Tình hình lưu hành mầm bệnh và miễn dịch với virus gây bệnh Gumboro ở gà trên một số địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong mùa Xuân-Hè năm 2011

33  
Tình hình lƣu hành mầm bệnh và miễn dịch với virus gây bệnh Gumboro ở  
gà trên một số địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong mùa Xuân-Hè năm 2011  
Phạm Hồng Sơn, Phạm Thị Hồng Hà, Trịnh Công Chiến, Bùi Thị Hiền  
Trường Đại học Nông Lâm Huế  
TÓM TẮT  
Sử dụng phương pháp trắc định xê lệch ngưng kết gián tiếp chuẩn (SSIA) để xét nghiệm  
các mẫu phân và dịch họng gà lấy từ gà giết mổ và gà nuôi tại các trung tâm ở một số huyện  
thuộc ba vùng khác nhau của tỉnh Thừa Thiên Huế trong mùa Xuân-Hè năm 2011 kết quả là đã  
xác định được tỉ lệ nhiễm virut Gumboro ở phân gà xấp xỉ bằng 36%, dao động từ 30% (huyện  
Hương Thủy) đến 46% (huyện A Lưới), trong khi đó ở dịch họng gà tỷ lệ nhiễm virut Gumboro  
là 30%, dao động từ 21% (huyện HươngThủy) đến 43% (huyện A Lưới). Tuy nhiên, tỉ lệ nhiễm  
virut này giữa các vùng không có sự sai khác cóý nghĩa. thống kê. Mặt khác, mẫu phân cho kết  
quả phát hiện kháng nguyên Gumboro cao hơn so với mẫu dịch họng nhưng sai khác này cũng  
không có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, để xét nghiệm chẩn đoán phát hiện kháng nguyên Gumboro  
thì có thể sử dụng cả hai loại bệnh phẩm, nhưng mẫu phân có ưu điểm là dễ thu hơn và độ nhạy  
phát hiện kháng nguyên Gumboro cao hơn. Kết quả xét nghiệm với phản ứng ngưng kết hồng  
cầu gián tiếp (IHA) từ những mẫu huyết thanh gà giết mổ cho thấy tỉ lệ phát hiện kháng nguyên  
này thấp, chi vào khoảng 20%, số gà có kháng thể chống virut Gumboro với hiệu giá trung bình  
nhân (GMT) là khá thấp, chỉ vào khoảng 1,54. Vì vậy, khả năng phát sinh dịch Gumboro ở gà  
tại chỗ vẫn ở mức độ cao.  
Từ khóa:, Gà, Bệnh Gumboro, , Phương pháp SSIA, Tỷ lệ nhiễm, Thừa Thiên- Huế,  
Prevalence of Gumboro virus and immune from Gumboro virus in chickens  
in some areas of Thua Thien- Hue province during Spring-Summer 2011  
Phạm Hồng Sơn, Phạm Thị Hồng Hà, Trịnh Công Chiến, Bùi Thị Hiền  
SUMMARY  
Using the method of shifting assay of standardized indirect agglutination (SSIA) for  
testing samples of chicken feces and tonsil swab supernatant liquids collecting from slaughtered  
and live chickens at some districts of Thua Thien Hue province in the Spring-Summer season of  
2011 indicated that ratio of Gumboro virus infection in chicken feces was approximate 36%,  
fluctuating from 30% (Huong Thuy district) to 46% (A Luoi district), meanwhile in tonsil  
liquids Gumboro virus infection ratio was 30%, fluctuating from 21% (in Huong Thuy district)  
to 43% (in A Luoi district); However, the ratio of this virus infection in the areas was not  
statistically significant difference. The tests also showed that the fecal samples given result of  
antigen detection was higher compared to tonsil samples, but there was not statistically  
significant difference either. Therefore , both samples (fecal and tonsil liquid samples) could be  
used for diagnosis/detection of Gumboro antigen. However, fecal sample was better than tonsil  
liquid sample due to easy collection and higher sensitive in detecting Gumboro antigen. .  
