Đánh giá thực trạng các hệ thống canh tác và đề xuất các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững cho huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC HỆ THỐNG CANH TÁC  
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU  
SẢN XUẤT THEO HƯỚNG BỀN VỮNG CHO  
HUYỆN TRI TÔN - AN GIANG  
Nguyễn Duy Cần1  
ABSTRACT  
The current status of farming systems was assessed to identify appropriate farming  
systems and subsequently to propose possible solutions for sustaining the production  
systems in Tri Ton district, An Giang province. Participatory rural appraisals (PRA) and  
household structured interviews were applied. Household resources and conditions were  
evaluated and farming systems with high economic return and suitable for local contexts  
were identified. The present study points out sustainable farming systems in the future for  
local farmers.  
Keywords: Participatory rural appraisal (PRA), farming systems, change production  
structure, household interview  
Title: An assessment of the farming systems status and propose solutions for changing  
production structure towards sustainability for Tri Ton district – An Giang  
TÓM TẮT  
Đánh giá thực trạng các hệ thống canh tác được thực hiện tại 4 xã đại diện của huyện Tri  
Tôn, tỉnh An Giang nhằm xác định các mô hình canh tác phù hợp và đề xuất các giải  
pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững. Phương pháp đánh giá nông thôn  
có sự tham gia (PRA) và điều tra phỏng vấn nông hộ được sử dụng để thu thập số liệu sơ  
cấp. Từ kết quả nghiên cứu, các điều kiện và nguồn lực nông hộ được đánh giá; các hệ  
thống canh tác mang lại hiệu quả kinh tế cao và thích hợp với địa phương được xác định.  
Kết quả nghiên cứu cũng đề xuất các hệ thống canh tác bền vững phục vụ cho việc  
chuyển đổi cơ cấu sản xuất tại địa phương.  
Từ khóa: Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), hệ thống canh tác, chuyển đổi cơ  
cấu sản xuất, điều tra phỏng vấn nông hộ  
1 GIỚI THIỆU  
Từ tháng 6 năm 2000, Chính phủ đã có chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất,  
phát huy lợi thế sinh thái vùng nhưng tiến trình thực hiện chuyển đổi nhìn chung  
còn rất chậm. Nhiều địa phương đã cố gắng thực hiện chủ trương chuyển đổi  
nhưng thiếu phương pháp khoa học, dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất kém  
hiệu quả, nông dân gặp nhiều khó khăn hơn trong sản xuất và đời sống. Đặc biệt  
các huyện vùng biên giới đồng bào dân tộc Khmer, việc chuyển đổi cơ cấu sản  
xuất càng chậm hơn. Điều nầy rất cần thiết để nghiên cứu và đề xuất hướng  
chuyển dịch cơ cấu sản xuất hợp lý để phát triển bền vững cả về kinh tế, môi  
trường và ổn định đời sống xã hội. Nghiên cứu nầy góp phần giải quyết yêu cầu về  
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và cải thiện đời sống kinh tế nông dân vùng dân  
1 Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL  
356  
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
tộc ở huyện Tri Tôn của tỉnh An Giang. Nghiên cứu nầy cũng đồng thời làm cơ sở  
khoa học cho việc đề xuất chuyển đổi các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững  
ở huyện Tri Tôn và áp dụng cho các vùng khác có điều kiện tương tự.  
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu nầy được thực hiện theo một tiến trình gồm 3 bước: (1) điều tra, đánh  
giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, và xác định các mô hình canh tác triển  
vọng, (2) thử nghiệm theo dõi các mô hình canh tác triển vọng, và (3) đánh giá và  
đề xuất các phương án phát triển bền vững. Hình 1 trình bày một cách tóm tắt các  
bước nghiên cứu.  
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KTXH,  
HTCT Ở VÙNG NGHIÊN CỨU – XÁC ĐỊNH HTCT  
Khảo sát PRA  
Phỏng vấn nông hộ  
THỬ NGHIỆM VÀ THEO DÕI CÁC HỆ THỐNG  
CANH TÁC TRIỂN VỌNG  
Phân tích kinh tế hộ  
Sử dụng phần mềm Expert Choice  
ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN  
CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN  
Hình 1: Tiến trình nghiên cứu và phương pháp tiếp cận  
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia, trong đó phương pháp đánh giá nông  
thôn có sự tham gia của người dân (PRA – Participatory Rural Appraisal) như  
là công cụ chính yếu để thu thập và phân tích số liệu cho toàn bộ nghiên cứu  
nầy.  
