Thực trạng sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0029  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 2, pp. 92-103  
THỰC TRẠNG SINH KẾ TẠI VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN  
HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH  
1
Vũ Minh Trang* và Nguyễn Tường Huy2  
1Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định  
2Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
Tóm tắt. Vùng đất ngập nước ven biển của huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, có vai trò  
quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và sinh kế của cư dân địa phương. Các sinh kế  
dựa vào tài nguyên của vùng đất ngập nước ven biển như nông nghiệp, diêm nghiệp, khai  
thác và nuôi trồng thủy sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế  
của địa phương. Tuy nhiên, các sinh kế này đang phải đối mặt với những khó khăn và thách  
thức để phát triển bền vững do sức ép về dân số và các hoạt động kinh tế, suy thoái tài  
nguyên, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này phân tích thực trạng phát  
triển các sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, nhận diện những sinh  
kế thiếu bền vững và lí giải nguyên nhân của chúng, từ đó đề xuất giải pháp góp phần phát  
triển sinh kế bền vững tại địa phương.  
Từ khóa: sinh kế, nghề cá, đất ngập nước ven biển, phát triển bền vững.  
1. Mở đầu  
Vùng ngập nước ven biển của Việt Nam có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -  
xã hội của đất nước. Ngoài chức năng sinh thái, vùng đất ngập nước ven biển là nơi cung cấp tài  
nguyên trực tiếp hoặc gián tiếp cho sự phát triển của các ngành kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp,  
nghề cá, diêm nghiệp, giao thông thủy và du lịch. Vùng đất ngập nước ven biển cũng là nơi  
chứa đựng những giá trị văn hóa và lịch sử quan trọng của các cộng đồng địa phương và của đất  
nước [1]. Chức năng sinh thái của vùng đất ngập nước ven biển giúp duy trì đa dạng sinh học,  
bảo vệ môi trường của các vùng ven biển và của cả nước [1, 2].  
Vùng đất ngập nước ven biển của huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, từng được đánh giá  
là khu vực quan trọng thứ hai trong các khu vực đất ngập nước của vùng Đồng bằng sông Hồng  
[3]. Vùng đất này có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương nói chung, sinh kế  
của các cộng đồng ven biển nói riêng. Các sinh kế dựa vào tài nguyên của vùng đất ven biển  
như nông nghiệp, diêm nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản đã góp phần đảm bảo an ninh  
lương thực và phát triển kinh tế của địa phương [4-6]. Vùng đất ngập nước ven biển còn là  
nguồn cung cấp trực tiếp thực phẩm, dược liệu, vật liệu và nhiên liệu tự nhiên cho các hộ gia  
đình và các cộng đồng nghèo ven biển [1, 3].  
Trong bối cảnh chung của vùng đất ngập nước ven biển Đồng bằng sông Hồng và cả nước,  
các sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng đang phải đối mặt với những  
khó khăn và thách thức để phát triển bền vững do sức ép về dân số và các hoạt động kinh tế, suy  
thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu [1-3, 6]. Phát triển sinh kế gắn với việc  
Ngày nhận bài: 2/3/2021. Ngày sửa bài: 29/4/2021. Ngày nhận đăng: 10/5/2021.  
Tác giả liên hệ: Vũ Minh Trang. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
92  
Thực trạng sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định  
bảo tồn tài nguyên và đa dạng sinh học tại vùng đất ngập nước ven biển là một yêu cầu cấp bách  
trong chiến lược phát triển bền vững địa phương. Tuy nhiên, ngoài một số nghiên cứu tổng quan  
về hiện trạng các vùng đất ngập nước ven biển cũng như các hoạt động kinh tế làm suy thoái tài  
nguyên – môi trường vùng đất ngập nước ven biển ở cấp độ vùng và quốc gia [1, 7], hoặc của  
khu vực ven biển tỉnh Nam Định [8, 9], vấn đề này hiện vẫn chưa được nghiên cứu ở cấp độ địa  
phương của huyện Nghĩa Hưng.  
Vì vậy, nghiên cứu này sẽ phân tích thực trạng phát triển các sinh kế tại vùng đất ngập  
nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, nhận diện những sinh kế thiếu bền vững và nguyên nhân của  
chúng, từ đó đề xuất giải pháp góp phần phát triển sinh kế bền vững. Sau phần khái quát về địa  
bàn và phương pháp nghiên cứu, bài báo sẽ mô tả các sinh kế chính tại vùng đất ngập nước ven  
biển huyện Nghĩa Hưng. Phần tiếp theo sẽ thảo luận về các sinh kế thiếu bền vững trước khi đề  
xuất giải pháp góp phần phát triển sinh kế bền vững tại địa bàn nghiên cứu.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Địa bàn và phương pháp nghiên cứu  
Nghĩa Hưng là huyện ven biển phía Nam của tỉnh Nam Định, tiếp giáp với sông Ninh Cơ ở  
phía Đông và sông Đáy ở phía Tây. Tuyến đê biển chạy dọc theo đường bờ biển dài 12 km, chia  
Nghĩa Hưng thành hai vùng cảnh quan sinh thái: vùng nội địa (trong đê) và vùng ven biển có  
đất ngập nước (ngoài đê) [10]. Vùng đất ngập nước ven biển có diện tích khoảng 9.000 ha,  
trong đó bãi ngập triều khoảng 3.500 ha [1, 3]. Vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng  
thuộc phạm vi của ba đơn vị hành chính cấp xã là xã Nam Điền, thị trấn Rạng Đông và xã Phúc  
Thắng [10]. Như vậy, phát triển bền vững các sinh kế dựa vào tài nguyên đất ngập nước không  
chỉ có vai trò quan trọng đối với đời sống của cư dân ven biển mà còn đối với sự phát triển kinh  
tế - xã hội của địa phương (Địa bàn nghiên cứu được thể hiện ở Hình 1 trang sau ).  
