Đặc điểm mạng lưới xã hội của người Hàn Quốc
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
ĐẶC ĐIỂM MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦANGƯỜI HÀN QUỐC
Cao Thị Hải Bắc
17
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận bài ngày 5 tháng 8 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 26 tháng 9 năm 2020; Chấp nhận ngày 20 tháng 3 năm 2021
Tóm tắt: Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích các dữ liệu khảo sát qui mô lớn có sẵn, bài
viết này đã chỉ ra một số đặc điểm trong mạng lưới xã hội (MLXH) của người Hàn bao gồm 3 đặc điểm
cấu trúc là quy mô, tần suất tiếp xúc, loại hình và 2 đặc điểm chức năng là tính đồng dạng và tính có đi
có lại với trường hợp riêng là tính đối xứng/bất đối xứng. Kết quả nghiên cứu chính như sau. Về cấu
trúc mạng lưới, (1) mặc dù thuộc loại thấp so với các nước OECD nhưng trong khoảng 10 năm trở lại
đây, quy mô MLXH của người Hàn đang lớn dần, (2) 2 loại hình MLXH chính trong xã hội Hàn Quốc
là mạng lưới trong gia đình, họ hàng và mạng lưới ngoài gia đình, họ hàng. Theo đó, mạng lưới trong
gia đình, họ hàng thường cung cấp các giúp đỡ thiên về tiền bạc, việc nhà... Ngược lại, mạng lưới ngoài
gia đình, họ hàng thường cung cấp các giúp đỡ thiên về chia sẻ tình cảm, cung cấp thông tin, v.v... Về
chức năng mạng lưới, người Hàn thường có xu hướng hình thành và duy trì các mạng lưới xã hội có tính
đồng dạng cao. Trong đó, mạng lưới gia đình và đồng học được coi trọng hơn cả trong các trường hợp
cần huy động sự giúp đỡ. Bên cạnh đó, các quan hệ cho – nhận giúp đỡ trong phạm vi gia đình thường
có đi có lại một cách bất đối xứng hơn các quan hệ ở phạm vi ngoài gia đình.
Từ khóa: mạng lưới xã hội, đặc điểm cấu trúc, đặc điểm chức năng
1. Đặt vấn đề*
Trong bối cảnh giao lưu, hợp tác Việt
– Hàn tốt đẹp, nhu cầu nghiên cứu học thuật
về Hàn Quốc tại Việt Nam ngày càng phát
triển. Các công trình nghiên cứu không chỉ
phản ánh mối quan tâm của học giả tới từng
lĩnh vực mà còn phản ánh rõ điểm mạnh
cũng như điểm hạn chế của tình hình nghiên
cứu Hàn Quốc tại Việt Nam.
của các nghiên cứu cũng tương đối đa dạng.
Có những nghiên cứu chuyên sâu tìm hiểu
các phạm trù riêng của Hàn Quốc nhưng
cũng có những nghiên cứu tiếp cận theo
phương pháp so sánh Hàn – Việt. Có nhiều
nghiên cứu thiên về phương pháp tổng hợp,
phân tích tài liệu sẵn có nhưng cũng không
ít nghiên cứu tiếp cận bằng phương pháp
khảo sát thực nghiệm.
Về hạn chế, có thể nhận thấy các
nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam không
đồng đều về số lượng giữa các chủ đề nghiên
cứu. Theo số liệu thống kê đến thời điểm
năm 2014, có tất cả 1.851 công trình nghiên
cứu Hàn Quốc tại Việt Nam được thư mục
hóa (Nguyễn, 2014, tr. 10). Trong đó, có
khoảng hơn 300 công trình liên quan tới lĩnh
Về điểm mạnh, mặc dù lịch sử
nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam còn khá
mới mẻ so với lịch sử nghiên cứu các quốc
gia khác nhưng đã đạt được sự đa dạng về
chủ đề như lịch sử, kinh tế, chính trị, văn
hóa, giáo dục, môi trường, xã hội, v.v...
Điểm mạnh thứ hai là phương thức tiếp cận
* Tác giả liên hệ
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
vực kinh tế Hàn Quốc, hơn 100 công trình về
18
Phần lớn các nghiên cứu đi trước về
chính trị - ngoại giao Hàn Quốc, hơn 200 bài
tạp chí chuyên ngành về văn hóa Hàn Quốc,
v.v... Tuy nhiên, số lượng bài viết liên quan
đến chủ đề xã hội Hàn Quốc chỉ chiếm tỷ lệ
khiêm tốn với khoảng 46 công trình bao gồm
8 đầu sách và 38 bài tạp chí chuyên ngành
(Trần, 2014, tr. 108-114).
MLXH của người Hàn Quốc mới chỉ tìm
hiểu các vấn đề liên quan của một nhóm
mạng lưới cụ thể như nhóm người cao tuổi,
câu lạc bộ phụ nữ... hoặc tìm hiểu đặc điểm
mạng lưới xã hội của người Hàn dựa trên
những phân tích định tính. Ví dụ như T. T.
H. Nguyễn (2018), T. T. H. Nguyễn (2019),
T. T. V. Nguyễn (2015) v.v... Nói cách khác,
các nghiên cứu tìm hiểu một cách hệ thống
về đặc điểm mạng lưới quan hệ xã hội của
người Hàn nói chung dựa trên những phân
tích định lượng còn khá hạn chế.
Khảo sát riêng lịch sử nghiên cứu
liên quan đến xã hội Hàn Quốc có thể nhận
thấy những chủ đề được khai thác nhiều nhất
là gia đình đa văn hóa, phong trào làng mới,
các vấn đề về chính sách xã hội như bảo
hiểm, dân số, v.v... với các nghiên cứu tiêu
biểu như Ngô (2012), T. N. Trần (2011,
2015), Phạm (2011), Nguyễn (2019), H. T.
Trần (2018), Hoàng (2016), Cao (2017),
v.v... Trong khi đó, mảng đề tài liên quan đến
vốn xã hội hay mạng lưới quan hệ xã hội
(MLQHXH) đang chiếm một tỷ lệ khá nhỏ.
Có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu khai
thác chủ đề này như Q. T. Nguyễn (2005), T.
T. Nguyễn (2012), Cao (2017), Nguyễn và
Cao (2012), T. T. H. Nguyễn (2018), Tống
(2017), v.v...
Nắm được khoảng trống trong các
nghiên cứu đi trước, bài viết này sẽ sử dụng
phương pháp tổng hợp các dữ liệu khảo sát
qui mô lớn với mẫu khảo sát là đại diện
người Hàn nói chung ở nhiều khu vực trên
cả nước của nhiều nghiên cứu đi trước để
phân tích, so sánh, đánh giá các số liệu, từ đó
chỉ ra một số đặc điểm nổi bật trong
MLQHXH của người Hàn. Các câu hỏi
nghiên cứu được đặt ra là
(1) Qui mô mạng lưới xã hội của người
Hàn như thế nào?
Các MLQHXH được hình thành và
chịu sự chi phối bởi các đặc điểm về dân tộc
tính cũng như các đặc điểm văn hóa xã hội
của mỗi quốc gia. Mạng lưới xã hội (MLXH)
là một yếu tố cơ bản cấu thành nên vốn xã
hội – nguồn lực quan trọng tạo nên sự phát
triển. Thông qua việc tìm hiểu những tương
tác giữa các cá nhân trong cùng một mạng
lưới hay giữa nhiều mạng lưới với nhau,
chúng ta có thể đánh giá được phần nào tác
động của những tương tác này với toàn bộ hệ
thống xã hội. Do vậy, nghiên cứu về đặc
điểm MLQHXH nói chung và MLQHXH
của người Hàn Quốc nói riêng đảm bảo tính
thực tiễn cao. Cụ thể, nghiên cứu về
MLQHXH của người Hàn Quốc sẽ giúp hiểu
rõ hơn về đặc tính dân tộc cũng như đặc
trưng văn hóa xã hội của nước bạn. Từ đó
giúp xây dựng, duy trì, phát triển các chiến lược
giao lưu, hợp tác bền vững, hiệu quả và thấu
hiểu nhau hơn giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
(2) Mạng lưới xã hội của người Hàn gồm
những loại hình nào?
(3) Đặc điểm mạng lưới xã hội của người
Hàn ra sao?
2. Cơ sở lý luận, thao tác hóa khái niệm và
phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận
Theo quan điểm của Paulkins (1981),
những ý tưởng đầu tiên về phân tích MLXH
đã có từ đầu thế kỷ XX gắn liền với tên tuổi
của nhà xã hội học người Đức Georg
Simmel. Tư tưởng cốt lõi của Georg Simmel
là nhấn mạnh ‘tính liên kết xã hội’. Tức là,
MLXH của một cá nhân không phải là mạng
lưới những con người tồn tại xung quanh mà
không có sự tương tác hay kết nối nào với cá
nhân đó mà phải được hiểu là mạng quan hệ
xã hội liên kết cá nhân với nhiều người khác
trong những nhóm nhất định (dẫn theo
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
Nông, 2009, tr. 58).
Cũng theo Paulkins (1981), nếu như
19
Mark Granovetter (1973), thuyết "các lỗ
trống cấu trúc" (structural holes) của Ronald
S. Burt (1992), lý thuyết trao đổi xã hội
(social exchange theory của Goerge Homans
(1958), lý thuyết hành vi (the economic
approach to human behavior) của Gary
Becker (1956), lý thuyết có đi có lại trong
biếu tặng quà (the reciprocal rules of giving
and receiving gifts) của Marcel Mauss
(1925)... Bài viết này sẽ tiếp cận theo lý
thuyết "sức mạnh của các mối quan hệ yếu"
của Granovetter và lý thuyết có đi có lại
trong biếu tặng quà của Marcel Mauss để phân
loại và tìm hiểu đặc điểm của các loại liên kết
trong MLQHXH của người Hàn Quốc.
