Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 79 - 85  
FACTORS AFFECTING THE DECISION TO PARTICIPATE  
IN VOLUNTARY SOCIAL INSURANCE OF EMPLOYEES  
IN NINH HAI DISTRICT, NINH THUAN PROVINCE  
Ho Thi Phuong Thao1, Le Na2, Nguyen Ngoc Thuy2*  
1Ninh Hai Social Security Office, Ninh Thuan province  
2Nong Lam University - Ho Chi Minh City  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
The study was conducted to assess the current situation and to identify  
the determinants of participation in voluntary social insurance of people  
in Ninh Hai district, Ninh Thuan province. The results show that not  
Received:  
Revised:  
24/7/2021  
09/8/2021  
Published:  
09/8/2021 many people participating in voluntary insurance in the locality, the  
participants are in many different fields, the number of participation  
increases gradually over the years. From the survey data of 171  
employees, including 87 people participating in unemployment  
insurance and 84 people not participating in unemployment insurance,  
there is a significant difference in the level and income of the groups.  
The logit model shows the factors of gender, education level, people's  
income, living area, awareness of social security of unemployment  
insurance, people's understanding of unemployment insurance policy,  
propaganda. about unemployment insurance and family - society affects  
people's decision to participate in unemployment insurance.  
KEYWORDS  
Social insurance  
Voluntary  
Social Security  
Ninh Hai  
Ninh Thuan  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI  
TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN  
Hồ Thị Phương Thảo1, Lê Na2, Nguyễn Ngọc Thùy2*  
1Bảo hiểm Xã hội huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận  
2Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 24/7/2021  
Ngày hoàn thiện: 09/8/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và xác định các  
yếu tố quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân  
huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Kết quả cho thấy người dân tại địa  
Ngày đăng: 09/8/2021 phương tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa nhiều, các đối tượng  
tham gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau, số lượng tham gia tăng dần qua  
các năm. Từ số liệu điều tra 171 người lao động trong đó có 87 người  
TỪ KHÓA  
tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và 84 người chưa tham gia  
BHXHTN cho thấy có sự khác nhau có ý nghĩa ở trình độ và thu nhập  
của các nhóm. Mô hình logit chỉ ra các yếu tố giới tính, trình độ học  
vấn, thu nhập của người dân, khu vực sinh sống, nhận thức về an sinh  
xã hội của bảo hiểm xã hội tự nguyện, hiểu biết của người dân về chính  
sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, sự tuyên truyền về bảo hiểmxã hội tự  
nguyện và gia đình – xã hội có ảnh hưởng đến quyết định thamgia bảo  
hiểm xã hội tự nguyện của người dân.  
Bảo hiểm xã hội  
Tự nguyện  
An sinh xã hội  
Ninh Hải  
Ninh Thuận  
* Corresponding author. Email: nnthuy@hcmuaf.edu.vn  
79  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 79 - 85  
1. Giới thiệu  
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là công cụ giúp nhà nước điều tiết xã hội, giúp gắn kết phát triển  
kinh tế với thực hiện công bằng, tiến bộ và phát triển xã hội bền vững. BHXH là sự đảm bảo thay  
thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với nguời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm  
giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử  
tuất, già yếu, mất việc làm... trên cơ sở hình thành một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên  
tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo đúng pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn, ổn  
định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo xã hội [1]. Cùng  
với hệ thống BHXH bắt buộc thì bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) ra đời với mong muốn  
đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho người nông dân và lao động tự do. BHXHTN được kỳ vọng là  
chỗ dựa cho người thu nhập thấp, đem đến cơ hội hưởng “lương hưu” cho hàng chục triệu người  
không nằm trong diện BHXH bắt buộc. Trải qua quá trình thực hiện BHXHTN càng chứng tỏ  
đây là chính sách đúng đắn của Nhà nước.  
Panda và cộng sự [2] đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia các chương trình bảo  
hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm xã hội tại các nước thu nhập thấp và trung bình. Tác giả đã sử  
dụng mô hình hồi quy xác suất để xem xét khả năng tham gia của người dân tại các khu vực  
nghiên cứu. Kết quả cho thấy các yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến khả năng tham gia đó là:  
tuổi; trình độ học vấn; thu nhập; khu vực cư trú; khả năng tiếp cận và sự quan tâm đến tương lai.  