Besides, with the technique of indirect haemagglutination (IHA), testing results also indicated  
that ratio of Gumboro antigen detection from samples of chicken serum was low, accounting for  
20% of the tested chickens having antibody against Gumboro virus with low geometric mean  
titre (GMT) of 1.54. Therefore, the possibility of Gumboro disease outbreak in the local  
chickens was still high.  
Key words: Chickens, Gumboro Disease, Prevalence, SSIA, Thua Thien-Hue province  
33  
34  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bệnh Gumboro hay bệnh viêm túi Fabricius truyền nhiễm (Infectious bursal disease),  
do Birnavirut thuộc họ Birnaviridae gây ra, được phát hiện năm 1962 tại một trại gà ở làng  
Gumboro, bang Delaware, Mỹ, bởi Cosgrove (1962). Bệnh này sau đó còn thấy ở châu Âu,  
châu Á, châu Phi, Nam Mỹ và trở thành vấn đề của toàn thế giới. Ở nước ta, bệnh đã xảy ra ở  
khắp nơi và diễn biến ngày càng phức tạp hơn cùng với sự phát triển chăn nuôi gà công  
nghiệp. Vào các năm 1987 - 1993 bệnh phát triển rất mạnh gây chết nhiều gà. Ngoài tác hại  
trên đàn gà công nghiệp, bệnh Gumboro đã còn xuất hiện trên đàn gà Ri Việt Nam. Gà ta nuôi  
theo phương thức bán công nghiệp cũng mắc bệnh, trên nhiều đàn tỉ lệ chết lên đến 20 - 25%.  
Gà công nghiệp có tỉ lệ mắc bệnh rất cao. Có khả năng bệnh này còn lây lan tiếp nữa nếu  
không được đầu tư nghiên cứu để có biện pháp phòng chống thích đáng (Nguyễn Tiến Dũng,  
1996). Tuy có nhiều phương pháp tổng hợp đã được áp dụng để phòng chống, kể cả chương  
trình tiêm vacxin, các nghiên cứu về vacxin nhược độc, vacxin sống nhập nội nuôi cấy trên tế  
bào (Lê Thanh Hoà, 1992) thử nghiệm một số vacxin ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Dũng et al.,  
1993), tạo vacxin vô hoạt nhũ dầu v.v (Đái Duy Ban et al., 1996)... nhưng bệnh Gumboro vẫn  
là một trong những bệnh có tỉ lệ nhiễm cao. Tỉ lệ đàn gà nhiễm bệnh này năm 1989 là 19,2%  
nhưng đến năm 1995 tăng lên 90,3% trong tổng số đàn gà được kiểm tra (Phương Song Liên,  
1996), hoặc đến 56,9% (Lê Văn Năm, 1997). Bệnh Gumboro là nguyên nhân chính làm thất  
bại các chương trình chủng ngừa nhiều bệnh truyền nhiễm khác (Nguyễn Như Thanh, 1996).  
Nguyên nhân mầm bệnh Gumboro có mặt tại Việt Nam và bùng nổ mạnh trong vòng 20 năm  
qua được cho là do nhập gà giống tàng trữ virut từ các nước khác nhau. Quần thể virut gây  
bệnh Gumboro tại Việt Nam rất đa dạng và lẫn tạp nhiều chủng loại khác nhau của nhiều  
vùng địa lý trên thế giới (Nguyễn Tiến Dũng, 1989; Lê Thanh Hoà, 2003).  