Simmel được xem như là người đặt nền
móng cho lối phân tích MLXH thì nhà nhân
học người Anh J. A. Barnes lại được xem
như là người sáng tạo ra khái niệm "mạng
lưới xã hội" (social network). Trải qua quá
trình quan sát thực nghiệm đời sống của cư
dân đảo Bremnes của Na Uy, Barnes phát
hiện rằng tại Bremnes có ba loại tổ chức
khác nhau: thứ nhất là tổ chức chính trị, hai
là tổ chức kinh tế, ba là tổ chức xã hội. Từ
việc mô tả kiểu tổ chức thứ ba bao gồm toàn
bộ các mối quan hệ phi chính thức giữa các
thành viên của đảo mà Barnes đã sáng tạo ra
thuật ngữ "mạng lưới xã hội". Theo ông, các
cư dân tại Bremnes gắn chặt với nhau trong
một mạng lưới quan hệ bạn bè, thân tộc.
Cũng giống với Simmel, Barnes khẳng định
MLXH phải có tính liên kết, ràng buộc qua
lại với nhau, đồng thời, ông đã bước đầu đề
cập đến việc phân loại các loại hình mạng
lưới xã hội thành hai phạm trù lớn: mạng
lưới trong thân tộc và mạng lưới ngoài thân
tộc (bạn bè). Tuy nhiên, theo Wasserman và
Faust (1994) thì phương pháp phân tích
MLXH chỉ thực sự ra đời cùng với sự ra đời
của phương pháp "trắc lượng xã hội"
(sociométrie/sociometry) của nhà tâm lý học
người Mỹ gốc Romania J. L. Moreno.
Phương pháp này gồm có hai công cụ cơ bản
là “Kiểm tra thống kê các quan hệ xã hội”
(sociometric test) và "lược đồ xã hội"
(sociogram). Công cụ đầu tiên cho phép
khám phá được cấu trúc xã hội trong nhóm
như số lượng các thành viên, tần suất tiếp
xúc... Công cụ thứ hai cho phép khám phá
được chức năng xã hội của nhóm như loại
hình, tính chất và vai trò của các liên kết sau
khi đã được sơ đồ hóa để phân tích (dẫn theo
Lê, 2006, tr. 67-69).
Có thể tóm lược lý thuyết của
Granovetter như sau: trong MLXH của một
cá nhân có các mối quan hệ mạnh (strong
ties) và quan hệ yếu (weak ties). Quan hệ
mạnh thường là các mối quan hệ chiếm
nhiều thời gian của các cá nhân, đa nội dung,
có sự tin cậy và cường độ xúc cảm rất cao.
Trái lại, quan hệ yếu thường là các mối quan
hệ không chiếm nhiều thời gian của cá nhân,
ít nội dung, có cường độ xúc cảm yếu và sự
tin cậy lẫn nhau không cao. Tức là, mỗi loại
quan hệ mạnh, yếu sẽ có cấu trúc và chức
năng khác nhau. Để đo được cấu trúc và chức
năng này, có thể dựa vào nhiều chỉ số như
qui mô, độ dài mối quan hệ, tần suất tiếp xúc,
độ tin cậy, các hoạt động tương hỗ, v.v... Bên
cạnh đó, tư tưởng cốt lõi của lý thuyết có đi
có lại trong biếu tặng quà của Marcel Mauss
được phát biểu như sau: Trong văn hóa Bꢀc
Âu và nhiꢁu nꢁn văn hóa khꢂc, trao đꢃi và
hꢄp đồng đưꢄc thꢅc hiện dưꢆi dạng quà
tꢇng, trên lꢈ thuyꢉt là tꢅ nguyện, nhưng thꢅc
ra là bꢊ bꢀt buộc phꢋi làm và phꢋi đꢂp tꢇng...
(Mauss, 1925, tr. 207). Như vậy, theo
Mauss, bản chất của hành vi trao đổi thông
qua biếu tặng quà là luôn theo nguyên tắc
biếu tặng và đáp tặng, tức là có đi có lại. Tuy
nhiên, trên thực tế, nguyên tắc có đi có lại
này có phải lúc nào cũng đối xứng hay cũng
có nhiều trường hợp bất đối xứng? Điều này
cũng cần được phân tích như một trường hợp
riêng của quan hệ có đi có lại (Cao, 2016,
Dựa trên những khái niệm và phương
pháp ban đầu, sau này nhiều lý thuyết về
phân tích MLXH đã ra đời như thuyết "sức
mạnh của các mối quan hệ yếu" (the strength
of weak ties) của nhà xã hội học người Mỹ
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
20
tr. 22-24). Các đặc tính cấu trúc và chức
năng này sẽ được áp dụng để phân tích
MLXH trong bài viết này.
2.2. Khái niệm
Như đã đề cập ở trên, cùng với lòng
tin xã hội và sự tham gia xã hội, MLXH là
một trong ba yếu tố quan trọng cấu thành nên
vốn xã hội. Do vậy, MLXH không đồng nhất
với vốn xã hội mà là khái niệm nằm trong
nội hàm của vốn xã hội.
Đồng quan điểm với Granovetter,
nhiều nghiên cứu gần đây cũng phân tích
MLXH theo hai đặc tính cấu trúc và chức
năng. Các đặc tính cấu trúc thường được đo
nhiều nhất bao gồm: qui mô, mật độ, tần
suất, loại hình... Trong đó, qui mô được hiểu
là số người mà cá nhân có quan hệ. Mật độ
là tỷ lệ quan hệ thực tế trong tổng số quan hệ
giữa các thành viên mạng. Loại hình là sự
phân chia các đối tượng thành viên trong
mạng (Gallo, 1982). Tần suất là chỉ số đo số
lần tương tác qua lại giữa các cá nhân (Kim,
2015). Đặc tính về chức năng tập trung làm
rõ xem các thành viên trong mạng đóng vai
trò như thế nào với cá nhân. Các vai trò này
được đo bằng các loại hình giúp đỡ mà các
thành viên trong mạng mang lại cho cá nhân
và được cá nhân đó ghi nhận (Heo, 2003).
Theo Park (2013), các loại hình giúp đỡ
thường được chia thành giúp đỡ về tình
cảm, giúp đỡ mang tính công cụ, giúp đỡ về
cung cấp thông tin... (dẫn theo Lim, 2017,
tr. 14-15).
MLXH hay MLQHXH cùng nghĩa
với các thuật ngữ như social network trong
tiếng Anh hay 사회적 관계망 (mạng quan hệ
xã hội)/사회적 연결망 (mạng liên kết xã
hội)/사회적 지원망 (mạng giúp đỡ xã hội)
trong tiếng Hàn. Đã có rất nhiều định nghĩa
về MLXH. Như đã nhắc đến ở trên, Barnes
được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm
“mạng lưới xã hội”. Ông cho rằng MLXH
chỉ sự gắn kết chặt chẽ giữa các cá nhân
trong một cộng đồng, có thể là mạng lưới
quan hệ bạn bè hay mạng lưới quan hệ thân
tộc. Tương tự như vậy, Mitchell (1969) định
nghĩa mạng lưới xã hội là tập hợp các liên
kết tồn tại giữa các cá nhân thuộc nhóm nhất
định nào đó và Wellman (1981) cho rằng
MLXH là tập hợp các quan hệ chứa đặc tính
ràng buộc lẫn nhau. Không tiếp cận từ góc
độ cấu trúc mà nhấn mạnh chức năng của
mạng lưới, Antonucci (1985) đưa ra định
nghĩa MLXH là tập hợp các cá nhân có thể
cung cấp sự trợ giúp cho các cá nhân khác
trong mạng lưới (dẫn theo Lim, 2017, tr. 12).
Tóm lại, MLXH bao gồm tất cả các tiếp xúc xã
hội mà cá nhân tạo nên, tức là bao gồm cả
những quan hệtư nhưgiađình, bạn bè, họhàng,
hàng xóm... và các quan hệ công như đoàn thể
tôn giáo, hội phụ nữ, tổ chức công quyền....
Như vậy, cần phải hiểu bản chất của
MLXH chính là mạng lưới các mối quan hệ
xã hội có thể đem lại sự giúp đỡ cho các cá
nhân. MLXH có nhiều đặc điểm về cấu trúc
và chức năng. Việc lựa chọn các chỉ số đo
lường, phân tích mạng lưới tùy thuộc mục
đích, ý đồ và khả năng của mỗi nhà nghiên
cứu. Tuy nhiên, theo quan điểm của bài viết
này, các chỉ số cơ bản nhất để đo lường và
phân tích các đặc điểm cấu trúc là qui mô
mạng lưới, tần suất tiếp xúc thực tế trong
mạng và loại hình mạng. Bên cạnh đó, các
chỉ số cơ bản nhất để phân tích đặc điểm
chức năng của mạng lưới có thể kể đến là
tính đồng dạng, tính có đi có lại với trường
hợp riêng là tính đối xứng/bất đối xứng của
các quan hệ giúp đỡ. Đây cũng là các chỉ số
sẽ được tổng hợp và phân tích trong khuôn
khổ bài viết này.
Bài viết này cũng đồng quan điểm
với các định nghĩa nêu trên và muốn nhấn
mạnh lại hai đặc tính của MLXH trong định
nghĩa như sau: MLXH phꢋi đưꢄc hiểu là
mạng liên kꢉt thꢅc tꢉ giữa các cá nhân thꢅc
hiện chức năng cung cấp nhiꢁu loại hình
giúp đỡ cho các cá nhân.
Một số thuật ngữ khác liên quan đến
phân tích MLXH cần được thao tác hóa khái
niệm như sau.