Urean [3] với nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới tính, học vấn)  
và các yếu tố xã hội khác đến sự tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ tại  
Romania. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 1.579 người đại diện theo các nhóm tuổi, vùng miền,  
thu nhập. Kết quả cho thấy môi trường cư trú, thu nhập, khu vực phát triển đã ảnh hưởng nhất  
định tới việc tham gia bảo hiểm lương hưu tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ tại Romania.  
Amlan và cộng sự [4] đã thực hiện nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia  
chương trình bảo hiểm hưu trí tại các khu vực ngoài đô thị ở Ấn Độ. Nghiên cứu tiến hành khảo  
sát 400 người dân tại địa phương là quận Burdwan ở phía Tây Ấn Độ, các kỹ thuật phân tích bao  
gồm phân tích nhân tố, và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy,  
các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm hưu trí đó là thu nhập, sự quan tâm đến tương  
lai, sự tư vấn tài chính và khả năng chấp nhận rủi ro.  
Nguyễn và cộng sự [5] nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo  
hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Tác giả chọn lấy  
mẫu 350 phiếu điều tra tại một số huyện, thị xã, thành phố, nơi có số lượng đối tượng buôn bán  
nhỏ lẻ tương đối nhiều so với các huyện thị khác trong tỉnh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 7  
biến tác động có ý nghĩa thống kê lên sự quan tâm tham gia BHXHTN với tầm quan trọng lần  
lượt là: Tuyên truyền về BHXHTN, Ý thức sức khỏe, Kiến thức về BHXHTN, Thái độ, Kỳ vọng  
gia đình, Trách nhiệm đạo lý và Kiểm soát hành vi.  
Trương và cộng sự [6] với nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo  
hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên. Tác giả đã đề  
xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố, bao gồm: (1) Nhận thức tính an sinh xã hội của  
BHXHTN; (2) Thái độ; (3) Ảnh hưởng xã hội; (4) Hiểu biết về BHXHTN; (5) Thu nhập và (6)  
Truyền thông. Qua khảo sát và xử lý số liệu điều tra với 342 người lao động khu vực phi chính  
thức lựa chọn ngẫu nhiên theo đơn vị hành chính tỉnh Phú Yên, 6 nhân tố này đều tác động một  
cách có ý nghĩa thống kê đối với biến phụ thuộc.  
Hoàng và cộng sự [7] đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia  
bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân: Trường hợp địa bản tỉnh Phú Yên. Mẫu được khảo sát  
từ 325 hộ nông dân được phân đều đến 4 địa bàn của tỉnh Phú Yên. Bằng mô hình hồi quy Logit  
tác giả đã xác định được các nhân tố độc lập ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHXHTN của  
nông dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên đó là các yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới tính, trình độ học  
vấn), tuyên truyền về BHXHTN, ý thức sức khỏe, thu nhập, sự am hiểu về BHXHTN, ảnh hưởng  
của gia đình và xã hội.  
80  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 79 - 85  
Hoàng và cộng sự [8] với nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH của  
người lao động khu vực phi chính thức. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 166 người lao  
động nam và 176 người lao động nữ. Theo đó, quyết định tham gia BHXHTN tại Việt Nam được  
cấu thành bởi 10 nhóm nhân tố chính: Thái độ đối với việc tham gia, kỳ vọng của gia đình, thu  
nhập, cảm nhận rủi ro, ảnh hưởng xã hội, ý thức sức khỏe khi về già, công tác tuyên truyền, trách  
nhiệm đạo lý, kiểm soát hành vi và hiểu biết về BHXHTN. Qua kết quả điều tra và xử lý số liệu  
cho thấy, yếu tố trách nhiệm đạo lý và truyền thông là hai nhân tố tác động mạnh mẽ nhất lên  
quyết định tham gia BHXHTN của người lao động ở khu vực phi chính thức, chứ không phải vấn  
đề thu nhập. Ngoài ra, trình độ học vấn không cao cũng cản trở tới sự hiểu biết về chính sách  
BHXHTN, cũng như nhận thức về trách nhiệm đạo lý của người lao động. Đa số người lao động  
tham gia phỏng vấn có tâm lý cậy nhờ con cái khi hết tuổi lao động và ốm đau khi về già; cho  
đây là một việc đương nhiên.  