Nghiên cứu này áp dụng tiếp cận sinh kế bền vững [12] và mô hình DPSIR (Driving forces –  
động lực, Pressures – áp lực, State – hiện trạng, Impacts – tác động, và Responses – phản hồi) [13]  
để phân tích thực trạng phát triển sinh kế, nhận diện các sinh kế thiếu bền vững (dựa vào những  
tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường) cũng như nguyên nhân và hệ lụy của chúng. Các dữ liệu  
thứ cấp về vùng đất ngập nước ven biển, thực trạng phát triển sinh kế và các vấn đề liên quan  
đến sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng được thu thập từ nhiều nguồn  
khác nhau, từ cấp xã cho đến cấp huyện, tỉnh và quốc gia. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông  
qua phỏng vấn sâu cán bộ quản lí và một số hộ gia đình, kết hợp với quan sát thực địa về thực  
trạng và vấn đề liên quan đến phát triển sinh kế địa phương. Nghiên cứu cũng khảo sát 90 hộ gia  
đình tại các xã có đất ngập nước ven biển bằng bảng hỏi. Nội dung bảng hỏi bao gồm các thông  
tin về hộ gia đình, về nguồn lực và thực trạng sinh kế, nhận định về các sinh kế thiếu bền vững  
và nguyên nhân của chúng. Kết quả khảo sát được xử lí bằng phần mềm thống kê SPSS với một  
số đại lượng thống kê mô tả đơn giản.  
2.2. Các sinh kế chính tại vùng đất ngập nước ven biển  
2.2.1. Khái quát chung  
Tài nguyên vùng đất ngập nước ven biển là nguồn lực sinh kế đặc biệt quan trọng trong  
phát triển sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển huyện Nghĩa Hưng. Các sinh kế chính dựa vào  
tài nguyên đất ngập nước là sản xuất nông nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản, và diêm  
nghiệp. Bảng 1 phản ánh sự phân bố các hộ nông thôn theo các ngành nghề của các xã ven biển.  
Trong khi số hộ nông nghiệp chiếm 30,0% số hộ nông thôn của Nghĩa Hưng thì con số này là  
38,0% ở xã Nam Điền và 21,6% ở xã Phúc Thắng. Đối với nghề cá, xã Nam Điền và Phúc thắng  
có tỷ lệ số hộ thủy sản tương ứng là 25,7% và 22,0%, so với toàn huyện Nghĩa Hưng là 5,1%.  
Diêm nghiệp (làm muối) là sinh kế đặc thù hiện chỉ có ở xã Phúc Thắng, chiếm 5,0% số hộ  
93  
Vũ Minh Trang* và Nguyễn Tường Huy  
nông thôn [4]. Ngoài ra, vùng đất ngập nước còn có các sinh kế khai thác sản phẩm tự nhiên từ  
rừng ngập mặn và và du lịch.  
Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Nghĩa Hưng và địa bàn nghiên cứu  
Nguồn [11]  
94  
Thực trạng sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định  
Bảng 1. Số hộ nông thôn phân theo ngành nghề  
của các xã ven biển huyện Nghĩa Hưng năm 2016 (Đơn vị: hộ)  
Tổng Nông Thủy Diêm Công Xây Thương Vận  
Dịch  
vụ  
Hộ  
khác  
Xã/ Huyện  
số  
nghiệp sản nghiệp nghiệp dựng nghiệp  
tải  
30  
61  
Nam Điền  
1.846  
702  
557  
474  
567  
-
147  
195  
172  
243  
155  
249  
79  
274  
87  
290  
Phúc Thắng  
Nghĩa Hưng  
2.573  
137  
47.569 14.380 2.430  
137 6.746 7.580  
4.627 1.834 3.849 5.986  
Nguồn[4]  
2.2.2. Sản xuất nông nghiệp  
Trồng lúa và chăn nuôi gia súc, gia cầm là sinh kế truyền thống chính của các hộ gia đình  
nông thôn ven biển huyện Nghĩa Hưng. Sinh kế trồng lúa hiện thu hút khoảng 60% lực lượng  
lao động của các hộ nông thôn. Các xã đã xây dựng 2 mô hình cánh đồng mẫu lớn gắn với  
chuyển đổi cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ, cơ giới hóa phương tiện sản xuất để nâng cao năng  
suất lúa. Năng suất lúa hàng năm có xu hướng tăng lên, năm 2020 đạt mức khoảng 124  
tạ/ha/năm, tăng 22,0 tạ/ha so với năm 2010. Lương thực bình quân đầu người đạt khoảng 816  
kg/người/năm. Sản lượng lương thực đảm bảo an ninh lương thực cho con người và đáp ứng  
nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi với quy mô nhỏ. Tuy nhiên, thu nhập bình quân từ trồng lúa ở  
mức thấp, hơn 1 triệu đồng/sào/năm. Vì vậy, quá trình chuyển đổi diện tích trồng lúa đã và đang  
được tiến hành trên quy mô lớn. Trong giai đoạn 2016 - 2020, 384 ha đất trồng lúa kém hiệu  
quả đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản (326 ha) và trồng rau màu (58 ha) cho giá trị sản  
xuất cao hơn [5].  
Chăn nuôi gia súc, gia cầm phụ thuộc chặt chẽ vào cơ sở nguồn thức ăn nên thường gắn với  
các hộ gia đình trồng lúa. Vì thế, chăn nuôi gia súc, gia cầm thường có quy mô nhỏ lẻ thay vì  
các trang trại lớn. Sinh kế này mang lại thu nhập không lớn, nhưng lại góp phần tăng thu nhập  
và cải thiện đời sống của các hộ gia đình. Ngoài sự hạn chế về cơ sở thức ăn, ngành chăn nuôi  
của địa phương còn gặp phải những khó khăn do hệ thống cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kĩ thuật  
và các dịch vụ cho chăn nuôi như thú y, cung cấp thức ăn và tiêu thụ sản phẩm chưa phát triển.  
