Đánh giá thực trạng các hệ thống canh tác và đề xuất các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững cho huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC HỆ THỐNG CANH TÁC
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU
SẢN XUẤT THEO HƯỚNG BỀN VỮNG CHO
HUYỆN TRI TÔN - AN GIANG
Nguyễn Duy Cần1
ABSTRACT
The current status of farming systems was assessed to identify appropriate farming
systems and subsequently to propose possible solutions for sustaining the production
systems in Tri Ton district, An Giang province. Participatory rural appraisals (PRA) and
household structured interviews were applied. Household resources and conditions were
evaluated and farming systems with high economic return and suitable for local contexts
were identified. The present study points out sustainable farming systems in the future for
local farmers.
Keywords: Participatory rural appraisal (PRA), farming systems, change production
structure, household interview
Title: An assessment of the farming systems status and propose solutions for changing
production structure towards sustainability for Tri Ton district – An Giang
TÓM TẮT
Đánh giá thực trạng các hệ thống canh tác được thực hiện tại 4 xã đại diện của huyện Tri
Tôn, tỉnh An Giang nhằm xác định các mô hình canh tác phù hợp và đề xuất các giải
pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững. Phương pháp đánh giá nông thôn
có sự tham gia (PRA) và điều tra phỏng vấn nông hộ được sử dụng để thu thập số liệu sơ
cấp. Từ kết quả nghiên cứu, các điều kiện và nguồn lực nông hộ được đánh giá; các hệ
thống canh tác mang lại hiệu quả kinh tế cao và thích hợp với địa phương được xác định.
Kết quả nghiên cứu cũng đề xuất các hệ thống canh tác bền vững phục vụ cho việc
chuyển đổi cơ cấu sản xuất tại địa phương.
Từ khóa: Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), hệ thống canh tác, chuyển đổi cơ
cấu sản xuất, điều tra phỏng vấn nông hộ
1 GIỚI THIỆU
Từ tháng 6 năm 2000, Chính phủ đã có chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất,
phát huy lợi thế sinh thái vùng nhưng tiến trình thực hiện chuyển đổi nhìn chung
còn rất chậm. Nhiều địa phương đã cố gắng thực hiện chủ trương chuyển đổi
nhưng thiếu phương pháp khoa học, dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất kém
hiệu quả, nông dân gặp nhiều khó khăn hơn trong sản xuất và đời sống. Đặc biệt
các huyện vùng biên giới đồng bào dân tộc Khmer, việc chuyển đổi cơ cấu sản
xuất càng chậm hơn. Điều nầy rất cần thiết để nghiên cứu và đề xuất hướng
chuyển dịch cơ cấu sản xuất hợp lý để phát triển bền vững cả về kinh tế, môi
trường và ổn định đời sống xã hội. Nghiên cứu nầy góp phần giải quyết yêu cầu về
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và cải thiện đời sống kinh tế nông dân vùng dân
1 Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL
356
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
tộc ở huyện Tri Tôn của tỉnh An Giang. Nghiên cứu nầy cũng đồng thời làm cơ sở
khoa học cho việc đề xuất chuyển đổi các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững
ở huyện Tri Tôn và áp dụng cho các vùng khác có điều kiện tương tự.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu nầy được thực hiện theo một tiến trình gồm 3 bước: (1) điều tra, đánh
giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, và xác định các mô hình canh tác triển
vọng, (2) thử nghiệm theo dõi các mô hình canh tác triển vọng, và (3) đánh giá và
đề xuất các phương án phát triển bền vững. Hình 1 trình bày một cách tóm tắt các
bước nghiên cứu.