Lược khảo những nghiên cứu trên cho thấy BHXHTN là chính sách ưu việt đối với người dân.  
Các nghiên cứu chỉ ra có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc người dân tham gia BHXHTN, nhưng  
cần thêm nghiên cứu tại huyện Ninh Hải của tỉnh Ninh Thuận. Đây là khu vực nông thôn ven  
biển, có những đặc điểm riêng như khu vực sinh sống, nhận thức về tính an sinh xã hội (ASXH)  
cũng như ảnh hưởng của gia đình và xã hội, yếu tố mà chưa thấy trong các nghiên cứu trước đây.  
Dựa trên cơ sở các nghiên cứu nói trên, mục tiêu của nghiên cứu thực nghiệm này nhằm phân  
tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân tại  
huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Từ đó, bài báo đề xuất các giải pháp nhằm thu hút sự tham gia  
bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu tiến hành khảo sát thuận tiện 180 người lao động, trong đó có 90 người tham gia  
BHXHTN tại các xã thuộc huyện Ninh Hải. Cụ thể thị trấn Khánh Hải 50 người (25 người có  
tham gia BHXHTN), xã Nhơn Hải 50 người (25 người có tham gia BHXHTN), xã Thanh Hải 30  
người (15 người tham gia BHXHTN) và xã Vĩnh Hải 50 người (25 người tham gia BHXHTN)  
Phương pháp thống kê mô tả và kiểm định được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của  
dữ liệu và so sánh về đặc điểm của 2 nhóm người lao động tham gia và chưa tham gia BHXHTN.  
Phương pháp hồi quy Logit được sử dụng để đo lường các yếu tố quyết định tham gia  
BHXHTN của người dân, mô hình hồi quy có dạng: Ln O0=β0 + β1X1 + β2X2+ β3X3+…+ βkXk  
Bảng 1. Các biến và kỳ vọng dấu của mô hình (đề xuất)  
STT  
Các biến  
Tuổi  
Đo lường  
KH biến Kỳ vọng dấu  
Nguồn  
Panda và cs (2013) [2];  
Nguyễn và cs (2013) [5].  
Nguyễn và cs (2013) [5].  
Panda và cs (2013) [2];  
Nguyễn và cs (2013) [5]  
Panda và cs (2013) [2];  
Amlan và cs (2016) [4].  
1
2
3
Năm tuổi  
Nam 1; Nữ 0  
X1  
X2  
X3  
(-)  
(+)  
(+)  
Giới tính  
Trình độ học vấn Năm đi học  
4
5
6
Thu nhập  
Ổn định 1; Không ổn định 0  
X4  
X5  
X6  
(+)  
(+)  
(+)  
Thành thị,trung tâmxã 1;  
Nông thôn,vùng sâu vùng xa 0  
1. Không biết  
Khu vực  
Panda và cs (2013) [2].  
Nhận thức tính  
ASXH của BHXHTN 2. Một ít  
Trương và cs (2013) [6];  
Hoàng và cs (2018) [7].  
3. Trung bình  
4. Đầy đủ  
5. Rất đầy đủ  
1. Không có  
2. Một ít  
3. Trung bình  
4. Nhiều  
Hiểu biết về  
chính sách BHXHTN  
Nguyễn và cs (2013) [5];  
Trương và cs (2013) [6].  
7
8
9
X7  
X8  
X9  
(+)  
(+)  
(+)  
Tuyên truyền về  
Bùi và cs (2012) [9].  
BHXHTN  
Ảnh hưởng của  
gia đình và xã hội  
Nguyễn và cs (2013) [5];  
Hoàng và cs (2018) [8].  
5. Rất nhiều  
81  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 79 - 85  
Từ các biến được kế thừa từ các nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu đề xuất có dạng như  
Hình 1.  