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
21
(1) Qui mô mạng lưꢆi là số người có
thể mang lại sự giúp đỡ hữu ích và thiết thực
nhất khi cá nhân cần đến. (2) Tính đồng dạng
là sự tương đồng giữa các cá nhân trong
mạng về một hay một vài đặc điểm nhất định
như cùng học, cùng quê hương, cùng khu
vực sống, v.v... (3) Tính có đi có lại là quan
hệ giúp đỡ giữa hai hay nhiều hơn hai chủ
thể. Sự giúp đỡ có thể là trực tiếp hoặc gián
tiếp (bắc cầu). Tuy nhiên, cần nhấn mạnh lại
rằng có đi có lại không có nghĩa là luôn đối
xứng. Tức là, tính có đi có lại luôn hàm chứa
hai trường hợp riêng là đối xứng và bất đối
xứng. (4) Tính đối xứng trong quan hệ giúp
đỡ giữa hai chủ thể được xem như là mối
quan hệ giúp đỡ hai chiều, phản ánh sự tương
ứng về tổng số lượng của loại hình giúp đỡ
(“cho bao nhiêu loại hình” tương ứng với
“nhận bấy nhiêu loại hình”), phù hợp về tính
chất của loại hình (“cho” gì, “nhận” đấy),
giống nhau trong hoàn cảnh trợ giúp (giúp
đỡ trong hoàn cảnh nào, nhận lại sự trợ giúp
trong hoàn cảnh đấy). Ngược lại, tính bất đối
xứng là số lượng, tính chất và hoàn cảnh giúp
đỡ của hai chủ thể trong quan hệ giúp đỡ
không tương ứng, không phù hợp và không
giống nhau. Đối xứng hoàn toàn xảy ra khi
có sự tương thích về cả ba chiều cạnh nêu
trên. Nếu chỉ có sự tương thích về một trong
ba chiều cạnh này thì được coi là đối xứng
bộ phận. Tương tự, bất đối xứng hoàn toàn
là không có sự tương thích về cả ba chiều
cạnh nêu trên. Nếu chỉ có sự không tương
thích về một trong ba chiều cạnh này thì
được coi là bất đối xứng bộ phận (Cao, 2016,
tr. 24-27).
(reciprocal), tức là cả hai chủ thể vừa là
người cho vừa là người nhận giúp đỡ trong
quan hệ đó. Nếu xét về phương thức hình
thành quan hệ thì có quan hệ trực tiếp và
quan hệ gián tiếp. Quan hệ trực tiếp là hai
chủ thể trực tiếp cho và nhận giúp đỡ lẫn
nhau. Quan hệ gián tiếp là hai chủ thể cho và
nhận giúp đỡ gián tiếp thông qua một chủ thể
thứ ba (Han & Park, 2000, tr. 202)
Bên cạnh đó, căn cứ vào đối tượng
cung cấp sự giúp đỡ có thể phân chia thành
mạng lưới quan hệ trong gia đình, họ hàng
và mạng lưới quan hệ ngoài gia đình, họ
hàng. Căn cứ vào tính chất các liên kết như
thời gian duy trì quan hệ, sự đa dạng trong
nội dung các giúp đỡ... lại có thể phân chia
thành các liên kết mạnh và liên kết yếu như
đã đề cập ở trên.
Nói tóm lại, các khái niệm như
MLXH, qui mô, tính đồng dạng, tính có đi
có lại, tính đối xứng/bất đối xứng, liên kết
mạnh, liên kết yếu, mạng lưới trong gia đình,
họ hàng, mạng lưới ngoài gia đình, họ hàng
sẽ là những khái niệm chính được đề cập
trong bài viết này.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên, bài viết này sử
dụng chủ yếu phương pháp tổng hợp, phân
tích các nguồn dữ liệu thứ cấp. Các nguồn dữ
liệu này được thu thập từ các cuộc khảo sát
qui mô lớn. Có thể khái quát về các cơ sở dữ
liệu thứ cấp này như sau.
Đầu tiên là dữ liệu khảo sát của Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
năm 2016 về vốn xã hội với qui mô khảo sát
32 nước và dữ liệu khảo sát về vốn xã hội
của OECD năm 2018 trên 38 nước. Trong
các cuộc khảo sát này, OECD thu thập nhiều
chỉ số liên quan đến vốn xã hội như chỉ số
lòng tin xã hội, chỉ số mạng lưới xã hội (chỉ
số cộng đồng/chỉ số trợ giúp xã hội), chỉ số
hài lòng cuộc sống, v.v... Tuy nhiên, bài viết
này chỉ khai thác và sử dụng dữ liệu về chỉ
số mạng lưới xã hội.
Về loại hình MLXH, tùy thuộc cấu
trúc và chức năng khác nhau sẽ có các cách
phân chia loại hình mạng lưới khác nhau.
Căn cứ vào tính định hướng của quan hệ có
thể phân loại thành quan hệ có mục đích và
quan hệ không có mục đích. Quan hệ có mục
đích là trường hợp xác định rõ được người
cho và người tiếp nhận sự giúp đỡ trong quan
hệ đó. Trái lại, quan hệ không có mục đích
là trường hợp không xác định được rõ như
vậy. Cũng có loại quan hệ có đi có lại
Các nguồn dữ liệu thứ cấp khác có
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
22
thể kể đến là dữ liệu của 2 cuộc khảo sát
“Nhận thức và cuộc sống thường ngày của
người Hàn Quốc hiện đại” (SCEK) năm
1996 với 800 đối tượng và “Nhận thức và giá
trị trong xã hội chuyển giao” (SCV) năm
1998 với khoảng 1800 đối tượng được thực
hiện bởi Trung tâm nghiên cứu khoa học xã
hội thuộc Đại học Quốc gia Seoul. Ngoài ra,
bài viết cũng khai thác cơ sở dữ liệu từ
“Tổng điều tra xã hội Hàn Quốc” (KGSS)
năm 2004 do trung tâm Nghiên cứu điều tra
thuộc trường đại học Sung Kyun Kwan tiến
hành với 2000 đối tượng nam, nữ trưởng
thành trên cả nước. Tuy nhiên, do phạm vi
nội dung nghiên cứu về đặc điểm MLQHXH
của người Hàn Quốc nên bài viết chỉ quan
tâm phân tích các số liệu liên quan đến mạng
lưới xã hội như chỉ số về qui mô, tính đồng
dạng, v.v... trong toàn bộ dữ liệu của các
khảo sát nêu trên.
dữ liệu khảo sát thu thập được, bài viết này
sẽ phân tích, so sánh qui mô MLXH của các
nhóm riêng biệt và của người Hàn nói chung.
Lee và Han (2012) đã tiến hành
phỏng vấn trực tiếp 1652 nam, nữ ở độ tuổi
50~69 đang sinh sống tại đô thị để nghiên
cứu về MLXH của nhóm người già và cận
già. Nghiên cứu này chú ý đến tầm quan
trọng của MLXH phi huyết thống. Do vậy,
qui mô MLXH ở đây được hiểu là số người
bạn có thể mang lại những giúp đỡ thông qua
tiếp xúc trực tiếp hoặc tác động tương hỗ
gián tiếp. Kết quả khảo sát cho thấy trung
bình một người trong nhóm già và cận già có
6,1 bạn thân (Lee & Han, 2012, tr. 170).
Trong khi đó, MLXH của thanh thiếu
niên ở độ tuổi 13~24 theo khảo sát của Tổng
cục thống kê Hàn Quốc năm 2017 lại cho
thấy qui mô nhỏ hơn với trung bình có 4,7
người có thể cung cấp sự giúp đỡ khi cá nhân
cần đến. Trong đó, qui mô MLXH của thanh
thiếu niên ở đô thị là 4,3 người, lớn hơn ở
nông thôn với 4,1 người (Tổng cục thống kê
Hàn Quốc, 2019, tr. 39).
Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, bài
viết chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp,
phân tích và so sánh các số liệu giữa các năm
và giữa các kết quả nghiên cứu của nhiều học
giả, cơ quan, tổ chức.
Tuy nhiên, qui mô MLXH của các
nhóm cá nhân riêng biệt thường nhỏ hơn qui
mô mạng lưới của người Hàn nói chung.
Khảo sát của Shim (2016) cho biết trung
bình người Hàn có 6,67 người có thể tìm
kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết (tr. 33). Qui mô
này vẫn được duy trì trong nhiều năm và khá
tương đồng với kết quả khảo sát gần đây nhất
của Tổng cục thống kê Hàn Quốc năm 2019.
Năm 2019, trung bình người Hàn có 6,8
người có thể cung cấp sự giúp đỡ khi cần.
Qui mô mạng lưới khác nhau tùy thuộc các
loại hình và bối cảnh giúp đỡ. Ví dụ như
trường hợp phải nhờ giúp việc nhà khi ốm
đau thì trung bình người Hàn có 2,3 người có
thể huy động sự trợ giúp. Qui mô mạng lưới
trong trường hợp phải mượn khoản tiền lớn
đột xuất là 2,2 người và trường hợp cần chia
sẻ tâm sự do buồn chán là 2,9 người. Con số
này giảm nhẹ so với năm 2017 với số người
có thể mang lại sự giúp đỡ tương ứng 3
trường hợp trên lần lượt là 2,4 người, 2,3
3. Đặc điểm mạng lưới xã hội
3.1. Qui mô
Mỗi cá nhân có thể là thành viên của
nhiều MLQHXH. Như đã đề cập ở trên,
mạng lưới quan trọng nhất là mạng lưới có
thể đem lại những giúp đỡ hiệu quả nhất khi
cá nhân cần đến. Do vậy, khi đo qui mô
MLXH của một cá nhân, các nhà nghiên cứu
thường đo số người trong mạng lưới có thể
mang lại sự giúp đỡ. Nhiều nghiên cứu
thường đo qui mô MLXH của cá nhân ở các
nhóm riêng biệt dễ khảo sát hơn như nhóm
người cao tuổi, thanh thiếu niên hay sinh
viên, v.v... Bởi để đo được qui mô MLXH
tổng thể ở phạm vi vĩ mô như MLXH của
người Hàn Quốc hay người Việt Nam thì cần
bộ dữ liệu khảo sát qui mô lớn toàn quốc.