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KTXH,
HTCT Ở VÙNG NGHIÊN CỨU – XÁC ĐỊNH HTCT
Khảo sát PRA
Phỏng vấn nông hộ
THỬ NGHIỆM VÀ THEO DÕI CÁC HỆ THỐNG
CANH TÁC TRIỂN VỌNG
Phân tích kinh tế hộ
Sử dụng phần mềm Expert Choice
ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN
Hình 1: Tiến trình nghiên cứu và phương pháp tiếp cận
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia, trong đó phương pháp đánh giá nông
thôn có sự tham gia của người dân (PRA – Participatory Rural Appraisal) như
là công cụ chính yếu để thu thập và phân tích số liệu cho toàn bộ nghiên cứu
nầy.
Khảo sát PRA được thực hiện ở 4 xã của huyện Tri Tôn: Lương Phi, Lương An
Trà, Tân Tuyến và Núi Tô.
Phương pháp điều tra nông hộ được thực hiện ở giai đoạn đầu của đề tài để
đánh giá điều kiện tự nhiên, các tiềm năng, các hệ thống canh tác trong vùng
nghiên cứu. Các nội dung điều tra bao gồm: loại hình sản xuất; mùa vụ; kỹ
thuật sản xuất; đầu tư: vật tư, lao động, tiền vốn; thu hoạch, chế biến, tiêu thụ;
hiệu quả sản xuất. Có 100 hộ nông dân được điều tra thu thập thông tin cho
nghiên cứu nầy.
Nghiên cứu nầy sử dụng phần mềm hỗ trợ ExpertChoice lựa chọn ưu tiên các
phương án sản xuất. ExpertChoice là một công cụ hiệu quả giúp các nhà nghiên
cứu và quản lý nông nghiệp, làm chính sách, cán bộ làm dự án phát triển đánh
giá và đưa ra quyết định lựa chọn các giải pháp một cách khoa học; thỏa mãn
nhiều mục tiêu, tiêu chí (hài hòa các yếu tố chính sách, môi trường, kỹ thuật,
kinh tế-xã hội) (Nguyễn Duy Cần, 2008).
357
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tiềm năng về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Bốn xã thuộc huyện Tri Tôn được nghiên cứu là Lương Phi, Lương An Trà, Tân
Tuyến và Núi Tô. Nhờ địa hình đất đồi núi nên nông nghiệp đa dạng với những
đặc trưng là cây rừng, cây ăn trái, trong khi đất đồng bằng có nhiều tiềm năng sản
xuất với nhiều loại cây trồng khác nhau như lúa và các loại rau màu, cây trồng cạn
(đậu xanh, đậu phộng, bắp, dưa leo). Trong những năm gần đây, người dân đã cải
tạo và mở rộng diện tích canh tác. Cụ thể diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm
2005 là 18.631 ha. Dân số vùng nghiên cứu là 30.469 người, trong đó người dân
tộc Khmer là 4.385 người, chiếm tỷ lệ 14,4%.
Bảng 1 trình bày số nhân khẩu và số lao động/hộ. Nhìn chung, không có sự chênh
lệch giữa 4 xã nghiên cứu, trung bình có 5 người/hộ. Số lao động/hộ chiếm tỉ lệ
cao, trung bình có 3 lao động/hộ.
Bảng 1: Trung bình số thành viên trong gia đình phân theo nhóm hộ và địa phương năm
2006
Hạng mục
Tổng
SL
TB số thành viên/hộ 4,7
Khá/giàu
Trung bình
Nghèo
%
SL
%
SL
%
SL
4,9
%
5,3
4,4
Núi Tô
4,8
4,7
5,2
4,3
5,0
5,7
6,3
4,4
4,4
4,4
4,8
4,1
5,2
4,6
5,1
4,7
Tân Tuyến
Lương An Trà
Lương Phi
Lao động/hộ
3,2 67,3 4,0 75,8 2,8 63,3 3,1
63,6
3,0 64,5 4,7 82,4 2,3 52,3 3,2
3,4 65,3 4,8 76,0 3,0 61,9 3,3
3,2 75,0 3,3 75,5 3,4 82,2 2,3
69,6
63,9
50,0
Tân Tuyến
Lương An Trà
Lương Phi
Qua kết quả điều tra ở Bảng 2 cho thấy độ tuổi của người đứng đầu nông hộ biến
thiên 35-50 tuổi (chiếm 48%), kế đến là ở độ tuổi từ 51-70 tuổi (34%). Về độ tuổi
phản ảnh tiềm năng lao động ở vùng nghiên cứu là dồi dào, đáp ứng cho sản xuất
nông nghiệp.
