Các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143 133  
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI  
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM  
NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH1,*, LÊ ĐÌNH LUÂN1, LÊ THỊ HƯƠNG MAI1  
1Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh  
(Ngày nhận: 07/06/2018; Ngày nhận lại: 10/07/2018; Ngày duyệt đăng: 11/07/2018)  
TÓM TẮT  
Bài viết nhằm phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu của Ngân hàng thương mại  
(NHTM) trong giai đoạn 2006-2016, thông qua mẫu nghiên cứu gồm 25 NHTM cổ phần tại Việt  
Nam. Nhóm tác giả sử dụng mô hình Pooled OLS, FEM, REM sau đó lựa chọn mô hình phù hợp  
là FEM. Các kiểm định khuyết tật của mô hình lần lượt được tiến hành, phát hiện mô hình FEM  
có hiện tượng phương sai thay đổi. Để khắc phục tình trạng này, nhóm tác giả sử dụng mô hình  
hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least  
Squares – FGLS) để đảm bảo hiệu quả của mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy với mức ý  
nghĩa thống kê 1%, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng và tỷ lệ thất  
nghiệp tác động ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu. Đồng thời, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nợ xấu năm  
trước tương quan thuận chiều với tỷ lệ nợ xấu hiện tại. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa yếu tố quy  
mô và khả năng sinh lời của ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu chưa được tìm thấy.  
Từ khóa: FGLS; Ngân hàng thương mại; Nợ xấu.  
Factors affecting non-performing loan of commercial banks in Vietnam  
ABSTRACT  
The primary objective of this study was to explore the impact of factors on non-performing  
loan (NPL) of commercial banks in Vietnam over the period 2006-2016, using data for 25  
commercial banks in Vietnam. The study used the Pooled OLS, FEM, REM and then chose the  
appropriate FEM model. The defect tests of the model were carried out, detecting the FEM  
model with heteroskedasticity phenomena. To overcome this situation, the study used the  
Feasible Generalized Least Squares (FGLS) regression model to ensure the effectiveness of the  
model. These results of empirical research revealed that with statistically significant 1%,  
economic growth rate, credit growth of the bank and the unemployment rate have a negative  
impact on the NPLs ratio. And the inflation and the NPLs ratio in the previous year are  
positively correlated with the NPLs ratio. However, the relationship between bank size and ROE  
with the NPLs ratios has not been found.  
Keywords: Commercial banks; FGLS; Non-performing loan.  
của quốc gia đó hoạt động kém hiệu quả và  
không ổn định (Badar & Javid, 2013). Hoạt  
động của ngân hàng đóng vai trò quan trọng  
1. Giới thiệu  
Nền kinh tế của một quốc gia sẽ không  
phát triển bền vững nếu hệ thống tài chính  
134 Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143  
trong việc duy trì ổn định hệ thống tài chính,  
tuy nhiên bản chất của hoạt động ngân hàng  
chứa đựng nhiều rủi ro. Một trong những tiêu  
chí để đo lường mức độ rủi ro của ngân hàng  
là chỉ tiêu nợ xấu. Theo số liệu của báo cáo  
tài chính (BCTC) các ngân hàng, trong giai  
đoạn 2006-2012, tỷ lệ nợ xấu tăng gấp đôi từ  
2% năm 2006 đến 4.08% năm 2012, nhưng  
tới năm 2016 tỷ lệ này còn 2.52% (giảm  
1.56%).  
ĐVT: tỷ đồng, %  
Hình 1. Nợ xấu hệ thống ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2016  
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp từ Báo cáo thường niên và sbv.gov.vn  
Việc nghiên cứu và tìm ra các nhân tố tác  
động đến nợ xấu đối với NHTM sẽ giúp cho  
nhà quản trị ngân hàng chủ động hơn trong  
quá trình khắc phục, thay đổi và tìm ra chính  
sách phù hợp để giảm thiểu nợ xấu. Ngoài ra  
việc xác định các yếu tố này cũng sẽ giúp cho  
NHNN có chính sách phù hợp trong quá trình  
tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Bài viết sẽ  
phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu của  
NHTM. Phần tiếp theo của bài viết sẽ nghiên  
cứu về cơ sở lý thuyết và các nhân tố tác động  
đến nợ xấu, phần 3 là phương pháp, mô hình  
và dữ liệu nghiên cứu, phần 4 kết quả nghiên  
cứu và thảo luận, phần 5 kết luận và khuyến  
nghị một số chính sách.  
“doubtful debt” chỉ các khoản nợ khó đòi  
(Fofack, 2005) hoặc các khoản vay có vấn đề  
(Berger và De Young, 1997) hoặc khoản nợ  
không trả được (defaulted loans) mà ngân  
hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst & Young,  
2004) hay các khoản cho vay bắt đầu được  
đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và  
lãi 90 ngày trở lên (Peter Rose, 2004). Hiện  
tại không có một quy tắc hay chuẩn mực  
thống nhất khi thảo luận về vấn đề nợ xấu.  
Tại Việt Nam, theo quan điểm của  
NHNN, nợ xấu được định nghĩa là những  
khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ dưới  
tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng  
mất vốn. Trong đó, nợ xấu được phân loại  
theo hai tiêu chí là định lượng và định tính.  