Tuy nhiên, theo chúng tôi, từ khi xâm nhập vào nước ta, bệnh Gumboro gây chết với tỉ  
lệ không cao ở gà địa phương làm cho mầm bệnh duy trì được trong những đàn gà này, khi có  
sự du nhập đàn mới, đặc biệt là những đàn gà công nghiệp, khi không có biện pháp nuôi cách li  
hoàn toàn và phòng ngừa thích hợp, bệnh lại bùng phát thành dịch và gây chết ở qui mô lớn. Vì  
vậy, nắm được tình hình cảm nhiễm bệnh này ở đàn gà nuôi thả, đặc biệt là gà giống địa  
phương nuôi thả rông ở qui mô gia đình tại các địa phương, phát hiện những “ổ dịch” là việc  
làm rất cần thiết. Trên cơ sở phương pháp xét nghiệm chẩn đoán SSIA (trắc định xê lệch ngưng  
kết gián tiếp chuẩn) đã áp dụng đối với bệnh cúm gia cầm trước đây (Phạm Hồng Sơn, 2009),  
trước nhu cầu tìm biết tình hình mang trùng Gumboro ở gà và đánh giá tình hình miễn dịch  
phòng bệnh, chúng tôi nghiên cứu “Tình hình lưu hành mầm bệnh và miễn dịch chống virut  
bệnh Gumboro ở gà trên một số địa bàn thuộc Thừa Thiên Huế”.  
II. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP  
2.1 Nguyên liệu  
Mẫu xét nghiệm kháng nguyên virut là phân và dịch họng gà, được lấy từ các lò mổ  
gia cầm, gia cầm giết mổ ở chợ đã được biết nguồn gốc tại chỗ và gà nuôi tại các hộ quanh  
vùng trung tâm huyện lị thuộc ba vùng lưu thông của Thừa Thiên Huế là A Lưới, Nam Đông  
( miền núi) và ba huyện khác thuộc khu vực liền kề thành phố Huế ( Hương Thủy, Hương Trà  
và Phú Vang), với chỉ định từ mỗi huyện lấy từ 30 - 40 mẫu cá thể, trong đó một nửa là từ gà  
đã đạt tuổi giết mổ, nửa còn lại từ gà đang được nuôi tại địa phương xung quanh chợ hoặc nơi  
giết mổ.  
2.2 Phƣơng pháp  
- Chế kháng huyết thanh chuẩn:  
Kháng huyết thanh đặc hiệu virut Gumboro được tạo bằng cách tiêm vacxin Gumboro  
dưới da cho thỏ trưởng thành, khối lượng mỗi con khoảng 1,5 kg trở lên, ba lần liên tiếp. Lần  
đầu mỗi con 0,7 ml (ứng với liều chỉ định theo thể trọng ở gà), lần thứ hai 1,5 ml sau lần thứ  
34  
35  
hai 4 tuần, lần thứ ba 1,5 ml sau lần thứ hai 7 ngày. Lấy máu thỏ để thu kháng huyết  
thanh Gumboro sau 10 ngày kể từ sau lần tiêm thứ ba.. Kiểm tra hàm lượng kháng thể  
bằng phản ứng IHA với hồng cầu gắn kháng nguyên Gumboro.  
-Chế kháng nguyên hồng cầu gắn virut Gumboro (kháng nguyên IHA):  
Hồng cầu ngan được rửa ba lần bằng dung dịch sinh lí muối (NaCl 0,85%),  
được Lasota hóa, formalin hóa và tannin hóa trong các dung dịch sinh lí đệm  
phosphate (PBS) có pH thích hợp. Sau đó cho hồng cầu đã tannin hóa gắn kháng  
nguyên virut vacxin Gumboro và kiểm tra phản ứng chìm tự nhiên để loại bỏ trường  
hợp ngưng kết giả cũng như thực hiện phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp (IHA)  
xác định hiệu giá kháng thể trong kháng huyết thanh.  
-Phản ứng trắc định xê lệch ngưng kết chuẩn gián tiếp (SSIA):  
-
Trình tự các bước được thể hiện ở bảng A.  