Bảng 2: Tỉ lệ (%) tuổi của chủ hộ theo độ tuổi ở các xã năm 2006
Xã
35 -50
Tổng
Số mẫu
23 - 35
17,9
21,7
13,0
19,2
51 -70
39,3
34,8
30,4
30,8
33,8
Núi tô
42,9
43,5
56,5
50,0
48,2
100
100
100
100
100
28
23
24
26
101
Tân Tuyến
Lương An Trà
Lương Phi
Trung bình
18,0
358
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
Bảng 3 cho thấy phần lớn đất đai sử dụng chủ yếu làm đất ruộng và sản xuất nông
nghiệp trồng lúa là chính. Diện tích đất ruộng trung bình của 4 xã là 2,12 ha, cao
nhất là 2,73 ha ở xã Lương An Trà và thấp nhất là 1,13 ha ở xã Núi Tô. Nhìn
chung diện tích đất ruộng của các nông hộ ở mức khá cao do đất ở đây chủ yếu là
đất đồi núi và dân số thấp so với các vùng khác thuộc đồng bằng.
Bảng 3: Nguồn lực đất đai (ha) của nông hộ phân theo nhóm hộ và theo xã năm 2006
Xã
TB chung
Nhóm khá
Nhóm T.Bình
Nhóm nghèo
Tổng diện tích
Đất thổ cư-vườn
Đất ruộng
3,22
0,95
2,12
0,15
2,74
0,01
2,63
0,10
2,04
0,091
1,71
2,14
0,091
2,00
Đất rừng, khác
0,24
0,05
Về cơ cấu thu nhập của nông hộ, những hoạt động chủ yếu mang lại nguồn thu
nhập của các nông hộ trong vùng nghiên cứu chủ yếu từ lúa 2 vụ, lúa 3 vụ và các
hoạt động khác như chăn nuôi, thủy sản ở mức thấp không phải là nguồn thu nhập
chính. Hầu hết các nông hộ điều tra đều chăn nuôi gia súc hoăc gia cầm nhưng ở
quy nhỏ (chiếm 70% tổng số hộ phỏng vấn), các nông hộ chăn nuôi cho thu nhập
chiếm tỷ lệ rất thấp.
Bảng 4 cho thấy nguồn thu nhập và tổng giá trị thu nhập trung bình của các nông
hộ tại 4 xã nghiên cứu khoảng hơn 75 triệu đồng/năm. Trong đó, thu nhập từ sản
xuất lúa là chính chiếm khoảng hơn 78% .
Bảng 4: Cơ cấu tổng thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp của hộ theo xã năm 2006
1000 đồng/hộ
TB
Giá trị
Núi tô
Giá trị
Tân tuyến
Giá trị
L.A.Trà
Giá trị
Lương phi
Nguồn thu
%
%
%
%
Giá trị
%
Lúa 3 vụ
58.752 78 33.293 75 64.550 81
91972 81
45.192
26.260
1.8931
0,0
3.235
0
73
42
30
0
5
0
-Vụ Đông Xuân 34.146 46 15.493 35 38.346 48 56.488 49
-Vụ Hè Thu
-Vụ Thu Đông
Màu + vườn
Chăn nuôi
Thuỷ sản
23.876 32 14.977 34 26.111 33 35.486 31
706
2.977
979
1
4
1
3
2.824
1.482
0
6
3
0
7
0,0
0,0
7
4
0,0
0
2
1
4
53.67
2.778
1.023
1.823
1.137
4.990
2.293
3.158
1
0
0
Khác
10.056 13 6.398
14 6.024
7
1.3889 12
13.914
22
Trung bình
75.056 100 44.330 100 79.742 100 11.3810 100
62.339 100
Tổng thu nhập trung bình giữa các nhóm hộ chênh lệnh nhau khá lớn. Nhóm khá
giàu có tổng thu nhập trên hộ rất cao là hơn 130 triệu/hộ/năm. Nhóm hộ trung bình
có tổng thu nhập hơn 50 triệu/năm và nhóm nghèo có tổng thu nhập thấp nhất
trung bình hơn 35 triệu/hộ/năm.
