Những kiến thức cần thiết Dùng cho người lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia

Bộ lao động thương binh và xã hội  
Cục quản lý lao động ngoài nước  
Những kiến thức cần thiết  
Dùng cho người lao động việt nam  
đi làm việc tại Malaysia  
Hà nội - 2010  
Lời giới thiệu  
Malaysia là một Quốc gia ở Đông Nam á giàu bản  
sắc văn hoá, một đất nước đang nỗ lực không ngừng để  
phát triển phồn thịnh và bền vững.  
Cùng là thành viên của Hiệp hội các quốc gia  
Đông Nam á (ASEAN), Việt Nam và Malaysia đang có  
những quan hệ hợp tác trên nhiều mặt, trong đó hợp tác  
về lao động là một trong nhiều nội dung hợp tác mà  
hai nước rất quan tâm.  
Malaysia cách chúng ta không xa về địa lý, song  
lại có sự khác nhau nhất định về phong tục tập quán và  
ngôn ngữ giao tiếp. Đó chính là rào cản lớn nhất đối  
với người lao động Việt Nam để hoà nhập vào môi  
trường lao động và đời sống xã hội khi sang làm việc ở  
Malaysia.  
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các khoá  
bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho lao động trước khi  
sang làm việc tại Malaysia, Cục Quản lý lao động ngoài  
nước (DOLAB) biên soạn và phát hành cuốn “Tài liệu  
bồi dưỡng kiến thức cần thiết” này. Cuốn tài liệu sẽ  
cung cấp những kiến thức cơ bản và rất cần thiết đối  
với người lao động Việt Nam được tuyển chọn đi làm  
việc ở Malaysia, nó cung cấp những thông tin đầy đủ  
và chính xác về nghĩa vụ, quyền lợi của người lao động  
Việt Nam khi đi làm việc ở Malaysia theo thoả thuận  
giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Malaysia;  
ngoài ra còn trang bị cho người lao động những hiểu  
biết cần thiết về đất nước, con người, luật pháp và văn  
1
hoá giao tiếp của Malaysia để giúp cho người lao động  
Việt Nam có thể hoà nhập thuận lợi vào cuộc sống sinh  
hoạt và làm việc ở Malaysia .  
Chúng tôi tin tưởng rằng cuốn tài liệu này sẽ rất  
hữu ích đối với người lao động khi tham gia khoá đào  
tạo – giáo dục định hướng để có thể đáp ứng được chất  
lượng theo quy định của phía Malaysia.  
Các ý kiến đóng góp về cuốn tài liệu này xin gửi  
về Cục Quản lý lao động ngoài nước - địa chỉ : 41B Lý  
Thái Tổ, Quận Hoàn KIếm, Hà Nội ./.  
Cục quản lý lao động ngoài nước  
Phần một  
2
Truyền thống, bản sắc văn hoá của dân tộc  
Trên con đường đổi mới, đất nước đang từng  
bước hội nhập với khu vực và thế giới, vượt qua lạc  
hậu, đói nghèo, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại  
hoá, phấn đấu đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh,  
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hoạt động  
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước  
ngoài đã được Đảng và Nhà nước ta chú trọng và  
coi đây là một giải pháp kinh tế – xã hội lâu dài  
góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao  
trình độ nghề nghiệp, tác phong làm việc tiên tiến  
cho người lao động.  
Ra nước ngoài làm việc, người lao động  
không chỉ có điều kiện mở rộng tầm nhìn, mở rộng  
giao lưu quốc tế, được hoà nhập và hiểu biết  
nền văn hoá của các dân tộc khác mà còn là cơ hội  
để giới thiệu và quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc  
3
Việt Nam. Khi sống và làm việc ở nước ngoài, mỗi  
chúng ta còn có bổn phận thực hiện tốt vai trò  
ngoại giao nhân dân. Vì vậy phải biết kế thừa và  
phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và  
lòng tự hào dân tộc; tiếp thu tinh hoa của các dân  
tộc trên thế giới góp phần làm giàu đẹp thêm nền  
văn hoá Việt Nam.  