Bảng A. Các bước phản ứng trắc định xê lệch ngưng kết chuẩn gián tiếp (SSIA)  
Lỗ khay của mỗi dãy số  
Nguyên liệu ở các bƣớc  
1
2
3
4
5
6
7
8
Nước sinh lý (µl)  
Dịch phân hoặc họng  
(µl)  
Kháng huyết thanh thỏ  
đặc hiệu virut bệnh  
Gumboro hiệu giá 16  
IHA (µl)  
50/-*  
50  
50  
50  
50  
50  
50  
50  
-/50**  
50  
-
-
-
-
-
-
-
Trộn và chuyển 50 µl từ một lỗ sang lỗ kế tiếp bên phải.  
Hút bỏ 50 µl khỏi lỗ 8 sau khi trộn xong..  
Huyền dịch 1% hồng cầu  
gắn virut Gumboro (µl)  
50  
50  
50  
50  
50  
50  
50  
50  
Đọc kết quả sau 15 - 120 phút khi ở dãy chuẩn thể hiện rõ 4log2  
Ghi chú: *50 µl nước sinh lí ở lỗ đầu của chỉ dãy chuẩn; **50 µl dịch bệnh phẩm chỉ có ở các  
dãy kiểm. Mỗi khay 96 lỗ có 1 dãy làm đối chứng, 11 dãy (đều 8 lỗ) làm phản ứng kiểm tra  
mẫu.  
Đọc kết quả: Dãy chuẩn có ngưng kết ở các lỗ thứ nhất đến thứ tư, không  
ngưng kết ở các lỗ còn lại, và làm chuẩn để đọc các dãy mẫu kiểm. Có thể có trường  
hợp 3 lỗ đầu hoặc 5 lỗ đầu của dãy chuẩn có ngưng kết do sự thay đổi hiệu giá kháng  
thể trong quá trình bảo quản, chẳng hạn. Khi đó đường chuẩn sẽ là sau 3 hoặc 5 lỗ  
khay đầu tương ứng. Trong dãy kiểm, dịch chiết bệnh phẩm tiếp xúc trước với kháng  
huyết thanh, nếu có kháng nguyên Gumboro sẽ làm giảm hiệu giá kháng thể đặc hiệu trong  
huyết thanh nên biểu hiện lệch trái so với dãy chuẩn.  
Xử lí số liệu: Tính tỉ lệ theo phần trăm dương tính của các chỉ tiêu có kháng  
nguyên cũng như kháng thể, các giá trị trung bình nhân (GMT) kháng nguyên và  
kháng thể được sử dụng để so sánh các quần thể được tính qua bước logarit . Kiểm  
chứng sự sai khác giữa các tỉ số được xử lí bằng phân tích hàm phân bố χ2 (Snedecor  
& Cochran, 1980) đối chiếu với giới hạn chuẩn của χ2 α = 0,05; f=1 = 3,84.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Tỉ lệ nhiễm và cƣờng độ nhiễm virut Gumboro ở mẫu phân gà  
Kết quả được trình bày ở bảng 1.  
35  
36  
Bảng 1. Tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm virut Gumboro ở phân gà  
Số  
mẫu  
dương  
tính  
10  
13  
12  
10  
14  
Tỉ lệ  
dương  
tính  
Phân bố hiệu giá kháng nguyên  
Số  
mẫu xét  
nghiệm  
(xlog2)  
Huyện  
GMT  
1
2
3
4
(%)  
Hương Thuỷ  
Hương Trà  
Phú Vang  
Nam Đông  
A Lưới  
33  
34  
37  
30  
30  
30,30  
38,23  
32,43  
33,33  
46,66  
35,97  
4
6
4
5
3
3
1
4
2
6
3
5
3
3
3
0
1
1
0
2
4
1,48  
1,73  
1,59  
1,51  
2,08  
1,67  
Chung  
164  
59  
22  
16  
17  
Qua kết quả bảng 1 ta thấy: với tổng số 164 mẫu phân thu thập để xét nghiệm có 59  
mẫu dương tính chiếm tỉ lệ 35,97%, trong đó A Lưới là huyện có tỉ lệ nhiễm cao nhất 46,66%,  
tiếp đó là Hương Trà chiếm tỉ lệ 38,23%, Nam Đông chiếm 33,33%, Phú Vang chiếm tỉ lệ  
32,43%, và cuối cùng Hương Thủy chiếm tỉ lệ 30,30%.  