Khảo sát PRA được thực hiện ở 4 xã của huyện Tri Tôn: Lương Phi, Lương An  
Trà, Tân Tuyến và Núi Tô.  
Phương pháp điều tra nông hộ được thực hiện ở giai đoạn đầu của đề tài để  
đánh giá điều kiện tự nhiên, các tiềm năng, các hệ thống canh tác trong vùng  
nghiên cứu. Các nội dung điều tra bao gồm: loại hình sản xuất; mùa vụ; kỹ  
thuật sản xuất; đầu tư: vật tư, lao động, tiền vốn; thu hoạch, chế biến, tiêu thụ;  
hiệu quả sản xuất. Có 100 hộ nông dân được điều tra thu thập thông tin cho  
nghiên cứu nầy.  
Nghiên cứu nầy sử dụng phần mềm hỗ trợ ExpertChoice lựa chọn ưu tiên các  
phương án sản xuất. ExpertChoice là một công cụ hiệu quả giúp các nhà nghiên  
cứu và quản lý nông nghiệp, làm chính sách, cán bộ làm dự án phát triển đánh  
giá và đưa ra quyết định lựa chọn các giải pháp một cách khoa học; thỏa mãn  
nhiều mục tiêu, tiêu chí (hài hòa các yếu tố chính sách, môi trường, kỹ thuật,  
kinh tế-xã hội) (Nguyễn Duy Cần, 2008).  
357  
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1 Tiềm năng về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội  
Bốn xã thuộc huyện Tri Tôn được nghiên cứu là Lương Phi, Lương An Trà, Tân  
Tuyến và Núi Tô. Nhờ địa hình đất đồi núi nên nông nghiệp đa dạng với những  
đặc trưng là cây rừng, cây ăn trái, trong khi đất đồng bằng có nhiều tiềm năng sản  
xuất với nhiều loại cây trồng khác nhau như lúa và các loại rau màu, cây trồng cạn  
(đậu xanh, đậu phộng, bắp, dưa leo). Trong những năm gần đây, người dân đã cải  
tạo và mở rộng diện tích canh tác. Cụ thể diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm  
2005 là 18.631 ha. Dân số vùng nghiên cứu là 30.469 người, trong đó người dân  
tộc Khmer là 4.385 người, chiếm tỷ lệ 14,4%.  
Bảng 1 trình bày số nhân khẩu và số lao động/hộ. Nhìn chung, không có sự chênh  
lệch giữa 4 xã nghiên cứu, trung bình có 5 người/hộ. Số lao động/hộ chiếm tỉ lệ  
cao, trung bình có 3 lao động/hộ.  
Bảng 1: Trung bình số thành viên trong gia đình phân theo nhóm hộ và địa phương năm  
2006  
Hạng mục  
Tổng  
SL  
TB số thành viên/hộ 4,7  
Khá/giàu  
Trung bình  
Nghèo  
%
SL  
%
SL  
%
SL  
4,9  
%
5,3  
4,4  
Núi Tô  
4,8  
4,7  
5,2  
4,3  
5,0  
5,7  
6,3  
4,4  
4,4  
4,4  
4,8  
4,1  
5,2  
4,6  
5,1  
4,7  
Tân Tuyến  
Lương An Trà  
Lương Phi  
Lao động/hộ  
3,2 67,3 4,0 75,8 2,8 63,3 3,1  
63,6  
Núi Tô  
3,1 65,2 3,4 68,6 2,6 58,5 3,7  
3,0 64,5 4,7 82,4 2,3 52,3 3,2  
3,4 65,3 4,8 76,0 3,0 61,9 3,3  
3,2 75,0 3,3 75,5 3,4 82,2 2,3  
70,2  
69,6  
63,9  
50,0  
Tân Tuyến  
Lương An Trà  
Lương Phi  
Qua kết quả điều tra ở Bảng 2 cho thấy độ tuổi của người đứng đầu nông hộ biến  
thiên 35-50 tuổi (chiếm 48%), kế đến là ở độ tuổi từ 51-70 tuổi (34%). Về độ tuổi  
phản ảnh tiềm năng lao động ở vùng nghiên cứu là dồi dào, đáp ứng cho sản xuất  
nông nghiệp.  