1. Truyền thống dân tộc  
Là người Việt Nam chúng ta có quyền tự hào  
với các truyền thống dựng nước và giữ nước đã  
được hình thành, phát triển qua nhiều thế hệ, đó là:  
a. Truyền thống yêu nước, tự hào, tự tôn dân  
tộc: Dường như trong mỗi người Việt Nam đều  
tiềm ẩn lòng yêu nước, lòng tự tôn, tự cường dân  
tộc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý,  
cần cù sáng tạo….Tất cả đã kết tinh thành sức  
mạnh và in đậm dấu ấn độc đáo của cộng đồng  
người Việt trên toàn thế giới.  
4
b. Truyền thống uống nước nhớ nguồn, đoàn  
kết tương thân, tương ái cưu mang, đùm bọc, giúp  
đỡ lẫn nhau luôn là nét đẹp truyền thống trong đời  
sống của nhân dân ta, giàu lòng nhân ái, thương  
người như thể thương thân là bản chất tốt đẹp của  
người Việt Nam ta, được thể hiện qua những câu ca  
dao lưu truyền từ đời này sang đời khác:  
Nhiễu điều phủ lấy giá gương  
Người trong một nước phải thương nhau cùng  
Hay:  
Bầu ơi thương lấy bí cùng  
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn  
Đây là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc  
ta, chính nhờ đó mà chúng ta có sức mạnh để chiến  
thắng mọi kẻ thù, chung tay xây dựng đất nước ta  
ngày càng to đẹp , đàng hoàng hơn.  
Ra nước ngoài làm việc, người lao động luôn  
hướng về Tổ Quốc, có trách nhiệm với cộng đồng,  
5
cùng vui với những niềm vui của Đất nước, cùng  
san sẻ với những nỗi đau, mất mát của những người  
dân kém may mắn hay do thiên tai gây ra. Sống  
nhân nghĩa, thuỷ chung, vị tha, kính trên nhường  
dưới, thân thiện với bạn bè đồng nghiệp, sẵn sàng  
giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống và trong  
công việc là nét đặc trưng của người dân Việt.  
c. Truyền thống cần cù, sáng tạo thể hiện ở  
sự chăm chỉ, thông minh trong lao động, làm việc  
với năng suất cao, chất lượng tốt.  
d. Truyền thống hiếu học thể hiện sự ham  
học hỏi những cái mới, cái tốt trong cuộc sống và  
trong lao động, tiếp thu được những công nghệ  
mới, những kinh nghiệm tiên tiến để áp dụng vào  
trong thực tiễn của mình.  
2. Bản sắc văn hoá của dân tộc  
Bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện linh hồn,  
đạo đức, lối sống của người Việt, nó sẽ tiếp nhận  
6
những giá trị ưu tú của dân tộc khác và sàng lọc  
những gì không phù hợp.  
Bản sắc văn hoá dân tộc là những vấn đề  
nòng cốt nhất, nền tảng nhất để làm nên những nét  
riêng của cộng đồng dân tộc này so với cộng đồng  
dân tộc khác. Nó có tính ổn định vì phải trải qua  
quá trình đúc kết, tích luỹ, sàng lọc lâu dài. Bản sắc  
văn hóa dân tộc thể hiện tâm thức con người Việt  
Nam qua lẽ sống, lòng yêu nước, ý chí độc lập tự  
cường… Bộc lộ được tính cách con người Việt  
Nam qua cách sống tương thân tương ái. tính cần  
cù sáng tạo trong lao động, yêu nghệ thuật, giản dị,  
tế nhị trong ứng xử.  
Trong quá trình phát triển, văn hoá Việt Nam  
đã hội nhập tiếp thu tinh hoa văn hoá các dân tộc  
khác trên toàn thế giới, làm giàu cho nền văn hoá  
của dân tộc mình.  
7
3. Vị trí và trách nhiệm của người lao  
động khi làm việc ở nước ngoài  
Người lao động Việt Nam sống và làm việc ở  
nước ngoài là những sứ giả giới thiệu và quảng bá  
nền văn hoá của dân tộc mình với các dân tộc khác,  
đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc  
khác trên thế giới để làm giàu cho nền văn hoá của  
dân tộc Việt Nam. Dù sống ở đâu và làm bất cứ  
công việc nào chúng ta cũng phải nhận thức sâu sắc  
được vinh dự và trách nhiệm này để luôn phấn đấu  
hoàn thiện mình, trau dồi bản lĩnh tự tin, tự trọng  
để góp phần tôn vinh dân tộc Việt Nam, kiên quyết  
tránh những việc xấu làm tổn hại đến danh dự của  
đất nước ta, dân tộc ta.  
