tại nông hộ ở xã Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ KỸ THUẬT TRONG QUY  
TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ TẠI NÔNG HỘ Ở XÃ THẠCH GIÁM,  
HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN.  
Ths. Nguyễn Thị Hoa  
Trưởng bộ môn chăn nuôi thú y  
nuôi gia cầm phục vụ nhu cầu về  
thực phẩm, tiêu thụ trên thị trường,  
đóng vai trò quan trọng trong việc  
binh ổn nguồn thực phẩm trong  
nước. Vấn đề đặt ra hiện nay cho  
ngành chăn nuôi gia cầm là phải  
làm thế nào để mở rộng quy mô  
chăn nuôi phục vụ cho nhu cầu  
xuất khẩu. Do đó, việc mở rộng  
phát triển chăn nuôi trang trại với  
quy mô lớn , vừa và nhỏ trong  
những năm gần đây đã trở thành  
mục tiêu phấn đấu của nhiều địa  
phương trong cả nước.  
Nghệ An là một trong những  
địa phương có phong trào phát  
triển chăn nuôi gia cầm theo mô  
hình trang trại công nghiệp, bán  
công nghiệp và chăn nuôi gia đình,  
với mục tiêu phát triển nâng cao  
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi  
gia cầm. Trong thực tế nhiều năm  
qua và trong các thí nghiệm gần  
đây cho thấy khâu có ý nghĩa quyết  
định đến hiệu quả chăn nuôi gà là  
kỹ thuật nuôi gà con (úm gà con).  
Để lựa chọn phương pháp thích  
hợp nhằm khuyến cáo cho người  
chăn nuôi và đảm bảo cho sự thành  
công khi đưa các giống gà mới vào  
sản xuất đăc biệt là ở miền núi  
chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh  
hưởng của một số yếu tố kỹ thuật  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là  
chăn nuôi gà thịt đang là xu hướng  
phát triển mạnh của nhiều quốc gia  
trên thế giới nhằm tăng thu nhập  
của ngành Chăn nuôi, đồng thời  
cung cấp thịt cho thị trường tiêu  
thụ. Theo thống kê của tổ chức  
nông lương liên hiệp quốc (PAO),  
năm 2005 sản lượng thịt gia cầm  
trên thế giới đạt mức 88 triệu tấn.  
Đây là mức độ tăng trưởng cao  
nhất so với mức tăng của các loại  
thịt. Giá thịt gà trên thế giới có xu  
hướng giảm và thấp hơn các loại  
thịt khác năm 1990 giá thịt gà chỉ  
bằng 29,2% so với giá thịt lợn và  
bằng 31.76% so với giá thịt của đại  
gia súc.  
Các tiến bộ khoa học kỹ thuật  
được nghiên cứu và ứng dụng một  
cách rộng rãi, nhanh chóng trong  
chăn nuôi gia cầm. Các phương  
thức chăn nuôi gia cầm cũng thay  
đổi từ phương thức chăn nuôi nông  
nghiệp chuyển sang phương thức  
chăn nuôi công nghiệp với số  
lượng lớn. Do đó cuối năm 2010  
sản xuất thịt gia cầm là tăng trưởng  
lớn nhất khu vực và trên thế giới,  
chăn nuôi gia cầm là ngành mang  
lại nhiều lợi ích thiết thực cho các  
hộ nông dân. Sản phẩm của chăn  
trong quy trình chăn nuôi gà tại  
nông hộ”  
điện hoặc dùng lửa để nâng nhiệt  
độ  
- Đối với mùa nóng những ngày  
nhiệt độ cao chúng tôi dùng quạt  
điện để làm mát đồng thời tạo môi  
trường chuồng nuôi thông thoáng  
2.4. Chỉ tiêu theo dõi  
Để nghiên cứu hai nội dung trên  
chúng tôi tiến hành theo dõi các chỉ  
tiêu sau:  
2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu  
trên giống gà Lương Phượng và gà  
lai Cỏ Mía từ 1 ngày tuổi đến 8  
tuần tuổi.nuôi trong điều kiện nông  
hộ tại bản Khe Chi, xã Thạch  
Giám, huyện Tương Dương, tỉnh  
Nghệ An.  