Bảng 2: Tỉ lệ (%) tuổi của chủ hộ theo độ tuổi ở các xã năm 2006  
Xã  
Tuổi  
35 -50  
Tổng  
Số mẫu  
23 - 35  
17,9  
21,7  
13,0  
19,2  
51 -70  
39,3  
34,8  
30,4  
30,8  
33,8  
Núi tô  
42,9  
43,5  
56,5  
50,0  
48,2  
100  
100  
100  
100  
100  
28  
23  
24  
26  
101  
Tân Tuyến  
Lương An Trà  
Lương Phi  
Trung bình  
18,0  
358  
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
Bảng 3 cho thấy phần lớn đất đai sử dụng chủ yếu làm đất ruộng và sản xuất nông  
nghiệp trồng lúa là chính. Diện tích đất ruộng trung bình của 4 xã là 2,12 ha, cao  
nhất là 2,73 ha ở xã Lương An Trà và thấp nhất là 1,13 ha ở xã Núi Tô. Nhìn  
chung diện tích đất ruộng của các nông hộ ở mức khá cao do đất ở đây chủ yếu là  
đất đồi núi và dân số thấp so với các vùng khác thuộc đồng bằng.  
Bảng 3: Nguồn lực đất đai (ha) của nông hộ phân theo nhóm hộ và theo xã năm 2006  
Xã  
TB chung  
Nhóm khá  
Nhóm T.Bình  
Nhóm nghèo  
Tổng diện tích  
Đất thổ cư-vườn  
Đất ruộng  
3,22  
0,95  
2,12  
0,15  
2,74  
0,01  
2,63  
0,10  
2,04  
0,091  
1,71  
2,14  
0,091  
2,00  
Đất rừng, khác  
0,24  
0,05  
Về cơ cấu thu nhập của nông hộ, những hoạt động chủ yếu mang lại nguồn thu  
nhập của các nông hộ trong vùng nghiên cứu chủ yếu từ lúa 2 vụ, lúa 3 vụ và các  
hoạt động khác như chăn nuôi, thủy sản ở mức thấp không phải là nguồn thu nhập  
chính. Hầu hết các nông hộ điều tra đều chăn nuôi gia súc hoăc gia cầm nhưng ở  
quy nhỏ (chiếm 70% tổng số hộ phỏng vấn), các nông hộ chăn nuôi cho thu nhập  
chiếm tỷ lệ rất thấp.  
Bảng 4 cho thấy nguồn thu nhập và tổng giá trị thu nhập trung bình của các nông  
hộ tại 4 xã nghiên cứu khoảng hơn 75 triệu đồng/năm. Trong đó, thu nhập từ sản  
xuất lúa là chính chiếm khoảng hơn 78% .  
Bảng 4: Cơ cấu tổng thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp của hộ theo xã năm 2006  
1000 đồng/hộ  
TB  
Giá trị  
Núi tô  
Giá trị  
Tân tuyến  
Giá trị  
L.A.Trà  
Giá trị  
Lương phi  
Nguồn thu  
%
%
%
%
Giá trị  
%
Lúa 3 vụ  
58.752 78 33.293 75 64.550 81  
91972 81  
45.192  
26.260  
1.8931  
0,0  
3.235  
0
73  
42  
30  
0
5
0
-Vụ Đông Xuân 34.146 46 15.493 35 38.346 48 56.488 49  
-Vụ Hè Thu  
-Vụ Thu Đông  
Màu + vườn  
Chăn nuôi  
Thuỷ sản  
23.876 32 14.977 34 26.111 33 35.486 31  
706  
2.977  
979  
1
4
1
3
2.824  
1.482  
0
6
3
0
7
0,0  
0,0  
7
4
0,0  
0
2
1
4
53.67  
2.778  
1.023  
1.823  
1.137  
4.990  
2.293  
3.158  
1
0
0
Khác  
10.056 13 6.398  
14 6.024  
7
1.3889 12  
13.914  
22  
Trung bình  
75.056 100 44.330 100 79.742 100 11.3810 100  
62.339 100  
Tổng thu nhập trung bình giữa các nhóm hộ chênh lệnh nhau khá lớn. Nhóm khá  
giàu có tổng thu nhập trên hộ rất cao là hơn 130 triệu/hộ/năm. Nhóm hộ trung bình  
có tổng thu nhập hơn 50 triệu/năm và nhóm nghèo có tổng thu nhập thấp nhất  
trung bình hơn 35 triệu/hộ/năm.  
