Đặc điểm mạng lưới xã hội của người Hàn Quốc

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
ĐẶC ĐIỂM MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦANGƯỜI HÀN QUỐC  
Cao Thị Hải Bắc  
17  
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận bài ngày 5 tháng 8 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 26 tháng 9 năm 2020; Chấp nhận ngày 20 tháng 3 năm 2021  
Tóm tắt: Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích các dữ liệu khảo sát qui mô lớn có sẵn, bài  
viết này đã chỉ ra một số đặc điểm trong mạng lưới xã hội (MLXH) của người Hàn bao gồm 3 đặc điểm  
cấu trúc là quy mô, tần suất tiếp xúc, loại hình và 2 đặc điểm chức năng là tính đồng dạng và tính có đi  
có lại với trường hợp riêng là tính đối xứng/bất đối xứng. Kết quả nghiên cứu chính như sau. Về cấu  
trúc mạng lưới, (1) mặc dù thuộc loại thấp so với các nước OECD nhưng trong khoảng 10 năm trở lại  
đây, quy mô MLXH của người Hàn đang lớn dần, (2) 2 loại hình MLXH chính trong xã hội Hàn Quốc  
là mạng lưới trong gia đình, họ hàng và mạng lưới ngoài gia đình, họ hàng. Theo đó, mạng lưới trong  
gia đình, họ hàng thường cung cấp các giúp đỡ thiên về tiền bạc, việc nhà... Ngược lại, mạng lưới ngoài  
gia đình, họ hàng thường cung cấp các giúp đỡ thiên về chia sẻ tình cảm, cung cấp thông tin, v.v... Về  
chức năng mạng lưới, người Hàn thường có xu hướng hình thành và duy trì các mạng lưới xã hội có tính  
đồng dạng cao. Trong đó, mạng lưới gia đình và đồng học được coi trọng hơn cả trong các trường hợp  
cần huy động sự giúp đỡ. Bên cạnh đó, các quan hệ cho – nhận giúp đỡ trong phạm vi gia đình thường  
có đi có lại một cách bất đối xứng hơn các quan hệ ở phạm vi ngoài gia đình.  
Từ khóa: mạng lưới xã hội, đặc điểm cấu trúc, đặc điểm chức năng  
1. Đặt vấn đề*  
Trong bối cảnh giao lưu, hợp tác Việt  
– Hàn tốt đẹp, nhu cầu nghiên cứu học thuật  
về Hàn Quốc tại Việt Nam ngày càng phát  
triển. Các công trình nghiên cứu không chỉ  
phản ánh mối quan tâm của học giả tới từng  
lĩnh vực mà còn phản ánh rõ điểm mạnh  
cũng như điểm hạn chế của tình hình nghiên  
cứu Hàn Quốc tại Việt Nam.  
của các nghiên cứu cũng tương đối đa dạng.  
Có những nghiên cứu chuyên sâu tìm hiểu  
các phạm trù riêng của Hàn Quốc nhưng  
cũng có những nghiên cứu tiếp cận theo  
phương pháp so sánh Hàn – Việt. Có nhiều  
nghiên cứu thiên về phương pháp tổng hợp,  
phân tích tài liệu sẵn có nhưng cũng không  
ít nghiên cứu tiếp cận bằng phương pháp  
khảo sát thực nghiệm.  
Về hạn chế, có thể nhận thấy các  
nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam không  
đồng đều về số lượng giữa các chủ đề nghiên  
cứu. Theo số liệu thống kê đến thời điểm  
năm 2014, có tất cả 1.851 công trình nghiên  
cứu Hàn Quốc tại Việt Nam được thư mục  
hóa (Nguyễn, 2014, tr. 10). Trong đó, có  
khoảng hơn 300 công trình liên quan tới lĩnh  
Về điểm mạnh, mặc dù lịch sử  
nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam còn khá  
mới mẻ so với lịch sử nghiên cứu các quốc  
gia khác nhưng đã đạt được sự đa dạng về  
chủ đề như lịch sử, kinh tế, chính trị, văn  
hóa, giáo dục, môi trường, xã hội, v.v...  
Điểm mạnh thứ hai là phương thức tiếp cận  
* Tác giả liên hệ  
Địa chỉ email: [email protected]  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
vực kinh tế Hàn Quốc, hơn 100 công trình về  
18  
Phần lớn các nghiên cứu đi trước về  
chính trị - ngoại giao Hàn Quốc, hơn 200 bài  
tạp chí chuyên ngành về văn hóa Hàn Quốc,  
v.v... Tuy nhiên, số lượng bài viết liên quan  
đến chủ đề xã hội Hàn Quốc chỉ chiếm tỷ lệ  
khiêm tốn với khoảng 46 công trình bao gồm  
8 đầu sách và 38 bài tạp chí chuyên ngành  
(Trần, 2014, tr. 108-114).  
MLXH của người Hàn Quốc mới chỉ tìm  
hiểu các vấn đề liên quan của một nhóm  
mạng lưới cụ thể như nhóm người cao tuổi,  
câu lạc bộ phụ nữ... hoặc tìm hiểu đặc điểm  
mạng lưới xã hội của người Hàn dựa trên  
những phân tích định tính. Ví dụ như T. T.  
H. Nguyễn (2018), T. T. H. Nguyễn (2019),  
T. T. V. Nguyễn (2015) v.v... Nói cách khác,  
các nghiên cứu tìm hiểu một cách hệ thống  
về đặc điểm mạng lưới quan hệ xã hội của  
người Hàn nói chung dựa trên những phân  
tích định lượng còn khá hạn chế.  
Khảo sát riêng lịch sử nghiên cứu  
liên quan đến xã hội Hàn Quốc có thể nhận  
thấy những chủ đề được khai thác nhiều nhất  
là gia đình đa văn hóa, phong trào làng mới,  
các vấn đề về chính sách xã hội như bảo  
hiểm, dân số, v.v... với các nghiên cứu tiêu  
biểu như Ngô (2012), T. N. Trần (2011,  
2015), Phạm (2011), Nguyễn (2019), H. T.  
Trần (2018), Hoàng (2016), Cao (2017),  
v.v... Trong khi đó, mảng đề tài liên quan đến  
vốn xã hội hay mạng lưới quan hệ xã hội  
(MLQHXH) đang chiếm một tỷ lệ khá nhỏ.  
Có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu khai  
thác chủ đề này như Q. T. Nguyễn (2005), T.  
T. Nguyễn (2012), Cao (2017), Nguyễn và  
Cao (2012), T. T. H. Nguyễn (2018), Tống  
(2017), v.v...  
Nắm được khoảng trống trong các  
nghiên cứu đi trước, bài viết này sẽ sử dụng  
phương pháp tổng hợp các dữ liệu khảo sát  
qui mô lớn với mẫu khảo sát là đại diện  
người Hàn nói chung ở nhiều khu vực trên  
cả nước của nhiều nghiên cứu đi trước để  
phân tích, so sánh, đánh giá các số liệu, từ đó  
chỉ ra một số đặc điểm nổi bật trong  
MLQHXH của người Hàn. Các câu hỏi  
nghiên cứu được đặt ra là  
(1) Qui mô mạng lưới xã hội của người  
Hàn như thế nào?  
Các MLQHXH được hình thành và  
chịu sự chi phối bởi các đặc điểm về dân tộc  
tính cũng như các đặc điểm văn hóa xã hội  
của mỗi quốc gia. Mạng lưới xã hội (MLXH)  
là một yếu tố cơ bản cấu thành nên vốn xã  
hội – nguồn lực quan trọng tạo nên sự phát  
triển. Thông qua việc tìm hiểu những tương  
tác giữa các cá nhân trong cùng một mạng  
lưới hay giữa nhiều mạng lưới với nhau,  
chúng ta có thể đánh giá được phần nào tác  
động của những tương tác này với toàn bộ hệ  
thống xã hội. Do vậy, nghiên cứu về đặc  
điểm MLQHXH nói chung và MLQHXH  
của người Hàn Quốc nói riêng đảm bảo tính  
thực tiễn cao. Cụ thể, nghiên cứu về  
MLQHXH của người Hàn Quốc sẽ giúp hiểu  
rõ hơn về đặc tính dân tộc cũng như đặc  
trưng văn hóa xã hội của nước bạn. Từ đó  
giúp xây dựng, duy trì, phát triển các chiến lược  
giao lưu, hợp tác bền vững, hiệu quả và thấu  
hiểu nhau hơn giữa Việt Nam và Hàn Quốc.  
(2) Mạng lưới xã hội của người Hàn gồm  
những loại hình nào?  
(3) Đặc điểm mạng lưới xã hội của người  
Hàn ra sao?  
2. Cơ sở lý luận, thao tác hóa khái niệm và  
phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý luận  
Theo quan điểm của Paulkins (1981),  
những ý tưởng đầu tiên về phân tích MLXH  
đã có từ đầu thế kỷ XX gắn liền với tên tuổi  
của nhà xã hội học người Đức Georg  
Simmel. Tư tưởng cốt lõi của Georg Simmel  
là nhấn mạnh ‘tính liên kết xã hội’. Tức là,  
MLXH của một cá nhân không phải là mạng  
lưới những con người tồn tại xung quanh mà  
không có sự tương tác hay kết nối nào với cá  
nhân đó mà phải được hiểu là mạng quan hệ  
xã hội liên kết cá nhân với nhiều người khác  
trong những nhóm nhất định (dẫn theo  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
Nông, 2009, tr. 58).  
Cũng theo Paulkins (1981), nếu như  
19  
Mark Granovetter (1973), thuyết "các lỗ  
trống cấu trúc" (structural holes) của Ronald  
S. Burt (1992), lý thuyết trao đổi xã hội  
(social exchange theory của Goerge Homans  
(1958), lý thuyết hành vi (the economic  
approach to human behavior) của Gary  
Becker (1956), lý thuyết có đi có lại trong  
biếu tặng quà (the reciprocal rules of giving  
and receiving gifts) của Marcel Mauss  
(1925)... Bài viết này sẽ tiếp cận theo lý  
thuyết "sức mạnh của các mối quan hệ yếu"  
của Granovetter và lý thuyết có đi có lại  
trong biếu tặng quà của Marcel Mauss để phân  
loại và tìm hiểu đặc điểm của các loại liên kết  
trong MLQHXH của người Hàn Quốc.  