Mặc dù đem lại thu nhập không cao, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn là sinh kế chính của  
một bộ phận đáng kể các hộ nông thôn tại các xã có đất ngập nước. Sản xuất nông nghiệp khá  
ổn định, đảm bảo an ninh lương thực và giải quyết được việc làm cho người dân.  
2.2.3. Khai thác và nuôi trồng thủy sản  
Khai thác và nuôi trồng thủy là sinh kế quan trọng của khoảng 25% tổng số hộ nông thôn  
của các xã ven biển có đất ngập nước. Trong giai đoạn 2015- 2020, giá trị sản xuất ngành thủy  
sản tăng bình quân 6,26%/năm [14]. Theo thống kê năm 2020, sản lượng khai thác và nuôi  
trồng thủy sản đạt 40.710 tấn, tăng 5,96% so với năm 2019. Cũng trong năm này, toàn huyện  
có 477 phương tiện khai thác thủy sản, sản lượng khai thác đạt 17.350 tấn, tăng 3,26% so với  
năm 2019. Trong đó, sản lượng cá đạt 13.100 tấn, sản lượng tôm đạt 1.340 tấn, hải sản khác đạt  
2.910 tấn. Khai thác thủy sản được duy trì và từng bước nâng cao năng lực khai thác xa bờ, gắn  
với bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc [6, 15].  
Khai thác thủy sản ven bờ là sinh kế chính của các hộ gia đình có thu nhập thấp. Hoạt động  
khai thác ven bờ có thể diễn ra ở mọi thời điểm nhưng nhộn nhịp hơn vào thời kỳ nông nhàn.  
Các công cụ phổ biến trong khai thác ven bờ và gần bờ là đăng, cào, nạo, lưới cước, lưới điện.  
Địa bàn khai thác chính là khu vực rừng ngập mặn được phục hồi. Sản phẩm chính từ khai thác  
ven bờ là các loại cua, ngao, tôm, cá nhỏ, móng tay, trùng trục… Khi thủy triều cạn, người dân  
ra các bãi triều để khai thác thủ công như mò, đào và làm đăng đó. Thu nhập từ phương thức  
khai thô sơ cũng không ổn định, dao động từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng/ngày. Ngoại trừ  
một số phương thức khai thác thủ công, đa số các phương pháp khai thác thủy sản ven bờ có thể  
95  
Vũ Minh Trang* và Nguyễn Tường Huy  
mang lại thu nhập cao hơn, nhưng lại mang tính hủy diệt và gây áp lực rất lớn lên tài nguyên  
vùng đất ngập nước ven biển. Nguồn lợi thủy sản ven bờ bị suy giảm và cạn kiệt, đa dạng sinh  
học bị suy giảm, hệ sinh thái bị mất cân bằng. Vì vậy, cần phải có biện pháp hợp lí để quản lí và  
sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản tại vùng đất ngập nước nơi đây.  
Sự gia tăng các phương tiện và công cụ khai thác thủy sản mang tính hủy diệt nguồn lợi  
gần bờ trong những năm qua đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nghề cá địa phương.  
Để bảo vệ tài nguyên ven bờ, khai thác thủy sản được chuyển đổi dần sang khai thác xa bờ. Đến  
năm 2020, toàn huyện có 213 tàu công suất từ 250 CV trở lên, chiếm khoảng 45% tổng số  
phương tiện khai thác [15].  
Nuôi trồng thủy sản hiện là sinh kế tạo thu nhập khá cáo và ổn định cho một bộ phận các  
hộ gia đình các xã có vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng. Trong giai đoạn 2015 -  
2020, diện tích nuôi trồng thủy sản có xu hướng giảm nhẹ. Tuy nhiên sản lượng nuôi trồng thủy  
sản lại có xu hướng tăng, năm 2020 đạt 23.360 tấn, tăng gấp 1,36 lần so với năm 2015 (xem  
Bảng 2). Theo thống kê năm 2020, huyện Nghĩa Hưng có 2.780 ha nuôi thủy sản, trong đó diện  
tích nuôi thả ngao vạng hơn 300 ha, còn lại là nuôi tôm, cá. Hiện tại, áp lực đặt ra đối với nuôi  
trồng thủy sản là sự thay đổi môi trường ven bờ làm gia tăng dịch bệnh, ảnh hưởng tiêu cực tới  
sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi.  
Bảng 2. Diện tích mặt nước và sản lượng nuôi trồng thủy sản  
tại huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2015-2020  
Năm 2015  
Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha) 3.124  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
2.751  
2.448  
2.578  
2.787  
2.780  
Sản lượng nuôi trồng thủy sản (tấn) 17.225 19.805 19.965 19.200 19.841 23.360  
Nguồn [6, 15, 16]  
2.2.4. Diêm nghiệp  
Diêm nghiệp (làm muối) là sinh kế truyền thống tại vùng đất ngập nước ven biển huyện  
Nghĩa Hưng. Diêm nghiệp hiện là sinh kế chính của 137 hộ gia đình có thu nhập thấp ở xã  
Nghĩa Phúc. Đây cũng là xã trọng điểm sản xuất muối của tỉnh Nam Định. Năm 2020, diện tích  
sản xuất muối thực tế là 17 ha (chiếm 32,1% tổng diện tích đất làm muối), diện tích cánh đồng  
muối bị bỏ hoang là 36 ha (chiếm 67,9% tổng diện tích đất làm muối). Sản lượng muối của xã  
đạt 1.550 tấn, giá trị thu nhập từ làm muối đạt khoảng 2,6 tỷ đồng [6, 17]. Hiện nay, nhiều diêm  
dân không còn thiết tha với nghề làm muối vì công việc vất vả nhưng mang lại thu nhập thấp và  
không ổn định.  