Là người làm công ăn lương được pháp luật  
nước sở tại bảo hộ, mỗi chúng ta phải tuân thủ  
Pháp luật nước sở tại, chấp hành nội quy, kỷ luật  
8
lao động, tuân thủ quy định của người sử dụng lao  
động;  
Có ý thức học hỏi nâng cao trình độ tay  
nghề, ngoại ngữ, rèn luyện tác phong làm việc công  
nghiệp hiện đại, tiên tiến; tác phong sinh hoạt văn  
minh, lịch sự; phấn đấu để tự bảo vệ quyền lợi  
chính đáng của bản thân;  
Quan hệ ứng xử đúng mực với chủ sử dụng,  
với đồng nghiệp, với cộng đồng và người dân nước  
sở tại.  
9
Phần hai  
Đất nước, con người, văn hoá  
Phong tục, tập quán,  
Malaysia  
I. Đất nước và con người Malaysia  
1. Vị trí địa lý của Malaysia  
Malaysia nằm ở Trung tâm Đông Nam á,  
giữa vĩ độ 1và 7 Bắc bán cầu; trong khoảng 100  
đến 119 độ kinh tuyến đông, tạo thành hình lưỡi  
liềm. Diện tích của Malaysia khoảng 329.733 km2  
bao gồm hai vùng:  
Bán đảo Mã Lai có diện tích 131,573 km2,  
phía Bắc giáp Thái Lan, phía Nam giáp Singapo;  
Malaysia hải đảo, gồm hai bang Sabah và  
Sarawak có diện tích 73.711 km2 và 124.449 km2  
nằm ở phía Bắc đảo Borneo, phía Nam giáp  
Calimantan.  
10  
Hai vùng cách nhau 750 km qua biển Đông.  
Malaysia có 4.675 km đường bờ biển trải từ biển  
Đông sang ấn Độ Dương.  
Thủ đô của Malaysia là Kuala Lumpur.  
2. Khí hậu, thời tiết  
Malaysia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng  
và có độ ẩm cao 80%, lượng mưa trung bình trong  
năm vào khoảng từ 2.032 mm đến 2.540 mm,  
nhiệt độ trung bình trong ngày từ 210C – 320C;  
vùng núi cao nhiệt độ cao nhất là 260C, nhiệt độ  
thấp nhất là 20C; chịu ảnh hưởng qua lại của gió  
mùa Tây Nam bắt nguồn từ ấn Độ Dương và gió  
mùa Đông Bắc từ biển Đông (biển Nam Trung  
Hoa). Khí hậu được chia thành hai mùa rõ rệt: gió  
mùa Tây Nam từ giữa tháng 5 đến tháng 9, gió mùa  
Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau.  
Khí hậu nhiệt đới đã đem lại cho Malaysia  
một hệ thống động, thực vật rất phong phú. 70%  
diện tích lãnh thổ là rừng nhiệt đới với khoảng  
15.000 loài, trong đó có 6.000 loài thân cây cứng.  
Động vật có những loài tiêu biểu như gấu Mã Lai,  
tê giác hai sừng, ngoài ra còn có nhiều loài khác  
như voi, trăn, rắn... và gần 500 loại chim muông.  
3. Dân số  
11  
Năm 2006, Malaysia có dân số khoảng 26  
triệu người, trong đó người Malai chiếm 59%,  
người Hoa chiếm 24%, người ấn Độ chiếm 8%,  
khoảng 8,2% còn lại là các dân tộc khác như người  
Orang Asli ở bán đảo Mã Lai, thổ dân vùng Sabah,  
Sarawak và người Châu Âu. Dân cư tập trung đông  
tại bờ Tây bán đảo Mã Lai, nơi có nhiều thành phố  
lớn và khu công nghiệp. Khoảng 58,8% dân số  
Malaysia sinh sống tại các khu đô thị. Dân cư  
Malaysia phân bố không đều, vùng Sabah và  
Sarawak chỉ chiếm khoảng 23% tổng số dân, trong  
khi diện tích vùng này chiếm gần 60%.  