Về định lượng, nợ nhóm 3 là các khoản nợ  
quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; nợ nhóm 4  
là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360  
ngày và nợ nhóm 5 là các khoản nợ quá hạn  
trên 360 ngày. Trong khi đó theo định tính, nợ  
2. Cơ sở lý thuyết và các nhân tố tác  
động đến nợ xấu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Nợ xấu là thuật ngữ được sử dụng phổ  
biến trên thế giới với các từ như “Non-  
performing loans” (NPL), “bad debt”,  
Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143 135  
xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, bị nghi ngờ  
về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn  
của chủ nợ (Nguyễn Thành Nam, (2013),  
Đinh Thị Thanh Vân, (2012)).  
Do các yếu tố định tính khó xác định nên  
nợ xấu trong bài nghiên cứu sẽ được thu thập  
theo tiêu chí định lượng:  
rằng tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu có liên quan  
đến tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng.  
Salas và Saurina (2002) đã nghiên cứu các  
ngân hàng Tây Ban Nha thấy rằng tăng trưởng  
dư nợ cho vay có liên quan đến khoản vay  
không có khả năng thanh toán. Weinberg  
(1995) đưa ra giả thuyết rủi ro cho vay tăng  
trong thời kỳ phát triển kinh tế vì lợi nhuận kỳ  
vọng từ các dự án đầu tư được cải thiện và do  
đó, lợi nhuận kỳ vọng từ tất cả các khoản vay  
đã khiến ngân hàng thường xuyên nới lỏng  
các tiêu chuẩn bảo lãnh phát hành, trong khi  
hoạt động tín dụng cần được thắt chặt các tiêu  
chuẩn, do đó các khoản nợ xấu tăng lên cùng  
với sự gia tăng tín dụng. Ngoài ra, các kết quả  
nghiên cứu của Klein (2013), Đỗ Quỳnh Anh  
và Nguyễn Đức Hùng (2013) và Nguyễn Thị  
Hồng Vinh (2015) cũng đồng quan điểm trên.  
Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn  
Tuấn Kiệt và Đinh Hùng Phú (2016) lại cho  
rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng tương quan  
nghịch chiều với nợ xấu. Điều này được lý  
giải là trong giai đoạn nghiên cứu ở Việt Nam  
các khoản tín dụng của các ngân hàng thường  
sau một năm mới phát sinh nợ xấu, nghĩa là  
nếu năm nay ngân hàng tăng trưởng tín dụng  
thấp vì năm trước ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu  
cao, nên ngân hàng bắt buộc tập trung xử lý  
nợ xấu kèm theo việc hạn chế tăng trưởng tín  
dụng do áp đặt của NHNN.  
Tỷ lệ nợ xấu =  
2.2. Các nhân tố tác động đến nợ xấu  
của NHTM  
Hiện nay, trên thế giới và tại Việt Nam có  
nhiều nghiên cứu thực nghiệm và các giả  
thuyết bàn về các nhân tố tác động đến nợ xấu  
của NHTM.  
Các nhân tố vi mô thuộc đặc thù ngân hàng  
Quy mô ngân hàng  
Quy mô thể hiện năng lực thị trường của  
ngân hàng đó. Hầu hết các kết quả nghiên cứu  
theo nhóm tác giả thống kê thì yếu tố quy mô  
ngân hàng tác động cùng chiều đến tỷ lệ nợ  
xấu. Cụ thể, có thể kể đến nghiên cứu của  
Rajan & Dhal (2003), Ghosh (2015), Đỗ  
Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013),  
Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015), Nguyễn Tuấn  
Kiệt và Đinh Hùng Phú (2015).  
Trong khi đó, tương quan nghịch chiều  
giữa quy mô và nợ xấu cũng được tìm thấy  
trong nghiên cứu của Salas và Suarina (2002).  
Thật vậy, ngân hàng có tổng tài sản lớn thể hiện  
quy mô ngân hàng lớn. Quy mô ngân hàng lớn  
cho phép các NHTM có điều kiện để đầu tư cải  
thiện quy trình tín dụng, chất lượng quản trị rủi  
ro cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao.  
Mặt khác, quy mô lớn cùng với thị phần cao  
cho phép các NHTM có thể đa dạng hóa hoạt  
động tín dụng của mình, từ đó giúp giảm thiểu  
rủi ro tập trung tín dụng (Louzis, 2012).  
Tăng trưởng tín dụng  
Khả năng sinh lời của ngân hàng  
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đã  
chỉ ra nợ xấu và khả năng sinh lời của ngân  
hàng có quan hệ ngược chiều như nghiên cứu  
của Klein (2013), Ghosh (2015), Lê Hoàng  
Anh và Mai Thị Phương Thùy (2015),  
Nguyễn Tuấn Kiệt và Đinh Hùng Phú (2016).  