Simmel được xem như là người đặt nền  
móng cho lối phân tích MLXH thì nhà nhân  
học người Anh J. A. Barnes lại được xem  
như là người sáng tạo ra khái niệm "mạng  
lưới xã hội" (social network). Trải qua quá  
trình quan sát thực nghiệm đời sống của cư  
dân đảo Bremnes của Na Uy, Barnes phát  
hiện rằng tại Bremnes có ba loại tổ chức  
khác nhau: thứ nhất là tổ chức chính trị, hai  
là tổ chức kinh tế, ba là tổ chức xã hội. Từ  
việc mô tả kiểu tổ chức thứ ba bao gồm toàn  
bộ các mối quan hệ phi chính thức giữa các  
thành viên của đảo mà Barnes đã sáng tạo ra  
thuật ngữ "mạng lưới xã hội". Theo ông, các  
cư dân tại Bremnes gắn chặt với nhau trong  
một mạng lưới quan hệ bạn bè, thân tộc.  
Cũng giống với Simmel, Barnes khẳng định  
MLXH phải có tính liên kết, ràng buộc qua  
lại với nhau, đồng thời, ông đã bước đầu đề  
cập đến việc phân loại các loại hình mạng  
lưới xã hội thành hai phạm trù lớn: mạng  
lưới trong thân tộc và mạng lưới ngoài thân  
tộc (bạn bè). Tuy nhiên, theo Wasserman và  
Faust (1994) thì phương pháp phân tích  
MLXH chỉ thực sự ra đời cùng với sự ra đời  
của phương pháp "trắc lượng xã hội"  
(sociométrie/sociometry) của nhà tâm lý học  
người Mỹ gốc Romania J. L. Moreno.  
Phương pháp này gồm có hai công cụ cơ bản  
là “Kiểm tra thống kê các quan hệ xã hội”  
(sociometric test) và "lược đồ xã hội"  
(sociogram). Công cụ đầu tiên cho phép  
khám phá được cấu trúc xã hội trong nhóm  
như số lượng các thành viên, tần suất tiếp  
xúc... Công cụ thứ hai cho phép khám phá  
được chức năng xã hội của nhóm như loại  
hình, tính chất và vai trò của các liên kết sau  
khi đã được sơ đồ hóa để phân tích (dẫn theo  
Lê, 2006, tr. 67-69).  
Có thể tóm lược lý thuyết của  
Granovetter như sau: trong MLXH của một  
cá nhân có các mối quan hệ mạnh (strong  
ties) và quan hệ yếu (weak ties). Quan hệ  
mạnh thường là các mối quan hệ chiếm  
nhiều thời gian của các cá nhân, đa nội dung,  
có sự tin cậy và cường độ xúc cảm rất cao.  
Trái lại, quan hệ yếu thường là các mối quan  
hệ không chiếm nhiều thời gian của cá nhân,  
ít nội dung, có cường độ xúc cảm yếu và sự  
tin cậy lẫn nhau không cao. Tức là, mỗi loại  
quan hệ mạnh, yếu sẽ có cấu trúc và chức  
năng khác nhau. Để đo được cấu trúc và chức  
năng này, có thể dựa vào nhiều chỉ số như  
qui mô, độ dài mối quan hệ, tần suất tiếp xúc,  
độ tin cậy, các hoạt động tương hỗ, v.v... Bên  
cạnh đó, tư tưởng cốt lõi của lý thuyết có đi  
có lại trong biếu tặng quà của Marcel Mauss  
được phát biểu như sau: Trong văn hóa Bꢀc  
Âu và nhiꢁu nꢁn văn hóa khꢂc, trao đꢃi và  
hꢄp đồng đưꢄc thꢅc hiện dưꢆi dạng quà  
tꢇng, trên lꢈ thuyꢉt là tꢅ nguyện, nhưng thꢅc  
ra là bꢊ bꢀt buộc phꢋi làm và phꢋi đꢂp tꢇng...  
(Mauss, 1925, tr. 207). Như vậy, theo  
Mauss, bản chất của hành vi trao đổi thông  
qua biếu tặng quà là luôn theo nguyên tắc  
biếu tặng và đáp tặng, tức là có đi có lại. Tuy  
nhiên, trên thực tế, nguyên tắc có đi có lại  
này có phải lúc nào cũng đối xứng hay cũng  
có nhiều trường hợp bất đối xứng? Điều này  
cũng cần được phân tích như một trường hợp  
riêng của quan hệ có đi có lại (Cao, 2016,  
Dựa trên những khái niệm và phương  
pháp ban đầu, sau này nhiều lý thuyết về  
phân tích MLXH đã ra đời như thuyết "sức  
mạnh của các mối quan hệ yếu" (the strength  
of weak ties) của nhà xã hội học người Mỹ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
20  
tr. 22-24). Các đặc tính cấu trúc và chức  
năng này sẽ được áp dụng để phân tích  
MLXH trong bài viết này.  
2.2. Khái niệm  
Như đã đề cập ở trên, cùng với lòng  
tin xã hội và sự tham gia xã hội, MLXH là  
một trong ba yếu tố quan trọng cấu thành nên  
vốn xã hội. Do vậy, MLXH không đồng nhất  
với vốn xã hội mà là khái niệm nằm trong  
nội hàm của vốn xã hội.  
Đồng quan điểm với Granovetter,  
nhiều nghiên cứu gần đây cũng phân tích  
MLXH theo hai đặc tính cấu trúc và chức  
năng. Các đặc tính cấu trúc thường được đo  
nhiều nhất bao gồm: qui mô, mật độ, tần  
suất, loại hình... Trong đó, qui mô được hiểu  
là số người mà cá nhân có quan hệ. Mật độ  
là tỷ lệ quan hệ thực tế trong tổng số quan hệ  
giữa các thành viên mạng. Loại hình là sự  
phân chia các đối tượng thành viên trong  
mạng (Gallo, 1982). Tần suất là chỉ số đo số  
lần tương tác qua lại giữa các cá nhân (Kim,  
2015). Đặc tính về chức năng tập trung làm  
rõ xem các thành viên trong mạng đóng vai  
trò như thế nào với cá nhân. Các vai trò này  
được đo bằng các loại hình giúp đỡ mà các  
thành viên trong mạng mang lại cho cá nhân  
và được cá nhân đó ghi nhận (Heo, 2003).  
Theo Park (2013), các loại hình giúp đỡ  
thường được chia thành giúp đỡ về tình  
cảm, giúp đỡ mang tính công cụ, giúp đỡ về  
cung cấp thông tin... (dẫn theo Lim, 2017,  
tr. 14-15).  
MLXH hay MLQHXH cùng nghĩa  
với các thuật ngữ như social network trong  
tiếng Anh hay 사회적 관계망 (mạng quan hệ  
xã hội)/사회적 연결망 (mạng liên kết xã  
hội)/사회적 지원망 (mạng giúp đỡ xã hội)  
trong tiếng Hàn. Đã có rất nhiều định nghĩa  
về MLXH. Như đã nhắc đến ở trên, Barnes  
được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm  
“mạng lưới xã hội”. Ông cho rằng MLXH  
chỉ sự gắn kết chặt chẽ giữa các cá nhân  
trong một cộng đồng, có thể là mạng lưới  
quan hệ bạn bè hay mạng lưới quan hệ thân  
tộc. Tương tự như vậy, Mitchell (1969) định  
nghĩa mạng lưới xã hội là tập hợp các liên  
kết tồn tại giữa các cá nhân thuộc nhóm nhất  
định nào đó và Wellman (1981) cho rằng  
MLXH là tập hợp các quan hệ chứa đặc tính  
ràng buộc lẫn nhau. Không tiếp cận từ góc  
độ cấu trúc mà nhấn mạnh chức năng của  
mạng lưới, Antonucci (1985) đưa ra định  
nghĩa MLXH là tập hợp các cá nhân có thể  
cung cấp sự trợ giúp cho các cá nhân khác  
trong mạng lưới (dẫn theo Lim, 2017, tr. 12).  
Tóm lại, MLXH bao gồm tất cả các tiếp xúc xã  
hội mà cá nhân tạo nên, tức là bao gồm cả  
những quan hệtư nhưgiađình, bạn bè, họhàng,  
hàng xóm... và các quan hệ công như đoàn thể  
tôn giáo, hội phụ nữ, tổ chức công quyền....  
Như vậy, cần phải hiểu bản chất của  
MLXH chính là mạng lưới các mối quan hệ  
xã hội có thể đem lại sự giúp đỡ cho các cá  
nhân. MLXH có nhiều đặc điểm về cấu trúc  
và chức năng. Việc lựa chọn các chỉ số đo  
lường, phân tích mạng lưới tùy thuộc mục  
đích, ý đồ và khả năng của mỗi nhà nghiên  
cứu. Tuy nhiên, theo quan điểm của bài viết  
này, các chỉ số cơ bản nhất để đo lường và  
phân tích các đặc điểm cấu trúc là qui mô  
mạng lưới, tần suất tiếp xúc thực tế trong  
mạng và loại hình mạng. Bên cạnh đó, các  
chỉ số cơ bản nhất để phân tích đặc điểm  
chức năng của mạng lưới có thể kể đến là  
tính đồng dạng, tính có đi có lại với trường  
hợp riêng là tính đối xứng/bất đối xứng của  
các quan hệ giúp đỡ. Đây cũng là các chỉ số  
sẽ được tổng hợp và phân tích trong khuôn  
khổ bài viết này.  
Bài viết này cũng đồng quan điểm  
với các định nghĩa nêu trên và muốn nhấn  
mạnh lại hai đặc tính của MLXH trong định  
nghĩa như sau: MLXH phꢋi đưꢄc hiểu là  
mạng liên kꢉt thꢅc tꢉ giữa các cá nhân thꢅc  
hiện chức năng cung cấp nhiꢁu loại hình  
giúp đỡ cho các cá nhân.  