Người Mã Lai chủ yếu làm nghề nông, sống  
quần tụ theo làng xóm nằm dọc theo các con sông  
và vùng duyên hải.  
Người Hoa sinh sống chủ yếu ở phía Tây,  
phía Nam bán đảo Malaysia và ở các thành phố.  
Cộng đồng người ấn Độ ở Malaysia sinh  
sống cả ở vùng nông thôn lẫn thành thị, nhưng tập  
trung chính là ở vùng bờ biển phía Tây bán đảo Mã  
Lai, nơi có nhiều đồn điền cao su. Người ấn Độ hầu  
như không có mặt ở bắc Calimantan, trong khi  
người Hoa hiện diện ở khắp mọi nơi.  
Malaysia là một dân tộc trẻ: 33,9% dân số  
dưới 14 tuổi, 62,2% trong độ tuổi từ 15 đến 64;  
3,9% còn lại trên 65 tuổi. Tỷ lệ tăng dân số là 2,4%  
12  
/năm. Tuổi thọ trung bình của nam là 69,8 tuổi, của  
nữ là 74,8 tuổi.  
Cùng với sự phồn vinh về kinh tế, Malaysia  
là quốc gia đang thu hút hàng triệu lao động nước  
ngoài đến đây tìm việc làm. Hiện nay có khoảng  
hơn 2 triệu lao động nước ngoài (chủ yếu là người  
Indonexia) đang làm việc tại Malaysia, trong đó có  
500.000 là bất hợp pháp.  
4 . Tôn giáo  
Malaysia là một quốc gia đa dân tộc, có  
nhiều tôn giáo khác nhau cùng tồn tại, sống hoà  
thuận nhờ chính sách tôn giáo thống nhất. Tuy  
nhiên, theo Hiến pháp liên bang thì Đạo Hồi là  
quốc đạo. Toàn bộ người Mã Lai và một bộ phận  
người ấn Độ, người Trung Quốc và thổ dân Orang  
Asli theo đạo Hồi.  
Cũng như các tín đồ Hồi giáo khác trên thế  
giới, người Hồi giáo Malaysia tôn trọng 5 "trụ cột "  
của Hồi giáo, đó là đức tin vào Thánh Allah duy  
nhất và Muhamad là thiên sứ của Người; thứ hai là  
cầu nguyện mỗi ngày 5 lần; thứ ba là trai giới trong  
tháng Ramadan; thứ tư là nộp thuế và cuối cùng là  
hành hương đến thánh địa Mecca. Hồi giáo là tôn  
giáo có ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống cá nhân  
của mỗi tín đồ. Người Mã Lai từ khi ra đời cho đến  
13  
khi trở về với Thượng đế luôn luôn phải tuân theo  
những chỉ giáo và yêu cầu ngặt nghèo của đạo Hồi.  
Phần lớn người Trung Quốc ở Malaysia theo  
đạo Phật và đạo Lão, cũng có người Trung Quốc và  
người ấn Độ theo đạo Thiên chúa cùng với người  
Châu âu. Thổ dân vùng Sabah và Sarawak thì tin  
vào chúa trời và tin vào thuyết vạn vật hữu linh.  
5. Ngôn ngữ  
Là một quốc gia đa dân tộc nên người  
Malaysia nói nhiều thứ tiếng khác nhau, nhưng  
tiếng Bahasa Malaysia (tiếng của người thổ dân Mã  
Lai) là ngôn ngữ chính thức. Trong cuộc sống hàng  
ngày, mỗi dân tộc sử dụng ngôn ngữ, phương ngữ  
riêng của dân tộc mình. Phương ngữ tiếng Trung  
Quốc chủ yếu là tiếng Quảng Đông, Phúc Kiến và  
Hải Nam. Tuy nhiên, tiếng Anh được sử dụng rộng  
rãi trong các lĩnh vực kinh doanh, thương mại và  
sản xuất.  
6. Chế độ chính trị  
Chế độ chính trị của Malaysia khác với Việt  
Nam, đó là chế độ quân chủ lập hiến liên bang, mỗi  
bang đều có Hiến pháp và Quốc hội riêng.  