Thật vậy, một ngân hàng có khả năng  
sinh lời cao sẽ có ít động cơ tham gia vào các  
hoạt động cấp tín dụng với rủi ro cao. Ngược  
lại, những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả  
sẽ cố gắng sinh lời bằng việc cấp các khoản  
tín dụng không đạt chuẩn, do đó tại các ngân  
hàng này dễ dàng nảy sinh các khoản nợ xấu  
hơn. Vấn đề này cũng hợp lý khi lợi nhuận  
Tăng trưởng tín dụng thể hiện quy mô  
vốn cung ứng ra nền kinh tế, các nghiên cứu  
phân tích tác động của tăng trưởng tín dụng  
đến tỷ lệ nợ xấu cho các kết quả không thống  
nhất. Một phần các nghiên cứu trước chỉ ra  
136 Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143  
các ngân hàng Việt Nam thu được chủ yếu từ  
hoạt động tín dụng, vì vậy, khi lợi nhuận cao,  
chất lượng các khoản vay của các ngân hàng  
tốt, vốn và lãi được thu hồi đầy đủ, dẫn đến  
nợ xấu thấp (Nguyễn Tuấn Kiệt & Đinh Hùng  
Phú, 2016).  
nhu cầu chi tiêu khiến hàng hóa tiêu thụ thấp,  
doanh nghiệp gặp khó khăn do hoạt động kinh  
doanh trì trệ, dẫn đến lợi nhuận thấp hơn kỳ  
vọng, thậm chí có thể xảy ra tình trạng thua lỗ  
làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh  
nghiệp, điều này khiến cho nợ xấu NHTM  
tăng lên (Fillip (2015), Đỗ Quỳnh Anh và  
Nguyễn Đức Hùng (2013), Nguyễn Tuấn Kiệt  
và Đinh Hùng Phú (2016)).  
Tỷ lệ nợ xấu năm trước  
Theo Marki và cộng sự (2014), việc thu  
hồi nợ không hiệu quả là nguyên nhân tăng nợ  
xấu cũng như những khó khăn gặp phải khi xử  
lý các khoản nợ xấu. Thêm vào đó, các khoản  
nợ xấu tồn đọng các năm trước đến hiện tại  
chưa được giải quyết triệt để thì sẽ làm tăng  
nợ xấu trong năm hiện tại.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Mô hình nghiên cứu  
Dựa trên mô hình nghiên cứu của Salas &  
Saurina (2002), Klein (2013), Nguyễn Thị  
Hồng Vinh (2015), Nguyễn Tuấn Kiệt và  
Định Hùng Phú (2016), … nhóm tác giả tiếp  
cận nghiên cứu theo phương pháp dữ liệu  
bảng năng động để giải thích sự tồn tại yếu tố  
thời gian trong tỷ lệ nợ xấu.  
Nhân tố vĩ mô:  
Tốc độ tăng trưởng kinh tế  
Các nghiên cứu khi xem xét tác động của  
các nhân tố vĩ mô đến nợ xấu đều khẳng định  
ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến chất  
lượng khoản vay. Các nghiên cứu trước đây  
hầu hết đều cho kết quả ngược chiều trong  
mối quan hệ này như Salas và Suarina (2002),  
Fillip (2015), Ghosh (2015), Đỗ Quỳnh Anh  
và Nguyễn Đức Hùng (2013), Nguyễn Thị  
Hồng Vinh (2015), Nguyễn Tuấn Kiệt Và  
Đinh Hùng Phú (2016)… Nền kinh tế tăng  
trưởng tốt sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất,  
kinh doanh được thuận lợi, từ đó nâng cao khả  
năng thanh toán các khoản vay của người đi  
vay (Markri & cộng sự (2012); Klein, 2013).  
Tỷ lệ thất nghiệp  
Marki và cộng sự (2012) khi sử dụng  
phương pháp hồi quy với mẫu 14 trong số 17  
quốc gia thuộc khu vực đồng Euro, kết quả  
cho thấy có mối quan hệ rõ ràng giữa tỷ lệ thất  
nghiệp và nợ xấu, nợ xấu tăng lên do sự tăng  
trưởng của tỷ lệ thất nghiệp. Fillip (2015),  
Ghosh (2015)… cũng đồng quan điểm trên.  
Khi thất nghiệp xảy ra, thu nhập của  
người đi vay sẽ giảm, do đó khả năng hoàn trả  
nợ gốc cũng như lãi vay của họ sẽ giảm, điều  
này dẫn đến tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng sẽ  
tăng lên (Fillip, (2015)).  
Mô hình có dạng:  
NPLit =  
,
it 1  
it  
it  
it  
Trong đó:  
- i và t biểu thị đường chéo và chiều thời  
gian trong mẫu dữ liệu bảng tương ứng, NPLit  
là biến phụ thuộc, được xác định bằng logarit  
của tỷ lệ nợ xấu ngân hàng thứ i trong năm t.  
- Biến phụ thuộc NPLit được giải thích  
bởi độ trễ của nó là NPLit-1;  
biểu thị độ  
trễ vector đa thức. Xit là vector của biến các  
yếu tố vi mô đặc thù của ngân hàng (ngoài  
biến nợ xấu trong quá khứ) bao gồm: khả  
năng sinh lời (ROEit), tỷ lệ tăng trưởng tín  
dụng (CREDITit), quy mô ngân hàng (SIZEit).  
Các biến này cũng được lấy giá trị logarit tự  
nhiên.  
- Mit là các biến các yếu tố vĩ mô gồm: tỷ  
lệ lạm phát (INFit), tốc độ tăng trưởng kinh tế  
(GDPit), tỷ lệ thất nghiệp (UNTit).  