3.2. Tỉ lệ nhiễm và cƣờng độ nhiễm virut Gumboro ở dịch họng gà  
Sự lưu hành virut Gumboro trong dịch họng gà ở các huyện Hương Trà, Hương Thủy,  
Phú Vang, Nam Đông và A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế được trình bày ở bảng 2.  
Bảng 2. Tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm virut Gumboro ở dịch họng gà  
Số  
mẫu  
dương  
tính  
7
Tỉ lệ  
dương  
tính  
Phân bố hiệu giá kháng nguyên  
Số  
mẫu xét  
nghiệm  
(xlog2)  
Huyện  
GMT  
1
2
3
4
(%)  
Hương Thuỷ  
Hương Trà  
Phú Vang  
Vùng phụ cận  
Huế *  
33  
34  
37  
21,21  
32,35  
21,62  
3
4
4
3
5
2
1
0
1
0
2
1
1,28  
1,56  
1,31  
11  
8
104  
26  
25  
11  
10  
2
3
1,30  
Nam Đông  
A Lưới  
Tổng  
30  
30  
164  
9
13  
48  
30,00  
43,33  
29,27  
5
6
22  
1
3
14  
2
2
6
1
2
6
1,47  
1,81  
1,47  
Ghi chú: *Vùng lưu thông Huế và phụ cận Huế gồm TP Huế và các huyện đồng bằng, do không có  
ranh giới địa hình và giao thông rõ ràng giữa các huyện thị này, số liệu ở hàng này có được nhờ  
lấy tổng ba hàng trên; hai vùng lưu thông khác là A Lưới và Nam Đông ngăn cách với nhau và  
thông thương với Vùng phụ cận Huế đều bởi đường độc đạo bị trở ngại bởi các đèo cao.  
Qua bảng 2 ta thấy trong tổng số 164 mẫu dịch họng được thu thập để xét nghiệm có  
48 mẫu dương tính chiếm tỉ lệ 29,27% trong tổng số mẫu xét nghiệm, trong đó A Lưới là  
huyện có tỉ lệ gà nhiễm cao nhất, số mẫu dương tính là 13/30 mẫu chiếm 43,33%, sau đó đến  
huyện Hương Trà 32,35%, Nam Đông 30,30%, Phú Vang 21,62%, huyện Hương Thủy  
21,21%. Mức độ mang virut Gumboro trong dịch họng gà tại huyện A Lưới là cao nhất với  
GMT 1,81; tiếp đến là huyện Hương Trà có GMT 1,56; huyện Nam Đông có GMT 1,47;  
huyện Phú Vang có GMT 1,31 và cuối cùng là ở huyện Hương Thuỷ có GMT 1,28 thấp nhất  
trong năm huyện có mẫu xét nghiệm. Bên cạnh đó, nếu xét theo khu vực lưu thông thì tỉ lệ  
nhiễm Gumboro ở gà nuôi thả tại các khu vực miền núi cao hơn khu vực phụ cận Huế.  
36  
37  
Như vậy, mầm bệnh Gumboro vẫn còn lưu hành ở gà nuôi tại cả ba vùng lưu thông  
thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và có thể là mối nguy lớn cho đàn gà vì bệnh Gumboro liên quan  
đến suy giảm miễn dịch ở gà, nên nhiều bệnh truyền nhiễm có thể bùng phát khi có cơ hội. Vì  
vậy, gà nhập đàn vào tỉnh Thừa Thiên Huế từ địa phương khác cần phải có biện pháp phòng  
bệnh thích hợp.  
3.3. So sánh tỉ lệ chứa virut Gumboro trong phân và dịch họng gà  
Kết quả xét nghiệm hai loại bệnh phẩm cho thấy phân chứa virut Gumboro với tỉ lệ  
cao hơn (35,97% so với 29,27%). Với chỉ số χ2 để kiểm định sai khác của hai tỉ lệ ta có kết quả  
được trình bày ở bảng 3.  