Về tích lũy của nông hộ hàng năm, Bảng 5 cho thấy trung bình tích lũy của nông
hộ hàng năm của các nhóm hộ là hơn 20 triệu/hộ/năm. Trung bình tích lũy của
359
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
nhóm hộ giàu là hơn 46 triệu đồng/năm. Tích lũy của nhóm hộ trung bình là 10,5
triệu/năm, trong khi đó nhóm hộ nghèo trung bình tích lũy rất thấp là 1,3
triệu/năm. Điều này cho thấy có sự chênh lệch khá lớn giữa các nhóm hộ giàu và
nghèo.
Bảng 5: Tích lũy hàng năm của nông hộ theo xã năm 2007
(1000đ /hộ)
TB 3 nhóm
38.913
8.209
Núi Tô
25.620
Tân Tuyến
44.109
9.486
L.A.Trà
53.967
Lương Phi
31.950
7.413
Thu nhập/hộ/năm
Thu nhập/nhân khẩu/năm
Thu nhập/nhân khẩu/tháng
Chi tiêu/hộ/năm
5.315
443
10.439
870
684
791
618
18.509
20.402
4.304
14.122
11.498
2.386
19.880
24.229
5.211
20.548
33.420
6.464
20140
11.811
2.740
Tích lũy/hộ/năm
Tích lũy/nhân khẩu/năm
3.2 Các mô hình canh tác chính ở huyện Tri Tôn
Bảng 6 cho thấy trước năm 2000 các nông hộ áp dụng mô hình lúa 2 vụ chiếm tỷ
lệ cao nhất 43%, kế đến là lúa mùa 35%, mô hình thủy sản hay lúa kết hợp với
thủy sản chưa phát triển. Từ năm 2000 - 2005 có sự chuyển dịch trong sản xuất,
mô hình lúa hai vụ tăng lên về diện (chiếm 68,6%), trong khi lúa mùa giảm còn
12,2%. Năm 2006 diện tích trồng lúa 2 vụ giảm, nhưng không đáng kể diện tích
vẫn duy trì ở mức khá cao là 67%, lúa mùa giảm còn 10% do các hộ đã chuyển
sang mô hình xen canh màu và chuyên màu.
Bảng 6: Tỷ lệ (%) diện tích các mô hình sản xuất của nông hộ tại 4 xã khảo sát năm 2007
Mô hình sản xuất
Trước 2000
2000-2005
2006
Lúa mùa
Lúa 2 vụ
Lúa màu
Chuyên màu
Lúa 3 vụ
34,93
43,15
6,16
2,74
0
12,18
68,59
3,21
3,21
0
10,19
66,88
7,01
4,46
0
Cây ăn trái
Cây mì
Rừng (tre, tràm)
6,16
5,48
1,37
5,77
5,77
1,28
5,10
5,10
1,27
Hình 2 trình bày cơ cấu mùa vụ chính của các hệ thống canh tác tại vùng nghiên
cứu huyện Tri Tôn, An Giang. Vụ lúa Đông Xuân từ tháng 11 đến cuối tháng 2
năm sau, trong khi vụ Hè Thu rất sớm từ giữa tháng 3 đến tháng 7. Lịch thời vụ
nầy cũng phù hợp với các nghiên cước đây (Võ Văn Hà & Dương Ngọc Thành,
2005).