Các bộ dữ liệu này thường chỉ được tiến
hành khảo sát theo định kì dưới sự chủ trì của
các cơ quan, tổ chức, dự án lớn. Trên cơ sở
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
23
người và 3,1 người. Đáng chú ý là qui mô
MLXH của người Hàn đã tăng nhiều so với
những năm trước (Tổng cục thống kê Hàn
Quốc, 2019, tr. 19). Sử dụng bộ dữ liệu của
2 cuộc khảo sát “Nhận thức và cuộc sống
thường ngày của người Hàn Quốc hiện đại”
năm 1996 với 800 đối tượng và “Nhận thức
và giá trị trong xã hội chuyển giao” (1998)
với khoảng 1800 đối tượng, nghiên cứu của
Lee (2000) đã đo được qui mô MLXH của
người Hàn là 3,74 người. Qui mô này cũng
được chỉ ra là lớn hơn qui mô MLXH của
người Mỹ với 3,11 người (Lee, 2000, tr. 329).
các quốc gia khác nhưng kết quả khảo sát
năm 2018 là dấu hiệu cho thấy Hàn Quốc
đang dần thoát khỏi xu hướng thấp dần đều
về chỉ số MLXH. Có thể nhìn thấy hai
nguyên nhân khiến cho chỉ số MLXH của
Hàn Quốc thuộc loại thấp so với các nước
OECD. Thứ nhất, sau khủng hoảng tiền tệ
thế giới năm 1997, khái niệm “nơi làm việc
gắn bó suốt đời” đã biến mất và quan niệm
về tính ổn định nghề nghiệp bị phá vỡ. Từng
cá nhân phải lao vào cuộc cạnh tranh khốc
liệt để giành lấy những cơ hội việc làm tốt
hơn. Điều này dẫn đến quan hệ giữa con
người với con người ngày càng bị phân tách
và tính gắn kết tương trợ lẫn nhau trong cộng
đồng dần bị suy giảm. Nguyên nhân thứ hai
có thể kể đến là nhiệt huyết giáo dục cao dẫn
đến áp lực giáo dục lớn và tỷ lệ cạnh tranh
cao trong mọi lĩnh vực. Từ đó dẫn đến sự
thiếu gắn kết, tương trợ ngay từ giai đoạn rất
sớm như lứa tuổi thanh thiếu niên.
Có thể thấy qui mô MLXH của người
Hàn nói chung đang phát triển theo xu thế
tăng dần. Tuy nhiên, chỉ số MLXH của
người Hàn vẫn thuộc nhóm thấp so với các
nước thành viên OECD. Chỉ số trung bình
MLXH của các nước thành viên OECD
thường dao động từ 85 ~ 90%. Ví dụ, chỉ số
trung bình này năm 2016 và năm 2018 lần
lượt là 88% và 85%. Hàng năm, OECD vẫn
khảo sát chỉ số vốn xã hội của các nước hội
viên, trong đó có chỉ số MLXH – một thành
tố quan trọng cấu thành vốn xã hội. Chỉ số
này không đo số người có thể đem lại sự trợ
giúp khi cá nhân cần đến như các cuộc khảo
sát trong nước của Hàn Quốc mà được đánh
giá bởi tỷ lệ % trả lời có hoặc không có người
có thể yêu cầu giúp đỡ khi gặp tình cảnh khó
khăn. Đáng chú ý là từ sau năm 2005 đến
nay, chỉ số MLXH của Hàn Quốc luôn thuộc
nhóm thấp nhất so với các nước thành viên
OECD. Năm 2008, chỉ số này của Hàn Quốc
là 75,4%, năm 2014 là 73,8% và năm 2018
là 75,9%. Các nước có chỉ số MLXH cao
thường là khu vực châu Âu như Ireland,
Iceland... Thậm chí một quốc gia đa chủng
tộc vốn được đánh giá là có tính gắn kết xã
hội thấp và chủ nghĩa cá nhân cao cũng đạt
chỉ số MLXH ở mức giữa so với các nước
hội viên OECD khác (OECD, 2019).
Trong các cuộc khảo sát của OECD,
chỉ số MLXH của người cao tuổi thường
được chú ý đặc biệt nhằm đánh giá chất
lượng phúc lợi xã hội của một quốc gia. Theo
đó, năm 2015, chỉ số MLXH của người già
trên 50 tuổi của Hàn Quốc là 60,9%, thấp
nhất trong số 33 nước hội viên OECD được
khảo sát và thấp hơn 26,2% so với mức chỉ
số trung bình là 87,1% (OECD, 2019).
Tuy nhiên, theo lý thuyết lựa chọn
tình cảm xã hội (socio-emotional selectivity
theory) của Carstensen, quan hệ xã hội bị
giảm ở tuổi già một phần là do họ tự điều
chỉnh MLQHXH trong phạm vi những
người có thể làm thỏa mãn tối đa sự hài lòng
về tình cảm cho bản thân. Do vậy, sự thu hẹp
mạng lưới quan hệ của người già không có
nghĩa là mạng lưới đó bị suy giảm ảnh hưởng
tích cực (Lee & Han, 2012, tr. 174). Điều
này cũng có nghĩa là chỉ số MLXH của
người già cao hay thấp chưa đủ căn cứ để kết
luận qui mô MLXH của toàn bộ người Hàn
thấp và chất lượng mạng lưới kém. Do vậy,
bài viết này quan tâm nhiều hơn vào qui mô
MLXH của người Hàn nói chung. Thiết nghĩ
Hàn Quốc cần có những chính sách tích cực
Như vậy, kết quả khảo sát của các
nghiên cứu trong nước khá đồng nhất với kết
quả khảo sát của OECD. Mặc dù hiện nay
chỉ số này của Hàn Quốc vẫn thấp hơn so với
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
24
hơn nữa để làm tăng chỉ số MLXH, góp phần
làm tăng chỉ số vốn xã hội của mỗi cá nhân
và cả dân tộc.
vào gia đình không? Nghiên cứu của Gu Hye
Ran sử dụng dữ liệu của hai cuộc khảo sát về
‘quan hệ xã hội và hệ thống hỗ trợ xã hội’
trong khuôn khổ chương trình ‘Điều tra xã
hội quốc tế 2001’ và ‘Tổng điều tra xã hội
Hàn Quốc năm 2004’. Khác với các nghiên
cứu đi trước, nghiên cứu của Gu Hye Ran
cho thấy mạng xã hội của người Hàn đang
duy trì theo loại hình hỗn hợp, đa dạng. Cụ
thể, 67,1% lựa chọn cả các đối tượng trong
và ngoài gia đình, thân tộc khi cần giúp đỡ.
Chỉ có 26,7% chỉ chọn gia đình, thân tộc và
6,2% chỉ chọn ngoài gia đình, thân tộc (Gu,
2005, tr. 240).
3.2. Loại hình mạng lưới xã hội
Như đã đề cập ở trên, có nhiều cách
phân loại các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên,
hầu hết các nghiên cứu tại Việt Nam và nước
ngoài về MLXH của người Hàn Quốc đều
tiếp cận theo cách phân chia: mạng lưới
trong gia đình, họ hàng (thân tộc) bao gồm
bạn đời, cha mẹ, con cái, họ hàng bên nội, họ
hàng bên ngoại và mạng lưới ngoài gia đình,
họ hàng bao gồm hàng xóm, bạn đồng
nghiệp, bạn đồng học, bạn đồng hương, v.v...
Khẳng định thêm cho kết quả nghiên
cứu của Gu (2005), cuộc tổng điều tra xã hội
năm 2019 của Tổng cục thống kê Hàn Quốc
cho thấy 74,5% người được hỏi trả lời rằng
có người giúp đỡ trong mạng lưới gia đình,
họ hàng khi cần và con số này đối với mạng
lưới ngoài gia đình, họ hàng là 76,9%. Qui
mô MLXH trong gia đình, họ hàng (ngoại
trừ những người sống cùng) là 2,9 và qui mô
mạng lưới ngoài gia đình, họ hàng là 3,9.
Khảo sát còn cho biết một số kết quả thú vị
khác như: khu vực nông thôn tìm trợ giúp từ
mạng lưới gia đình, họ hàng nhiều hơn khu
vực thành thị; nữ giới có tỷ trọng tiếp xúc
nhờ vả nhiều hơn nhưng số người có thể đem
lại giúp đỡ thực chất ít hơn so với nam giới;
độ tuổi càng ít càng có xu hướng tìm sự giúp
đỡ từ mạng lưới ngoài gia đình, họ hàng
(Tổng cục thống kê Hàn Quốc, 2019, tr. 19).
Lee (2000) đã phân chia MLXH của
người Hàn thành bốn loại. Loại 1 là các quan
hệ được duy trì trong thời gian dài và tần số
tiếp xúc thường xuyên, ví dụ như gia đình.
Loại 2 là các mối quan hệ được duy trì trong
thời gian dài nhưng tần số tiếp xúc không
thường xuyên, thường là các quan hệ như họ
hàng, đồng hương, đồng học, v.v... Loại 3 là
các mối quan hệ được hình thành tương đối
mới nhưng tần số tiếp xúc thường xuyên như
hàng xóm, đồng nghiệp. Cuối cùng là loại 4
chính là các quan hệ mới hình thành và số
lần tiếp xúc cũng ít như hội cùng sở thích,
đoàn thể xã hội, v.v... Trong đó, loại hình 1
chiếm tỷ lệ cao nhất, 46,5% và tiếp ngay sau
đó là quan hệ đồng học thuộc loại hình 2
chiếm tỷ lệ 17%. Điều này có nghĩa là người
Hàn có xu hướng coi trọng và tìm kiếm sự
giúp đỡ từ gia đình, họ hàng nhiều hơn hẳn
so với các MLQHXH khác. Sau quan hệ gia
đình, họ hàng, người Hàn đặc biệt thích các
mối quan hệ đồng nhất về tuổi và trình độ
giáo dục như nhóm bạn đồng học (Lee, 2000,
tr. 337).
Tóm lại, theo kết quả khảo sát của
nhiều nghiên cứu mới đây, khó có thể nói
MLXH của người Hàn tập trung vào tính gia
đình chủ nghĩa. Sau công nghiệp hóa, vai trò
của chủ nghĩa gia đình đã yếu đi, loại hình
chỉ có vợ chồng và con chưa trưởng thành
nhiều lên. Do vậy, cũng cần đánh giá lại tính
chất, loại hình các MLXH của người Hàn
ngày nay...