Tại những ruộng muối bị bỏ hoang, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất muối như hệ thống thủy  
lợi, ô nề, ô kết tinh, chắt lọc, thống cái, thống con, đường vận chuyển nước… đang xuống cấp  
nghiêm trọng. Thêm vào đó, giá cả thường xuyên biến động, giá muối thấp hiện chỉ 1.500  
đồng/kg. Sản phẩm cũng chịu sự cạnh tranh lớn từ các vùng sản xuất muối công nghiệp khác.  
Người dân phải đầu tư mua cát để làm muối, chất lượng cát nhiều khi không đạt yêu cầu. Đây  
chính là nguyên nhân và là biểu hiện của tính không bền vững của sinh kế làm muối. Vì vậy,  
cần phải có những giải pháp phù hợp để duy trì và phát triển sinh kế hoặc để chuyển đổi sinh kế  
cho diêm dân.  
2.2.5. Lâm nghiệp  
Vùng đất ven biển huyện Nghĩa Hưng hiện có khoảng 2.000 ha rừng ngập măn, chủ yếu là  
rừng trang. Chương trình 327 về trồng rừng của Chính phủ, Chương trình phát triển rừng của  
Hội chữ thập đỏ Đan Mạch đã mở rộng diện tích rừng trồng phòng hộ chắn sóng, chắn gió ven  
biển. Rừng ngập mặn có chức năng sinh thái quan trọng, gia tăng diện tích bồi tụ, bảo vệ đê biển  
và thu hút nguồn lợi hải sản [18]. Dưới rừng ngập mặn có nguồn lợi tôm, cá, cua phong phú. Vì  
96  
Thực trạng sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định  
thế, người dân đã tập trung khai thác với cường độ ngày càng lớn. Quá trình khai thác thủy sản  
đã ảnh hưởng lớn đến rừng ngập mặn, làm cây con bị chết. Bên cạnh đó, việc chặt phá rừng  
ngập mặn vẫn đang diễn ra. Các hoạt động này đã đe dọa và làm tổn hại hệ sinh thái đất ngập  
nước, mặn hóa tài nguyên đất, gây khó khăn cho canh tác. Thêm vào đó, môi trường rừng ngập  
mặn bị mặn ô nhiễm do chất thải công nghiệp, nông nghiệp sử dụng nhiều phân bón và thuốc  
trừ sâu, rác thải sinh hoạt của con người đã ảnh hưởng tiêu cực các sinh kế khai thủy sản nuôi  
trồng thủy sản.  
Tài nguyên rừng ngập mặn đang bị suy giảm và bị suy thoái. Trước đây, người dân phá rừng  
cho “phong trào” khai hoang lấn biển, phát triển khu dân cư, mở rộng diện tích đất trồng lúa, nuôi  
trồng thủy sản. Trong những năm gần đây, do nuôi tôm mang lại hiệu quả kinh tế cao, nên một  
phần diện tích rừng ngập mặn đã được chuyển thành đầm nuôi tôm. Các hoạt động khai thác thủy  
sản không theo quy hoạch trên các bãi triều đã làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn.  
2.2.6. Du lịch  
Nghĩa Hưng có bãi biển dài khoảng 1,8 km, trải dài theo bãi bồi của khu dự trữ sinh quyển  
ven biển châu thổ sông Hồng. Mặc dù có tiềm năng phát triển du lịch khá đa dạng, nhưng hoạt  
động du lịch ở đây chưa được chú trọng và đầu tư phát triển. Hệ thống dịch vụ rất nghèo nàn,  
không thu hút được khách du lịch từ nơi khác đến. Trên địa bàn hiện có Khu Du lịch Cồn Mờ  
với diện tích khoảng 3,5 km2, với những rặng phi lao bao quanh những cồn cát mịn. Vẻ đẹp  
thiên nhiên nơi đây có thể thu hút khách du lịch trong các hoạt động cắm trại, tắm biển. Tuy  
nhiên, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn và chưa hoàn thiện, môi trường ven biển bị ô nhiễm là  
những khó khăn lớn đối với sự phát triển du lịch.  
2.3. Sinh kế thiếu bền vững và hệ lụy  
Bên cạnh việc phỏng vấn sâu một số cán bộ quản lí và hộ gia đình kết hợp quan sát thực  
địa, nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát 90 hộ gia đình để khám phá nhận định của họ về  
những sinh kế sẽ phát triển, những sinh kế sẽ bị mai một cũng như nguyên nhân làm cho chúng  
bị mai một hoặc có thể bị mất đi. Theo đó, các sinh kế được dự đoán sẽ phát triển trong tương  
lai bao gồm nuôi trồng thủy sản, khai thác xa bờ và sinh kế du lịch. Các sinh kế có thể bị mai  
một là sinh kế làm muối, sinh kế trồng lúa và sinh kế khai thác thủy sản ven bờ. Kết quả khảo  
sát (Bảng 3) cho thấy 68% số người được hỏi cho rằng sinh kế làm muối (diêm nghiệp) sẽ bị  
mai một trong tương lai. Con số này đối với sinh kế trồng lúa (sinh kế chủ đạo trong sản xuất  
nông nghiệp của địa bàn nghiên cứu) là 67%, khai thác thủy sản ven bờ là 60%.  