360
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
Mùa vụ
Đông Xuân
Hè Thu
Hè Thu muộn
Tháng
11
12
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 11 12
Màu
1 vụ lúa-
Lúa
màu /năm
2 vụ
lúa/năm
Lúa
Lúa
Lúa
Nước lũ trên ruộng
3 vụ
lúa/năm
Lúa
Lúa
Nuôi cá vèo trong ruộng/ao
2 vụ lúa-1
cá/năm
Lúa
Lúa
Nước lũ trên ruộng
Lúa
Kiệu
Kiệu lúa
2 vụ lúa-
màu/năm
Lúa
Màu
Lúa
Chăn nuôi
(Bò, heo..)
Hình 2: Cơ cấu mùa vụ chính của các hệ thống canh tác tại vùng nghiên cứu năm 2006
3.3 Đánh giá về mặt kinh tế các mô hình canh tác do nông dân thử nghiệm
Bảng 7: Chỉ tiêu kinh tế các mô hình canh tác năm 2006 – 2007
(1000đ/ ha)
Mô hình canh tác
Danh mục
Lúa - khoai môn 2 lúa - thủy sản
Lúa - kiệu
Lúa - đậu phộng
48.000
Tổng thu
Tổng chi phí
Vật tư
54.455
24.528
20.015
4.513
29.927
1,39
201.108
114.846
165.460
152.206
13.254
35.648
0,42
57.107
51.012
6.095
57.739
1,01
18.603
15.528
5.250
29.398
1,595
1,895
5,63
Lao động
Lợi nhuận
Lời/vốn
Lời/vật tư
Lời/lao động
MRCR
1,69
0,46
1,13
7,36
4,515
1,465
0,465
9,56
2,76
2,15
2,72
MRR
1,76
1,15
1,72
Chú thích: MRCR = (Tỷ số doanh thu trên chi phí biên; (Marginal Revenue Cost Rate); MRR = Tỷ số lợi nhuận biên
tế; (Marginal Return Rate).
361
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
Qua 2 năm theo dõi các mô hình canh tác, kết quả ở Bảng 7 cho thấy rằng tất cả
các mô hình sản xuất đều đem lại hiệu quả kinh tế cao. Mô hình lúa - đậu phộng có
chỉ số lợi nhuận cao nhất, tỷ số lợi nhuận biên tế (MRR) là 3,57. Kế đến là mô
hình lúa - khoai môn cũng cho hiệu quả kinh tế rất cao, thể hiện qua tỷ số lợi
nhuận biên tế (MRR = 1,82). Tuy nhiên, mô hình này không ổn định, do ảnh
hường của chi phí sản xuất tăng và giá bán bấp bênh (giá khoai môn giảm năm
2007). Mô hình lúa cao sản - kiệu đạt hiệu quả kinh tế tương đối cao với tỉ suất lợi
nhuận là MRR = 1,17. Chi phí sản xuất của mô hình này tương đối cao, điều này là
một bất lợi cho những hộ sản xuất có ít vốn. Ở mô hình lúa 2 vụ - thủy sản mùa lũ
là một hướng phát triển mới có tiềm năng về lợi ích kinh tế cao nhưng đòi hỏi vốn
đầu tư lớn. Do vậy, yếu tố quản lý rất cần thiết để tính toán, tiết kiệm chi phí và
chọn loại thủy sản phù hợp để mô hình có hiệu quả tối ưu. Đây là mô hình có tiềm
năng cao do tận dụng được diện tích mặt nước ruộng trong mùa lũ để sản xuất, góp
phần vào thu nhập của nông hộ đồng thời cải thiện phì nhiêu đất.
3.4 Đề xuất các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững
Phần mềm hỗ trợ quyết định ExpertChoice được sử dụng để đánh giá và đề xuất
các phương án cũng như mô hình canh tác thích hợp cho vùng nghiên cứu Tri Tôn.