Tuy nhiên, kết quả khảo sát của Lee
Jae Yeol được thực hiện ở cuối những năm
1990 là thời kỳ xã hội dân sự mới hình thành
ở Hàn Quốc nên các mạng lưới ngoài gia
đình, họ hàng như các tổ chức đoàn thể xã
hội chưa phát triển mạnh. Do vậy, Gu (2005)
đã đưa ra nghi vấn rằng: liệu MLXH của
người Hàn Quốc có phải là mô hình tập trung
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Gu
(2005) cũng chỉ ra rằng loại hình MLXH
khác nhau tùy thuộc vào loại hình và bối
cảnh giúp đỡ, từ đó, tác giả so sánh các loại
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
25
hình mạng lưới của người Hàn với người
Mỹ, Nhật và Đan Mạch. Điểm chung là
những giúp đỡ mang tính công cụ như làm
việc nhà, chăm sóc con cái... thì cả 4 nước
thường tìm đến sự giúp đỡ từ bạn đời, và
những giúp đỡ vật chất thì thường tìm đến
bố mẹ. Chỉ có ngườiĐan Mạch thường tìm
đến cơ quan chuyên môn. Còn những giúp
đỡ tình cảm thì người Hàn và người Mĩ
thường tìm đến bạn bè, trong khi đó, người
Nhật Bản, Mĩ, Đan Mạch cũng thường tìm
đến bạn đời. Cụ thể, khi ốm đau, cần giúp
việc nhà thì mức độ quan trọng của người
bạn đời ở Hàn Quốc thuộc loại thấp hơn so
với 3 nước còn lại (Đan Mạch là cao nhất).
Mức độ phụ thuộc bố mẹ của Nhật Bản là
cao nhất và Đan Mạch thấp nhất. Mức độ
phụ thuộc con cái của người Hàn khi ốm đau,
cần giúp việc nhà thấp hơn so với người Nhật
và người Mĩ. Trường hợp tìm đến giúp đỡ
của bạn bè và họ hàng khác của Mĩ cao nhất,
rồi đến Hàn Quốc. Tỷ lệ trả lời là không thể
tìm ai giúp đỡ trong bối cảnh này của người
Hàn cũng là cao nhất. Về giúp đỡ vật chất,
người Nhật và người Đan Mạch tìm đến bạn
đời nhiều nhất. Người Nhật và người Mĩ
cũng tìm đến sự giúp đỡ nhiều của bố mẹ.
Còn người Hàn Quốc tìm đến nhiều nhất
giúp đỡ của con cái. Trái với người Đan
Mạch, mức độ phụ thuộc anh chị em ruột của
người Hàn cũng cao hơn. Khác với 3 nước
còn lại, những đối tượng ngoài họ hàng như
bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp cũng là đối
tượng quan trọng có thể mang lại sự giúp đỡ
vật chất cho người Hàn. Về giúp đỡ tình
cảm, người Hàn thường tìm đến bạn bè nhiều
nhất, mức độ phụ thuộc bạn đời, bố mẹ, con
cái ở loại hình giúp đỡ này thuộc loại thấp
hơn so với các nước khác. Tức là người Hàn
có xu hướng tìm sự giúp đỡ từ những đối
tượng ngoài gia đình hay họ hàng khi cần
giúp đỡ tình cảm như hàng xóm, đồng
nghiệp... (Gu, 2005, tr. 243).
những giúp đỡ về vật chất thì mạng lưới gia
đình, họ hàng vẫn là nguồn lực được huy
động đầu tiên. Trong khi đó, mạng lưới
ngoài gia đình, họ hàng thường mang lại
những giúp đỡ hiệu quả về mặt tình cảm như
chia sẻ tâm sự hay cung cấp các thông tin
việc làm, xã hội. Kết luận này cũng khá đồng
nhất với quan điểm của Grannovetter về sức
mạnh của các liên kết yếu (mạng lưới ngoài
gia đình, họ hàng), đặc biệt trong lĩnh vực
chia sẻ tình cảm và cung cấp thông tin.
Nếu như với mạng lưới ngoài gia
đình, họ hàng, người Hàn đặc biệt thích các
quan hệ đồng học như đã đề cập ở trên thì
với mạng lưới trong gia đình, họ hàng, mối
quan hệ giữa cha mẹ - con cái thường trở
thành trung tâm của cho và nhận giúp đỡ.
Mức độ giúp đỡ có thể khác nhau tùy thuộc
loại hình quan hệ gia đình. Park (2003) kết
luận rằng tồn tại 3 loại hình quan hệ cha mẹ
- con cái theo quan điểm của cha mẹ, bao
gồm kiểu truyền thống, kiểu hỗ trợ có đi có
lại, kiểu độc lập và 5 kiểu loại quan hệ cha
mẹ - con cái theo cách nhìn của con, bao gồm
kiểu hỗ trợ có đi có lại, kiểu truyền thống,
kiểu sống riêng và giúp đỡ tùy hoàn cảnh,
kiểu sống riêng nhưng vẫn giữ gìn các qui
chuẩn đạo đức, kiểu độc lập. Theo kết quả
khảo sát các đối tượng là con ở độ tuổi trung
niên, 18% đối tượng là con thuộc loại hỗ trợ
có đi có lại vừa sống cùng bố mẹ vừa duy trì
quan hệ cho – nhận có đi có lại, 19,7% thuộc
loại truyền thống vừa sống cùng bố mẹ vừa
coi trọng ý thức phụng dưỡng. 12,8% thuộc
loại 3 và 17,9% thuộc loại 4 không sống
cùng bố mẹ nhưng vẫn cho và nhận giúp đỡ
về vật chất và tình cảm với bố mẹ. Hai loại
này quan niệm về phụng dưỡng cha mẹ còn
phải tùy vào hoàn cảnh cụ thể. 31,5% thuộc
loại 5 sống riêng với bố mẹ và ý thức duy trì
quan hệ hỗ trợ cũng yếu. Bên cạnh đó, kết
quả khảo sát các đối tượng cha mẹ ở độ tuổi
cao niên lại cho thấy 49,7% thuộc loại 1
truyền thống, có thể sống cùng hoặc riêng
với con cái nhưng nhận giúp đỡ vật chất từ
con, nhấn mạnh trách nhiệm của gia đình với
việc phụng dưỡng người già, 19,8 thuộc loại
Như vậy, xét theo loại hình và bối
cảnh giúp đỡ, người Hàn đang có xu hướng
tìm kiếm sự giúp đỡ nhiều hơn từ mạng lưới
ngoài gia đình, họ hàng. Tuy nhiên, khi cần
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
26
2 có thể sống cùng hoặc riêng với con cái
nhưng nhấn mạnh tính hỗ trợ có đi có lại lẫn
nhau và 30,5% thuộc loại 3 muốn sống riêng
và cũng không cho và nhận giúp đỡ riêng
biệt (Park, 2003, tr. 180-181).
khẳng định rằng người Hàn luôn có ý thức
duy trì các mối quan hệ trong mạng lưới ở
mức độ dày đặc và thực chất. Điều này phần
nào phản ánh tính hiệu quả của MLXH của
người Hàn.
Kết quả nghiên cứu của Park (2003)
cho thấy dù ở loại hình gia đình nào thì người
Hàn vẫn đang cố gắng duy trì mối quan hệ
thế tục giữa các thế hệ. Tuy nhiên, cha mẹ
thường có xu hướng lựa chọn loại hình gia
đình truyền thống, tức là chủ yếu tìm kiếm
sự giúp đỡ từ con cái khi cần. Trong khi đó,
loại hình sống riêng, độc lập và quan hệ cho
– nhận các giúp đỡ giữa cha mẹ - con cái
lỏng lẻo lại được lựa chọn nhiều nhất bởi thế
hệ con cái. Tiếp đến, thế hệ con cái thường
mong muốn kiểu quan hệ giúp đỡ có đi có lại
giữa cha mẹ và con cái.
Bên cạnh đó, Kim (2014) lại cho biết
tần suất tiếp xúc của mạng lưới trong gia
đình, họ hàng, trọng tâm vào tiếp xúc giữa
cha mẹ và con cái không sống cùng. Đối
tượng khảo sát là 18,000 đại diện hộ gia đình
độ tuổi từ 15~64 tuổi. Với câu hỏi là “Trong
1 năm qua anh/chị và bạn đời đã gặp trực tiếp
bố mẹ và liên lạc gián tiếp qua điện thoại,
email, thư từ... ở mức độ nào?”, tác giả đã sử
dụng thang đo 9 mức bao gồm: ① Hầu như
hàng ngày (trên 4 lần/tuần), ② 2~3 lần/tuần,
③ 1 lần/tuần, ④ 2 lần/tháng, ⑤ 1 lần/tháng,
⑥ 5~6 lần/năm, ⑦ 3~4 lần/năm, ⑧ 1~2
lần/năm, ⑨ Hầu như không gặp trực tiếp
hoặc nhìn thấy nhau qua các hình thức nào
khác. Kết quả nghiên cứu như sau.
3.3. Tần suất tiếp xúc
Tần suất tiếp xúc cũng là một yếu tố
quan trọng trong phân tích MLXH, giúp
đánh giá được phần nào chất lượng mạng
lưới. Tần suất tiếp xúc thường được hiểu là
mức độ thường xuyên duy trì mối quan hệ
trong mạng lưới. Theo Lee (2000), trong
2.378 người được hỏi, có 30,5% liên lạc với
nhau hàng ngày, liên lạc hàng tuần là 24,4%,
liên lạc hàng tháng là 31,9% và liên lạc hàng
năm là 13,2%. Kết quả này cho thấy nếu chỉ
ngoại trừ con số liên lạc theo năm được xem
là tần suất thấp thì nói chung, người Hàn
Quốc đang duy trì các mối quan hệ trong
mạng lưới một cách khá thường xuyên, tức
là mật độ tiếp xúc khá đậm đặc (Lee, 2000,
tr. 331).