- Theo dõi nhiệt độ chuồng nuôi  
ở các tuần tuổi.  
Thời gian nghiên cứu: 2/3/2014  
đến 5/5/2014  
2.2. Nội dung nghiên cứu  
- Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các  
tuần tuổi được theo dõi ghi chép  
hàng ngày số gà chết đồng thời tiến  
hành tổng hợp số liệu vào lúc 4 tuần  
tuổi và 8 tuần tuổi.  
-. Tiêu tốn thức ăn cho gà qua  
các tuần tuổi, để theo dõi chỉ tiêu  
này thì ngày đầu tuần chúng tôi tiến  
hành cân lượng thức ăn cho đàn gà  
ăn theo nhu cầu trên cơ sở đó chúng  
tôi định lượng thức ăn cho cả tuần  
và cứ một tuần chúng tôi điều chỉnh  
thức ăn một lần.  
- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng  
được tính toán dựa trên lượng thức  
ăn, ăn vào và mức tăng trọng của  
gà.  
- Theo dõi quá trình sinh trưởng  
đàn gà được đánh giá qua thể trọng  
của gà cân theo nhóm lúc một ngày  
tuổi và một tuần tuổi sau đó cân  
theo cá thể lúc 2, 3, 4, 6, 8 tuần  
tuổi bằng cách cân ngẫu nhiên mỗi  
đàn 20 con vào buổi sáng trước khi  
cho gà ăn. Tính giá trị trung bình  
qua các tuần tuổi.  
- Xác định khả năng sinh  
trưởng, tiêu tốn thức ăn của gà ở  
hai phương thức nuôi (trên chuồng  
lưới và trên nền có lót trấu truyền  
thống).  
- Ảnh hưởng của nhiệt độ  
chuồng nuôi đến sinh trưởng phát  
triển của gà.  
2.3. Bố trí thí nghiệm  
Gà Lương Phượng và gà lai Cỏ  
Mía được chọn từ một ngày tuổi,  
khỏe mạnh, mỗi nhóm gà 200  
con/đợt, phân lô nuôi trong các  
nông hộ theo hai phương thức nuôi  
trên lồng lưới và nuôi trên nền lót  
trấu. Quy trình thú y, nuôi dưỡng,  
chăm sóc như nhau cho cả hai đợt  
nuôi và trong các hộ theo hai  
phương thức nuôi. Để điều chỉnh  
nhiệt độ chuồng nuôi phù hợp với  
phương thức nuôi chúng tôi dùng  
phương pháp sau.  
- Đối với mùa lạnh ngày nhiệt  
độ quá thấp chúng tôi dùng bóng  
2.5. Xử lý số liệu  
Số liệu thu thập được xử lý theo  
phương pháp thống kê sinh vật học  
trên phần mềm Excel 2007.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Nhiệt độ chuồng nuôi ở các  
tuần tuổi  
thực tế đó chúng tôi đi sâu nghiên  
cứu chế độ nhiệt thích hợp cho gà  
con 1-4 tuần tuổi nhằm đưa ra một  
mức nhiệt độ chấp nhận được trong  
chăn nuôi gà con mà không ảnh  
hưởng đến sức sống và sinh trưởng  
của gà.  
Trong quá trinh úm gà con,  
các yếu tố môi trường: nhiệt độ, ẩm  
độ chuồng nuôi độ thông thoáng  
khí có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ  
sống và sức sinh trưởng của gà.  