Bảng 3. Kết quả xét nghiệm chứa virut Gumboro ở mẫu phân và dịch họng của gà  
Số mẫu  
dương tính  
59  
Số mẫu  
âm tính  
105  
116  
221  
Loại mẫu  
Tổng hàng  
Phân  
Dịch họng  
Tổng cột  
164  
164  
328  
48  
107  
χ2 thực nghiệm = 1,678; χ2 α=0,05, df=1 = 3,84: Sai khác không có ý nghĩa thống kê  
Tính được χ2 thực nghiệm = 1,678, trong khi hàm chuẩn χ2  
= 3,84, ta thấy  
α=0,05, df=1  
rằng χ2 thực nghiệm < χ2 α=0,05, df=1. Như vậy, tỉ lệ chứa virut Gumboro trong hai loại mẫu bệnh  
phẩm phân và dịch họng là không sai khác nhau (hay “như nhau” với xác suất sai lầm nhỏ  
hơn 5%). Điều này có nghĩa là khi chẩn đoán bệnh Gumboro ở gà ta có thể sử dụng cả hai loại  
mẫu bệnh phẩm phân và dịch họng để làm phản ứng xét nghiệm với phản ứng SSIA . Mặc dù vậy, do  
ưu điểm dễ lấy mẫu và độ nhạy cao hơn (có thể do dịch họng chứa kháng thể làm suy giảm nồng độ  
kháng nguyên) nên mẫu phân là mẫu thích hợp cho phản ứng SSIA phát hiện kháng nguyên virut  
Gumboro.  
3.4. So sánh tỉ lệ nhiễm virut Gumboro ở miền núi và đồng bằng  
Để xem xét có sự khác biệt về tình hình nhiễm virut Gumboro ở gà nuôi tại các vùng địa  
lý chúng tôi xử lý kết quả xét nghiệm mẫu phân và dịch họng của gà nuôi tại hai huyện miền  
núi (Nam Đông, A Lưới) và ba huyện đồng bằng thuộc vùng phụ cận Huế (Hương Thuỷ, Phú  
Vang, Hương Trà). Kết quả được trình bày ở bảng 4.  
Bảng 4. So sánh mức độ nhiễm virut Gumboro trong phân, dịch họng của các huyện  
đồng bằng huyện miền núi  
Số mẫu  
xét nghiệm  
208  
Số mẫu  
âm tính  
147  
Số mẫu  
dƣơng tính  
Tỉ lệ (%)  
dƣơng tính  
29.33  
Vùng  
Đồng bằng  
Miền núi  
61  
46  
120  
74  
38.33  
Tổng cộng  
328  
221  
107  
32.62  
χ2 thực nghiệm = 2,81; χ2α=0,05, df=1 = 3,84: Sai khác không có ý nghĩa thống kê  
Qua bảng 4, kết quả cho thấy sự lưu hành virut Gumboro trên đàn gà ở trung tâm của  
hai huyện miền núi cao hơn so với ba huyện đồng bằng. Tuy nhiên, với chỉ số χ2 ta thấy rằng tỉ  
lệ nhiễm là không sai khác có ý nghĩa thống kê (hay “như nhau” với mức sai lầm nhỏ hơn  
5%).  
Kết quả trên có thể là cơ sở cho các cấp có thẩm quyền về thú y thuộc tỉnh Thừa Thiên  
Huế chủ động và tích cực trong việc triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh  
Gumboro, không phân biệt đồng bằng và miền núi.  
37  
38  
3.5. Tình hình đáp ứng miễn dịch chống Gumboro ở đàn gà  
Vận dụng phương pháp IHA với hồng cầu gắn kháng nguyên Gumboro xét nghiệm  
bán định lượng kháng thể chống Gumboro ở gà đã đạt tuổi giết mổ tại các địa bàn khảo sát ta  
có kết quả ở bảng 5.  