Về gặp trực tiếp mặt đối mặt, tỷ lệ
gặp bố mẹ khoảng 5~6 lần/năm là nhiều
nhất. Cụ thể, tỷ lệ gặp bố mẹ chồng là 20,6%,
bố mẹ vợ là 19, 6%. Tiếp đến là mức độ tiếp
xúc 1 lần/tuần với bố mẹ chồng là 20,8% và
với bố mẹ vợ là 20%. Trái lại, 20,4% gặp bố
mẹ chồng và 27,5% gặp bố mẹ vợ dưới 3~4
lần/năm. Về tiếp xúc không trực tiếp, tỷ lệ
trả lời cao nhất là liên lạc 1 lần/tuần với bố
mẹ chồng là 27,3%, bố mẹ vợ là 24,2%. Tỷ
lệ trên 1 lần/tuần gửi thư, gọi điện... với bố
mẹ chồng là 54,1% và với bố mẹ vợ là
60,6%. Tỷ lệ liên lạc 3~4 lần/năm với bố mẹ
chồng là 5,8% và với bố mẹ vợ là 5,2%
(Kim, 2014, tr. 26-29).
Nếu như Lee (2000) đưa ra kết quả
khảo sát về tần suất tiếp xúc với các đối
tượng trong và ngoài gia đình, họ hàng nói
chung thì Park (2003) lại giới hạn phạm vi
khảo sát là đối tượng người già và cận già.
Theo đó, mức độ tiếp xúc được lựa chọn
nhiều nhất là 1 lần/tháng với 35,5%, 1
lần/tuần chiếm 29,8% và vài lần/tuần 23,3%.
Vài lần/năm và 1 lần/năm chỉ chiếm lần lượt
là 9,7% và 1,7%. Như vậy, từ kết quả khảo
sát khá tương đồng của Lee và Park, có thể
So sánh các kết quả khảo sát nêu trên
có thể rút ra hai điểm. Thứ nhất, tần suất tiếp
xúc không trực tiếp (đơn vị: lần/tuần) có xu
hướng dày đặc hơn tiếp xúc trực tiếp mặt đối
mặt (đơn vị: lần/năm). Thứ hai, tần suất gặp
mặt trực tiếp với bố mẹ chồng nhiều hơn
nhưng tần suất liên hệ gián tiếp qua các
phương tiện liên lạc với bố mẹ vợ lại thường
xuyên hơn. Thứ ba, tần suất tiếp xúc với
MLXH ngoài gia đình có xu hướng thường
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
27
xuyên và dày đặc hơn tần suất tiếp xúc với
MLXH trong gia đình.
truyền thống của người Hàn không chỉ đặt
nền tảng vào các quan hệ gia đình mang tính
viện trợ mà còn vào cả các quan hệ ngoài gia
đình mang tính phi viện trợ. Các MLXH này
vừa mang tính cưỡng chế vừa mang tính tự
nguyện trên nguyên tắc tác động tương hỗ.
Nhưng dù là loại MLXH nào thì bước vào xã
hội hiện đại, chữ ‘Yeon’ hay chính là tính
đồng dạng vẫn luôn được coi trọng. Điều tra
năm 1996 của Hiệp hội văn hóa thường nhật
Hàn Quốc cho thấy: trong số các đối tượng
mà cá nhân có thể tìm đến khi cần giúp đỡ
thì gia đình vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất với
48,2%, tiếp đến là đoàn thể tôn giáo (cha cố,
người cùng đạo) với 25,5%, cùng trường
(bạn cùng lớp, thầy cô, tiền bối hậu bối) là
10,5%, cùng khu vực (cùng quê, cùng địa
bàn sinh sống) là 7% (Oh, 1999, tr. 782).
3.4. Tính đồng dạng
Như đã đề cập ở trên, mỗi nghiên cứu
có cách phân tích chức năng của MLXH
khác nhau tùy thuộc đặc trưng của MLXH
được chọn khảo sát. Trong bài viết này, tác
giả chỉ tập trung tìm hiểu hai đặc điểm chức
năng khá nổi bật của MLXH của người Hàn,
đó là tính đồng dạng và tính có đi có lại.
MLQHXH của người Hàn Quốc coi
trọng chữ “Yeon”, tức là tính liên kết hay cố
kết hơn là tính chất cho – nhận. Với tinh thần
của chủ nghĩa Uri1, người Hàn Quốc thường
coi trọng các mối quan hệ có tính liên kết
ràng buộc như cùng học, cùng quê. Từ sau
những năm 60 do sự phát triển cao độ của
công nghiệp hóa thì xuất hiện các đoàn thể
mà ai cũng có thể trở thành hội viên nếu thấy
có ý nghĩa cho bản thân nhưng chữ “Yeon” vẫn
được coi trọng nguyên vẹn (Oh, 1999, tr. 780).
Trong giới nghiên cứu MLXH, chữ “Yeon”
thường được nhắc đến bằng một tên gọi khác
là “tính đồng dạng”.
Kết quả khảo sát này khá tương đồng
với kết quả nghiên cứu của Lee (2000) khi
khẳng định người Hàn thường có xu hướng
lựa chọn những người đồng nhất với mình về
huyết thống và học vấn để hình thành
MLQHXH chặt chẽ với họ. Theo khảo sát
của Lee (2000), 46,5% mạng lưới quan hệ
thân thiết có thể đem lại sự giúp đỡ khi cần
đến của người Hàn là gia đình, họ hàng. Tiếp
đến là mạng lưới đồng học chiếm 17%.
Điều tra xã hội năm 1996 của trung
tâm nghiên cứu xã hội, trường Đại học nữ
Sung sim cho thấy người Hàn tập trung duy
trì nhiều nhất các quan hệ đồng học với
18,8%, rồi đến quan hệ đồng hương với
11,2%... Nếu cộng tổng các mối quan hệ có
tính đến chữ “Yeon” thì có thể thấy 70,4% là
các quan hệ cùng huyết thống, cùng học,
cùng quê, v.v... Một điều tra xã hội khác của
trường Đại học Hallim năm 1996 cũng cho
thấy 73,5% người trả lời đang tham gia 2 hội
nhóm trở nên và đại đa số là các hội nhóm
theo hình thức theo đuổi sự gắn kết, ràng
buộc, số ít là hình thức theo đuổi mục đích
(Oh, 1999, tr. 781).
3.5. Tính có đi có lại
Như đã đề cập ở trên, ngay từ xã hội
cổ sơ, Marcel Mauss đã khẳng định có đi có
lại là nguyên tắc bắt buộc của mọi giao dịch
xã hội. Đây cũng là nguyên tắc quan trọng
và cần thiết để duy trì tính bền vững trong
MLXH của người Hàn nói riêng và của mọi
dân tộc nói chung. Tuy nhiên, có đi có lại
không phải lúc nào cũng là đối xứng hoàn
toàn. Tức là, thông thường sẽ xảy ra sự giúp
đỡ có đi có lại mang tính đối xứng bộ phận
hay chính là quan hệ giúp đỡ bất đối xứng.
Tuy nhiên, tùy thuộc đối tượng cho và nhận
giúp đỡ cũng như loại hình, hoàn cảnh giúp
đỡ mà tính chất có đi có lại lại nghiêng hơn
về đối xứng hay bất đối xứng. Đây là trường
Trong xã hội truyền thống, các
MLXH phổ biến là hội nông dân, hụi/họ, hội
đổi công việc đồng áng hay các qui ước và
lề thói như hương ước. MLXH trong xã hội
1 Uri trong tiếng Hàn nghĩa là “chúng ta, chúng tôi”.
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
28
hợp riêng của tính chất có đi có lại trong
quan hệ giúp đỡ.
đỡ bố mẹ nhiều hơn. Từ lập trường của bố
mẹ, 49,7% nhấn mạnh trách nhiệm của gia
đình với việc phụng dưỡng người già và
thường lựa chọn quan hệ giúp đỡ bất đối
xứng theo hướng nhận từ con nhiều hơn cho
con. Trong khi đó chỉ có 19,8% lại nhấn
mạnh tính hỗ trợ có đi có lại lẫn nhau (Park,
2003, tr. 76-82).
Về đối tượng cho và nhận giúp đỡ,
càng là các quan hệ phi huyết thống càng có
xu hướng giúp đỡ nhau một cách đối xứng.
Kết quả khảo sát 1007 nam, nữ từ 19 tuổi trở
lên trên toàn quốc về các hành động tương
trợ lẫn nhau của Han và Kang (2014) cho
biết người Hàn thường đầu tư chi phí nhiều
nhất vào việc duy trì mạng lưới quan hệ
mang tên “Kye”, có nghĩ là “hụi/họ” trong
tiếng Việt. Hội này thường cung cấp cho
nhau các giúp đỡ hai chiều về tài chính, cung
cấp thông tin... và thường trong các hoàn
cảnh như tang ma, cưới xin, sinh nhật, khai
trương... 68,12% và 78,25% người được hỏi
trả lời rằng từng cho và nhận giúp đỡ đối
xứng với các mối quan hệ ngoài gia đình, họ
hàng trong các dịp hiếu và hỉ. 39,42% từng
tham dự tiệc sinh nhật của nhau khi được
mời. Trên thực tế, các dịp lễ như tang ma,
cưới hỏi... thường là những hoàn cảnh giúp
đỡ mang tính chất nợ đồng lần. Do vậy, cho
và nhận giúp đỡ trong các trường hợp này
thường mang tính đối xứng cũng là điều dễ
hiểu. Hơn nữa, đặc trưng dân tộc tính của
người Hàn là trọng thể diện. Do vậy, người
Hàn thường có xu hướng càng là các mối
quan hệ phi huyết thống, nói dễ hiểu là mạng
lưới người ngoài thì càng không muốn mắc
nợ nhau trong nhiều loại hình giúp đỡ cũng
như nhiều hoàn cảnh giúp đỡ (Han & Kang,
2014, tr. 46-47).