Bảng 3. Các sinh kế có thể bị mai một trong tương lai  
Số câu trả lời  
Sinh kế  
Nuôi trồng thủy sản  
% số người trả lời  
N
%
17  
6,3  
19,3  
60,2  
67,0  
19,3  
22,7  
68,2  
51,1  
308,0  
Khai thác thủy sản ven bờ  
Trồng lúa  
53  
59  
19,6  
21,8  
6,3  
Lâm nghiệp  
17  
Du lịch  
20  
7,1  
Làm muối  
60  
22,1  
16,6  
100,0  
Sinh kế khác  
Tổng  
45  
271  
Mẫu: 90; Số người trả lời: 89  
(Nguồn: khảo sát của tác giả)  
97  
Vũ Minh Trang* và Nguyễn Tường Huy  
Tính thiếu bền vững của các sinh kế nói trên là do tác động tổng hợp của nhiều nguyên  
nhân. Kết quả phỏng vấn sâu kết hợp với các dữ liệu thứ cấp và quan sát thực địa cho thấy các  
nguyên nhân chính là quy hoạch chưa hợp lí, suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường từ các  
hoạt động kinh tế, dịch bệnh, thiên tại và biến đổi khí hậu. Ô nhiễm do hoạt động kinh tế trên  
đất liền như công nghiệp, thuốc trừ sâu và phân bón trong nông nghiệp, rác thải sinh hoạt gây ô  
nhiễm tại các khu rừng ngập mặn. Ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất và  
sản lượng nuôi thủy sản. Quá trình định cư cùng với các hoạt động kinh tế nông nghiệp, nghề  
cá, du lịch, lâm nghiệp, công nghiệp - xây dựng đang gia tăng sức ép đối với tài nguyên và môi  
trường vùng đất ngập nước của địa phương.  
Trong bối cảnh đó, dân số đông và tăng nhanh cùng với sự hạn chế các sinh kế thay thế  
đang gây áp lực căng thẳng hơn lên tài nguyên đất ngập nước - nguồn vốn đặc biệt quan  
trọng - đảm bảo sự phát triển bền vững các sinh kế tại địa phương. Kết quả khảo sát các hộ  
gia đình (Bảng 4) cho thấy 56% số người được hỏi coi dịch bệnh, thiên tai và tác động của  
biến đổi khí hậu là nhóm nguyên nhân làm cho các sinh kế thiếu bền vững. Con số này đối  
với nguyên nhân quy hoạch chưa hợp lí, ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên là  
40%. Khoảng 57% số người được hỏi coi thiếu vốn đầu tư và thị trường bất ổn là nguyên  
nhân chính làm cho các sinh kế bị mai một. Trong khi đó, thu nhập thấp và không ổn định là  
một nguyên nhân quan trọng khi được 53% số hộ khảo sát đề cập đến. Khoảng 39% số  
người được hỏi coi sự phát triển của những sinh kế thiếu bền vững khác như một nguyên  
nhân làm cho các sinh kế chính bị mai một. Trong số này, khai thác cát ở khu vực ven biển  
huyện Nghĩa Hưng có ảnh hưởng lớn đến sinh thái và tài nguyên vùng đất ngập nước ven  
biển – nguồn lực quan trọng để phát triển sinh kế khai thác và nuôi thủy sản ở vùng bãi bồi  
và ven bờ (xem thêm [19-23]).  
Bảng 4. Nguyên nhân khiến các sinh kế có thể bị mai một  
Số câu trả lời  
% số người  
trả lời  
Nguyên nhân  
N
47  
50  
35  
36  
35  
51  
13  
267  
%
Mang lại thu nhập thấp, không ổn định  
Dịch bệnh, thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu  
Ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên  
Quy hoạch chưa hợp lí  
17,6  
18,7  
13,1  
13,5  
13,1  
19,1  
4,9  
52,8  
56,2  
39,3  
40,4  
39,3  
57,3  
14,6  
300,0  
Do sự phát sự phát triển của các sinh kế khác  
Thiếu vốn đầu tư, thị trường bất ổn  
Nguyên nhân khác  
Tổng  
100,0  
Mẫu: 90, Số người trả lời: 89  
(Nguồn: khảo sát của tác giả)  
Sự phát triển thiếu bền vững của các sinh kế dựa vào tài nguyên đất ngập nước ven biển  
gây ra những hệ lụy trực tiếp như mất sinh kế và làm suy giảm đa dạng sinh kế, tăng đầu tư và  
giảm thu nhập, mất an ninh lương thực và gia tăng nghèo. Trong bối cảnh đó, một bộ phận cư  
dân phải di cư kéo theo những hệ lụy xã hội khác. Mặt khác, sinh kế thiếu bền vững cũng gây ra  
hậu quả làm suy giảm tài nguyên, suy giảm hệ sinh thái và đa dạng sinh học, suy thoái môi  
trường dẫn đến những tranh chấp và xung đột trong sử dụng tài nguyên. Mâu thuẫn và tranh  
chấp tại khu vực nuôi ngao vạng ở xã Nam Điền là một trong những bài học về sự phát triển  
thiếu bền vững.  
98  
Thực trạng sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định  
2.4. Giải pháp phát triển sinh kế bền vững  
Từ kết quả phân tích thực trạng các sinh kế chính tại địa bàn nghiên cứu, nhận diện các  
sinh kế thiếu bền vững và những nguyên nhân của chúng, kết hợp với tham khảo các báo cáo  
phát triển của tỉnh và địa phương [6, 17, 24], nhóm tác giả đề xuất giải pháp phát triển đối với  
từng sinh kế như sau.  
2.4.1 Giải pháp phát triển sinh kế khai thác thủy sản  
Để khai thác thủy sản bền vững, địa phương cần có chính sách và các quy định hợp lí, phát  
triển sinh kế khai thác đi đôi với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Trong đó, cần xây dựng kế hoạch  
để từng bước hiện đại hóa đội tàu khai thác xa bờ, giảm số lượng tàu thuyền khai thác ven bờ.  