Về tích lũy của nông hộ hàng năm, Bảng 5 cho thấy trung bình tích lũy của nông  
hộ hàng năm của các nhóm hộ là hơn 20 triệu/hộ/năm. Trung bình tích lũy của  
359  
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
nhóm hộ giàu là hơn 46 triệu đồng/năm. Tích lũy của nhóm hộ trung bình là 10,5  
triệu/năm, trong khi đó nhóm hộ nghèo trung bình tích lũy rất thấp là 1,3  
triệu/năm. Điều này cho thấy có sự chênh lệch khá lớn giữa các nhóm hộ giàu và  
nghèo.  
Bảng 5: Tích lũy hàng năm của nông hộ theo xã năm 2007  
(1000đ /hộ)  
TB 3 nhóm  
38.913  
8.209  
Núi Tô  
25.620  
Tân Tuyến  
44.109  
9.486  
L.A.Trà  
53.967  
Lương Phi  
31.950  
7.413  
Thu nhập/hộ/năm  
Thu nhập/nhân khẩu/năm  
Thu nhập/nhân khẩu/tháng  
Chi tiêu/hộ/năm  
5.315  
443  
10.439  
870  
684  
791  
618  
18.509  
20.402  
4.304  
14.122  
11.498  
2.386  
19.880  
24.229  
5.211  
20.548  
33.420  
6.464  
20140  
11.811  
2.740  
Tích lũy/hộ/năm  
Tích lũy/nhân khẩu/năm  
3.2 Các mô hình canh tác chính ở huyện Tri Tôn  
Bảng 6 cho thấy trước năm 2000 các nông hộ áp dụng mô hình lúa 2 vụ chiếm tỷ  
lệ cao nhất 43%, kế đến là lúa mùa 35%, mô hình thủy sản hay lúa kết hợp với  
thủy sản chưa phát triển. Từ năm 2000 - 2005 có sự chuyển dịch trong sản xuất,  
mô hình lúa hai vụ tăng lên về diện (chiếm 68,6%), trong khi lúa mùa giảm còn  
12,2%. Năm 2006 diện tích trồng lúa 2 vụ giảm, nhưng không đáng kể diện tích  
vẫn duy trì ở mức khá cao là 67%, lúa mùa giảm còn 10% do các hộ đã chuyển  
sang mô hình xen canh màu và chuyên màu.  
Bảng 6: Tỷ lệ (%) diện tích các mô hình sản xuất của nông hộ tại 4 xã khảo sát năm 2007  
Mô hình sản xuất  
Trước 2000  
2000-2005  
2006  
Lúa mùa  
Lúa 2 vụ  
Lúa màu  
Chuyên màu  
Lúa 3 vụ  
34,93  
43,15  
6,16  
2,74  
0
12,18  
68,59  
3,21  
3,21  
0
10,19  
66,88  
7,01  
4,46  
0
Cây ăn trái  
Cây mì  
Rừng (tre, tràm)  
6,16  
5,48  
1,37  
5,77  
5,77  
1,28  
5,10  
5,10  
1,27  
Hình 2 trình bày cơ cấu mùa vụ chính của các hệ thống canh tác tại vùng nghiên  
cứu huyện Tri Tôn, An Giang. Vụ lúa Đông Xuân từ tháng 11 đến cuối tháng 2  
năm sau, trong khi vụ Hè Thu rất sớm từ giữa tháng 3 đến tháng 7. Lịch thời vụ  
nầy cũng phù hợp với các nghiên cước đây (Võ Văn Hà & Dương Ngọc Thành,  
2005).  