Liên bang gồm 13 bang: Johor Darul Takzim,  
14  
Kedah Darul Aman, Kelantan Darul Naim,  
Melacca, Negeri Sembilan, Pahang Darul Makmur,  
Perak, Perlis, Pulau Pinang, Sabah, Sarawak,  
Selangor và Trengganu và 3 lãnh thổ thuộc Liên  
bang là các thành phố Kuala lampur, Putrajaya và  
thành phố cảng Labuan.  
Hiến pháp Liên bang quy định một trong số  
chín Quốc vương (Sultan) của chín bang thuộc bán  
đảo Mã lai được bầu làm Yang Di Petuan Agong  
(người đứng đầu tối cao của Liên bang) theo nhiệm  
kỳ 5 năm. Quốc hội gồm hai Nghị viện: Thượng  
nghị viện gồm 70 thành viên và Hạ nghị viện gồm 192  
thành viên.  
Vua là người đứng đầu Nhà nước, nhưng quyền  
điều hành đất nước lại là Thủ tướng và Nội các. Vào  
cuối năm 2003, tình hình chính trị của Malaysia có  
những biến động do Thủ tướng Mahathia sau 22 năm  
cầm quyền đã nghỉ hưu, ông Badawi nguyên phó Thủ  
tướng đảm nhiệm chức Thủ tướng Chính phủ. Đầu  
tháng 1 năm 2004, ông Badawi đã chính thức bổ nhiệm  
Bộ trưởng Quốc phòng, ông Najib Tun Razak giữ chức  
Phó Thủ tướng.  
7. Sự phát triển kinh tế  
Nền kinh tế của Malaysia phát triển mạnh dựa  
chủ yếu vào các ngành sản xuất: Cao su, dầu cọ, điện  
tử, công nghiệp chế tạo, dầu mỏ. Malaysia nằm trong  
15  
số các nước đứng đầu thế giới về sản xuất gỗ và xuất  
khẩu dầu cọ, cao su.  
Năm 2004, do chịu tác động mạnh của việc giá  
dầu lửa tăng, nền kinh tế thế giới đi xuống, Malaysia đã  
đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế là 6,5% và năm 2006 chỉ  
đạt 5,8%.  
8 . Đối ngoại  
Malaysia coi trọng quan hệ với các đối tác và  
các nước lớn. Việt Nam và Malaysia cùng là thành viên  
của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á, nên Việt Nam  
là nước có nhiều thuận lợi trong quan hệ với Malaysia.  
Riêng năm 2003, có rất nhiều đoàn của Việt Nam sang  
thăm và làm việc tại Malaysia để nghiên cứu mô hình  
kinh tế Malaysia. Cuối năm 2003, Việt Nam và  
Malaysia đã ký “Bản ghi nhớ về tuyển dụng lao động  
Việt Nam”. Đặc biệt đầu năm 2004 hai bên đã trao đổi  
các chuyến thăm cấp cao của Thủ tướng hai nước,  
nhằm đưa ra các biện pháp để đẩy mạnh sự hợp tác.  
Hiện nay, hai nước đang trao đổi để ký lại Hiệp định về  
hàng không, ký Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục. Việt  
Nam cũng đề nghị hai bên ký Hiệp định về phòng  
chống tội phạm.  
9 . Xã hội  
Đời sống xã hội Malaysia có những nét tương  
đồng với các nước Đông Nam á như: thường có 2 đến 3  
16  
thế hệ cùng sống chung một gia đình, thực phẩm chính  
là gạo và cá... Người Mã Lai theo đạo Hồi nên nét văn  
hoá có những đặc trưng riêng như: Không ăn thịt lợn và  
uống rượu, thường mặc lễ phục, phụ nữ không mặc hở  
hang.  
a . Giáo dục  
Ngay từ khi giành được độc lập, Chính phủ  
Malaysia luôn chú trọng nâng cao dân trí và mức sống  
cho nhân dân. Nhiều năm qua nhờ sự quan tâm và đầu  
tư đúng mức, nền giáo dục Malaysia đã gặt hái được  
những thành quả nhất định. Giáo dục đã tạo được cơ sở  
và nền tảng quan trọng cho sự phát triển vượt bậc của  
Malaysia, với 93% người biết chữ, hiện nay Malaysia  
là một trong những nước có tỷ lệ người biết chữ cao  
nhất thế giới. Chính phủ Malaysia đang tập trung xây  
dựng Malaysia thành trung tâm tri thức và công nghệ  
của khu vực.  