-
it: các sai số  
Như vậy, dựa vào các nghiên cứu trước  
và thực tiễn tại Việt Nam về mối quan hệ giữa  
các nhân tố tác động tới nợ xấu NHTM, nhóm  
tác giả sử dụng các biến và dấu kỳ vọng trong  
mô hình nghiên cứu như sau (Bảng 1).  
Lạm phát  
Khi lạm phát tăng, người tiêu dùng giảm  
Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143 137  
Bảng 1  
Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu  
Dấu kì  
vọng  
Nghiên cứu trước  
Tên biến  
Mô tả biến  
Salas và Suarina (2002), Klein (2013), Makri  
& cộng sự (2014), Filip (2015), Ghosh  
(2015), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức  
Hùng (2013), Nguyễn Thị Hồng Vinh  
(2015), Nguyễn Tuấn Kiệt và Đinh Hùng  
Phú (2016)  
Tốc độ tăng trưởng Tốc độ tăng  
-
(GDPit)  
trưởng kinh tế  
Tỷ lệ thất nghiệp  
Tỷ lệ thất  
nghiệp  
Klein (2013), Filip (2015), Ghosh (2015),  
Makri & cộng sự (2014)  
+
+
(UNTit)  
Tỷ lệ lạm phát  
Klein (2013), Filip (2015), Ghosh (2015),  
Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013)  
(INFit)  
Tỷ lệ lạm phát  
ln  
Beck, Jakubik & Piloiu (2013), Đỗ Quỳnh  
Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013), Nguyễn  
Thị Hồng Vinh (2015)  
Tỷ lệ nợ xấu năm  
+
-
trước (NPLi(t-1)  
)
Ghosh (2015), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn  
Đức Hùng (2013), Nguyễn Thị Hồng Vinh  
(2015), Nguyễn Tuấn Kiệt và Đinh Hùng  
Phú (2015)  
Quy mô ngân hàng ln(Tổng tài  
(SIZEit)  
sản)  
Keeton (1999), Klein (2013), Vithessonthi  
(2016), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức  
Hùng (2013), Nguyễn Thị Hồng Vinh  
(2015), Lê Hoàng Anh và Mai Thị Phương  
Thùy (2015)  
Tăng trưởng tín  
dụng của ngân  
hàng (CREDITit)  
Ln(dư nợit –  
dư nợit-1) /dư  
nợit-1  
+
-
Ln (lợi nhuận  
sau  
thuế/VCSH  
bình quân)  
Klein (2013), Ghosh (2015), Lê Hoàng Anh  
và Mai Thị Phương Thùy (2015), Nguyễn  
Thị Hồng Vinh (2015), Nguyễn Tuấn Kiệt  
và Đinh Hùng Phú (2016)  
Khả năng sinh lời  
của ngân hàng  
(ROEit)  
Nguồn: Tác giả tổng hợp.  
NamABank, Vietcombank, HDBank, OCB,  
MB Bank, VIB, NCB, Saigonbank, SHB,  
Sacombank, VietABank, VP Bank, PG  
Bank, Eximbank) trong giai đoạn 2006 –  
2016. Lý do nghiên cứu chỉ sử dụng dữ liệu  
của 25 ngân hàng này trong giai đoạn được  
đề cập vì trong giai đoạn này chỉ có 25  
3.2. Dữ liệu nghiên cứu  
Đối với các dữ liệu vi mô từ ngân hàng:  
Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ báo cáo  
tài chính của 25 NHTMCP Việt Nam (bao  
gồm ACB, ABB, VietCapitalBank, LPB,  
Vietinbank, BIDV, DongA bank, Seabank,  
KLB, Maritime bank, Techcombank,  
138 Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143  
NHTMCP công bố đủ dữ liệu mà bài viết  
cần. Các ngân hàng được chọn đáp ứng tiêu  
chí còn tồn tại và hoạt động cho tới hết năm  
2016.  
kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp được  
nhóm tác giả thu thập từ Worldbank, IMF.  
Kết quả thống kê mô tả cho các biến được  
sử dụng trong nghiên cứu được thể hiện trong  
Bảng 2.  
Các dữ liệu vĩ mô bao gồm tăng trưởng  
Bảng 2  
Thống kê mô tả các biến trong mô hình  
Biến  
Số quan sát  
Trung bình  
Độ lệch chuẩn  
Giá trị nhỏ  
nhất  
Giá trị lớn  
nhất  
NPLit  
GDPit  
INFit  
269  
275  
275  
275  
271  
247  
-3.980146  
0.0612455  
0.0915382  
0.0220909  
-2.543055  
-1.26966  
0.764859  
0.0061772  
0.0709486  
0.0026143  
1.090763  
1.198215  
-7.130899  
0.0525  
0.5988365  
0.0713  
-0.019079  
0.018  
0.2267332  
0.026  
UNTit  
ROEit  
-7.26443  
-9.21034  
2.609334  
2.2428583  
CREDIT  
it  
SIZEit  
271  
2.371843  
0.1332445  
1.904761  
2.626271  
Nguồn: Kết xuất từ phần mềm Stata 13.  