Tuổi (-)  
Giới tính (+)  
Trình độ học vấn (+)  
Thu nhập (+)  
QUYẾT ĐỊNH  
THAM GIA  
Khu vực sinh sống (+)  
BHXHTN CỦA  
NGƯỜI DÂN  
Nhận thức tính ASXH của BHXHTN (+)  
Hiểu biết về chính sách BHXHTN (+)  
Tuyên truyền về BHXHTN (+)  
Ảnh hưởng của gia đình và xã hội (+)  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Kỳ vọng dấu đối với quyết định tham gia BHXHTN của người dân (bảng 1) cho thấy: Biến  
tuổi của người dân càng cao thì kỳ vọng họ tham gia BHXHTN càn ít, điều này rất dễ hiểu vì  
theo luật bảo hiểm quy định, người dân muốn có lương khi về già đòi hỏi phải tham gia đóng đủ  
năm BHXHTN vì vậy khi tuổi đã nhiều họ biết không thể đóng đủ được số năm. Biến giới tính  
nam được kỳ vọng có xu hướng tham gia bảo hiểm nhiều hơn nữ, vì nam giới là lao động trụ cột  
của gia đình, khi họ tham gia BHXHTN giúp giảm rủi ro cho bản thân và gia đình. Biến trình độ  
học vấn người dân càng cao thì kỳ vọng họ càng tham gia BHXHTN nhiều hơn, vì trình độ cao  
họ sẽ nhận thức được vai trò của BHXHTN. Biến thu nhập càng cao thì kỳ vọng họ càng tham  
gia BHXHTN nhiều hơn, vì họ có đủ điều kiện tài chính để tham gia. Biến khu vực sống của  
người dân được kỳ vọng các khu vực trung tâm thì người dân tham gia BHXHTN nhiều hơn, vì  
sống ở trung tâm họ có đủ thông tin, cũng như tài chính và thường trình độ học vấn cao hơn. Biến  
nhận thức tính ASXH của BHXHTN được kỳ vọng càng cao thì họ càng tham gia BHXHTN  
nhiều hơn, vì họ nhận thức được tầm quan trọng về ASXH mà BHXHTN đem lại khi họ tham  
gia. Biến hiểu biết về chính sách BHXHTN được kỳ vọng người càng hiểu nhiều thì càng tham  
gia BHXHTN nhiều hơn, vì khi họ hiểu được chính sách họ sẽ hiểu được các quyền lợi mà  
BHXHTN quy định, cũng như nghĩa vụ của các cá nhân. Biến tuyên truyền về BHXHTN được  
kỳ vọng càng tuyên truyền nhiều thì người dân càng tham gia BHXHTN nhiều hơn, vì người dân  
sẽ hiểu được tính ưu việt của BHXHTN trong các trường hợp rủi ro của bản thân và công việc.  
Biến ảnh hưởng của gia đình và xã hội được kỳ vọng nếu ảnh hưởng nhiều hơn thì sẽ tham gia  
BHXHTN nhiều hơn, vì việc quyết định tham gia BHXHTN nó cũng phụ thuộc vào người tham  
chiếu và người tư vấn.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Thực trạng công tác BHXHTN tại huyện Ninh Hải  
Công tác phát triển BHXHTN trên địa bàn huyện Ninh Hải rất được ngành bảo hiểm quan  
tâm, cụ thể nó được thể hiện qua số hội nghị giới thiệu và kinh phí cho các hội nghị qua các năm,  
cụ thể được thể hiện ở bảng 2.  
82  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 2. Công tác tuyên truyền BHXHTN  
226(12): 79 - 85  
STT  
Nội dung  
Số hội nghị BHXHTN  
Số người tham gia hội nghị  
Kinh phí thực hiện  
ĐVT  
Người  
Người  
2017  
29  
870  
44  
2018  
19  
578  
29  
2019  
1
2
3
27  
802  
40  
Triệu đồng  
Số liệu ở bảng 2 cho thấy, số hội nghị và số người tham gia hội nghị BHXHTN năm sau thấp  
hơn năm trước, trung bình mỗi hội nghị có khoảng 30 người và kinh phí cho mỗi hội nghị  
khoảng 1,5 triệu đồng.  
Với sự quan tâm của ngành bảo hiểm huyện, kết quả người tham gia BHXHTN tại Ninh Hải  
có những chuyển biến tích cực, được thể hiện ở bảng 3.  