Một số thuật ngữ khác liên quan đến  
phân tích MLXH cần được thao tác hóa khái  
niệm như sau.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
21  
(1) Qui mô mạng lưꢆi là số người có  
thể mang lại sự giúp đỡ hữu ích và thiết thực  
nhất khi cá nhân cần đến. (2) Tính đồng dạng  
là sự tương đồng giữa các cá nhân trong  
mạng về một hay một vài đặc điểm nhất định  
như cùng học, cùng quê hương, cùng khu  
vực sống, v.v... (3) Tính có đi có lại là quan  
hệ giúp đỡ giữa hai hay nhiều hơn hai chủ  
thể. Sự giúp đỡ có thể là trực tiếp hoặc gián  
tiếp (bắc cầu). Tuy nhiên, cần nhấn mạnh lại  
rằng có đi có lại không có nghĩa là luôn đối  
xứng. Tức là, tính có đi có lại luôn hàm chứa  
hai trường hợp riêng là đối xứng và bất đối  
xứng. (4) Tính đối xứng trong quan hệ giúp  
đỡ giữa hai chủ thể được xem như là mối  
quan hệ giúp đỡ hai chiều, phản ánh sự tương  
ứng về tổng số lượng của loại hình giúp đỡ  
(“cho bao nhiêu loại hình” tương ứng với  
“nhận bấy nhiêu loại hình”), phù hợp về tính  
chất của loại hình (“cho” gì, “nhận” đấy),  
giống nhau trong hoàn cảnh trợ giúp (giúp  
đỡ trong hoàn cảnh nào, nhận lại sự trợ giúp  
trong hoàn cảnh đấy). Ngược lại, tính bất đối  
xứng là số lượng, tính chất và hoàn cảnh giúp  
đỡ của hai chủ thể trong quan hệ giúp đỡ  
không tương ứng, không phù hợp và không  
giống nhau. Đối xứng hoàn toàn xảy ra khi  
có sự tương thích về cả ba chiều cạnh nêu  
trên. Nếu chỉ có sự tương thích về một trong  
ba chiều cạnh này thì được coi là đối xứng  
bộ phận. Tương tự, bất đối xứng hoàn toàn  
là không có sự tương thích về cả ba chiều  
cạnh nêu trên. Nếu chỉ có sự không tương  
thích về một trong ba chiều cạnh này thì  
được coi là bất đối xứng bộ phận (Cao, 2016,  
tr. 24-27).  
(reciprocal), tức là cả hai chủ thể vừa là  
người cho vừa là người nhận giúp đỡ trong  
quan hệ đó. Nếu xét về phương thức hình  
thành quan hệ thì có quan hệ trực tiếp và  
quan hệ gián tiếp. Quan hệ trực tiếp là hai  
chủ thể trực tiếp cho và nhận giúp đỡ lẫn  
nhau. Quan hệ gián tiếp là hai chủ thể cho và  
nhận giúp đỡ gián tiếp thông qua một chủ thể  
thứ ba (Han & Park, 2000, tr. 202)  
Bên cạnh đó, căn cứ vào đối tượng  
cung cấp sự giúp đỡ có thể phân chia thành  
mạng lưới quan hệ trong gia đình, họ hàng  
và mạng lưới quan hệ ngoài gia đình, họ  
hàng. Căn cứ vào tính chất các liên kết như  
thời gian duy trì quan hệ, sự đa dạng trong  
nội dung các giúp đỡ... lại có thể phân chia  
thành các liên kết mạnh và liên kết yếu như  
đã đề cập ở trên.  
Nói tóm lại, các khái niệm như  
MLXH, qui mô, tính đồng dạng, tính có đi  
có lại, tính đối xứng/bất đối xứng, liên kết  
mạnh, liên kết yếu, mạng lưới trong gia đình,  
họ hàng, mạng lưới ngoài gia đình, họ hàng  
sẽ là những khái niệm chính được đề cập  
trong bài viết này.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Như đã đề cập ở trên, bài viết này sử  
dụng chủ yếu phương pháp tổng hợp, phân  
tích các nguồn dữ liệu thứ cấp. Các nguồn dữ  
liệu này được thu thập từ các cuộc khảo sát  
qui mô lớn. Có thể khái quát về các cơ sở dữ  
liệu thứ cấp này như sau.  
Đầu tiên là dữ liệu khảo sát của Tổ  
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)  
năm 2016 về vốn xã hội với qui mô khảo sát  
32 nước và dữ liệu khảo sát về vốn xã hội  
của OECD năm 2018 trên 38 nước. Trong  
các cuộc khảo sát này, OECD thu thập nhiều  
chỉ số liên quan đến vốn xã hội như chỉ số  
lòng tin xã hội, chỉ số mạng lưới xã hội (chỉ  
số cộng đồng/chỉ số trợ giúp xã hội), chỉ số  
hài lòng cuộc sống, v.v... Tuy nhiên, bài viết  
này chỉ khai thác và sử dụng dữ liệu về chỉ  
số mạng lưới xã hội.  
Về loại hình MLXH, tùy thuộc cấu  
trúc và chức năng khác nhau sẽ có các cách  
phân chia loại hình mạng lưới khác nhau.  
Căn cứ vào tính định hướng của quan hệ có  
thể phân loại thành quan hệ có mục đích và  
quan hệ không có mục đích. Quan hệ có mục  
đích là trường hợp xác định rõ được người  
cho và người tiếp nhận sự giúp đỡ trong quan  
hệ đó. Trái lại, quan hệ không có mục đích  
là trường hợp không xác định được rõ như  
vậy. Cũng có loại quan hệ có đi có lại  
Các nguồn dữ liệu thứ cấp khác có  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
22  
thể kể đến là dữ liệu của 2 cuộc khảo sát  
“Nhận thức và cuộc sống thường ngày của  
người Hàn Quốc hiện đại” (SCEK) năm  
1996 với 800 đối tượng và “Nhận thức và giá  
trị trong xã hội chuyển giao” (SCV) năm  
1998 với khoảng 1800 đối tượng được thực  
hiện bởi Trung tâm nghiên cứu khoa học xã  
hội thuộc Đại học Quốc gia Seoul. Ngoài ra,  
bài viết cũng khai thác cơ sở dữ liệu từ  
“Tổng điều tra xã hội Hàn Quốc” (KGSS)  
năm 2004 do trung tâm Nghiên cứu điều tra  
thuộc trường đại học Sung Kyun Kwan tiến  
hành với 2000 đối tượng nam, nữ trưởng  
thành trên cả nước. Tuy nhiên, do phạm vi  
nội dung nghiên cứu về đặc điểm MLQHXH  
của người Hàn Quốc nên bài viết chỉ quan  
tâm phân tích các số liệu liên quan đến mạng  
lưới xã hội như chỉ số về qui mô, tính đồng  
dạng, v.v... trong toàn bộ dữ liệu của các  
khảo sát nêu trên.  
dữ liệu khảo sát thu thập được, bài viết này  
sẽ phân tích, so sánh qui mô MLXH của các  
nhóm riêng biệt và của người Hàn nói chung.  
Lee và Han (2012) đã tiến hành  
phỏng vấn trực tiếp 1652 nam, nữ ở độ tuổi  
50~69 đang sinh sống tại đô thị để nghiên  
cứu về MLXH của nhóm người già và cận  
già. Nghiên cứu này chú ý đến tầm quan  
trọng của MLXH phi huyết thống. Do vậy,  
qui mô MLXH ở đây được hiểu là số người  
bạn có thể mang lại những giúp đỡ thông qua  
tiếp xúc trực tiếp hoặc tác động tương hỗ  
gián tiếp. Kết quả khảo sát cho thấy trung  
bình một người trong nhóm già và cận già có  
6,1 bạn thân (Lee & Han, 2012, tr. 170).  
Trong khi đó, MLXH của thanh thiếu  
niên ở độ tuổi 13~24 theo khảo sát của Tổng  
cục thống kê Hàn Quốc năm 2017 lại cho  
thấy qui mô nhỏ hơn với trung bình có 4,7  
người có thể cung cấp sự giúp đỡ khi cá nhân  
cần đến. Trong đó, qui mô MLXH của thanh  
thiếu niên ở đô thị là 4,3 người, lớn hơn ở  
nông thôn với 4,1 người (Tổng cục thống kê  
Hàn Quốc, 2019, tr. 39).  
Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, bài  
viết chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp,  
phân tích và so sánh các số liệu giữa các năm  
và giữa các kết quả nghiên cứu của nhiều học  
giả, cơ quan, tổ chức.  
Tuy nhiên, qui mô MLXH của các  
nhóm cá nhân riêng biệt thường nhỏ hơn qui  
mô mạng lưới của người Hàn nói chung.  
Khảo sát của Shim (2016) cho biết trung  
bình người Hàn có 6,67 người có thể tìm  
kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết (tr. 33). Qui mô  
này vẫn được duy trì trong nhiều năm và khá  
tương đồng với kết quả khảo sát gần đây nhất  
của Tổng cục thống kê Hàn Quốc năm 2019.  
Năm 2019, trung bình người Hàn có 6,8  
người có thể cung cấp sự giúp đỡ khi cần.  
Qui mô mạng lưới khác nhau tùy thuộc các  
loại hình và bối cảnh giúp đỡ. Ví dụ như  
trường hợp phải nhờ giúp việc nhà khi ốm  
đau thì trung bình người Hàn có 2,3 người có  
thể huy động sự trợ giúp. Qui mô mạng lưới  
trong trường hợp phải mượn khoản tiền lớn  
đột xuất là 2,2 người và trường hợp cần chia  
sẻ tâm sự do buồn chán là 2,9 người. Con số  
này giảm nhẹ so với năm 2017 với số người  
có thể mang lại sự giúp đỡ tương ứng 3  
trường hợp trên lần lượt là 2,4 người, 2,3  
3. Đặc điểm mạng lưới xã hội  
3.1. Qui mô  
Mỗi cá nhân có thể là thành viên của  
nhiều MLQHXH. Như đã đề cập ở trên,  
mạng lưới quan trọng nhất là mạng lưới có  
thể đem lại những giúp đỡ hiệu quả nhất khi  
cá nhân cần đến. Do vậy, khi đo qui mô  
MLXH của một cá nhân, các nhà nghiên cứu  
thường đo số người trong mạng lưới có thể  
mang lại sự giúp đỡ. Nhiều nghiên cứu  
thường đo qui mô MLXH của cá nhân ở các  
nhóm riêng biệt dễ khảo sát hơn như nhóm  
người cao tuổi, thanh thiếu niên hay sinh  
viên, v.v... Bởi để đo được qui mô MLXH  
tổng thể ở phạm vi vĩ mô như MLXH của  
người Hàn Quốc hay người Việt Nam thì cần  
bộ dữ liệu khảo sát qui mô lớn toàn quốc.  