Trong điều kiện chăn nuôi gia đình,  
các yếu tố nêu trên rất khó khống  
chế. Trong các yếu tố môi trường,  
nhiệt độ chuồng nuôi luôn là mối  
quan tâm hàng đầu bởi vì yêu cầu  
nhiệt độ trong chăn nuôi hiện tại  
cho gà con rất cao (36-370C trong  
tuần đầu, sau đó mỗi tuần giảm 1-  
20C đến khi 8 tuần tuổi là 20-  
220C). Với yêu cầu nhiệt độ  
chuồng nuôi trên đây rất khó áp  
dụng trong chăn nuôi gia đình nhất  
là các vùng nông thôn không chủ  
động về điện như ở một số địa bàn  
của huyện Tương Dương. Trước  
Trong tháng 3/2014 chúng  
tôi tiến hành 2 đợt nuôi gà con  
giống gà Lương Phượng và gà lai  
Cỏ Mía tại bản Khe Chi với điều  
kiện nhiệt độ chuồng nuôi chúng  
tôi được khống chế, điều chỉnh ở  
mức thích hợp bằng cách những  
ngày nhiệt độ ngoài trời thấp hơn  
yêu cầu thì chúng tôi dùng bóng  
điện đồng thời dùng rèm che chắn  
gió để nâng nhiệt độ, những ngày  
nhiệt độ ngoài trời cao hơn yêu cầu  
thì chúng tôi dùng quạt điện để làm  
mát. Kết quả các số liệu về nhiệt độ  
chuồng nuôi được thể hiện ở bảng  
1
Bảng 1: Nhiệt độ chuồng nuôi gà  
con (0C)  
Đợt 1  
X ± mx  
Đợt 2  
X ± mx  
Tuần tuổi  
CV (%)  
CV (%)  
1
2
3
4
31,68 ± 0,13 2,03  
29,96 ± 0,23 3,87  
27,50 ± 0,12 3,48  
25,36 ± 0,30 5,06  
27,75 ± 0,35 3,76  
31,23 ± 0,47 6,65  
28,60 ± 0,36 4,72  
26,78 ± 0,28 4,57  
24,68 ± 0,54 6,58  
28,41 ± 0,35 2,23  
5 - 8  
Trong điều kiện nhiệt độ  
chuồng nuôi được khống chế, điều  
chỉnh ở mức thích hợp như đã trình  
bày trong bảng 1. Chúng tôi tiến  
hành theo dõi tỷ lệ nuôi sống của  
gà qua các tuần tuổi theo các  
phương thức nuôi khác nhau.  
3.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà  
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm  
trên giống gà Lương phương và gà  
lai cỏ Mía, mỗi giống được bố trí  
theo hai phương thức khác nhau,  
trong đó 50% số gà của mỗi giống  
bố trí nuôi trên lồng chuồng có lưới  
và 50% bố trí nuôi trên nền có lót  
trấu theo phương thức nuôi truyền  
thống. Kết quả về tỷ lệ nuôi sống  
của giống gà Lương Phượng và gà  
lai Cỏ Mía được trình bày ở bảng 2  
và bảng 3  
Bảng 2: Tỷ lệ nuôi sống của gà Lương Phượng nuôi theo các phương thức  
khác nhau  
Số lượng gà nuôi (con) Tỷ lệ nuôi sống (%)  
Thí  
nghiệm  
8
Phương thức nuôi  
Nuôi trên lồng lưới  
Nuôi trên nền lót trấu 100  
Nuôi trên lồng lưới 100  
Nuôi trên nền lót trấu 100  
1 ngày 4 tuần  
5-8  
tuần  
1-8  
tuần  
tuần 1-4 tuần  
tuổi  
92  
89  
91  
89  
tuổi  
tuổi  
100  
95  
93  
94  
92  
95,00  
93,00  
94,00  
92,00  
96,84  
95,69  
96,80  
96,73  
92,00  
89,00  
91,00  
89,00  
Thí  
nghiệm 1  
Thí  
nghiệm 2  
Bảng 3: Tỷ lệ nuôi sống của gà lai cỏ Mía nuôi theo các phương thức khác  
nhau  
Số lượng gà nuôi (con) Tỷ lệ nuôi sống (%)  
Thí  
nghiệm  
8
Phương thức nuôi  
1 ngày 4 tuần  
1-4  
tuần  
5-8  
tuần  
1-8  
tuần  
tuần  
tuổi  
96  
90  
95  
tuổi  
tuổi  
Nuôi trên lồng lưới  
Nuôi trên nền lót trấu  
Nuôi trên lồng lưới  
Nuôi trên nền lót trấu  
100  
100  
100  
100  
99  
93  
98  
92  
99,00  
93,00  
98,00  
92,00  
98,96  
96,77  
96,93  
97,82  
96,00  
90,00  
95,00  
90,00  
Thí  
nghiệm 1  
Thí  
nghiệm 2  
90  
Kết quả về tỷ lệ nuôi sống của  
giống gà Lương Phượng và gà lai  
Cỏ Mía ở bảng 2 và bảng 3 cho  
thấy không có sự sai khác giữa các  
giống gà và giữa các đợt nuôi khác  
nhau. Tỷ lệ sống sai khác nhau rõ  
rệt giữa hai phương thức nuôi.  