hệ số tương quan đều nhỏ hơn 0.8 (Farrar &  
Glauber, 1967).  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Bảng 3 cho thấy, NPLit không có đa cộng  
tuyến nghiêm trọng với các biến số độc lập do  
Bảng 3  
Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu  
Biến  
NPLit  
NPLit  
1.000  
NPLit-1 GDPit  
INFit  
UNTit CREDITit ROEit SIZEit  
0.4806  
1.000  
NPLit-1  
GDPit  
-0.3074 -0.1403  
1.000  
-0.0254 -0.3186 -0.0906  
1.000  
INFit  
-0.3007 -0.1639 0.2405 0.0886  
1.000  
UNTit  
-0.2572 -0.1497 0.3095 0.0884 0.4191  
-0.2755 -0.2230 0.1094 0.2341 0.2860  
1.000  
CREDITit  
ROEit  
SIZEit  
0.2949  
1.000  
0.0611  
0.0897 -0.0826 -0.2721 -0.2773 -0.2419  
0.1300 1.000  
Nguồn: Kết xuất từ phần mềm Stata 13.  
Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143 139  
Bảng 4 thể hiện tổng hợp kết quả của mô  
hình Pooled OLS, FEM, REM khi tác giả thực  
hiện hồi quy. Kết quả bảng 4 cho thấy, R2 lần  
lượt của POOLED OLS, REM, FEM là  
35.45%, 28.97%, 30.68%. Điều này thể hiện  
rằng các biến độc lập được sử dụng trong mô  
hình có thể đã giải thích được 35.45%,  
28.97%, 30.68% sự thay đổi trong tỷ lệ nợ  
xấu của các ngân hàng. Giá trị p-value của mô  
hình được ước lượng theo 3 phương pháp trên  
Pooled OLS không phản ánh được tác động  
riêng biệt, mang tính đặc thù của từng ngân hàng.  
Do đó, để khắc phục hạn chế này, nghiên cứu  
tiếp tục lựa chọn ước lượng mô hình hồi quy theo  
phương pháp tác động cố định FEM và tác động  
ngẫu nhiên REM. Kết quả hồi quy cho thấy kết  
quả mô hình REM có các thông số giống với mô  
hình Pooled OLS, còn mô hình FEM các biến  
trong mô hình đều cùng dấu với mô hình Pooled  
OLS và có ý nghĩa nhưng mức độ tác động và  
mức ý nghĩa lại có sự khác nhau ở 2 mô hình.  
Bên cạnh đó, ở mô hình FEM có thêm một biến  
có ý nghĩa ở mức 5% là biến ROEit – ngược dấu  
với tỷ lệ nợ xấu ngân hàng.  
đều là 0.0000 – giá trị này nhỏ hơn  
= 0.01.  
Như vậy, ước lượng của ba phương pháp này  
đều có ý nghĩa thống kê.  
Tuy nhiên, việc ước lượng theo mô hình  
Bảng 4  
Kết quả mô hình nghiên cứu POOLED OLS, FEM và REM  
Biến  
POOLED OLS  
REM  
-21.6495***  
FEM  
-24.17823***  
GDPit  
UNTit  
INFit  
-21.6495***  
(7.818448)  
(7.818448)  
(7.903077)  
-38.47075***  
(18.59383)  
-38.47075***  
(18.59383)  
-33.40755*  
(20.00597)  
1.617915*  
1.617915*  
1.438222**  
(0.7242406)  
(0.6572823)  
(0.6572823)  
NPLit-1  
SIZEit  
0.4602879***  
(0.0624571)  
0.4602879***  
(0.0624571)  
0.29916***  
(0.0733148)  
0.1254202  
0.1254202  
1.204488  
(0.4058038)  
(0.4058038)  
(0.8821612)  
CREDITit  
ROEit  
-0.0314504  
(0.0415894)  
-0.0314504  
(0.0415894)  
-0.0277163  
(0.0495247)  
-1.1048886  
(0.468327)  
-1.1048886  
(0.468327)  
-0.1107841**  
(0.0526507)  
Cons  
-0,7216739  
(1,304945)  
-0,7216739  
(1,304945)  
-3,898641  
(2,416071)  
Số quan sát  
218  
218  
218  
F(7.210) = 16.48  
Prob > F = 0.0000  
R2 = 0.3545  
Wald chi2(7) = 115.33 F(7.186) = 11.76  
Prob > chi2 = 0.0000  
R2 within = 0.2897  
Prob > F = 0.0000  
R2 within = 0.3068  
*, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa thống kê 10%, 5%, 1%.  
140 Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143  
Vì vậy, để xác định mô hình nào phù hợp  
hơn, nghiên cứu thực hiện kiểm định  
Hausman Test để chọn lựa giữa mô hình FEM  
và REM. Kiểm định cho kết quả p-value =  
0.00138 < = 0.05. Với mức ý nghĩa 1%, ta  
bác bỏ giả thuyết H0, tức mô hình FEM được  
chọn. Như vậy, trong ba mô hình Pooled  
OLS, REM và FEM khi hồi quy dữ liệu bảng  
thì mô hình FEM là phù hợp nhất với tổng thể  
số liệu nghiên cứu các nhân tố tác động đến tỷ  
lệ nợ xấu tại các NHTM.  
tác giả tiến hành kiểm định Wald để kiểm tra.  
Kết quả cho thấy giả thuyết H0 – phương sai  
đồng nhất bị bác bỏ (p-value = 0.0000 <  
=0.05) tức là có tồn tại hiện tượng phương sai  
thay đổi trong mô hình, với mức ý nghĩa 5%.  