Bên cạnh việc cấm triệt để các hình thức khai thác mang tính hủy diệt và ảnh hưởng đến môi  
trường sống của các loài sinh vật biển, địa phương cần có chiến lược đa dạng hóa sinh kế hoặc  
chuyển đổi sinh kế cho các hộ gia đình khai thác thủy sản gần bờ.  
Phát triển khai thác thủy sản xa bờ là hướng phát triển bền vững tất yếu của sinh kế nghề  
cá. Tuy nhiên, đa số hộ gia đình nông thôn của địa phương có thu nhập thấp, thiếu vốn để đầu tư  
trang thiết bị và công cụ sản xuất. Vì vậy, chính phủ và địa phương cần có chính sách hỗ trợ về  
vốn, cho vay vốn ưu đãi để các hộ khai thác thủy sản có thể từng bước chuyển đổi sang khai  
thác xa bờ.  
Quản lí cộng đồng trong khai thác thủy sản là cần thiết để người dân cùng chia sẻ lợi ích và  
trách nhiệm trong khai thác và bảo vệ tài nguyên đất ngập nước. Để làm được điều này, cần  
nâng cao nhận thức của cư dân địa phương về đặc điểm và vai trò của tài nguyên đất ngập nước.  
Thêm vào đó, cần hướng dẫn ngư dân hợp tác, liên kết với nhau trong khai thác, dịch vụ hậu  
cần, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo quy mô các hộ, nhóm hộ gia đình, tổ hợp tác trên cơ sở  
tự nguyện để có hiệu quả cao hơn.  
Trong bối cảnh gia tăng thiên tai và các tác động của biển đổi khí hậu, địa phương cần có  
chiến lược và hành động cụ thể để ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu, dự báo những biến  
động của thời tiết nhanh chóng, kịp thời cùng với đầu tư, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở  
hạ tầng.  
2.4.2 Giải pháp phát triển sinh kế nuôi trồng thủy sản  
Địa phương cần xây dựng quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản tại các khu vực nông  
trường Rạng Đông, phía Đông xã Nam Điền, bãi Cồn Xanh và Cồn Mờ trên cơ sở tính toán kỹ  
điều kiện và khả năng nuôi trồng của từng khu vực. Quy hoạch sẽ hạn chế được hiện tượng phát  
triển tự phát, mâu thuẫn và tranh chấp hoặc sử dụng tài nguyên không đi đôi với bảo vệ và phục  
hồi tài nguyên. Bài học từ những thất bại trước đây cho thấy địa phương cần đẩy mạnh phát  
triển nuôi trồng theo hướng gia trại và trang trại phù hợp với điều kiện sinh thái, mức độ đầu tư  
của các hộ gia đình cũng như nhu cầu của thị trường. Mặc dù nuôi trồng thủy sản hiện đang  
mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng địa phương cần giám sát chặt chẽ việc chuyển đổi đất trồng  
lúa và đất lâm nghiệp sang đất nuôi trồng thủy sản. Đối với khu vực nuôi trồng thủy sản chưa  
được quy hoạch hay sự phát triển các sinh kế khác ảnh hưởng đến nguồn nước nuôi trồng, tranh  
chấp nguồn lợi, nảy sinh xung đột thì cần có biện pháp giải quyết tranh chấp một cách công bằng,  
đảm bảo quyền tiếp cận tài nguyên của người dân địa phương.  
2.4.3 Giải pháp phát triển sinh kế nông nghiệp và lâm nghiệp  
Khó khăn nhất trong sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương hiện nay là quy mô  
sản xuất nhỏ và hiệu quả kinh tế thấp. Vì thế, địa phương cần làm tốt công tác “dồn điền đổi  
thửa” để các hộ gia đình có điều kiện gia tăng quy mô sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học vào  
sản xuất. Tuy nhiên, chuyển đổi và tập trung ruộng đất cần gắn với chuyển đổi sinh kế để vừa  
đảm bảo sinh kế, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho các hộ nông dân. Địa phương cần  
chuyển đổi từng phần diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang các mô hình sản xuất có  
99  
Vũ Minh Trang* và Nguyễn Tường Huy  
hiệu quả cao hơn như mô hình trồng cây đinh lăng ở xãNam Điền và thị trấn Rạng Đông, mô  
hình sản xuất cà chua ở xã Nam Điền, mô hình trang trại tổng hợp tại những khu vực đất trũng  
ven sông. Thêm vào đó, địa phương cần xây dựng mô hình liên kết sản xuất với bảo quản chế  
biến và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Mạng lưới khuyến nông cần chú trọng việc triển khai các  
tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp cho nông dân. Công nghệ chế biến và công  
nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch cũng cần được chuyển giao cho nông dân để họ có thể  
nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm.  
Đối với lâm nghiệp, địa phương cần có kế hoạch và triển khai việc trồng rừng, nhất là rừng  
phòng hộ ven biển tại khu vực Cồn Xanh và Cồn Mờ, trồng rừng ngập mặn tại các xã Phúc  
Thắng và Nam Điền. Bên cạnh việc trồng rừng mới, việc khoanh nuôi khu vực nuôi trồng thủy  
sản tại vùng rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ tài nguyên môi trường  
và phát triển vốn rừng theo hướng bền vững.  
2.4.4 Giải pháp phát triển sinh kế làm muối  
Địa phương cần xây dựng chiến lược duy trì diện tích đồng muối tại xã Phúc Thắng, hỗ trợ  
các hộ diêm dân sản xuất hiệu quả hơn thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi  
phục vụ sản xuất muối tập trung. Việc mở rộng diện tích sản xuất muối sạch, áp dụng cơ giới  
hóa và các công nghệ mới trong sản xuất và chế biến muối cần được triển khai để từng bước  
nâng cao năng suất và chất lượng muối. Để nâng cao hiệu quả sản xuất muối, địa phương cần  
đẩy mạnh việc sản xuất muối sạch theo công nghệ cao thông qua việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ  
tầng đồng muối, hoàn thiện hệ thống chắt, lọc, mở rộng mô hình muối kết tinh trên bạt, thâm  
canh tăng năng suất, hạn chế những bất lợi của thời tiết. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật  
trong sản xuất muối sạch sẽ gia tăng chất lượng muối và đáp ứng được yêu cầu của thị trường.  