Nuôi gà con trên lồng cho tỷ lệ  
sống cao hơn trên nền, tỷ lệ sai  
khác rõ rệt nhất là ở giai đoạn gà từ  
1 đến 4 tuần tuổi, như chúng ta đã  
biết đặc điểm của gà ở giai đơạn 1-  
4 tuần tuổi bộ lông chưa phát triển  
đồng thời cấu tạo cũng như chức  
năng của các bộ máy chưa hoàn  
thiện đặc biệt là bộ máy điều tiết  
thân nhiệt do đó dễ chịu sự tác  
động của môi trường đã làm ảnh  
hưởng đến tỷ lệ nuôi sống. Ở gà  
Lương Phượng tính chung cho cả 2  
đợt nuôi, gà nuôi trong chuồng lưới  
có tỷ lệ sống ở 1- 4 tuần tuổi là 94 -  
95%, ở giai đoạn 5 – 8 tuần tuổi là  
96,80 – 96,84%. Trong khi đó gà  
nuôi trên nền có lót trấu (theo  
phương thức truyền thống) tỷ lệ  
sống ở 1 - 4 tuần tuổi là 92 - 93%,  
ở giai đoạn 5 – 8 tuần tuổi là 95,69  
– 96,73 %. Kết quả này cho thấy  
phương thức nuôi trên chuồng lưới  
có ưu điểm hơn vì gà được sống  
trong môi trường có độ ẩm cũng  
như độ thông thoáng tốt hơn tạo  
cho gà có sức đề kháng cao hơn  
cũng như hạn chế được điều kiện  
nhiễm khuẩn  
động từ 1-2%. Kết quả này cũng  
cho ta thấy gà lai Cỏ Mía là giống  
gà có tỷ lệ 50% máu giống gà địa  
phương nên có sự thích nghi và sức  
chống chiụ bệnh tật tốt hơn gà  
Lương Phượng.  