Như vậy, sau khi kiểm định, mô hình hồi  
quy nghiên cứu bị vi phạm hiện tượng phương  
sai không thay đổi. Do đó, nhóm tác giả thực  
hiện hồi quy theo phương pháp bình phương  
tổi thiểu tổng quát khả thi FGLS (Feasible  
Generalized Least Squares) nhằm kiểm soát  
hiện tượng này để tăng tính hiệu quả cao cho  
mô hình nghiên cứu. Bảng 5 là kết quả mô  
hình được xử lý vấn đề phương sai thay đổi:  
Kiểm định hiện tượng phương sai thay  
đổi: Để xem mô hình FEM có xảy ra hiện  
tượng phương sai thay đổi hay không, nhóm  
Bảng 5  
Kết quả ước lượng mô hình FGLS  
Biến  
Hệ số  
Sai số chuẩn  
3.756384  
P - value  
0.000  
0.001  
0.000  
0.000  
0.920  
0.001  
0.081  
0.330  
GDPit  
UNTit  
INFit  
-16.76133  
-28.11477  
1.876038  
8.794796  
0.3110112  
0.0457227  
0.2034225  
0.0248936  
0.0254649  
0.6560633  
NPLit-1  
SIZEit  
0.5325985  
0.0204614  
-0.0801332  
-0.0443937  
-0.6392588  
CREDITit  
ROEit  
Cons  
Nguồn: Tác giả tổng hợp.  
Dựa vào Bảng 5, ta có kết quả hồi quy  
theo phương pháp FGLS như sau: p-value =  
hiện tại. Điều này cho thấy chất lượng tín  
dụng có xu hướng giảm ở năm trước sẽ kéo  
theo nợ xấu năm sau tăng và ngược lại. Kết  
quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu  
trước như Salas và Saurina (2002), Klein  
(2013), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng  
(2013), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015), … Nợ  
xấu trong quá khứ cao thể hiện khả năng quản  
trị rủi ro trong cho vay của ngân hàng kém  
dẫn đến nợ xấu gia tăng trong hiện tại. Một cú  
sốc với nợ xấu sẽ có ảnh hưởng lâu dài đối  
với hệ thống ngân hàng (Nguyễn Thị Hồng  
Vinh, 2015).  
0.000 <  
0.01. Do đó, mô hình hồi quy có  
ý nghĩa thống kê mạnh mẽ tại mức 1%.  
Tóm lại, mô hình nghiên cứu có phương  
trình như sau với mức ý nghĩa thống kê 1%:  
NPLit  
=
0.5325985NPLit-1  
–
0.0801332CREDITit – 16.76133GDPit +  
1.8760382INFit – 28.11477UNTit  
Thông qua mô hình nghiên cứu trên, ta  
thấy:  
Một là, tỷ lệ nợ xấu năm trước có mối  
tương quan thuận chiều với tỷ lệ nợ xấu năm  
Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143 141  
Hai là, tốc độ tăng trưởng tín dụng có  
mối quan hệ ngược chiều tỷ lệ nợ xấu.  
Nguyên nhân trong giai đoạn 2006 – 2016 tại  
Việt Nam, trải qua thời kỳ suy giảm do ảnh  
hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới năm  
2008 và chỉ phục hồi những năm sau đó.  
Quan hệ ngược chiều này phù hợp với chiều  
phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng.  
Môi trường vĩ mô từng bước ổn định, nợ xấu  
suy giảm theo thời gian, tăng trưởng tín dụng  
tăng lên trong nền kinh tế. Tăng trưởng tín  
dụng thể hiện sự tăng lên về nhu cầu của các  
khoản cho vay đối với các dự án hoạt động  
kinh doanh của nền kinh tế. Đồng thời, kết  
quả này cũng được lý giải bởi các khoản tín  
dụng của các NHTM thường phát sinh nợ xấu  
sau một năm. Nếu ngân hàng năm trước có tỷ  
lệ nợ xấu cao thì năm sau ngân hàng có tốc  
độ tăng trưởng tín dụng thấp vì ngân hàng bắt  
buộc phải tập trung xử lý nợ xấu và hạn chế  
tăng trưởng tín dụng bởi sự áp đặt của NHNN  
(Nguyễn Tuấn Kiệt & Đinh Hùng Phú  
(2016). Do đó, kết quả này có thể được xem  
là phù hợp.  
Ba là, tăng trưởng kinh tế có tác động  
ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu. Đây là biến có  
tác động mạnh trong mô hình nghiên cứu. Kết  
quả này đúng với kỳ vọng ban đầu của nhóm  
tác giả. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với  
thực tiễn tại Việt Nam, trong giai đoạn nghiên  
cứu, nhìn chung nợ xấu của các NHTM gia  
tăng từ năm 2009 trong khi tăng trưởng kinh  
tế giai đoạn 2009 – 2016 thấp hơn giai đoạn  
2006 – 2008. Khi nền kinh tế tăng trưởng, thu  
nhập của cá nhân, hộ gia đình tăng sẽ khiến  
họ tiêu dùng nhiều hơn, tạo điều kiện cho các  
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thu nhập  
gia tăng và do đó khả năng thanh toán các  
khoản nợ dễ dàng hơn. Ngược lại, khi kinh tế  
kém phát triển, hoạt động sản xuất kinh  
doanh bị trì trệ khiến họ không có khả năng  
trả nợ, từ đó khiến tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng  
gia tăng.  