Kết quả bảng 5 cho thấy trong tổng số 167 mẫu xét nghiệm có 34 mẫu dương tính  
chiếm tỉ lệ 20,36%. Trong đó Hương Thủy là huyện có tỉ lệ dương tính cao nhất đối với số  
mẫu 11/36 mẫu xét nghiệm chiếm 30,55%. Sau đó, là đến huyện Phú Vang với số mẫu dương  
tính 9/37 chiếm 24,32%, huyện Hương Trà với số mẫu dương tính 17,64%, huyện Nam Đông  
với số mẫu dương tính 5/30 chiếm 16,66%, còn huyện A Lưới có tỉ lệ dương tính thấp nhất  
đối với số mẫu 3/30 mẫu xét nghiệm chiếm 10%.  
Bảng 5. Phân bố hiệu giá kháng thể Gumboro ở đàn gà  
Số  
mẫu  
xét  
Số mẫu  
Tỉ lệ  
có  
Phân bố hiệu giá kháng thể  
có  
kháng  
thể  
11  
(xlog2)  
Huyện  
GMT  
kháng  
thể (%)  
30,55  
17,64  
24,32  
nghiệm  
1
3
2
2
2
4
0
0
3
1
0
3
4
2
2
1
5
0
1
1
6
0
1
0
7
1
0
2
Hương Thuỷ  
Hương Trà  
Phú Vang  
Vùng Huế và  
phụ cận*  
Nam Đông  
A Lưới  
36  
34  
37  
1,74  
1,53  
1,88  
6
9
107  
26  
24,29  
7
4
4
5
2
1
3
1,72  
30  
30  
167  
5
3
34  
16,66  
10,00  
20,36  
2
1
10  
0
1
5
2
0
6
0
0
5
1
1
4
0
0
1
0
0
3
1,35  
1,2  
1,54  
Tổng  
* Số liệu của hàng “Vùng Huế và phụ cận” bằng tổng số liệu ở ba hàng trên đó.  
38  
39  
Hình 1 : Một số kết quả SSIA phát hiện kháng nguyên Gumboro ở gà  
Đường kẻ dọc là chuẩn dựa vào dãy chuẩn (dưới cùng) để đọc kết quả phản ứng các dãy kiểm  
được thực hiện trong cùng khay  
Như vậy, tỉ lệ gà đáp ứng miễn dịch thể dịch chống lại virut gây bệnh Gumboro tại  
vùng lưu thông trên địa bàn Thừa Thiên Huế còn thấp. Đây là một trong những điều kiện dễ  
phát sinh dịch bệnh. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do tiêm phòng vacxin ngăn ngừa  
bệnh Gumboro ở đây chưa phổ biến. Bên cạnh đó, việc khảo nghiệm lại hiệu quả vacxin  
Gumboro đang sử dụng cũng là vấn đề cần được quan tâm.  
Với những thông tin đã biết như virut cường độc Gumboro vẫn giữ nguyên đặc tính  
gây nhiễm và gây bệnh trong vòng ít nhất là 52 ngày (Lê Thanh Hoà, 2003) thì vấn đề lưu cửu  
mầm bệnh ở Thừa Thiên Huế là vấn đề đáng quan ngại trên phương diện phòng ngừa các dịch  
bệnh truyền nhiễm khác nhhau do cảm nhiễm virut Gumboro dẫn đến suy giảm miễn dịch.  
IV .KẾT LUẬN  
-Với kết quả nhiễm virut ở mẫu phân là 35,97%, mẫu dịch họng 29,27% và cường độ  
nhiễm virut Gumboro ở mẫu phân GMT 1,67, mẫu dịch họng GMT 1,47, mức độ lưu hành  
trên đàn gà nuôi của cả năm huyện còn cao. Mầm bệnh Gumboro vẫn tồn tại trên đàn gà nuôi  
tại năm huyện Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, Nam Đông và A Lưới, cần lưu ý khi nhập  
đàn gà mới, đặc biệt là gà công nghiệp vào địa bàn.  