Hệ thống đào tạo, giáo dục ở Malaysia gồm 6  
năm tiểu học, 3 năm Trung học cơ sở, 3 năm Trung học  
phổ thông và 2 năm trước khi vào đại học. Chính phủ  
Malaysia cung cấp miễn phí 11 năm học cho mọi  
người. Bên cạnh việc giáo dục ở các nhà trường, Chính  
phủ còn tổ chức dịch vụ giáo dục qua hệ thống thông  
tin đại chúng. Ngoài ra, Bộ Giáo dục hỗ trợ các lớp học  
trên toàn quốc cho những người không thể tham gia các  
chương trình đào tạo Trung học phổ thông và Trung  
học cơ sở.  
17  
b . Dịch vụ y tế và phúc lợi xã hội  
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, các dịch vụ  
y tế-chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, mạng lưới các cơ sở  
y tế đã được mở rộng trên toàn quốc. Hiện nay cứ 1.500  
người dân có một bác sĩ.  
Chính phủ cũng rất quan tâm đến phúc lợi xã hội  
như: chăm sóc trẻ em, trường giáo dưỡng cho thanh  
thiếu niên chưa tiến bộ, người tàn tật, người già, những  
người lang thang cơ nhỡ… Các dịch vụ phúc lợi của  
Malaysia được sự hỗ trợ của các tổ chức tình nguyện.  
c . Phát thanh và truyền hình  
Malaysia phát hình đen trắng từ tháng 12 năm  
1963, truyền hình phát hình màu hệ PAL bắt đầu từ  
năm 1978. Hiện nay, Chính phủ Malaysia có hai kênh  
truyền hình chính là TV1 và TV2: Kênh TV1 phát bằng  
tiếng Bahasa Malaysia, kênh TV2 là chương trình phát  
bằng các thứ tiếng như tiếng Anh, tiếng Mandarin,  
tiếng Quảng Đông, tiếng Tamil và Hindu. Ngoài ra  
Malaysia còn có hai đài truyền hình tư nhân là TV3 và  
NTV7. TV3 là Đài truyền hình tư nhân đầu tiên của  
Malaysia bắt đầu phát hình từ tháng 6 năm 1984, còn  
đài NTV7 phát hình từ tháng 4 năm 1998.  
10. Bưu chính - viễn thông  
a. Viễn thông  
Malaysia có hệ thống viễn thông hiện đại vào  
bậc nhất Đông Nam á. Hệ thống viễn thông này không  
18  
chỉ cung cấp các dịch vụ liên quan đến điện thoại, điện  
tín, Telex, Fax và Internet mà còn cung cấp cả thiết bị  
thông tin liên lạc cho các ngành phát thanh, truyền  
hình, hàng không nội địa, cảnh sát, hải quan và đánh  
bắt cá.  
Việc thông tin liên lạc giữa bán đảo Mã Lai và  
vùng Sabah và Sarawak được thực hiện qua hệ thống  
vệ tinh, cáp ngầm qua biển...  
b. Bưu điện  
Ngành bưu điện Malaysia cung cấp đầy đủ và  
chu đáo các dịch vụ liên quan đến bưu điện qua hệ  
thống bưu cục được đặt khắp cả nước. Bưu điện có thể  
thay mặt cơ quan chính phủ và các cá nhân hợp pháp  
tiến hành các việc như: làm việc với Ngân hàng tiết  
kiệm quốc gia, trả tiền lương, trợ cấp, trả tiền điện nước  
và tiền điện thoại.  
11. Giao thông vận tải  
Malaysia có hệ thống giao thông đường bộ,  
đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không phát triển  
rộng khắp, nối các vùng, miền đất nước.  
a. Đường bộ  
Malaysia có 68.499 km đường bộ vươn tới khắp  
các tỉnh, thành phố. Hệ thống đường này đảm bảo cho  
việc đi lại, vận chuyển bằng đường bộ luôn thông suốt  
và tiện lợi. Đặc biệt là hệ thống đường cao tốc quốc gia  
chạy dọc đất nước với 4 làn xe mỗi bên. Malaysia có  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 122 trang baolam 21680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Những kiến thức cần thiết Dùng cho người lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_kien_thuc_can_thiet_dung_cho_nguoi_lao_dong_viet_nam_d.pdf