phát trong nền kinh tế tăng cao, NHNN thực  
hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để chống lạm  
phát, hoạt động tín dụng của các NHTM cũng  
sẽ bị ảnh hưởng. Cụ thể, lãi suất cho vay tăng  
lên, chi phí đầu vào của doanh nghiệp bị đẩy  
lên đã làm giảm hiệu quả kinh doanh của các  
doanh nghiệp vay vốn, từ đó ảnh hưởng trực  
tiếp đến khả năng trả nợ của họ đối với ngân  
hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng siết chặt việc  
cho vay sẽ dẫn đến tình trạng nền kinh tế thiếu  
tính thanh khoản, hoạt động sản xuất kinh  
doanh bị trì trệ, các doanh nghiệp chiếm dụng  
vốn lẫn nhau, mất khả năng thanh toán, nhiều  
doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa  
và nhỏ đứng trước nguy cơ phá sản, đẩy gánh  
nặng nợ xấu về phía các ngân hàng.  
Năm là, tỷ lệ thất nghiệp tương quan  
nghịch chiều với tỷ lệ nợ xấu. Điều này ngược  
dấu với kì vọng ban đầu của nhóm tác giả đưa  
ra cũng như một số nghiên cứu trước đây của  
các tác giả Messai, Jouini (2013), Klein  
(2013), Fillip (2015), Ghosh (2015), Makri và  
cộng sự (2014). Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu  
kết quả này có thể phù hợp với thực tế tại Việt  
Nam trong giai đoạn nghiên cứu hay không?  
Thực tế tình hình nợ xấu của các NHTM  
và tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam trong giai đoạn  
2009 – 2013 và năm 2015 ủng hộ cho kết quả  
nghiên cứu này của nhóm tác giả. Mối tương  
quan nghịch chiều này có thể giải thích hai  
nguyên nhân như sau: một là, tỷ trọng cho vay  
cá nhân tiêu dùng trên tổng dư nợ tín dụng  
vẫn còn thấp; đồng thời tỷ lệ thất nghiệp ở  
Việt Nam thấp và không biến động nhiều. Do  
đó, về lý thuyết khi thất nghiệp tăng lên có thể  
dẫn đến gia tăng nợ xấu trong trường hợp số  
người thất nghiệp không có giao dịch tín dụng  
với ngân hàng ít thì nguy cơ rủi ro nợ xấu sẽ  
giảm xuống. Nguyên nhân thứ hai xuất phát  
từ đặc thù thị trường tại Việt Nam cho phép  
người lao động có thể sẵn sàng làm bất kỳ  
công việc nào tuy khác với chuyên môn do đó  
tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam thấp so với các  
nước trên thế giới và rất ít biến động. Thất  
nghiệp dạng này gần với thất nghiệp tự nhiên  
Bốn là, tỷ lệ lạm phát có tương quan  
thuận chiều với tỷ lệ nợ xấu. Khi tỷ lệ lạm  
142 Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143  
của nền kinh tế. Như vậy, điều này có nghĩa là  
tỷ lệ thất nghiệp tăng giảm không giải thích  
cho sự thay đổi của nợ xấu mà có thể nợ xấu  
thay đổi đơn thuần do những yếu tố khác tác  
động như GDP và các yếu tố ngân hàng.  
5. Một số khuyến nghị  
Thông qua kết quả nghiên cứu đã được  
trình bày ở trên, để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu  
của NHTM, nhóm tác giả đưa ra một số kiến  
nghị sau:  
thu hồi nợ từ khách hàng; gia hạn nợ, cơ cấu  
lại khoản vay, đánh giá lại nợ; bán nợ cho  
công ty mua bán nợ hay sử dụng dự phòng rủi  
ro để xử lý.  
Thứ ba, các yếu tố vĩ mô thực sự tác động  
đến hoạt động cấp tín dụng và khả năng trả nợ  
của khách hàng. Các biến vĩ mô thường nằm  
ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng  
thương mại. Do đó, các ngân hàng cần chủ  
động đối phó trước những thay đổi của nền  
kinh tế nhằm bảo toàn tài sản của mình. Trong  
các thuật toán đánh giá sức chịu đựng (Stress  
test), các ngân hàng cần quan tâm hơn đến các  
biến số vĩ mô. Điều này không những giúp  
các ngân hàng chủ động ứng phó với những  
cú sốc của nền kinh tế mà còn giúp các ngân  
hàng dự báo được các khoản trích lập dự  
phòng rủi ro. Từ đó, các ngân hàng có thể đưa  
ra các chiến lược phát triển hợp lý, vừa đảm  
bảo được khả năng sinh lời, vừa bảo toàn  
được các tài sản có của ngân hàng.  
Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam  
Do tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP tăng  
thì tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm, khả năng  
trả nợ của người đi vay tăng và ngược lại. Vì  
vậy, NHNN cần có các biện pháp kích cầu  
nền kinh tế, hỗ trợ cho khu vực kinh tế tư  
nhân trong sản xuất kinh doanh và tiếp cận  
vốn.  