-Kết quả thu được cho thấy không có sự sai khác nhau về tỉ lệ nhiễm virut Gumboro  
trong phân và dịch họng ở gà khi xét nghiệm bằng phương pháp SSIA, như vậy, trong chẩn  
đoán bệnh Gumboro, sử dụng cả hai loại mẫu bệnh phẩm này để xét nghiệm đều tốt.  
39  
40  
-Với tỉ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể của các huyện Thừa Thiên Huế là 20,36%, với  
mức độ mang kháng thể Gumboro (hiệu giá trung bình nhân) là 1,54, tình hình đáp ứng miễn  
dịch với bệnh Gumboro của gà nuôi thả tại địa bàn còn thấp.  
-Sử dụng phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp (IHA) để phát hiện kháng thể và  
phản ứng xê lệch ngưng kết gián tiếp chuẩn (SSIA) để phát hiện kháng nguyên gây bệnh  
Gumboro có hiệu quả tốt. Các phương pháp này có ưu điểm là tiến hành đồng loạt số lượng  
mẫu lớn, đặc biệt quan trọng trong điều kiện cơ sở vật chất ở một số cơ quan chẩn đoán thú y  
còn nhiều khó khăn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.Đái Duy Ban, Phạm Công Hoạt, Lê Kim Xuyến, Đoàn Thanh Hương, 1996, Công nghệ sản xuất  
vacxin Gumboro vô hoạt dạng nhũ dầu phòng bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải trên đàn gà bố mẹ  
và xác định độ an toàn hiệu lực của vacxin. Trong:“Công nghệ sinh học đối với cây trồng, vật nuôi  
và bảo vệ môi trường”, Chủ biên: Đái Duy Ban, Lê Thanh Hoà. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.  
2.Nguyễn Tiến Dũng, 1996, Nhìn lại bệnh Gumboro ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y  
III-1: 94-98.  
3.Nguyễn Tiến Dũng, 1989, Bệnh Gumboro ở gà và tình hình dịch bệnh ở Việt Nam, Tạp chí khoa  
học kỹ thuật Nông nghiệp, 2: 104-109.  
4. Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Đức Tạo, Vũ Khoa Bảng và Nguyễn Thị Bơ,  
1993, Kết quả nghiên cứu vacxin Gumboro trong phòng thí nghiệm. Trong Công trình nghiên cứu  
khoa học kỹ thuật 1990 - 1991, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.  
5.Lê Thanh Hoà, 1992, Bệnh Gumboro suy giảm miễn dịch ở gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp,  
Hà Nội.  
6.Lê Thanh Hoà, 2003, Sinh học phân tử virut Gumboro, nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam, Nhà  
xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội.  
7.Phương Song Liên (1996), Nghiên cứu dịch tễ bệnh Gumboro của gà công nghiệp ở một số tỉnh  
phía Bắc Việt Nam, Luận án phó tiến sỹ khoa học Nông Nghiệp.  
8.Phạm Hồng Sơn, 2009, Nghiên cứu tạo kháng nguyên ngưng kết hồng cầu gián tiếp gắn virut cúm  
A và vận dụng mới trong chẩn đoán bệnh cúm ở gia cầm, Khoa học kỹ thuật thú y, XVI-2: 14-22.  
9. Boyden S. V., 1951, The absorption of proteins on erythrocytes treated with tannic acid and  
subsequent haemagglutination by antiprotein sera, J Exp Med, pp. 93: 107.  
10.Lukert P. D. and Saif Y. M., 1997, Infectious bursal disease. In: Disease of poultry, 10th edition,  
Calnek B. W. ed., Iowa State University Press, Ames, Iowa, USA, 721-738.  
40  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 20700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình lưu hành mầm bệnh và miễn dịch với virus gây bệnh Gumboro ở gà trên một số địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong mùa Xuân-Hè năm 2011", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_hinh_luu_hanh_mam_benh_va_mien_dich_voi_virus_gay_benh.pdf