Mở rộng thị trường để đảm bảo đầu ra cho sản xuất là yêu cầu cấp bách để phát triển bền vững  
nghề muối.  
Bên cạnh đó, địa phương cần có chính sách hỗ trợ diêm dân về vốn, đào tạo nguồn nhân  
lực để họ có thể đa dạng hóa sinh kế hoặc chuyển đổi sinh kế. Tuy nhiên, cần hạn chế tối đa  
việc bỏ hoang hóa cánh đồng muối bởi chúng có thể được chuyển đổi sang các mô hình sản xuất  
có hiệu quả cao hơn về kinh tế, xã hội và môi trường.  
2.4.5 Giải pháp phát triển sinh kế du lịch  
Về lâu dài, phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng theo hướng bền vững có vai trò  
quan trọng trong tạo sinh kế gắn với việc bảo tồn các giá trị sinh thái của vùng đất ngập nước  
ven biển. Các khu du lịch sinh thái Rạng Đông, khu du lịch sinh thái biển Phúc Thắng, du lịch  
Cồn Xanh và Cồn Mờ cần được đầu tư để phát triển. Bên cạnh đó, địa phương cần đa dạng hóa  
các sản phẩm du lịch bằng cách khai thác thêm các giá trị văn hóa như các đền chùa, nhà thờ,  
tham quan thắng cảnh kết hợp nghỉ dưỡng. Vì vậy, địa phương cần có chính sách đầu tư xây  
dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sinh thái biển và du lịch cộng  
đồng. Địa phương cũng cần tăng cường đào tạo nhân lực cho du lịch ngay trong cộng đồng  
thông qua các lớp tập huấn trang bị các kỹ năng cần thiết, nâng cao ý thức người dân khi tham  
gia du lịch, bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.  
3. Kết luận  
Tài nguyên tại vùng đất ngập nước huyện Nghĩa Hưng là nguồn vốn quan trọng để phát  
triển các sinh kế của cư dân địa phương. Các sinh kế dựa vào tài nguyên như nông nghiệp, nghề  
cá, diêm nghiệp và khai thác các sản phẩm tự nhiên từ rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng  
đối với việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo sinh kế và thu nhập cho người dân, góp phần phát  
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, các sinh kế này hiện đang phải đối mặt những  
khó khăn và thách thức để phát triển bền vững. Lịch sử khai thác tài nguyên, sự gia tăng của dân  
100  
Thực trạng sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định  
số kèm theo nhu cầu tăng trưởng kinh tế ở cả trong và ngoài khu vực đang gia tăng áp lực lên tài  
nguyên và môi trường vùng đất ngập nước ven biển. Trong bối cảnh đa số các hộ gia đình có  
thu nhập thấp, họ không có điều kiện để đầu tư chuyển đổi sinh kế hoặc đa dạng hóa sinh kế mà  
phải tiếp tục với các sinh kế thiếu bền vững hoặc buộc phải lựa chọn các sinh kế không bền  
vững. Vì vậy, cần phải có những giải pháp tổng thể, gắn quy hoạch phát triển của địa phương  
với quy hoạch phát triển vùng ven biển Nam Định và vùng ven biển đồng bằng sông Hồng. Bên  
cạnh các giải pháp tổng thể, nghiên cứu này đã đề xuất các giải pháp cụ thể đối với từng sinh kế  
nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Các giải pháp này cần được tiến hành một cách  
đồng bộ và hiệu quả từ chính quyền địa phương đến người dân.  
Trong điều kiện có hạn về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu này chưa làm rõ được thực  
trạng các nguồn lực và chiến lược sinh kế của từng nhóm cư dân do mẫu khảo sát nhỏ và chưa  
đủ đại diện, dữ liệu định lượng còn hạn chế. Thêm vào đó, nghiên cứu này chưa nhận diện được  
các sinh kế mới và các sinh kế thay thế để đa dạng hóa sinh kế địa phương. Những hạn chế này  
gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho các tác giả.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2005. Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam  
sau 15 năm thực hiện Công ước Ramsar. Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam, IUCN Việt  
Nam và Chương trình Bảo tồn da dạng sinh học và Sử dụng bền vững đất ngập nước sông  
Mê-kông, Hà Nội.  
[2] Viện Chiến lược và Chính sách tài nguyên - môi trường (ISPONRE), 2016. Văn kiện Dự  
án Bảo tồn các khu đất ngập nước quan trọng và sinh cảnh liên kết, truy cập tại trang  
[3] Pedersen A. và Nguyen Huy Thang, 2016. The Conservation of Key Coastal Wetland Sites  
in the Red River Delta. BirdLife International Vietnam Program, Hanoi, Vietnam.  
[4] Cục Thống kê tỉnh Nam Định, 2017. Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy  
sản năm 2016. Nxb Thống kê, Nam Định.  
[5] Phòng Nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng, 2020. Báo cáo tổng kết tình hình sản xuất nông  
nghiệp huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2010-2020. Phòng Nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng,  
Nam Định.  
[6] Ủy ban Nhân dân huyện Nghĩa Hưng, 2020. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội  
huyện Nghĩa Hưng trong giai đoạn 2016- 2020. Ủy ban Nhân dân huyện Nghĩa Hưng,  
Nam Định.  