Đối với Ngân hàng Thương mại  
Thứ nhất, các ngân hàng cần đảm bảo  
tăng trưởng tín dụng bền vững thể hiện ở việc  
giám sát chặt trong khâu thẩm định, quyết  
định cấp tín dụng cũng như giám sát sau khi  
cấp tín dụng. Các ngân hàng cần tránh cấp tín  
dụng quá mức, hạ chuẩn cấp tín dụng; cần xây  
dựng và xác định rõ ràng khẩu vị rủi ro, từ đó  
chủ động xây dựng danh mục tín dụng với các  
tỷ trọng phân bố dự kiến và lựa chọn phương  
án thích hợp với mục tiêu lợi nhuận và khả  
năng chịu đựng tổn thất của ngân hàng.  
Thứ hai, tỷ lệ nợ xấu năm trước có tác  
động mạnh thuận chiều đến nợ xấu năm hiện  
tại nên các ngân hàng cần chú trọng tăng  
cường khả năng quản trị rủi ro phù hợp với  
quy mô tổng tài sản không ngừng tăng lên  
theo thời gian. Nâng cấp cơ chế quản lý và  
kiểm soát rủi ro, học hỏi từ các ngân hàng  
nước ngoài để tiến hành phân tích tín dụng và  
giám sát khả năng trả nợ của người vay một  
cách hiệu quả. Tiếp tục xử lý nhanh chóng nợ  
đọng bằng cách bán tài sản đảm bảo; tích cực  
Đồng thời, trong từng thời kỳ nhất định,  
NHNN cần có một chính sách tiền tệ phù hợp  
nhằm kiểm soát lạm phát ở mức thấp, giúp  
giảm nợ xấu  
Tài liệu tham khảo  
Badar, M. & Javid, Y. (2013). Impact of macroeconomic forces on nonperforming loans: An  
empirical study of commercial banks in Pakistan. Wseas Transactions on Business and  
Economics, 40 - 48.  
Berger, A. & DeYoung, R. (1997). Problem loas and cost efficiency commercial banks. Journal  
of Banking and Finance, 21.  
Đinh Thị Thanh Vân (2012). So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng  
của Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, 19, 5-12.  
Nguyễn T. N. Quỳnh và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 63(6), 133-143 143  
Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013). Phân tích thực tiễn về những yếu tố quyết định  
đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Seminar  
Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách số 07 do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách  
tổ chức, Hà Nội, tháng 01/2013.  
Farrar, D. & Glauber, R. (1967). Multicollinearity in regression analysis: The problem revisited.  
Review of Economics and Statistics, 49, 92-107.  
Filip, B.F. (2015). The quality of bank loans within the framework of Globalization. Procedia  
Economics and Finance, 20, 208-217.  
Fofack, H. (2005). Non-performig loans in sub-Saharan Africa: Causal analysis and  
macroecomic implications. World Bank Policy Research Working Paper No.3769,  
November.  
Ghosh, A. (2015). Banking-industry specific and regional economic determinants of non-  
performing loans: Evidence from US state. Journal of Financial Stability, 20, 93-104.  
Keeton, W. R. (1999). Does faster loan growth lead to higher loan losses? Federal Reserve Bank  
of Kansas City. Economic Review, 84(2) 57-75.  
Klein, N. (2003). Non-performing loan in CESEE: Determinants and impact on macroeconomic  
performance. IMF Country Report, No. 13/86  
Lê Hoàng Anh và Mai Thị Phương Thùy (2015). Ảnh hưởng của các cú sốc kinh tế vĩ mô đến nợ  
xấu ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 16, 81 – 84.  
Louzis, D.P.; Vouldis, A. T. & Metaxas, V. L. (2010). Macroeconomic and bank-specific  
determinants of non-performing loans in Greece: A comparative study of mortgage,  
business and consumer loan portfolios. Journal of Banking and Finance, 36(4), 1012-1027.  
Makri, V., Tsagkanos, A., Bellas, A. (2014). Determinants of non-performing loans: The case of  
Eurozone. Panoeconomicus, 2, 193-206.  
Nguyễn Thành Nam (2013). Vấn đề xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp  
chí Khoa học Đào tạo Ngân hàng, 135.  
Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015). Yếu tố tác động đến nợ xấu các ngân hàng thương mại Việt  
Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(11), 80-98.  
Nguyễn Tuấn Kiệt và Đinh Hùng Phú (2016). Các yếu tố vĩ mô và vi mô tác động đến nợ xấu  
của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 229, 9 – 16.  
Peter Rose (2004). Quản trị ngân hàng thương mại, Bản dịch Tiếng Việt, NXB Tài chính.  
Rajan, R & Dahl, S. (2003). Non-performing loans and terms of credit od public sector banks in  
India: An empirical assessment. Occasional papers, Reserve Bank of India.  
Salas, V. and Saurina, J. (2002). Credi risk in two institutional regimes: Spanish commercial and  
savings banks. Journal of Financial Services Research, 22(3), 203 - 224.  
Vithessonthi, C. (2016). Deflation, bank credit growth, and non-performing loans: Evidence  
from Japan. International Review of Financial analysis, 45, 295-305.  
pdf 11 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 16580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_tac_dong_den_no_xau_tai_cac_ngan_hang_thuong_mai.pdf