Bảng 3. Kết quả tham gia BHXHTN  
2018/2017  
2019/2018  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
2017  
2018  
2019  
+/-  
1.347  
122  
%
3,3  
77,7  
+/-  
1.276  
247  
%
3,0  
88,5  
Thuộc diện tham gia  
Đã tham gia  
Tỷ lệ  
Người  
Người  
%
41.061  
157  
0,38  
42.408  
279  
0,66  
43.684  
526  
1,20  
0,28  
0,54  
Kết quả bảng 3 cho thấy, số người thuộc diện tham gia BHXHTN tại địa phương tăng dần,  
năm 2017 là 41.061 người, thì đến năm 2019 là 43.408 người (tương ứng tỷ lệ tăng khoảng  
3%/năm). Số người đã tham gia BHXHTN cũng tăng dần, năm 2017 có 157 người thì đến 2019  
có 526 người (tương ứng tỷ lệ tăng khoảng 8%/năm). Làm cho tỷ lệ người tham gia BHXHTN  
tăng với tốc độ gấp đôi mỗi năm, năm 2017 là 0,38%/năm thì năm 2019 là 1,2%/năm.  
Đối tượng tham gia BHXHTN tại địa phương theo nhóm nam nữ có sự thay đổi khác nhau, và  
rất đa dạng về ngành nghề, cụ thể bảng 4.  
Bảng 4. Phân loại đối tượng tham gia BHXHTN  
TT  
1
-
-
2
-
-
-
-
-
Phân loại đối tượng  
ĐVT  
%
%
%
%
%
%
%
%
%
%
%
Tuổi  
2017  
100,00  
37,80  
62,20  
100,00  
13,60  
19,80  
15,45  
21,36  
9,55  
2018  
100,00  
39,78  
60,22  
100,00  
11,52  
18,25  
14,58  
22,37  
10,36  
13,44  
9,48  
2019  
100,00  
41,62  
58,38  
100,00  
10,26  
19,11  
15,02  
22,39  
11,12  
13,10  
9,00  
Giới tính  
Nam  
Nữ  
Ngành nghề  
Lao động tự do  
Hộ kinh doanh  
Làm nghề truyền thống  
Làm nông nghiệp  
Làm nhóm nghề xây dựng  
Làm nhóm nghề cơ khí  
Tiểu thương (buôn bán nhỏ)  
Độ tuổi trung bình  
-
-
3
12,56  
7,68  
33,3  
30,6  
29,8  
Số liệu ở bảng 4 cho thấy, số người tham gia BHXHTN là nam chiếm đa số, nhưng theo xu  
hướng giảm nhẹ. Những người này đến từ nhiều ngành nghề khác nhau và chiếm tỷ lệ lớn là từ  
làm nông và hộ kinh doanh, kế đến là làm nghề truyền thống, lao động tự do… Tuổi của những  
người tham gia BHXHTN có xu hướng trẻ hóa theo thời gian, năm 2017 là 33,3 tuổi thì đến năm  
2019 là 29,8 tuổi.  
Theo thời gian, mức đóng BHXHTN của các đối tượng tham gia bảo hiểm có sự thay đổi  
khác nhau, cụ thể được thể hiện ở bảng 5. Qua số liệu ở bảng 5 cho thấy, mức đóng BHXHTN  
chủ yếu tập trung vào mức dưới 2 triệu đồng (chiếm gần 60%), nhưng số người đóng theo mức  
này đang giảm dần theo thời gian. Hiện mức đóng từ 2 đến 4 triệu đồng đang có xu hướng tăng.  
Đây là mức đóng phù hợp với người dân hơn.  
83  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 5. Mức đóng bảo BHXHTN của người tham gia  
226(12): 79 - 85  
STT  
Mức lương đóng  
Mức 700.000 đồng  
Mức từ 1-2 triệu  
Mức từ 2-3 triệu  
Mức từ 3-4 triệu  
Mức trên 5 triệu  
Tổng  
ĐVT  
%
%
%
%
Năm 2017  
39,15  
Năm 2018  
37,16  
Năm 2019  
1
2
3
4
5
38,2  
27,6  
20,36  
13,46  
0,38  
28,25  
17,65  
11,45  
3,5  
29,25  
17,25  
15,23  
1,11  
%
%
100,0  
100,0  
100,0  
3.2. Các yếu tố quyết định tham gia BHXHTN của người dân  
Từ kết quả khảo sát 180 người lao động có 171 phiếu hợp lệ (có 9 phiếu không hợp lệ) bao  
gồm 87 phiếu là người lao động đã tham gia BHXHTN và 84 phiếu chưa tham gia. Tỷ lệ nam  
chiếm 41,7% và nữ là 57,3%. Về tuổi, từ 18-30 tuổi chiến 39,8%, từ 30-45 tuổi chiếm 31,6%, từ  
45-55 tuổi chiếm 24,5% và trên 55 tuổi chiếm 4,1%. Về thu nhập, dưới 3 triệu chiếm 14,0%, từ  
3-5 triệu chiếm 33,3%, từ 5-7 triệu chiếm 40,4% và trên 7 triệu chiếm 12,3%.  