360  
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
Mùa vụ  
Đông Xuân  
Hè Thu  
Hè Thu muộn  
Tháng  
11  
12  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 11 12  
Màu  
1 vụ lúa-  
Lúa  
màu /năm  
2 vụ  
lúa/năm  
Lúa  
Lúa  
Lúa  
Nước lũ trên ruộng  
3 vụ  
lúa/năm  
Lúa  
Lúa  
Nuôi cá vèo trong ruộng/ao  
2 vụ lúa-1  
cá/năm  
Lúa  
Lúa  
Nước lũ trên ruộng  
Lúa  
Kiệu  
Kiệu lúa  
2 vụ lúa-  
màu/năm  
Lúa  
Màu  
Lúa  
Chăn nuôi  
(Bò, heo..)  
Hình 2: Cơ cấu mùa vụ chính của các hệ thống canh tác tại vùng nghiên cứu năm 2006  
3.3 Đánh giá về mặt kinh tế các mô hình canh tác do nông dân thử nghiệm  
Bảng 7: Chỉ tiêu kinh tế các mô hình canh tác năm 2006 – 2007  
(1000đ/ ha)  
Mô hình canh tác  
Danh mục  
Lúa - khoai môn 2 lúa - thủy sản  
Lúa - kiệu  
Lúa - đậu phộng  
48.000  
Tổng thu  
Tổng chi phí  
Vật tư  
54.455  
24.528  
20.015  
4.513  
29.927  
1,39  
201.108  
114.846  
165.460  
152.206  
13.254  
35.648  
0,42  
57.107  
51.012  
6.095  
57.739  
1,01  
18.603  
15.528  
5.250  
29.398  
1,595  
1,895  
5,63  
Lao động  
Lợi nhuận  
Lời/vốn  
Lời/vật tư  
Lời/lao động  
MRCR  
1,69  
0,46  
1,13  
7,36  
4,515  
1,465  
0,465  
9,56  
2,76  
2,15  
2,72  
MRR  
1,76  
1,15  
1,72  
Chú thích: MRCR = (Tỷ số doanh thu trên chi phí biên; (Marginal Revenue Cost Rate); MRR = Tỷ số lợi nhuận biên  
tế; (Marginal Return Rate).  
361  
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
Qua 2 năm theo dõi các mô hình canh tác, kết quả ở Bảng 7 cho thấy rằng tất cả  
các mô hình sản xuất đều đem lại hiệu quả kinh tế cao. Mô hình lúa - đậu phộng có  
chỉ số lợi nhuận cao nhất, tỷ số lợi nhuận biên tế (MRR) là 3,57. Kế đến là mô  
hình lúa - khoai môn cũng cho hiệu quả kinh tế rất cao, thể hiện qua tỷ số lợi  
nhuận biên tế (MRR = 1,82). Tuy nhiên, mô hình này không ổn định, do ảnh  
hường của chi phí sản xuất tăng và giá bán bấp bênh (giá khoai môn giảm năm  
2007). Mô hình lúa cao sản - kiệu đạt hiệu quả kinh tế tương đối cao với tỉ suất lợi  
nhuận là MRR = 1,17. Chi phí sản xuất của mô hình này tương đối cao, điều này là  
một bất lợi cho những hộ sản xuất có ít vốn. Ở mô hình lúa 2 vụ - thủy sản mùa lũ  
là một hướng phát triển mới có tiềm năng về lợi ích kinh tế cao nhưng đòi hỏi vốn  
đầu tư lớn. Do vậy, yếu tố quản lý rất cần thiết để tính toán, tiết kiệm chi phí và  
chọn loại thủy sản phù hợp để mô hình có hiệu quả tối ưu. Đây là mô hình có tiềm  
năng cao do tận dụng được diện tích mặt nước ruộng trong mùa lũ để sản xuất, góp  
phần vào thu nhập của nông hộ đồng thời cải thiện phì nhiêu đất.  
3.4 Đề xuất các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững  
Phần mềm hỗ trợ quyết định ExpertChoice được sử dụng để đánh giá và đề xuất  
các phương án cũng như mô hình canh tác thích hợp cho vùng nghiên cứu Tri Tôn.  
Bốn hệ thống canh tác được đánh giá ưu tiên theo hướng bền vững theo thứ tự như  
sau: (1) hệ thống 1 lúa - màu (đậu phọng), (2) hệ thống 2 lúa - màu, (3) hệ thống 2  
màu - lúa, và (4) chuyên màu. Điều nầy phù hợp với thực tế, chính sách địa  
phương, sự thích nghi với điều kiện đất đai (Nguyễn Văn Minh và ctv., 2008a, b).  