Năm năm sau, Park (2008) vẫn tiếp
tục khẳng định tính bất đối xứng thường tồn
tại trong quan hệ giúp đỡ giữa cha mẹ và con
cái. Trong gia đình Hàn Quốc hiện đại, quan
hệ của con cái và bố mẹ ở tuổi xế chiều
thường được cho là quan hệ một chiều với
việc con cái chăm sóc bố mẹ già là chủ yếu.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây ở Hàn
Quốc cho thấy con cái đang coi việc phụng
dưỡng này như một gánh nặng. Như vậy,
ngoài việc phản ánh tính chất bất đối xứng
trong quan hệ cho - nhận giữa bố mẹ và con
cái khi bố mẹ về già theo xu hướng bố mẹ
nhận từ con nhiều hơn là con nhận từ bố mẹ,
nghiên cứu của Park Kyeong Suk còn cho
thấy rõ sự bất đối xứng trong cả ý thức
(intention) giữa một bên là mong muốn được
trông cậy vào con cái lúc về già với một bên
là cảm giác gánh nặng khi phải phụng dưỡng
cha mẹ già (Park, 2008, tr. 175-176). Trái
với Park (2008), một nghiên cứu gần hơn của
Kim (2012) lại phản ánh một xu thế mới của
gia đình Hàn Quốc hiện đại, đó là, các gia
đình hạt nhân gồm vợ chồng và con cái thích
lựa chọn sống gần bố mẹ đẻ, bố mẹ đằng vợ
hay bố mẹ đằng chồng để vừa thuận tiện
phụng dưỡng cha mẹ vừa có thể nhờ ông bà
chăm sóc con cái và trông nom nhà cửa một
cách miễn phí. Điều này cho thấy bố mẹ và
con cái trong gia đình Hàn Quốc hiện đại
đang cố gắng đi tìm sự cân bằng hay còn gọi
là đối xứng trong quan hệ "giúp đỡ - nhận
được giúp đỡ" (Kim, 2012, tr. 192).
Trái lại, các quan hệ giúp đỡ trong
gia đình thường mang tính bất đối xứng rõ
rệt hơn. Theo Park (2003), từ lập trường của
thế hệ con, chỉ có 18% người được hỏi vừa
sống cùng bố mẹ vừa đang duy trì mối quan
hệ hỗ trợ có đi có lại đối xứng. 19,7% vừa
sống cùng bố mẹ vừa coi trọng ý thức phụng
dưỡng và có xu hướng duy trì quan hệ hỗ trợ
bất đối xứng theo hướng con giúp đỡ bố mẹ
nhiều hơn. Đáng chú ý là 31,5% có ý thức
duy trì quan hệ hỗ trợ qua lại yếu. Càng là
các đối tượng nhiều tuổi, trưởng nam, sống
ở nông thôn càng có xu hướng duy trì quan
hệ hỗ trợ bất đối xứng theo hướng con giúp
Bên cạnh đó, tính có đi có lại cũng
biểu hiện khác nhau tùy thuộc loại hình giúp
đỡ. Người Việt thường có câu nói “tiền bạc
phân minh”, tức là liên quan đến tài chính
cần phải rõ ràng, minh bạch và tránh nợ nần
nhau. Do vậy, nếu không đủ khả năng trả nợ
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
29
những giúp đỡ nhận được về vật chất thì cá
nhân thường có xu hướng tìm đến gia đình
khi gặp khó khăn về kinh tế. Bởi gia đình là
nơi sẵn sàng chấp nhận các mối quan hệ cho
– nhận bất đối xứng. Theo Nguyễn (2005),
gia đình thường là nguồn giúp đỡ đầu tiên
trong hoạt động kinh doanh của người Hàn.
Đặc trưng này đã được rút ra từ kết quả
nghiên cứu thực nghiệm về "Sự giao thoa
giữa vốn xã hội với các giao dịch kinh tế
trong gia đình: So sánh gia đình Việt Nam và
gia đình Hàn Quốc". Kết quả nghiên cứu cho
thấy gia đình người Hàn luôn là nguồn hỗ trợ
đắc lực nhất trong việc cho cá nhân vay vốn
khởi nghiệp, vay vốn luân chuyển, vận hành
kinh doanh, thực hiện những giao dịch đối
ngoại, v.v...
lệ nhận đồ dùng sinh hoạt từ bố mẹ chồng là
10,8% và từ bố mẹ vợ là 13,9%). Về cung
cấp dịch vụ, tính chất cho – nhận giúp đỡ vẫn
là bất đối xứng theo chiều con cái giúp bố
mẹ nhiều hơn là bố mẹ giúp con cái. Cung
cấp các dịch vụ ở đây được hiểu là con cái
cung cấp cho bố mẹ các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe khi ốm đau hay các dịch vụ liên
quan đến việc nhà... Trái lại, bố mẹ cung cấp
cho con cái các loại hình dịch vụ như trông
con, giúp việc nhà... Kết quả khảo sát cho
thấy, dịch vụ liên quan đến việc nhà mà con
cái cung cấp cho cha mẹ hai bên theo tỷ lệ
lần lượt là: bố chồng 39,2%, mẹ chồng
44,3%, bố vợ 31,9%, mẹ vợ 37,9%. Tỷ lệ
con cái chăm sóc bố mẹ lúc ốm đau lần lượt
với bố chồng là 11,6%, mẹ chồng là 14,6%,
bố vợ là 8,3%, mẹ vợ là 14%. Trong khi đó,
tỷ lệ bố mẹ có thể giúp đỡ trở lại con cái
thường thấp hơn. Cụ thể, tỷ lệ bố mẹ trông
cháu giúp con lần lượt với bố chồng là 8,7%,
mẹ chồng là 11,9%, bố vợ là 10,6%, mẹ vợ
là 17,6%. Tỷ lệ bố mẹ giúp con cái việc nhà
nói chung lần lượt là bố chồng 2,4%, mẹ
chồng 8,8%, bố vợ 4,6%, mẹ vợ 15,5%
(Kim, 2014, tr. 26-27).
Hay như khi cần cung cấp thông tin
việc làm, đúng như Grannovetter đã nhấn
mạnh sức mạnh của các liên kết yếu, phần
lớn người Hàn (36,59%) thường tìm đến sự
giúp đỡ từ mạng lưới quen biết lỏng lẻo hơn
gia đình (Kim, 2003, tr. 220). Lý do là vì
mạng lưới này thường chứa đựng các thông
tin đa dạng hơn do tính đồng dạng trong
mạng lưới yếu.
Như vậy, khác với phương Tây đề
cao chủ nghĩa cá nhân và tính sòng phẳng
trong các mối quan hệ xã hội, người Hàn
Quốc chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa
tập thể và tính có đi có lại linh hoạt, mềm
dẻo. Tức là, tính có đi có lại trong quan hệ
giúp đỡ của người Hàn Quốc có thể đối xứng
hoặc bất đối xứng tùy thuộc đối tượng cho –
nhận giúp đỡ, loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh
giúp đỡ. Xu hướng đối xứng thường xuất
hiện trong mạng lưới quan hệ ngoài gia đình
và ngược lại, càng là quan hệ thân thiết như
gia đình càng có xu hướng cho – nhận bất
đối xứng.
Đồng quan điểm với các nghiên cứu
nêu trên, Kim (2014) cũng chỉ ra rằng
khuynh hướng chung của xã hội Hàn Quốc
là sự chuyển dịch tài chính theo hướng con
cái cung cấp cho bố mẹ là chính. Hỗ trợ tài
chính cho bố mẹ thường bao gồm các khoản
như chi phí giải trí, thực phẩm sức khỏe, đồ
dùng sinh hoạt, sản phẩm điện tử, đưa đi ăn
ngoài, lương thực thực phẩm... Trong đó,
loại hình giúp đỡ đưa đi ăn ngoài hoặc biếu
đồ ăn của con cái cho bố mẹ chiếm tỷ lệ
nhiều nhất với bố mẹ chồng là 85,7%, bố mẹ
vợ là 84,4%. Tiếp đến là loại hình giúp đỡ
biếu đồ dùng sinh hoạt cho bố mẹ chồng là
36,9%, bố mẹ vợ là 36,2%, biếu thực phẩm
chức năng cho bố mẹ chồng là 37,1%, bố mẹ
vợ là 34, 4%. Trái lại, hỗ trợ của bố mẹ cho
con cái nói chung là thấp, nhiều nhất là hỗ
trợ kiểu đi ăn ngoài và cho đồ ăn. Tỷ lệ người
trả lời nhận giúp đỡ loại hình này từ bố mẹ
chồng là 56,4%, từ bố mẹ vợ là 59,7%). Tỷ
4. Kết luận
Nghiên cứu đã trả lời đầy đủ các câu
hỏi đặt ra. Thứ nhất, mặc dù chỉ số MLXH
của Hàn Quốc thuộc loại thấp so với các
nước thành viên trong khối OECD nhưng
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
30
trong khoảng 10 năm trở lại đây, qui mô
MLXH của người Hàn nói chung đang lớn
Tài liệu tham khảo
Becker, H. P. (1956). Man in Reciprocity. Publisher
dần. Thứ hai, người Hàn đang hình thành
nhiều loại hình mạng lưới xã hội đa dạng
nhưng có thể phân thành hai loại chính là
MLXH trong gia đình, họ hàng và MLXH
ngoài gia đình, họ hàng. Trong các nhóm
quan hệ thuộc loại hình 1 thường bao gồm
các liên kết yếu do thời gian hình thành và
duy trì các quan hệ không dài, tính đồng nhất
trong mạng lưới (ví dụ người quen biết).
Loại hình 2 được gọi là mạng liên kết mạnh
do có tính cố kết lâu dài và tính đồng nhất
cao. Mỗi loại hình mạng lưới lại cung cấp
các loại giúp đỡ khác nhau khi cá nhân cần
đến. Theo đó, mạng lưới trong gia đình, họ
hàng thường cung cấp các giúp đỡ thiên về
tiền bạc, việc nhà... Ngược lại, mạng lưới
ngoài gia đình, họ hàng thường cung cấp các
giúp đỡ thiên về chia sẻ tình cảm, cung cấp
thông tin, v.v... Thứ ba, về đặc điểm chức
năng của mạng lưới, người Hàn thường có
xu hướng hình thành và duy trì các MLXH
có tính đồng dạng cao như cùng huyết thống,
cùng học, cùng quê, cùng địa bàn sinh sống,
v.v... Trong đó, mạng lưới được coi trọng
nhất trong các trường hợp cần huy động sự
giúp đỡ vẫn là gia đình. Tiếp đến là các quan
hệ đồng học. Đặc trưng nổi bật thứ hai trong
MLXH của người Hàn là tính chất có đi có
lại linh hoạt, mềm dẻo. Theo đó, các quan hệ
cho – nhận giúp đỡ trong phạm vi gia đình
thường có đi có lại một cách bất đối xứng
hơn các quan hệ ở phạm vi ngoài gia đình.