Bảng 6. So sánh một số đặc điểm của 2 nhóm người lao động khảo sát  
Tham gia BHXHTN  
Chưa tham gia BHXHTN  
Chỉ tiêu  
Tuổi trung bình  
Trình độ học vấn trung bình  
Thu nhập trung bình  
Kiểm định t  
(n1=87)  
30,3  
11,6  
(n2=84)  
32,7  
7,8  
-1,548  
3,054**  
1,032***  
5,4  
3,8  
Ghi chú: ** và ***: khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% và 1%.  
Qua bảng 6 cho thấy không có sự khác nhau có ý nghĩa về yếu tố tuổi giữa 2 nhóm khảo sát,  
nhưng có sự khác nhau có ý nghĩa về yếu tố học vấn và thu nhập. Cụ thể nhóm tham gia  
BHXHTN có học vấn trung bình là 11,6 năm và thu nhập là 5,4 triệu/tháng cao hơn nhóm chưa  
tham gia BHXHTN có học vấn trung bình là 7,8 năm và thu nhập trung bình là 3,8 triệu/tháng.  
Bảng 7. Kết quả mô hình hồi quy và kiểm định  
Các biến độc lập  
Hệ số βi  
-1,038  
-0,647  
0,143*  
Trị thống kê z  
-0,887  
-0,317  
1,922  
Prob.  
0,493  
0,752  
0,072  
0,021  
0,000  
0,034  
0,017  
0,004  
0,042  
0,073  
Tuổi (X1)  
Giới tính (X2)  
Trình độ học vấn (X3)  
Thu nhập (X4)  
Khu vực (X5)  
1,956**  
0,262***  
1,362**  
0,172**  
0,793***  
0,462**  
3,917  
2,513  
5,318  
2,353  
2,837  
3,769  
2,037  
1,862  
Nhận thức tính ASXH của BHXHTN (X6)  
Hiểu biết về chính sách BHXHTN (X7)  
Tuyên truyền về BHXHTN (X8)  
Ảnh hưởng của gia đình và xã hội (X9)  
Hằng số (C)  
Loglikelihood = -41,547243  
McFadden R-squared = 0,692167  
Probability (LR stat) = 0,00000  
Ghi chú: ***, **, * thể hiện mức ý nghĩa về mặt thống kê tương ứng α=1%, 5% và 10%  
Số liệu ở bảng 7 cho thấy, các yếu tố trình độ học vấn, thu nhập, khu vực sinh sống, nhận thức  
tính ASXH của BHXHTN, hiểu biết về chính sách BHXHTN và ảnh hưởng của gia đình và xã  
hội có ảnh hưởng tích cực tới quyết định tham gia BHXHTN của người dân.  
3.3. Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển BHXHTN tại huyện Ninh Hải  
- Tạo việc làm ổn định cho người dân, người dân có nhu cầu tham gia BHXHTN nhưng bị  
giới hạn bởi thu nhập, hiện thu nhập của người dân địa phương còn khá thấp. Khi thu nhập của  
họ cao thì mức độ tham gia của họ cũng nhiều hơn và họ cũng sẽ mua BHXHTN ở mức cao hơn.  
84  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 79 - 85  
- Nâng cao nhận thức tính ASXH của BHXHTN cho người lao động. Hiện người dân vẫn  
chưa hiểu hết được các quyền lợi mà họ được hưởng khi tham gia BHXHTN (như quyền lợi về  
hưu, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn…) vì vậy địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền cho người  
dân hiểu và nhận thức đúng tầm quan trọng của BHXHTN.  
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Một trong những yếu tố quan trọng để người dân quyết  
định mua BHXHTN là việc tuyên truyền vận động để họ hiểu được vấn đề và dẫn đến quyết định.  