Các bộ dữ liệu này thường chỉ được tiến  
hành khảo sát theo định kì dưới sự chủ trì của  
các cơ quan, tổ chức, dự án lớn. Trên cơ sở  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
23  
người và 3,1 người. Đáng chú ý là qui mô  
MLXH của người Hàn đã tăng nhiều so với  
những năm trước (Tổng cục thống kê Hàn  
Quốc, 2019, tr. 19). Sử dụng bộ dữ liệu của  
2 cuộc khảo sát “Nhận thức và cuộc sống  
thường ngày của người Hàn Quốc hiện đại”  
năm 1996 với 800 đối tượng và “Nhận thức  
và giá trị trong xã hội chuyển giao” (1998)  
với khoảng 1800 đối tượng, nghiên cứu của  
Lee (2000) đã đo được qui mô MLXH của  
người Hàn là 3,74 người. Qui mô này cũng  
được chỉ ra là lớn hơn qui mô MLXH của  
người Mỹ với 3,11 người (Lee, 2000, tr. 329).  
các quốc gia khác nhưng kết quả khảo sát  
năm 2018 là dấu hiệu cho thấy Hàn Quốc  
đang dần thoát khỏi xu hướng thấp dần đều  
về chỉ số MLXH. Có thể nhìn thấy hai  
nguyên nhân khiến cho chỉ số MLXH của  
Hàn Quốc thuộc loại thấp so với các nước  
OECD. Thứ nhất, sau khủng hoảng tiền tệ  
thế giới năm 1997, khái niệm “nơi làm việc  
gắn bó suốt đời” đã biến mất và quan niệm  
về tính ổn định nghề nghiệp bị phá vỡ. Từng  
cá nhân phải lao vào cuộc cạnh tranh khốc  
liệt để giành lấy những cơ hội việc làm tốt  
hơn. Điều này dẫn đến quan hệ giữa con  
người với con người ngày càng bị phân tách  
và tính gắn kết tương trợ lẫn nhau trong cộng  
đồng dần bị suy giảm. Nguyên nhân thứ hai  
có thể kể đến là nhiệt huyết giáo dục cao dẫn  
đến áp lực giáo dục lớn và tỷ lệ cạnh tranh  
cao trong mọi lĩnh vực. Từ đó dẫn đến sự  
thiếu gắn kết, tương trợ ngay từ giai đoạn rất  
sớm như lứa tuổi thanh thiếu niên.  
Có thể thấy qui mô MLXH của người  
Hàn nói chung đang phát triển theo xu thế  
tăng dần. Tuy nhiên, chỉ số MLXH của  
người Hàn vẫn thuộc nhóm thấp so với các  
nước thành viên OECD. Chỉ số trung bình  
MLXH của các nước thành viên OECD  
thường dao động từ 85 ~ 90%. Ví dụ, chỉ số  
trung bình này năm 2016 và năm 2018 lần  
lượt là 88% và 85%. Hàng năm, OECD vẫn  
khảo sát chỉ số vốn xã hội của các nước hội  
viên, trong đó có chỉ số MLXH – một thành  
tố quan trọng cấu thành vốn xã hội. Chỉ số  
này không đo số người có thể đem lại sự trợ  
giúp khi cá nhân cần đến như các cuộc khảo  
sát trong nước của Hàn Quốc mà được đánh  
giá bởi tỷ lệ % trả lời có hoặc không có người  
có thể yêu cầu giúp đỡ khi gặp tình cảnh khó  
khăn. Đáng chú ý là từ sau năm 2005 đến  
nay, chỉ số MLXH của Hàn Quốc luôn thuộc  
nhóm thấp nhất so với các nước thành viên  
OECD. Năm 2008, chỉ số này của Hàn Quốc  
là 75,4%, năm 2014 là 73,8% và năm 2018  
là 75,9%. Các nước có chỉ số MLXH cao  
thường là khu vực châu Âu như Ireland,  
Iceland... Thậm chí một quốc gia đa chủng  
tộc vốn được đánh giá là có tính gắn kết xã  
hội thấp và chủ nghĩa cá nhân cao cũng đạt  
chỉ số MLXH ở mức giữa so với các nước  
hội viên OECD khác (OECD, 2019).  
Trong các cuộc khảo sát của OECD,  
chỉ số MLXH của người cao tuổi thường  
được chú ý đặc biệt nhằm đánh giá chất  
lượng phúc lợi xã hội của một quốc gia. Theo  
đó, năm 2015, chỉ số MLXH của người già  
trên 50 tuổi của Hàn Quốc là 60,9%, thấp  
nhất trong số 33 nước hội viên OECD được  
khảo sát và thấp hơn 26,2% so với mức chỉ  
số trung bình là 87,1% (OECD, 2019).  
Tuy nhiên, theo lý thuyết lựa chọn  
tình cảm xã hội (socio-emotional selectivity  
theory) của Carstensen, quan hệ xã hội bị  
giảm ở tuổi già một phần là do họ tự điều  
chỉnh MLQHXH trong phạm vi những  
người có thể làm thỏa mãn tối đa sự hài lòng  
về tình cảm cho bản thân. Do vậy, sự thu hẹp  
mạng lưới quan hệ của người già không có  
nghĩa là mạng lưới đó bị suy giảm ảnh hưởng  
tích cực (Lee & Han, 2012, tr. 174). Điều  
này cũng có nghĩa là chỉ số MLXH của  
người già cao hay thấp chưa đủ căn cứ để kết  
luận qui mô MLXH của toàn bộ người Hàn  
thấp và chất lượng mạng lưới kém. Do vậy,  
bài viết này quan tâm nhiều hơn vào qui mô  
MLXH của người Hàn nói chung. Thiết nghĩ  
Hàn Quốc cần có những chính sách tích cực  
Như vậy, kết quả khảo sát của các  
nghiên cứu trong nước khá đồng nhất với kết  
quả khảo sát của OECD. Mặc dù hiện nay  
chỉ số này của Hàn Quốc vẫn thấp hơn so với  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
24  
hơn nữa để làm tăng chỉ số MLXH, góp phần  
làm tăng chỉ số vốn xã hội của mỗi cá nhân  
và cả dân tộc.  
vào gia đình không? Nghiên cứu của Gu Hye  
Ran sử dụng dữ liệu của hai cuộc khảo sát về  
‘quan hệ xã hội và hệ thống hỗ trợ xã hội’  
trong khuôn khổ chương trình ‘Điều tra xã  
hội quốc tế 2001’ và ‘Tổng điều tra xã hội  
Hàn Quốc năm 2004’. Khác với các nghiên  
cứu đi trước, nghiên cứu của Gu Hye Ran  
cho thấy mạng xã hội của người Hàn đang  
duy trì theo loại hình hỗn hợp, đa dạng. Cụ  
thể, 67,1% lựa chọn cả các đối tượng trong  
và ngoài gia đình, thân tộc khi cần giúp đỡ.  
Chỉ có 26,7% chỉ chọn gia đình, thân tộc và  
6,2% chỉ chọn ngoài gia đình, thân tộc (Gu,  
2005, tr. 240).  
3.2. Loại hình mạng lưới xã hội  
Như đã đề cập ở trên, có nhiều cách  
phân loại các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên,  
hầu hết các nghiên cứu tại Việt Nam và nước  
ngoài về MLXH của người Hàn Quốc đều  
tiếp cận theo cách phân chia: mạng lưới  
trong gia đình, họ hàng (thân tộc) bao gồm  
bạn đời, cha mẹ, con cái, họ hàng bên nội, họ  
hàng bên ngoại và mạng lưới ngoài gia đình,  
họ hàng bao gồm hàng xóm, bạn đồng  
nghiệp, bạn đồng học, bạn đồng hương, v.v...  
Khẳng định thêm cho kết quả nghiên  
cứu của Gu (2005), cuộc tổng điều tra xã hội  
năm 2019 của Tổng cục thống kê Hàn Quốc  
cho thấy 74,5% người được hỏi trả lời rằng  
có người giúp đỡ trong mạng lưới gia đình,  
họ hàng khi cần và con số này đối với mạng  
lưới ngoài gia đình, họ hàng là 76,9%. Qui  
mô MLXH trong gia đình, họ hàng (ngoại  
trừ những người sống cùng) là 2,9 và qui mô  
mạng lưới ngoài gia đình, họ hàng là 3,9.  
Khảo sát còn cho biết một số kết quả thú vị  
khác như: khu vực nông thôn tìm trợ giúp từ  
mạng lưới gia đình, họ hàng nhiều hơn khu  
vực thành thị; nữ giới có tỷ trọng tiếp xúc  
nhờ vả nhiều hơn nhưng số người có thể đem  
lại giúp đỡ thực chất ít hơn so với nam giới;  
độ tuổi càng ít càng có xu hướng tìm sự giúp  
đỡ từ mạng lưới ngoài gia đình, họ hàng  
(Tổng cục thống kê Hàn Quốc, 2019, tr. 19).  
Lee (2000) đã phân chia MLXH của  
người Hàn thành bốn loại. Loại 1 là các quan  
hệ được duy trì trong thời gian dài và tần số  
tiếp xúc thường xuyên, ví dụ như gia đình.  
Loại 2 là các mối quan hệ được duy trì trong  
thời gian dài nhưng tần số tiếp xúc không  
thường xuyên, thường là các quan hệ như họ  
hàng, đồng hương, đồng học, v.v... Loại 3 là  
các mối quan hệ được hình thành tương đối  
mới nhưng tần số tiếp xúc thường xuyên như  
hàng xóm, đồng nghiệp. Cuối cùng là loại 4  
chính là các quan hệ mới hình thành và số  
lần tiếp xúc cũng ít như hội cùng sở thích,  
đoàn thể xã hội, v.v... Trong đó, loại hình 1  
chiếm tỷ lệ cao nhất, 46,5% và tiếp ngay sau  
đó là quan hệ đồng học thuộc loại hình 2  
chiếm tỷ lệ 17%. Điều này có nghĩa là người  
Hàn có xu hướng coi trọng và tìm kiếm sự  
giúp đỡ từ gia đình, họ hàng nhiều hơn hẳn  
so với các MLQHXH khác. Sau quan hệ gia  
đình, họ hàng, người Hàn đặc biệt thích các  
mối quan hệ đồng nhất về tuổi và trình độ  
giáo dục như nhóm bạn đồng học (Lee, 2000,  
tr. 337).  
Tóm lại, theo kết quả khảo sát của  
nhiều nghiên cứu mới đây, khó có thể nói  
MLXH của người Hàn tập trung vào tính gia  
đình chủ nghĩa. Sau công nghiệp hóa, vai trò  
của chủ nghĩa gia đình đã yếu đi, loại hình  
chỉ có vợ chồng và con chưa trưởng thành  
nhiều lên. Do vậy, cũng cần đánh giá lại tính  
chất, loại hình các MLXH của người Hàn  
ngày nay...  