[7] Gill Shepherd và Lý Minh Đăng, 2009. Áp dụng Tiếp cận Hệ sinh thái vào các vùng đất  
ngập nước tại Việt Nam. IUCN Việt Nam Hà Nội, Việt Nam.  
[8] Trần Thị Hồng Nhung, 2017. “Phát triển nuôi trồng thủy sản tại các huyện ven biển tỉnh  
Nam Định theo hướng bền vững”. Tạp chí Nghiên cứu Địa lí Nhân văn, 1(2017).  
[9] Trần Thị Hồng Nhung, 2018. “Phát triển sinh kế nông nghiệp tại khu vực ven biển tỉnh  
Nam Định theo hướng bền vững”. Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,  
63(1), tr. 121-132.  
[10] Phòng Nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng, 2017. Báo cáo quy hoạch sử dụng đất huyện  
Nghĩa Hưng đến năm 2020. Phòng Nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng, Nam Định.  
[11] Phòng Thống kê huyện Nghĩa Hưng, 2020. Niên giám Thống kê huyện Nghĩa Hưng. Phòng  
Thống kê huyện Nghĩa Hưng, Nam Định.  
101  
Vũ Minh Trang* và Nguyễn Tường Huy  
[12] Department for International Development (DFID), 2001. Sustainable livelihoods  
guidance sheets. The Department for International Development (DFID), London SW1E  
5JL, UK.  
[13] European Environment Agency, 1999. “Environmental indicators: Typology and  
overview”. Technical report No 25. European Environment Agency, Denmark.  
[14] Minh Thư, 2021. Nghĩa Hưng: Tạo sức bật từ kinh tế biển. Báo điện tử Công thương, truy  
[15] Cục Thống kê tỉnh Nam Định, 2021. Nghĩa Hưng thúc đẩy phát triển kinh tế biển thành  
aspx?id=1612&tid=1.  
[16] Cục Thống kê tỉnh Nam Định, 2019. Niên giám thống kê tỉnh Nam Định. Nxb Thống kê,  
Nam Định.  
[17] Ủy ban Nhân dân xã Nam Điền, xã Phúc Thắng và Thị trấn Rạng Đông, 2020. Báo cáo  
tình hình kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2020. Phương hướng  
nhiệm vụ năm 2021. Ủy ban Nhân dân xã Nam Điền, xã Phúc Thắng và Thị trấn Rạng  
Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.  
[18] Viện Quy hoạch và Phát triển rừng, 2020. Đề án trồng rừng ven biển huyện Nghĩa Hưng,  
tỉnh Nam Định. Viện Quy hoạch và Phát triển rừng, Hà Nội.  
[19] Thế Anh và Văn Chương, 2020. “Nóng: Ngang nhiên khai thác cát tàn phá bãi biển khu du  
lịch tại Nam Định?”. Dân Việt - Báo điện tử của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, truy  
lich-tai-nam-dinh-20200909220131007.html.  
[20] Thế Anh và Nguyễn Chương, 2020a. “Khai thác cát sụt lún, sạt lở nghiêm trọng rừng  
phòng hộ: Xã “đẩy” cho huyện, huyện “tố” lên Sở”. Dân Việt - Báo điện tử của Trung  
ương Hội Nông dân Việt Nam, truy cập tại trang https://danviet.vn/bai-2-khai-thac-cat-gay-  
sut-lun-sat-lo-nghiem-trong-rung-phong-ho-xa-day-cho-huyen-huyen-to-len-so202009110  
91609172.html.  
[21] Thế Anh và Nguyễn Chương, 2020b. “Sông Đà Hà Nội khai thác cát tàn phá biển tại Nam  
Định”. Dân Việt - Báo điện tử của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, truy cập ngày 14-  
dinh-va-nhung-con-so-khung-khiep-bai-3-20200911223019422.htm  
[22] Việt Linh và Việt Cường, 2020. “Nam Định: Tan hoang kè biển nghi do khai thác cát?”.  
Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường, truy cập tại trang https://baotainguyen  
moitruong.vn/nam-dinh-tan-hoang-ke-bien-nghi-do-khai-thac-cat-310513.html.  
[23] Trần Khánh, 2020. Nam Định: Sập, vỡ nghiêm trọng bờ kè khu sinh thái Rạng Đông. Báo  
vo-nghiem-trong-bo-ke-khu-sinh-thai-rang-dong-616518/  
[24] Tỉnh ủy Nam Định, 2018. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW  
ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát  
triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tỉnh ủy Nam  
Định, Nam Định.  
102  
Thực trạng sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định  
ABSTRACT  
Livelihoods in the coastal wetlands of Nghia Hung district, Nam Dinh province  
Vu Minh Trang*1 and Nguyen Tuong Huy2  
1Le Hong Phong High School for the Gifted - Nam Dinh  
2Faculty of Geography, Hanoi National University of Education  
The coastal wetlands of Nghia Hung district, Nam Dinh province, play an important role  
in the local socio-economic development and livelihoods of local people. Resources-based  
livelihoods in the coastal wetlands such as agriculture, salt production, fisheries and aquaculture  
have contributed to ensuring food security and local economic development. However, these  
livelihoods are facing difficulties and challenges for sustainable development due to the  
increasing pressures of population and economic activities, resource degradation, environmental  
pollution and climate change. This study analyzes the current situation of developing  
livelihoods in the coastal wetlands of Nghia Hung district, identifies unsustainable livelihoods  
and explains their causes, thereby proposing solutions to contribute to the development of  
sustainable livelihoods in the study area.  
Keywords: livelihoods, fisheries, coastal wetlands, sustainable development.  
103  
pdf 12 trang baolam 21020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng sinh kế tại vùng đất ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_sinh_ke_tai_vung_dat_ngap_nuoc_ven_bien_huyen_ngh.pdf