Bên cạnh đó, giúp đỡ về vật chất và giúp đỡ
trong hoàn cảnh cưới xin, tang ma... thường có
xu hướng đối xứng theo kiểu ‘trả nợ đồng lần’.
Prager.
Burt, R. S. (1992). Structural holes: The social structure
of competition. Harvard University Press.
Cao, T. H. B. (2016). Tính đối xứng và bất đối xứng
của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của
người Việt Nam [Luận án Tiến sĩ, Trường
Đại học KHXH & NV, ĐHQGHN].
Cao, T. H. B. (2017). Một vài so sánh về đặc điểm
vốn xã hội của người Việt Nam và người
Hàn Quốc. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bꢀc Á,
(2), 63-74.
Department of Online News. (2019). 50tae i sang
hangukgin, eoryeoul ttae tooajul ‘sahoejeok
kwankyemang’ OECD choehauy. Seoul
News. Retrieved October 2, 2019,
George, H. (1958). Social behavior as exchange.
Granovetter, M. S. (1973). The strength of weak ties.
The American Journal of Sociology, 78(6),
1360-1380.
Gu, H. R. (2005, May 19). Hangukgine sahoejeok
jiwonman [Conference session]. 2005
hangukjonghapsahoejosa
Sungkyungkwan
seobeiriseochisentheo.
(KGSS),
taehakgyo
Han, C., & Park, C. U. (2000). Sahoejeok
yeongyeolmang jaryoe bunseok. In 2000
Proceedings of the Autumn Conference:
Korean Statistical Society (pp. 201-205).
Han, D. U., & Kang, J. H. (2014). Hangukgine
sanghobujohengdong.
Pchulphansa.
Areumtaunjaedan
Hoàng, B. T. (2016). Xây dựng nông thôn mới ở Hàn
Quốc và Việt Nam. Tạp chí Khoa học xã hội
Việt Nam, (7), 3-11.
Kim, C. S. (2012). Kim chi và IT (Nghiêm Thị Bích
Diệp & Vũ Ngọc Anh dịch). Nxb Hội Nhà
văn.
Tóm lại, các yếu tố cấu thành MLXH
của người HQ giống như mô hình một kim
tự tháp, trong đó, nền tảng (đáy kim tự tháp)
là chữ ‘yeon – liên kết đồng dạng’, đích đến
cuối cùng (đỉnh kim tự tháp) là giúp đỡ có đi
có lại, còn các mặt kim tự tháp chính là các
yếu tố cấu thành gồm 4 yếu tố chính: tình
nghĩa, sự giúp đỡ, niềm tin, tình yêu (Oh,
1999, tr. 788).
Kim, S. H. (2003). Chuyopjae sahoe yeongyeolmang
hwalyonge daehan yeonghyang yoin
yeongu. Journal of Nodongkyeongjehakhoe,
3(26), 209-230.
Kim, S. K. (2014). Gihonjanyoe pidonggopumooae
jopchok mit sanghojiwon. Journal of
bogonbokjiphorum, 211, 23-31.
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
31
Lee, J. H., & Han, K. H. (2012). Yebinoine
chingukwankyemang
thukseongi
hengbokgame michineun yeonghyang:
Seongbyeol chaireul jungsimeuro. Journal
of bogonsahoeyeongu, 32(2), 170-205.
Nông, B. N. (2009). Nghiên cứu mạng lưới xã hội
Những đóng góp của nhân học và xã hội học.
Tạp chí Nghiên cứu con người, (2), 58-65.
Lee, J. Y. (2000). Social Networks of Korean. Korea
Journal, 1(40), 326-352.
Oh, K. S. (1999). Hangukgini injihaneun sahoejeok
jijie
guseongyoso.
Journal
of
Lê, M. T. (2006). Tổng quan phương pháp phân tích
mạng lưới xã hội trong nghiên cứu xã hội.
Tạp chí Khoa học Xã hội, (9), 66-77.
daehanganhohakhoeji, 4(29), 780-789.
Park, K. S. (2003). Setaekwankyee tayangseongkwa
gujo. Journal of hanguksahoehak, 2(37), 61-
94.
Lim, C. W. (2019). (Gukjeonggihoek 2050) 18 –
hyumonkheomonseu yukseongkwa OECD
gongdongchejisu 10uy jeollak. Newstomato.
Park, K. S. (2008). Hanguk gajoke byeonhwa. In M.
K. Park (Eds.), Hyundae hanguke sahoe (pp.
95-102). Seoul taehakkyo chulphansa.
Retrieved
April
8,
2019,
Phạm, T. O. (2011). Phong trào làng mới Seamaul ở
Hàn Quốc: Quá trình phát triển và thành tựu.
Tạp chí Xã hội học, (4), 104-110.
Lim, J. O. (2017). Dosinongop hwaldonge ttareun
chuyyakkyecheune sahoejeok kwankyemang
Shim, S. J. (2016). Hanguksahoeeseo jukwanjeok
uelbinge yeonghyangeul michineun yoin
bunseok. Journal of thongkyeyeongu, 3(21),
25-47.
hyeongseonge
kwanhan
yeongu
[Unpublished doctoral dissertation]. Seoul
University.
Marcel, M. (1925). Luận vꢁ biꢉu tꢇng: Hꢌnh thức và
lꢈ do của sꢅ trao đꢃi trong cꢂc xꢍ hội cꢃ sơ
(T. Nguyễn, Dịch giả). Nxb Tri thức.
Statistics Korea. (2019). 2019 sahoejosa gyeolkwa.
Thongkyecheong chulphansa.
Statistics Korea. (2019). 2019 cheongsonyeon
thongkye. Thongkyecheong chulphansa.
Ngô, V. L. (2012). Đa văn hóa ở Hàn Quốc và những
vấn đề đặt ra. Tạp chí Hàn Quốc, (2), 17-24.
Tống, T. L. (2017). Già hóa dân số ở Hàn Quốc. Tạp
chí Nghiên cứu Đông Bꢀc Á, (12), 40-50.
Nguyễn, Q. T. (2005). Sự giao thoa giữa vốn xã hội
với các giao dịch kinh tế trong gia đình: So
sánh gia đình Việt Nam và gia đình Hàn
Quốc. Tạp chí Xã hội học, (2), 108-121.
Trần, H. T. (2018). Tìm hiểu mô hình phát triển nông
thôn trong phong trào làng mới của Hàn
Quốc dựa trên học thuyết về local network
governace. Tạp chí Nghiên cứu Nưꢆc ngoài,
Nguyễn, Q. T., & Cao, T. H. B. (2012). Quan hệ xã
hội và vốn xã hội: Nghiên cứu so sánh Việt
Nam và Hàn Quốc. Tạp chí Xã hội học, (3),
35-45.
Trần, T. M. N. (2017). Những nỗ lực để gia đình đa
văn hóa Hàn – Việt không rơi vào bi kịch
hôn nhân. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bꢀc Á,
(11), 55-65.
Nguyễn, T. T. (2012). Ảnh hưởng của quan hệ xã hội
đối với chính trị Hàn Quốc: Quan hệ đồng
hương và hình thái bầu cử cục bộ địa
phương. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bꢀc Á,
(12), 30-40.
Trần, T. N. (2011). Về chế độ bảo hiểm chăm sóc lâu
dài ở Hàn Quốc. Tạp chí Nghiên cứu Đông
Bꢀc Á, (6), 30-40.
Nguyễn, T. T. (2014). Tꢃng thư mục nghiên cứu Hàn
Quốc tại Việt Nam. Nxb Giáo dục Việt Nam.
Trần, T. N. (2014). Gia đꢌnh đa văn hóa Hàn Quốc.
Nguyễn, T. T. H. (2018). Ý nghĩa xã hội của hoạt
động câu lạc bộ của phụ nữ Hàn Quốc. Tạp
chí Hàn Quốc, (4), 66-79.
Nxb ĐHQGHN.
Trần, T. N. (2015). Tình hình nghiên cứu xã hội Hàn
Quốc tại Việt Nam. Trong T. T. Nguyễn
(Chủ biên), Nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt
Nam: Thành quꢋ và phương hưꢆng (tr. 105-
122). Nxb Khoa học xã hội.
Nguyễn, T. T. H. (2019). Già hóa dân số và người cao
tuổi ở Hàn Quốc hiện nay. Tạp chí Khoa học
Xã hội và Nhân văn, 5(6), 750-762.
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)
32
CHARACTERISTICS OFKOREAN SOCIALNETWORKS
Cao Thi Hai Bac
Faculty of Korean Language and Culture, VNU University of Languages & International Studies,
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam
Abstract: Using the method of synthesis and analysis of available large-scale survey references,
this paper points out special features in the social networks of the Korean including three structural
characteristics: network size, frequency of contact, and network types; and two functional
characteristics: homogeneity and reciprocity (the particular case is the symmetry and the asymmetry).
The main results are summarized as follows. In terms of network structure, (1) despite being at a lower
level than that of other countries of OECD, in the past 10 years, the social network size of the Korean
has been growing, (2) two main types of social networks in Korean society are the network inside the
family, relatives, and the network outside the family, relatives. Accordingly, the former usually provides
help such as moneyand shared housework. In contrast, the latter often provides assistance by sharing
emotional feelings, information, etc. With regard to network function, the Korean tend to form and
maintain highly homogeneous social networks. In particular, the network of family and the one of school
friends are more important when a person needs help. In addition, the relation of giving and receiving help
of the network inside the family is often more asymmetrical than that of the network outside the family.
Keywords: social network, structural characteristics, functional characteristics
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm mạng lưới xã hội của người Hàn Quốc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dac_diem_mang_luoi_xa_hoi_cua_nguoi_han_quoc.pdf