Việc tuyên truyền cần đa kênh và nên có sự lòng ghép chung với các chương trình để giảm chi  
phí và tăng tính hiệu quả. Cũng như tuyên truyền các cách thức đóng, hoãn đóng… để người dân  
thấy rằng BHXHTN có tính linh hoạt để dễ sử dụng…  
- Nâng cao tính ảnh hưởng của gia đình và xã hội. Cần cho người lao động thấy được BHXH  
là cần thiết cho mọi người lúc trẻ cũng như khi về già, cần có sự khuyến khích khi mua  
BHXHTN cho cả gia đình. Để đến được với quyết định mua bảo hiểm thì sự động viên của người  
thân và bạn bè đóng vai trò cốt yếu.  
- Nâng cao hiểu biết của người lao động về chính sách BHXHTN. Thông qua tuyên truyền  
cần thông tin cho người lao động hiểu tất cả các vấn đề của BHXH, từ vấn đề tham gia, mức  
đóng, dừng đóng, chuyển mức đóng, các quyền lợi khi về hưu, khi khám chữa bệnh… để người  
dân có cái nhìn toàn diện, khi đó sẽ chủ động để tham gia với mức độ hợp lý nhất.  
4. Kết luận  
An sinh xã hội là thước đo của sự phát triển và BHXNTN là chính sách có ý nghĩa sâu sắc đối  
với người lao động, nhằm giúp mọi người có được khoản thu nhập khi về già, để giảm bớt khó  
khăn về kinh tế và có điều kiện chăm sóc về bệnh tật.  
Vài năm gần đây tại huyện Ninh Hải số người tham gia BHXHTN có tăng lên, tuy nhiên tỷ lệ  
vẫn còn khá thấp, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, một phần do thu nhập của người  
dân còn thấp và người dân chưa hiểu hết tính ASXH của BHXHTN, mặt khác do tỷ lệ đóng cao  
và thủ tục phức tạp cũng là rào cản người dân tham gia.  
Kết quả logit chỉ ra có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quyết định tham gia BHXHTN của người dân  
như trình độ học vấn, thu nhập, khu vực, nhận thức ASXH của BHXHTN, hiểu biết về chính sách  
BHXHTN, tuyên truyền về BHXHTN và ảnh hưởng của gia đình và xã hội đến người lao động.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] T. A. Mac, “General overview of social insurance,” Social Security Magazine, vol. 6, pp. 25-29, 2005.  
[2] P. Panda, I. Dror, T. P. Koehlmoos, S. A. S. Hossain, D. John, J. A. M. Khan, and D. Dror, What  
factors affect take up of voluntary and community-based health insurance programmes in low- and  
middle- income countries? A systematic review (Protocol), Social Science Research Unit, Institute of  
Education, University of London, 2013.  
[3] A. C. Urean, “Influence of Demographic and Social Factors over Voluntary Pension and Life Insurance  
in Romania,” Journal of Public Administration, Finance and Law, vol. 10, no. 10, pp. 192-202, 2016.  
[4] G. Amlan and K. Shrutikeerti, “Factors Influencing the Participation in Defined Contribution Pension  
Scheme by the Urban Unorganized Sectorin India,” Journal ofGlobal Economics,vol.4, no. 1, pp. 1-6, 2016.  
[5] X. C. Nguyen, X. T. Nguyen, and H. T. Ho, “Factors affecting the interest in participating in voluntary  
social insurance of small traders in Nghe An province,” VNU Journal of Science: Economics and  
Business, vol. 30, no. 1, pp. 36-45, 2014.  
[6] T. P. Truong and T. H. Nguyen, “The factors affecting the intent to participate voluntarysocial  
insurance of workers in unofficial sector at Phu Yen province,” Journal of Fisheries Science and  
Technology, no. 2, pp. 181-186, 2013.  
[7] T. T. Hoang and H. M. T. Bui, “Factors affecting the intention to participate farmers' voluntary social  
insurance: The case of Phu Yen province,” Science and Technology Development Journal: Economics  
– Law and Management, vol. 2, no. 4, pp. 54-62, 2018.  
[8] T. B. H. Hoang, T. H. Mai, and T. H. To, “Factors affecting the participation in social insurance of  
workers in the informal sector,” Social Security Magazine, no. 3, pp. 47-51, 2017.  
[9] S. T. Bui and M. H. Do, “Social Security in the informal sector: It is necessary to identify social  
insurance as an important net,” Magazine of Labour and Social Affairs, no. 6, pp. 21-23, 2012.  
85  
pdf 7 trang baolam 21760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_quyet_dinh_tham_gia_bao_hiem_xa_hoi.pdf