3.3. Tiêu tốn thức ăn cho gà qua  
các tuần tuổi  
Cùng với việc điều chỉnh  
nhiệt độ chuồng nuôi chúng tôi tiến  
hành chăm sóc nuôi dưỡng gà với  
các điều kiện về ngoại cảnh và dinh  
dưỡng như nhau, thức ăn chúng tôi  
sử dụng thức ăn hỗn hợp cho gà từ  
1 đến 8 tuần tuổi. Lượng thức ăn  
tiêu tốn cho gà ở các tuần tuổi  
được trình bày ở bảng 4  
Tỷ lệ nuôi sống ở gà lai cỏ  
Mía đạt cao hơn gà Lương Phượng  
nhưng cũng nằm trong quy luật  
tương tự. Ở 1- 4 tuần tuổi tỷ lệ  
sống 98 – 99% (nuôi lồng) cao hơn  
5-7% so với nuôi nền còn ở 5 – 8  
tuần tuổi sự chênh lệch giữa hai  
phương thức nuôi là ít hơn dao  
Bảng 4; Tiêu tốn thức ăn cho gà qua các tuần tuổi (g Tă/con/ngày)  
Gà Lương Phượng  
Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2 Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2  
Gà lai Cỏ Mía  
Tuần tuổi  
1
2
3
4
5
6
7
8
7,53  
7,40  
7,14  
7,35  
16,98  
32,31  
50,28  
63,68  
67,20  
71,51  
89,70  
15,64  
39,42  
49,51  
60,71  
66,70  
73,11  
85,52  
14,40  
35,85  
45,58  
57,85  
65,67  
70,85  
85,46  
15,20  
35,43  
46,65  
59,87  
66,32  
71,25  
86,57  
Số liệu bảng 4 cho thấy hiệu quả sử  
dụng thức ăn cho gà từ 1 – 8 tuần  
tuổi, lượng ăn vào gữa 2 giống gà  
ở lô thí nghiệm một và hai có sự  
chênh lệch nhưng không đáng kể  
và tăng dần theo thể trọng lớn lên  
của gà, giữa 2 đợt nuôi thì đợt một  
(từ 2/3/2014 đến 28/4/2014) có tiêu  
tốn thức ăn cho một kg tăng trọng  
là cao nhất, ở gà lương Phượng  
(2,59kg), gà lai Cỏ Mía (2,43kg),  
tiếp đến đợt 2 (từ 7/3/2014 đến  
3/5/2014) có mức tiêu tốn ở gà  
Lương Phượng 2,45kg và gà lai cỏ  
Mía 2,41kg. Mức tiêu tốn thức ăn  
trong các đợt nuôi thí nghiệm này  
đều cao hơn tiêu tốn thức ăn cho 1  
kg tăng trọng ở gà Lương Phượng  
(1,78kg) và gà Kabir (1,80kg) các  
kết quả nghiên cứu của Nguyễn  
Đức Hưng (2002) ở Thừa Thiên  
Huế nhưng thấp hơn kết quả  
nghiên cứu của Nguyễn Đức Hưng  
tại thừa Thiên Huế năm 2000 đối  
với giống gà tam hoàng thả vườn  
(2,62kg). Kết quả này cho thấy đợt  
thí nghiệm một tiêu tốn thức ăn  
hơn đợt thí nghiệm 2 là vỉ theo  
chúng tôi được biết thời tiết của  
đợt thí nghiệm một có những ngày  
rất rét. Tuy nhiên, nhiệt độ chuồng  
nuôi được chúng tôi điều chỉnh  
song cũng không thể tránh khỏi sự  
ảnh hưởng của điều kiện ngoại  
cảnh làm cho tiêu tốn thức ăn/kg  
tăng trọng được tăng lên.  
3.4. Thể trọng gà qua các tuần  
tuổi  
Hiệu quả của việc điều chỉnh  
nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp  
cũng như việc sử dụng thức ăn cho  
gà được đánh giá qua chỉ tiêu sinh  
trưởng của đàn gà. Vì vậy, chúng  
tôi tiến hành theo dõi thể trọng của  
gà qua các tuần tuổi kết quả được  
trình bày ở bảng 5  
Bảng 5: Thể trọng gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g/con)  
Gà Lương Phượng  
Gà lai cỏ Mía  
X ± mx  
Tuần tuổi  
X ± mx  
CV (%)  
CV (%)  
SS  
1
2
3
4
43  
41  
95,91 ± 1,24  
189,57 ± 3,26  
361,15 ± 5,34  
586,32 ± 7,56  
13,45  
14,09  
13,25  
15,45  
92,57 ± 1,75  
208,43 ± 4,16  
353,43 ± 6,27  
518,00 ± 6,80  
9,45  
16,45  
14,55  
15,38  
6
867,25 ± 16,45 15,57  
895,14 ± 16,70 16,42  
1323,57  
17,57  
±
1314,86  
22,57  
±
8
13,24  
14,32  
Kết quả thu được ở bảng 5 cho thấy,  
gà các lô thí nghiệm đều phát triển  
sinh trưởng bình thường, lúc 1 tuần  
tuổi thể trọng gà lại cỏ mía  
95,57g/con gà lương phượng  
95,91g/con điều này hoàn toàn phù  
hợp vì ngay trọng lượng sơ sinh gà  
lương phượng cũng lớn hơn gà lai cỏ  
mía 2g/con, lúc 4 tuần tuổi gà Lương  
phượng đạt thể trọng 586,32g/con gà  
lai cỏ mía 518,00g/con và lúc 8 tuần  
tuổi thể trọng đạt từ 1314 –  
1323g/con. Sự sai khác trọng lượng  
gà giữa các lô ở các tuần tuổi là  
không lớn. Điều này nói lên rằng  
điều kiện môi trường sống trong đó  
có nhiệt độ chuồng nuôi đưa ra trong  
thí nghiệm là phù hợp. Giúp gà con  
sinh trưởng phát dục tốt trong giai  
đoạn 0 – 8 tuần tuổi.  