Khi phân tích tính nhạy cảm, hay phân tích các phương án phát triển khác nhau,  
nếu mục tiêu là ưu tiên chọn các hệ thống canh tác (HTCT) mang lại hiệu quả kinh  
tế cao, kết quả các mô hình chọn theo phương án nầy là: (1) chuyên màu, (2) 2  
màu - 1 lúa, (3) 1 lúa - 1 màu (Hình 3 & 4). Những phân tích như vậy cho phép  
nhà làm chính sách, cán bộ quản lý nông nghiệp địa phương dễ dàng đưa ra quyết  
định và lựa chọn ưu tiên một cách khoa học.  
Hình 3: Biểu đồ chỉ thứ tự ưu tiên các hệ thống canh tác theo hướng ưu tiên thỏa mãn tất cả  
các tiêu chí xem xét  
362  
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
Hình 4: Biểu đồ chỉ thứ tự ưu tiên các hệ thống canh tác theo hướng ưu tiên mang lại hiệu  
quả kinh tế cao cho vùng ruộng trên, Tri Tôn  
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ  
Đa số nông hộ ở vùng nghiên cứu có diện tích đất canh tác khá lớn, trung bình  
3 ha/hộ. Thu nhập bình quân của hộ khoảng 75 triệu đồng/năm. Nông hộ nghèo  
có thu nhập rất thấp, phản ánh khoảng cách lớn giữa nhóm hộ giàu và nghèo.  
Nguồn thu nhập chính của nông hộ vùng nghiên cứu là từ sản xuất lúa, chiếm  
tỷ trọng 45% của tổng số nguồn thu.  
Kết quả hai năm theo dõi các mô hình triển vọng tại huyện Tri Tôn cho thấy có  
sự ổn định về lợi nhuận, hiệu quả cao.  
Thứ tự ưu tiên các mô hình đề xuất cho chuyển đổi ở các vùng sinh thái ruộng  
trên huyện Tri Tôn: (1) hệ thống 1 lúa - màu (đậu phọng), (2) hệ thống 2 lúa -  
màu, (3) hệ thống 2 màu - lúa, và (4) chuyên màu. Vùng sinh thái ruộng bưng  
huyện Tri Tôn: (1) hệ thống 1 lúa - 1 màu (kiệu), (2) hệ thống 2 lúa - thủy sản,  
(3) hệ thống 2 lúa (xả lũ), (4) 2 lúa màu, và (5) 2 màu - lúa.  
Từ kết quả nghiên cứu trên và dựa vào các đề nghị của người dân, các hệ thống  
1 lúa - màu (đậu phọng) ở vùng ruộng trên, và hệ thống 2 lúa - màu, 2 lúa -  
thủy sản ở ruộng bưng được đề nghị phổ biến rộng rãi cho sản xuất.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Niên giám thống kê huyện Tri Tôn, 2005. Phòng Thống Kê huyện Tri Tôn.  
Nguyễn Văn Minh, Võ Tòng Xuân và Nguyễn Tri Khiêm. 2008a. Hiệu quả kinh tế cây đậu  
xanh trong hệ thống luân canh với lúa vùng núi dài An Giang. Tạp chí Khoa học Đại học  
Cần Thơ. (09): 119-127.  
363  
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364  
Trường Đại học Cần Thơ  
Nguyễn Văn Minh, Võ Tòng Xuân và Nguyễn Tri Khiêm. 2008b. Hiệu quả bón phân bò trên  
lúa AG24 và đậu xanh ở Bảy Núi, An Giang. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ. (09):  
109-1118.  
Nguyễn Duy Cần, 2008. Nghiên cứu đánh giá thực trạng các hệ thống canh tác và đề xuất các  
giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững cho các huyện biên giới Tây  
Nam Bộ: Trường hợp huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, An Giang. Đề tài cấp Bộ, B2006-16-  
40.  
Võ văn Hà và Dương Ngọc Thành. 2005. Tổng kết và thực nghiệm mô hình canh tác trong  
mùa lũ, tỉnh An Giang. Đề tài cấp tỉnh. An Giang 2005.  
364  
pdf 9 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 17760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng các hệ thống canh tác và đề xuất các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững cho huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_thuc_trang_cac_he_thong_canh_tac_va_de_xuat_cac_gia.pdf