Tuy nhiên, kết quả khảo sát của Lee  
Jae Yeol được thực hiện ở cuối những năm  
1990 là thời kỳ xã hội dân sự mới hình thành  
ở Hàn Quốc nên các mạng lưới ngoài gia  
đình, họ hàng như các tổ chức đoàn thể xã  
hội chưa phát triển mạnh. Do vậy, Gu (2005)  
đã đưa ra nghi vấn rằng: liệu MLXH của  
người Hàn Quốc có phải là mô hình tập trung  
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Gu  
(2005) cũng chỉ ra rằng loại hình MLXH  
khác nhau tùy thuộc vào loại hình và bối  
cảnh giúp đỡ, từ đó, tác giả so sánh các loại  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
25  
hình mạng lưới của người Hàn với người  
Mỹ, Nhật và Đan Mạch. Điểm chung là  
những giúp đỡ mang tính công cụ như làm  
việc nhà, chăm sóc con cái... thì cả 4 nước  
thường tìm đến sự giúp đỡ từ bạn đời, và  
những giúp đỡ vật chất thì thường tìm đến  
bố mẹ. Chỉ có ngườiĐan Mạch thường tìm  
đến cơ quan chuyên môn. Còn những giúp  
đỡ tình cảm thì người Hàn và người Mĩ  
thường tìm đến bạn bè, trong khi đó, người  
Nhật Bản, Mĩ, Đan Mạch cũng thường tìm  
đến bạn đời. Cụ thể, khi ốm đau, cần giúp  
việc nhà thì mức độ quan trọng của người  
bạn đời ở Hàn Quốc thuộc loại thấp hơn so  
với 3 nước còn lại (Đan Mạch là cao nhất).  
Mức độ phụ thuộc bố mẹ của Nhật Bản là  
cao nhất và Đan Mạch thấp nhất. Mức độ  
phụ thuộc con cái của người Hàn khi ốm đau,  
cần giúp việc nhà thấp hơn so với người Nhật  
và người Mĩ. Trường hợp tìm đến giúp đỡ  
của bạn bè và họ hàng khác của Mĩ cao nhất,  
rồi đến Hàn Quốc. Tỷ lệ trả lời là không thể  
tìm ai giúp đỡ trong bối cảnh này của người  
Hàn cũng là cao nhất. Về giúp đỡ vật chất,  
người Nhật và người Đan Mạch tìm đến bạn  
đời nhiều nhất. Người Nhật và người Mĩ  
cũng tìm đến sự giúp đỡ nhiều của bố mẹ.  
Còn người Hàn Quốc tìm đến nhiều nhất  
giúp đỡ của con cái. Trái với người Đan  
Mạch, mức độ phụ thuộc anh chị em ruột của  
người Hàn cũng cao hơn. Khác với 3 nước  
còn lại, những đối tượng ngoài họ hàng như  
bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp cũng là đối  
tượng quan trọng có thể mang lại sự giúp đỡ  
vật chất cho người Hàn. Về giúp đỡ tình  
cảm, người Hàn thường tìm đến bạn bè nhiều  
nhất, mức độ phụ thuộc bạn đời, bố mẹ, con  
cái ở loại hình giúp đỡ này thuộc loại thấp  
hơn so với các nước khác. Tức là người Hàn  
có xu hướng tìm sự giúp đỡ từ những đối  
tượng ngoài gia đình hay họ hàng khi cần  
giúp đỡ tình cảm như hàng xóm, đồng  
nghiệp... (Gu, 2005, tr. 243).  
những giúp đỡ về vật chất thì mạng lưới gia  
đình, họ hàng vẫn là nguồn lực được huy  
động đầu tiên. Trong khi đó, mạng lưới  
ngoài gia đình, họ hàng thường mang lại  
những giúp đỡ hiệu quả về mặt tình cảm như  
chia sẻ tâm sự hay cung cấp các thông tin  
việc làm, xã hội. Kết luận này cũng khá đồng  
nhất với quan điểm của Grannovetter về sức  
mạnh của các liên kết yếu (mạng lưới ngoài  
gia đình, họ hàng), đặc biệt trong lĩnh vực  
chia sẻ tình cảm và cung cấp thông tin.  
Nếu như với mạng lưới ngoài gia  
đình, họ hàng, người Hàn đặc biệt thích các  
quan hệ đồng học như đã đề cập ở trên thì  
với mạng lưới trong gia đình, họ hàng, mối  
quan hệ giữa cha mẹ - con cái thường trở  
thành trung tâm của cho và nhận giúp đỡ.  
Mức độ giúp đỡ có thể khác nhau tùy thuộc  
loại hình quan hệ gia đình. Park (2003) kết  
luận rằng tồn tại 3 loại hình quan hệ cha mẹ  
- con cái theo quan điểm của cha mẹ, bao  
gồm kiểu truyền thống, kiểu hỗ trợ có đi có  
lại, kiểu độc lập và 5 kiểu loại quan hệ cha  
mẹ - con cái theo cách nhìn của con, bao gồm  
kiểu hỗ trợ có đi có lại, kiểu truyền thống,  
kiểu sống riêng và giúp đỡ tùy hoàn cảnh,  
kiểu sống riêng nhưng vẫn giữ gìn các qui  
chuẩn đạo đức, kiểu độc lập. Theo kết quả  
khảo sát các đối tượng là con ở độ tuổi trung  
niên, 18% đối tượng là con thuộc loại hỗ trợ  
có đi có lại vừa sống cùng bố mẹ vừa duy trì  
quan hệ cho – nhận có đi có lại, 19,7% thuộc  
loại truyền thống vừa sống cùng bố mẹ vừa  
coi trọng ý thức phụng dưỡng. 12,8% thuộc  
loại 3 và 17,9% thuộc loại 4 không sống  
cùng bố mẹ nhưng vẫn cho và nhận giúp đỡ  
về vật chất và tình cảm với bố mẹ. Hai loại  
này quan niệm về phụng dưỡng cha mẹ còn  
phải tùy vào hoàn cảnh cụ thể. 31,5% thuộc  
loại 5 sống riêng với bố mẹ và ý thức duy trì  
quan hệ hỗ trợ cũng yếu. Bên cạnh đó, kết  
quả khảo sát các đối tượng cha mẹ ở độ tuổi  
cao niên lại cho thấy 49,7% thuộc loại 1  
truyền thống, có thể sống cùng hoặc riêng  
với con cái nhưng nhận giúp đỡ vật chất từ  
con, nhấn mạnh trách nhiệm của gia đình với  
việc phụng dưỡng người già, 19,8 thuộc loại  
Như vậy, xét theo loại hình và bối  
cảnh giúp đỡ, người Hàn đang có xu hướng  
tìm kiếm sự giúp đỡ nhiều hơn từ mạng lưới  
ngoài gia đình, họ hàng. Tuy nhiên, khi cần  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
26  
2 có thể sống cùng hoặc riêng với con cái  
nhưng nhấn mạnh tính hỗ trợ có đi có lại lẫn  
nhau và 30,5% thuộc loại 3 muốn sống riêng  
và cũng không cho và nhận giúp đỡ riêng  
biệt (Park, 2003, tr. 180-181).  
khẳng định rằng người Hàn luôn có ý thức  
duy trì các mối quan hệ trong mạng lưới ở  
mức độ dày đặc và thực chất. Điều này phần  
nào phản ánh tính hiệu quả của MLXH của  
người Hàn.  
Kết quả nghiên cứu của Park (2003)  
cho thấy dù ở loại hình gia đình nào thì người  
Hàn vẫn đang cố gắng duy trì mối quan hệ  
thế tục giữa các thế hệ. Tuy nhiên, cha mẹ  
thường có xu hướng lựa chọn loại hình gia  
đình truyền thống, tức là chủ yếu tìm kiếm  
sự giúp đỡ từ con cái khi cần. Trong khi đó,  
loại hình sống riêng, độc lập và quan hệ cho  
– nhận các giúp đỡ giữa cha mẹ - con cái  
lỏng lẻo lại được lựa chọn nhiều nhất bởi thế  
hệ con cái. Tiếp đến, thế hệ con cái thường  
mong muốn kiểu quan hệ giúp đỡ có đi có lại  
giữa cha mẹ và con cái.  
Bên cạnh đó, Kim (2014) lại cho biết  
tần suất tiếp xúc của mạng lưới trong gia  
đình, họ hàng, trọng tâm vào tiếp xúc giữa  
cha mẹ và con cái không sống cùng. Đối  
tượng khảo sát là 18,000 đại diện hộ gia đình  
độ tuổi từ 15~64 tuổi. Với câu hỏi là “Trong  
1 năm qua anh/chị và bạn đời đã gặp trực tiếp  
bố mẹ và liên lạc gián tiếp qua điện thoại,  
email, thư từ... ở mức độ nào?”, tác giả đã sử  
dụng thang đo 9 mức bao gồm: ① Hầu như  
hàng ngày (trên 4 lần/tuần), ② 2~3 lần/tuần,  
③ 1 lần/tuần, ④ 2 lần/tháng, ⑤ 1 lần/tháng,  
⑥ 5~6 lần/năm, ⑦ 3~4 lần/năm, ⑧ 1~2  
lần/năm, ⑨ Hầu như không gặp trực tiếp  
hoặc nhìn thấy nhau qua các hình thức nào  
khác. Kết quả nghiên cứu như sau.  
3.3. Tần suất tiếp xúc  
Tần suất tiếp xúc cũng là một yếu tố  
quan trọng trong phân tích MLXH, giúp  
đánh giá được phần nào chất lượng mạng  
lưới. Tần suất tiếp xúc thường được hiểu là  
mức độ thường xuyên duy trì mối quan hệ  
trong mạng lưới. Theo Lee (2000), trong  
2.378 người được hỏi, có 30,5% liên lạc với  
nhau hàng ngày, liên lạc hàng tuần là 24,4%,  
liên lạc hàng tháng là 31,9% và liên lạc hàng  
năm là 13,2%. Kết quả này cho thấy nếu chỉ  
ngoại trừ con số liên lạc theo năm được xem  
là tần suất thấp thì nói chung, người Hàn  
Quốc đang duy trì các mối quan hệ trong  
mạng lưới một cách khá thường xuyên, tức  
là mật độ tiếp xúc khá đậm đặc (Lee, 2000,  
tr. 331).  