4.KẾT LUẬN  
- Nuôi gà con giống Lương  
Phượng và giống lai cỏ Mía từ 0 – 4  
tuần tuổi ở mức nhiệt độ chuồng  
nuôi thấp hơn quy trình hiện hành 1  
– 20C tương ứng ở các tuần tuổi  
không ảnh hưởng đến sức sống, sinh  
trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn  
của gà.  
4. Lê Đức Ngoan(2002), Giáo  
trình Dinh dưỡng và Thức ăn,  
NXB Nông Nghiệp, Hà Nội.  
5. Viện chăn nuôi. Trung tâm  
nghiên cứu gia cầm Thụy  
Phương(2002), Hướng dẫn kỹ  
thuật nuôi gà KaBir, NXB  
Nông thôn, Hà Nội.  
- Kết quả theo dõi về tỷ lệ  
nuôi sồng của giống gà Lương  
Phượng và gà lai Cỏ Mía không có  
sự sai khác giữa các giống mà tỷ lệ  
nuôi sống sai khác nhau rõ rệt giữa  
hai phương thức nuôi, nuôi gà trên  
lồng có tỷ lệ sống cao hơn phương  
thức nuôi trền nền có lót trấu  
“phương thức nuôi truyền thống”  
- Kết quả theo dõi về tiêu tốn  
thức ăn (g/con/ngày) giữa hai giống  
gà và hai phương thức nuôi cho thấy  
mức tiêu tốn thức ăn ở các tuần tuổi  
có sư chênh lệch không đáng kể.  
Tuần thứ nhất: 7,14 – 7,53; tuần thứ  
hai: 14,4 – 16,98; tuần thứ ba: 32,31  
– 39,42; tuần thứ tư: 45,58 – 50,28;  
tuần thứ năm: 57,85 – 63,68; tuần  
thứ sáu: 65,67 – 67,20; tuần thứ bảy:  
70,85 – 73,81 và tuần thứ tám: 85,46  
– 89,70.  
- Thể trọng gà qua các tuần  
tuổi giữa giống gà Lương Phượng và  
gà lai Cỏ Mía ở các phương thức  
nuôi không có sự sai khác đáng tin  
cậy. Lúc 8 tuần tuổi gà lượng  
Phượng đạt 1323,57g/con và gà lai  
cỏ Mía 1314.86 g/con.  
Tài liệu tham khảo  
1. Nguyễn Đức Hưng(2006),  
Giáo trinh chăn nuôi gia cầm,  
NXB Nông nghiệp, Hà Nội .  
2. Nguyễn Mạnh Hùng – Hoàng  
Thành(1994), Giáo trình chăn  
nuôi gia cầm, NXB Nông  
nghiệp, Hà Nội.  
3. Nguyễn Hữu Vũ - Nguyễn  
Đức Lưu(2001), Bí quyết  
thành công trong chăn nuôi  
gà, NXB Nông Nghiệp, Hà  
Nội.  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 16180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật trong quy trình chăn nuôi gà tại nông hộ ở xã Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_mot_so_yeu_to_ky_thuat_trong_quy_trinh_chan_nu.pdf