Về gặp trực tiếp mặt đối mặt, tỷ lệ  
gặp bố mẹ khoảng 5~6 lần/năm là nhiều  
nhất. Cụ thể, tỷ lệ gặp bố mẹ chồng là 20,6%,  
bố mẹ vợ là 19, 6%. Tiếp đến là mức độ tiếp  
xúc 1 lần/tuần với bố mẹ chồng là 20,8% và  
với bố mẹ vợ là 20%. Trái lại, 20,4% gặp bố  
mẹ chồng và 27,5% gặp bố mẹ vợ dưới 3~4  
lần/năm. Về tiếp xúc không trực tiếp, tỷ lệ  
trả lời cao nhất là liên lạc 1 lần/tuần với bố  
mẹ chồng là 27,3%, bố mẹ vợ là 24,2%. Tỷ  
lệ trên 1 lần/tuần gửi thư, gọi điện... với bố  
mẹ chồng là 54,1% và với bố mẹ vợ là  
60,6%. Tỷ lệ liên lạc 3~4 lần/năm với bố mẹ  
chồng là 5,8% và với bố mẹ vợ là 5,2%  
(Kim, 2014, tr. 26-29).  
Nếu như Lee (2000) đưa ra kết quả  
khảo sát về tần suất tiếp xúc với các đối  
tượng trong và ngoài gia đình, họ hàng nói  
chung thì Park (2003) lại giới hạn phạm vi  
khảo sát là đối tượng người già và cận già.  
Theo đó, mức độ tiếp xúc được lựa chọn  
nhiều nhất là 1 lần/tháng với 35,5%, 1  
lần/tuần chiếm 29,8% và vài lần/tuần 23,3%.  
Vài lần/năm và 1 lần/năm chỉ chiếm lần lượt  
là 9,7% và 1,7%. Như vậy, từ kết quả khảo  
sát khá tương đồng của Lee và Park, có thể  
So sánh các kết quả khảo sát nêu trên  
có thể rút ra hai điểm. Thứ nhất, tần suất tiếp  
xúc không trực tiếp (đơn vị: lần/tuần) có xu  
hướng dày đặc hơn tiếp xúc trực tiếp mặt đối  
mặt (đơn vị: lần/năm). Thứ hai, tần suất gặp  
mặt trực tiếp với bố mẹ chồng nhiều hơn  
nhưng tần suất liên hệ gián tiếp qua các  
phương tiện liên lạc với bố mẹ vợ lại thường  
xuyên hơn. Thứ ba, tần suất tiếp xúc với  
MLXH ngoài gia đình có xu hướng thường  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
27  
xuyên và dày đặc hơn tần suất tiếp xúc với  
MLXH trong gia đình.  
truyền thống của người Hàn không chỉ đặt  
nền tảng vào các quan hệ gia đình mang tính  
viện trợ mà còn vào cả các quan hệ ngoài gia  
đình mang tính phi viện trợ. Các MLXH này  
vừa mang tính cưỡng chế vừa mang tính tự  
nguyện trên nguyên tắc tác động tương hỗ.  
Nhưng dù là loại MLXH nào thì bước vào xã  
hội hiện đại, chữ ‘Yeon’ hay chính là tính  
đồng dạng vẫn luôn được coi trọng. Điều tra  
năm 1996 của Hiệp hội văn hóa thường nhật  
Hàn Quốc cho thấy: trong số các đối tượng  
mà cá nhân có thể tìm đến khi cần giúp đỡ  
thì gia đình vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất với  
48,2%, tiếp đến là đoàn thể tôn giáo (cha cố,  
người cùng đạo) với 25,5%, cùng trường  
(bạn cùng lớp, thầy cô, tiền bối hậu bối) là  
10,5%, cùng khu vực (cùng quê, cùng địa  
bàn sinh sống) là 7% (Oh, 1999, tr. 782).  
3.4. Tính đồng dạng  
Như đã đề cập ở trên, mỗi nghiên cứu  
có cách phân tích chức năng của MLXH  
khác nhau tùy thuộc đặc trưng của MLXH  
được chọn khảo sát. Trong bài viết này, tác  
giả chỉ tập trung tìm hiểu hai đặc điểm chức  
năng khá nổi bật của MLXH của người Hàn,  
đó là tính đồng dạng và tính có đi có lại.  
MLQHXH của người Hàn Quốc coi  
trọng chữ “Yeon”, tức là tính liên kết hay cố  
kết hơn là tính chất cho – nhận. Với tinh thần  
của chủ nghĩa Uri1, người Hàn Quốc thường  
coi trọng các mối quan hệ có tính liên kết  
ràng buộc như cùng học, cùng quê. Từ sau  
những năm 60 do sự phát triển cao độ của  
công nghiệp hóa thì xuất hiện các đoàn thể  
mà ai cũng có thể trở thành hội viên nếu thấy  
có ý nghĩa cho bản thân nhưng chữ “Yeon” vẫn  
được coi trọng nguyên vẹn (Oh, 1999, tr. 780).  
Trong giới nghiên cứu MLXH, chữ “Yeon”  
thường được nhắc đến bằng một tên gọi khác  
là “tính đồng dạng”.  
Kết quả khảo sát này khá tương đồng  
với kết quả nghiên cứu của Lee (2000) khi  
khẳng định người Hàn thường có xu hướng  
lựa chọn những người đồng nhất với mình về  
huyết thống và học vấn để hình thành  
MLQHXH chặt chẽ với họ. Theo khảo sát  
của Lee (2000), 46,5% mạng lưới quan hệ  
thân thiết có thể đem lại sự giúp đỡ khi cần  
đến của người Hàn là gia đình, họ hàng. Tiếp  
đến là mạng lưới đồng học chiếm 17%.  
Điều tra xã hội năm 1996 của trung  
tâm nghiên cứu xã hội, trường Đại học nữ  
Sung sim cho thấy người Hàn tập trung duy  
trì nhiều nhất các quan hệ đồng học với  
18,8%, rồi đến quan hệ đồng hương với  
11,2%... Nếu cộng tổng các mối quan hệ có  
tính đến chữ “Yeon” thì có thể thấy 70,4% là  
các quan hệ cùng huyết thống, cùng học,  
cùng quê, v.v... Một điều tra xã hội khác của  
trường Đại học Hallim năm 1996 cũng cho  
thấy 73,5% người trả lời đang tham gia 2 hội  
nhóm trở nên và đại đa số là các hội nhóm  
theo hình thức theo đuổi sự gắn kết, ràng  
buộc, số ít là hình thức theo đuổi mục đích  
(Oh, 1999, tr. 781).  
3.5. Tính có đi có lại  
Như đã đề cập ở trên, ngay từ xã hội  
cổ sơ, Marcel Mauss đã khẳng định có đi có  
lại là nguyên tắc bắt buộc của mọi giao dịch  
xã hội. Đây cũng là nguyên tắc quan trọng  
và cần thiết để duy trì tính bền vững trong  
MLXH của người Hàn nói riêng và của mọi  
dân tộc nói chung. Tuy nhiên, có đi có lại  
không phải lúc nào cũng là đối xứng hoàn  
toàn. Tức là, thông thường sẽ xảy ra sự giúp  
đỡ có đi có lại mang tính đối xứng bộ phận  
hay chính là quan hệ giúp đỡ bất đối xứng.  
Tuy nhiên, tùy thuộc đối tượng cho và nhận  
giúp đỡ cũng như loại hình, hoàn cảnh giúp  
đỡ mà tính chất có đi có lại lại nghiêng hơn  
về đối xứng hay bất đối xứng. Đây là trường  
Trong xã hội truyền thống, các  
MLXH phổ biến là hội nông dân, hụi/họ, hội  
đổi công việc đồng áng hay các qui ước và  
lề thói như hương ước. MLXH trong xã hội  
1 Uri trong tiếng Hàn nghĩa là “chúng ta, chúng tôi”.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
28  
hợp riêng của tính chất có đi có lại trong  
quan hệ giúp đỡ.  
đỡ bố mẹ nhiều hơn. Từ lập trường của bố  
mẹ, 49,7% nhấn mạnh trách nhiệm của gia  
đình với việc phụng dưỡng người già và  
thường lựa chọn quan hệ giúp đỡ bất đối  
xứng theo hướng nhận từ con nhiều hơn cho  
con. Trong khi đó chỉ có 19,8% lại nhấn  
mạnh tính hỗ trợ có đi có lại lẫn nhau (Park,  
2003, tr. 76-82).  
Về đối tượng cho và nhận giúp đỡ,  
càng là các quan hệ phi huyết thống càng có  
xu hướng giúp đỡ nhau một cách đối xứng.  
Kết quả khảo sát 1007 nam, nữ từ 19 tuổi trở  
lên trên toàn quốc về các hành động tương  
trợ lẫn nhau của Han và Kang (2014) cho  
biết người Hàn thường đầu tư chi phí nhiều  
nhất vào việc duy trì mạng lưới quan hệ  
mang tên “Kye”, có nghĩ là “hụi/họ” trong  
tiếng Việt. Hội này thường cung cấp cho  
nhau các giúp đỡ hai chiều về tài chính, cung  
cấp thông tin... và thường trong các hoàn  
cảnh như tang ma, cưới xin, sinh nhật, khai  
trương... 68,12% và 78,25% người được hỏi  
trả lời rằng từng cho và nhận giúp đỡ đối  
xứng với các mối quan hệ ngoài gia đình, họ  
hàng trong các dịp hiếu và hỉ. 39,42% từng  
tham dự tiệc sinh nhật của nhau khi được  
mời. Trên thực tế, các dịp lễ như tang ma,  
cưới hỏi... thường là những hoàn cảnh giúp  
đỡ mang tính chất nợ đồng lần. Do vậy, cho  
và nhận giúp đỡ trong các trường hợp này  
thường mang tính đối xứng cũng là điều dễ  
hiểu. Hơn nữa, đặc trưng dân tộc tính của  
người Hàn là trọng thể diện. Do vậy, người  
Hàn thường có xu hướng càng là các mối  
quan hệ phi huyết thống, nói dễ hiểu là mạng  
lưới người ngoài thì càng không muốn mắc  
nợ nhau trong nhiều loại hình giúp đỡ cũng  
như nhiều hoàn cảnh giúp đỡ (Han & Kang,  
2014, tr. 46-47).  
Năm năm sau, Park (2008) vẫn tiếp  
tục khẳng định tính bất đối xứng thường tồn  
tại trong quan hệ giúp đỡ giữa cha mẹ và con  
cái. Trong gia đình Hàn Quốc hiện đại, quan  
hệ của con cái và bố mẹ ở tuổi xế chiều  
thường được cho là quan hệ một chiều với  
việc con cái chăm sóc bố mẹ già là chủ yếu.  
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây ở Hàn  
Quốc cho thấy con cái đang coi việc phụng  
dưỡng này như một gánh nặng. Như vậy,  
ngoài việc phản ánh tính chất bất đối xứng  
trong quan hệ cho - nhận giữa bố mẹ và con  
cái khi bố mẹ về già theo xu hướng bố mẹ  
nhận từ con nhiều hơn là con nhận từ bố mẹ,  
nghiên cứu của Park Kyeong Suk còn cho  
thấy rõ sự bất đối xứng trong cả ý thức  
(intention) giữa một bên là mong muốn được  
trông cậy vào con cái lúc về già với một bên  
là cảm giác gánh nặng khi phải phụng dưỡng  
cha mẹ già (Park, 2008, tr. 175-176). Trái  
với Park (2008), một nghiên cứu gần hơn của  
Kim (2012) lại phản ánh một xu thế mới của  
gia đình Hàn Quốc hiện đại, đó là, các gia  
đình hạt nhân gồm vợ chồng và con cái thích  
lựa chọn sống gần bố mẹ đẻ, bố mẹ đằng vợ  
hay bố mẹ đằng chồng để vừa thuận tiện  
phụng dưỡng cha mẹ vừa có thể nhờ ông bà  
chăm sóc con cái và trông nom nhà cửa một  
cách miễn phí. Điều này cho thấy bố mẹ và  
con cái trong gia đình Hàn Quốc hiện đại  
đang cố gắng đi tìm sự cân bằng hay còn gọi  
là đối xứng trong quan hệ "giúp đỡ - nhận  
được giúp đỡ" (Kim, 2012, tr. 192).  
Trái lại, các quan hệ giúp đỡ trong  
gia đình thường mang tính bất đối xứng rõ  
rệt hơn. Theo Park (2003), từ lập trường của  
thế hệ con, chỉ có 18% người được hỏi vừa  
sống cùng bố mẹ vừa đang duy trì mối quan  
hệ hỗ trợ có đi có lại đối xứng. 19,7% vừa  
sống cùng bố mẹ vừa coi trọng ý thức phụng  
dưỡng và có xu hướng duy trì quan hệ hỗ trợ  
bất đối xứng theo hướng con giúp đỡ bố mẹ  
nhiều hơn. Đáng chú ý là 31,5% có ý thức  
duy trì quan hệ hỗ trợ qua lại yếu. Càng là  
các đối tượng nhiều tuổi, trưởng nam, sống  
ở nông thôn càng có xu hướng duy trì quan  
hệ hỗ trợ bất đối xứng theo hướng con giúp  
Bên cạnh đó, tính có đi có lại cũng  
biểu hiện khác nhau tùy thuộc loại hình giúp  
đỡ. Người Việt thường có câu nói “tiền bạc  
phân minh”, tức là liên quan đến tài chính  
cần phải rõ ràng, minh bạch và tránh nợ nần  
nhau. Do vậy, nếu không đủ khả năng trả nợ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
29  
những giúp đỡ nhận được về vật chất thì cá  
nhân thường có xu hướng tìm đến gia đình  
khi gặp khó khăn về kinh tế. Bởi gia đình là  
nơi sẵn sàng chấp nhận các mối quan hệ cho  
– nhận bất đối xứng. Theo Nguyễn (2005),  
gia đình thường là nguồn giúp đỡ đầu tiên  
trong hoạt động kinh doanh của người Hàn.  
Đặc trưng này đã được rút ra từ kết quả  
nghiên cứu thực nghiệm về "Sự giao thoa  
giữa vốn xã hội với các giao dịch kinh tế  
trong gia đình: So sánh gia đình Việt Nam và  
gia đình Hàn Quốc". Kết quả nghiên cứu cho  
thấy gia đình người Hàn luôn là nguồn hỗ trợ  
đắc lực nhất trong việc cho cá nhân vay vốn  
khởi nghiệp, vay vốn luân chuyển, vận hành  
kinh doanh, thực hiện những giao dịch đối  
ngoại, v.v...  
lệ nhận đồ dùng sinh hoạt từ bố mẹ chồng là  
10,8% và từ bố mẹ vợ là 13,9%). Về cung  
cấp dịch vụ, tính chất cho – nhận giúp đỡ vẫn  
là bất đối xứng theo chiều con cái giúp bố  
mẹ nhiều hơn là bố mẹ giúp con cái. Cung  
cấp các dịch vụ ở đây được hiểu là con cái  
cung cấp cho bố mẹ các dịch vụ chăm sóc  
sức khỏe khi ốm đau hay các dịch vụ liên  
quan đến việc nhà... Trái lại, bố mẹ cung cấp  
cho con cái các loại hình dịch vụ như trông  
con, giúp việc nhà... Kết quả khảo sát cho  
thấy, dịch vụ liên quan đến việc nhà mà con  
cái cung cấp cho cha mẹ hai bên theo tỷ lệ  
lần lượt là: bố chồng 39,2%, mẹ chồng  
44,3%, bố vợ 31,9%, mẹ vợ 37,9%. Tỷ lệ  
con cái chăm sóc bố mẹ lúc ốm đau lần lượt  
với bố chồng là 11,6%, mẹ chồng là 14,6%,  
bố vợ là 8,3%, mẹ vợ là 14%. Trong khi đó,  
tỷ lệ bố mẹ có thể giúp đỡ trở lại con cái  
thường thấp hơn. Cụ thể, tỷ lệ bố mẹ trông  
cháu giúp con lần lượt với bố chồng là 8,7%,  
mẹ chồng là 11,9%, bố vợ là 10,6%, mẹ vợ  
là 17,6%. Tỷ lệ bố mẹ giúp con cái việc nhà  
nói chung lần lượt là bố chồng 2,4%, mẹ  
chồng 8,8%, bố vợ 4,6%, mẹ vợ 15,5%  
(Kim, 2014, tr. 26-27).  
Hay như khi cần cung cấp thông tin  
việc làm, đúng như Grannovetter đã nhấn  
mạnh sức mạnh của các liên kết yếu, phần  
lớn người Hàn (36,59%) thường tìm đến sự  
giúp đỡ từ mạng lưới quen biết lỏng lẻo hơn  
gia đình (Kim, 2003, tr. 220). Lý do là vì  
mạng lưới này thường chứa đựng các thông  
tin đa dạng hơn do tính đồng dạng trong  
mạng lưới yếu.  
Như vậy, khác với phương Tây đề  
cao chủ nghĩa cá nhân và tính sòng phẳng  
trong các mối quan hệ xã hội, người Hàn  
Quốc chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa  
tập thể và tính có đi có lại linh hoạt, mềm  
dẻo. Tức là, tính có đi có lại trong quan hệ  
giúp đỡ của người Hàn Quốc có thể đối xứng  
hoặc bất đối xứng tùy thuộc đối tượng cho –  
nhận giúp đỡ, loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh  
giúp đỡ. Xu hướng đối xứng thường xuất  
hiện trong mạng lưới quan hệ ngoài gia đình  
và ngược lại, càng là quan hệ thân thiết như  
gia đình càng có xu hướng cho – nhận bất  
đối xứng.  
Đồng quan điểm với các nghiên cứu  
nêu trên, Kim (2014) cũng chỉ ra rằng  
khuynh hướng chung của xã hội Hàn Quốc  
là sự chuyển dịch tài chính theo hướng con  
cái cung cấp cho bố mẹ là chính. Hỗ trợ tài  
chính cho bố mẹ thường bao gồm các khoản  
như chi phí giải trí, thực phẩm sức khỏe, đồ  
dùng sinh hoạt, sản phẩm điện tử, đưa đi ăn  
ngoài, lương thực thực phẩm... Trong đó,  
loại hình giúp đỡ đưa đi ăn ngoài hoặc biếu  
đồ ăn của con cái cho bố mẹ chiếm tỷ lệ  
nhiều nhất với bố mẹ chồng là 85,7%, bố mẹ  
vợ là 84,4%. Tiếp đến là loại hình giúp đỡ  
biếu đồ dùng sinh hoạt cho bố mẹ chồng là  
36,9%, bố mẹ vợ là 36,2%, biếu thực phẩm  
chức năng cho bố mẹ chồng là 37,1%, bố mẹ  
vợ là 34, 4%. Trái lại, hỗ trợ của bố mẹ cho  
con cái nói chung là thấp, nhiều nhất là hỗ  
trợ kiểu đi ăn ngoài và cho đồ ăn. Tỷ lệ người  
trả lời nhận giúp đỡ loại hình này từ bố mẹ  
chồng là 56,4%, từ bố mẹ vợ là 59,7%). Tỷ  
4. Kết luận  
Nghiên cứu đã trả lời đầy đủ các câu  
hỏi đặt ra. Thứ nhất, mặc dù chỉ số MLXH  
của Hàn Quốc thuộc loại thấp so với các  
nước thành viên trong khối OECD nhưng  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
30  
trong khoảng 10 năm trở lại đây, qui mô  
MLXH của người Hàn nói chung đang lớn  
Tài liệu tham khảo  
Becker, H. P. (1956). Man in Reciprocity. Publisher  
dần. Thứ hai, người Hàn đang hình thành  
nhiều loại hình mạng lưới xã hội đa dạng  
nhưng có thể phân thành hai loại chính là  
MLXH trong gia đình, họ hàng và MLXH  
ngoài gia đình, họ hàng. Trong các nhóm  
quan hệ thuộc loại hình 1 thường bao gồm  
các liên kết yếu do thời gian hình thành và  
duy trì các quan hệ không dài, tính đồng nhất  
trong mạng lưới (ví dụ người quen biết).  
Loại hình 2 được gọi là mạng liên kết mạnh  
do có tính cố kết lâu dài và tính đồng nhất  
cao. Mỗi loại hình mạng lưới lại cung cấp  
các loại giúp đỡ khác nhau khi cá nhân cần  
đến. Theo đó, mạng lưới trong gia đình, họ  
hàng thường cung cấp các giúp đỡ thiên về  
tiền bạc, việc nhà... Ngược lại, mạng lưới  
ngoài gia đình, họ hàng thường cung cấp các  
giúp đỡ thiên về chia sẻ tình cảm, cung cấp  
thông tin, v.v... Thứ ba, về đặc điểm chức  
năng của mạng lưới, người Hàn thường có  
xu hướng hình thành và duy trì các MLXH  
có tính đồng dạng cao như cùng huyết thống,  
cùng học, cùng quê, cùng địa bàn sinh sống,  
v.v... Trong đó, mạng lưới được coi trọng  
nhất trong các trường hợp cần huy động sự  
giúp đỡ vẫn là gia đình. Tiếp đến là các quan  
hệ đồng học. Đặc trưng nổi bật thứ hai trong  
MLXH của người Hàn là tính chất có đi có  
lại linh hoạt, mềm dẻo. Theo đó, các quan hệ  
cho – nhận giúp đỡ trong phạm vi gia đình  
thường có đi có lại một cách bất đối xứng  
hơn các quan hệ ở phạm vi ngoài gia đình.  
Bên cạnh đó, giúp đỡ về vật chất và giúp đỡ  
trong hoàn cảnh cưới xin, tang ma... thường có  
xu hướng đối xứng theo kiểu ‘trả nợ đồng lần’.  
Prager.  
Burt, R. S. (1992). Structural holes: The social structure  
of competition. Harvard University Press.  
Cao, T. H. B. (2016). Tính đối xứng và bất đối xứng  
của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của  
người Việt Nam [Luận án Tiến sĩ, Trường  
Đại học KHXH & NV, ĐHQGHN].  
Cao, T. H. B. (2017). Một vài so sánh về đặc điểm  
vốn xã hội của người Việt Nam và người  
Hàn Quốc. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bꢀc Á,  
(2), 63-74.  
Department of Online News. (2019). 50tae i sang  
hangukgin, eoryeoul ttae tooajul ‘sahoejeok  
kwankyemang’ OECD choehauy. Seoul  
News. Retrieved October 2, 2019,  
George, H. (1958). Social behavior as exchange.  
Granovetter, M. S. (1973). The strength of weak ties.  
The American Journal of Sociology, 78(6),  
1360-1380.  
Gu, H. R. (2005, May 19). Hangukgine sahoejeok  
jiwonman [Conference session]. 2005  
hangukjonghapsahoejosa  
Sungkyungkwan  
seobeiriseochisentheo.  
(KGSS),  
taehakgyo  
Han, C., & Park, C. U. (2000). Sahoejeok  
yeongyeolmang jaryoe bunseok. In 2000  
Proceedings of the Autumn Conference:  
Korean Statistical Society (pp. 201-205).  
Han, D. U., & Kang, J. H. (2014). Hangukgine  
sanghobujohengdong.  
Pchulphansa.  
Areumtaunjaedan  
Hoàng, B. T. (2016). Xây dựng nông thôn mới ở Hàn  
Quốc và Việt Nam. Tạp chí Khoa học xã hội  
Việt Nam, (7), 3-11.  
Kim, C. S. (2012). Kim chi và IT (Nghiêm Thị Bích  
Diệp & Vũ Ngọc Anh dịch). Nxb Hội Nhà  
văn.  
Tóm lại, các yếu tố cấu thành MLXH  
của người HQ giống như mô hình một kim  
tự tháp, trong đó, nền tảng (đáy kim tự tháp)  
là chữ ‘yeon – liên kết đồng dạng’, đích đến  
cuối cùng (đỉnh kim tự tháp) là giúp đỡ có đi  
có lại, còn các mặt kim tự tháp chính là các  
yếu tố cấu thành gồm 4 yếu tố chính: tình  
nghĩa, sự giúp đỡ, niềm tin, tình yêu (Oh,  
1999, tr. 788).  
Kim, S. H. (2003). Chuyopjae sahoe yeongyeolmang  
hwalyonge daehan yeonghyang yoin  
yeongu. Journal of Nodongkyeongjehakhoe,  
3(26), 209-230.  
Kim, S. K. (2014). Gihonjanyoe pidonggopumooae  
jopchok mit sanghojiwon. Journal of  
bogonbokjiphorum, 211, 23-31.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
31  
Lee, J. H., & Han, K. H. (2012). Yebinoine  
chingukwankyemang  
thukseongi  
hengbokgame michineun yeonghyang:  
Seongbyeol chaireul jungsimeuro. Journal  
of bogonsahoeyeongu, 32(2), 170-205.  
Nông, B. N. (2009). Nghiên cứu mạng lưới xã hội  
Những đóng góp của nhân học và xã hội học.  
Tạp chí Nghiên cứu con người, (2), 58-65.  
Lee, J. Y. (2000). Social Networks of Korean. Korea  
Journal, 1(40), 326-352.  
Oh, K. S. (1999). Hangukgini injihaneun sahoejeok  
jijie  
guseongyoso.  
Journal  
of  
Lê, M. T. (2006). Tổng quan phương pháp phân tích  
mạng lưới xã hội trong nghiên cứu xã hội.  
Tạp chí Khoa học Xã hội, (9), 66-77.  
daehanganhohakhoeji, 4(29), 780-789.  
Park, K. S. (2003). Setaekwankyee tayangseongkwa  
gujo. Journal of hanguksahoehak, 2(37), 61-  
94.  
Lim, C. W. (2019). (Gukjeonggihoek 2050) 18 –  
hyumonkheomonseu yukseongkwa OECD  
gongdongchejisu 10uy jeollak. Newstomato.  
Park, K. S. (2008). Hanguk gajoke byeonhwa. In M.  
K. Park (Eds.), Hyundae hanguke sahoe (pp.  
95-102). Seoul taehakkyo chulphansa.  
Retrieved  
April  
8,  
2019,  
Phạm, T. O. (2011). Phong trào làng mới Seamaul ở  
Hàn Quốc: Quá trình phát triển và thành tựu.  
Tạp chí Xã hội học, (4), 104-110.  
Lim, J. O. (2017). Dosinongop hwaldonge ttareun  
chuyyakkyecheune sahoejeok kwankyemang  
Shim, S. J. (2016). Hanguksahoeeseo jukwanjeok  
uelbinge yeonghyangeul michineun yoin  
bunseok. Journal of thongkyeyeongu, 3(21),  
25-47.  
hyeongseonge  
kwanhan  
yeongu  
[Unpublished doctoral dissertation]. Seoul  
University.  
Marcel, M. (1925). Luận vꢁ biꢉu tꢇng: Hꢌnh thức và  
lꢈ do của sꢅ trao đꢃi trong cꢂc xꢍ hội cꢃ sơ  
(T. Nguyễn, Dịch giả). Nxb Tri thức.  
Statistics Korea. (2019). 2019 sahoejosa gyeolkwa.  
Thongkyecheong chulphansa.  
Statistics Korea. (2019). 2019 cheongsonyeon  
thongkye. Thongkyecheong chulphansa.  
Ngô, V. L. (2012). Đa văn hóa ở Hàn Quốc và những  
vấn đề đặt ra. Tạp chí Hàn Quốc, (2), 17-24.  
Tống, T. L. (2017). Già hóa dân số ở Hàn Quốc. Tạp  
chí Nghiên cứu Đông Bꢀc Á, (12), 40-50.  
Nguyễn, Q. T. (2005). Sự giao thoa giữa vốn xã hội  
với các giao dịch kinh tế trong gia đình: So  
sánh gia đình Việt Nam và gia đình Hàn  
Quốc. Tạp chí Xã hội học, (2), 108-121.  
Trần, H. T. (2018). Tìm hiểu mô hình phát triển nông  
thôn trong phong trào làng mới của Hàn  
Quốc dựa trên học thuyết về local network  
governace. Tạp chí Nghiên cứu Nưꢆc ngoài,  
Nguyễn, Q. T., & Cao, T. H. B. (2012). Quan hệ xã  
hội và vốn xã hội: Nghiên cứu so sánh Việt  
Nam và Hàn Quốc. Tạp chí Xã hội học, (3),  
35-45.  
Trần, T. M. N. (2017). Những nỗ lực để gia đình đa  
văn hóa Hàn – Việt không rơi vào bi kịch  
hôn nhân. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bꢀc Á,  
(11), 55-65.  
Nguyễn, T. T. (2012). Ảnh hưởng của quan hệ xã hội  
đối với chính trị Hàn Quốc: Quan hệ đồng  
hương và hình thái bầu cử cục bộ địa  
phương. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bꢀc Á,  
(12), 30-40.  
Trần, T. N. (2011). Về chế độ bảo hiểm chăm sóc lâu  
dài ở Hàn Quốc. Tạp chí Nghiên cứu Đông  
Bꢀc Á, (6), 30-40.  
Nguyễn, T. T. (2014). Tꢃng thư mục nghiên cứu Hàn  
Quốc tại Việt Nam. Nxb Giáo dục Việt Nam.  
Trần, T. N. (2014). Gia đꢌnh đa văn hóa Hàn Quốc.  
Nguyễn, T. T. H. (2018). Ý nghĩa xã hội của hoạt  
động câu lạc bộ của phụ nữ Hàn Quốc. Tạp  
chí Hàn Quốc, (4), 66-79.  
Nxb ĐHQGHN.  
Trần, T. N. (2015). Tình hình nghiên cứu xã hội Hàn  
Quốc tại Việt Nam. Trong T. T. Nguyễn  
(Chủ biên), Nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt  
Nam: Thành quꢋ và phương hưꢆng (tr. 105-  
122). Nxb Khoa học xã hội.  
Nguyễn, T. T. H. (2019). Già hóa dân số và người cao  
tuổi ở Hàn Quốc hiện nay. Tạp chí Khoa học  
Xã hội và Nhân văn, 5(6), 750-762.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
32  
CHARACTERISTICS OFKOREAN SOCIALNETWORKS  
Cao Thi Hai Bac  
Faculty of Korean Language and Culture, VNU University of Languages & International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam  
Abstract: Using the method of synthesis and analysis of available large-scale survey references,  
this paper points out special features in the social networks of the Korean including three structural  
characteristics: network size, frequency of contact, and network types; and two functional  
characteristics: homogeneity and reciprocity (the particular case is the symmetry and the asymmetry).  
The main results are summarized as follows. In terms of network structure, (1) despite being at a lower  
level than that of other countries of OECD, in the past 10 years, the social network size of the Korean  
has been growing, (2) two main types of social networks in Korean society are the network inside the  
family, relatives, and the network outside the family, relatives. Accordingly, the former usually provides  
help such as moneyand shared housework. In contrast, the latter often provides assistance by sharing  
emotional feelings, information, etc. With regard to network function, the Korean tend to form and  
maintain highly homogeneous social networks. In particular, the network of family and the one of school  
friends are more important when a person needs help. In addition, the relation of giving and receiving help  
of the network inside the family is often more asymmetrical than that of the network outside the family.  
Keywords: social network, structural characteristics, functional characteristics  
pdf 16 trang baolam 20560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm mạng lưới xã hội của người Hàn Quốc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_mang_luoi_xa_hoi_cua_nguoi_han_quoc.pdf