Bốn hệ thống canh tác được đánh giá ưu tiên theo hướng bền vững theo thứ tự như
sau: (1) hệ thống 1 lúa - màu (đậu phọng), (2) hệ thống 2 lúa - màu, (3) hệ thống 2
màu - lúa, và (4) chuyên màu. Điều nầy phù hợp với thực tế, chính sách địa
phương, sự thích nghi với điều kiện đất đai (Nguyễn Văn Minh và ctv., 2008a, b).
Khi phân tích tính nhạy cảm, hay phân tích các phương án phát triển khác nhau,
nếu mục tiêu là ưu tiên chọn các hệ thống canh tác (HTCT) mang lại hiệu quả kinh
tế cao, kết quả các mô hình chọn theo phương án nầy là: (1) chuyên màu, (2) 2
màu - 1 lúa, (3) 1 lúa - 1 màu (Hình 3 & 4). Những phân tích như vậy cho phép
nhà làm chính sách, cán bộ quản lý nông nghiệp địa phương dễ dàng đưa ra quyết
định và lựa chọn ưu tiên một cách khoa học.
Hình 3: Biểu đồ chỉ thứ tự ưu tiên các hệ thống canh tác theo hướng ưu tiên thỏa mãn tất cả
các tiêu chí xem xét
362
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
Hình 4: Biểu đồ chỉ thứ tự ưu tiên các hệ thống canh tác theo hướng ưu tiên mang lại hiệu
quả kinh tế cao cho vùng ruộng trên, Tri Tôn
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Đa số nông hộ ở vùng nghiên cứu có diện tích đất canh tác khá lớn, trung bình
3 ha/hộ. Thu nhập bình quân của hộ khoảng 75 triệu đồng/năm. Nông hộ nghèo
có thu nhập rất thấp, phản ánh khoảng cách lớn giữa nhóm hộ giàu và nghèo.
Nguồn thu nhập chính của nông hộ vùng nghiên cứu là từ sản xuất lúa, chiếm
tỷ trọng 45% của tổng số nguồn thu.
Kết quả hai năm theo dõi các mô hình triển vọng tại huyện Tri Tôn cho thấy có
sự ổn định về lợi nhuận, hiệu quả cao.
Thứ tự ưu tiên các mô hình đề xuất cho chuyển đổi ở các vùng sinh thái ruộng
trên huyện Tri Tôn: (1) hệ thống 1 lúa - màu (đậu phọng), (2) hệ thống 2 lúa -
màu, (3) hệ thống 2 màu - lúa, và (4) chuyên màu. Vùng sinh thái ruộng bưng
huyện Tri Tôn: (1) hệ thống 1 lúa - 1 màu (kiệu), (2) hệ thống 2 lúa - thủy sản,
(3) hệ thống 2 lúa (xả lũ), (4) 2 lúa màu, và (5) 2 màu - lúa.
Từ kết quả nghiên cứu trên và dựa vào các đề nghị của người dân, các hệ thống
1 lúa - màu (đậu phọng) ở vùng ruộng trên, và hệ thống 2 lúa - màu, 2 lúa -
thủy sản ở ruộng bưng được đề nghị phổ biến rộng rãi cho sản xuất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Niên giám thống kê huyện Tri Tôn, 2005. Phòng Thống Kê huyện Tri Tôn.
Nguyễn Văn Minh, Võ Tòng Xuân và Nguyễn Tri Khiêm. 2008a. Hiệu quả kinh tế cây đậu
xanh trong hệ thống luân canh với lúa vùng núi dài An Giang. Tạp chí Khoa học Đại học
Cần Thơ. (09): 119-127.
363
Tạp chí Khoa học 2009: 12 356-364
Trường Đại học Cần Thơ
Nguyễn Văn Minh, Võ Tòng Xuân và Nguyễn Tri Khiêm. 2008b. Hiệu quả bón phân bò trên
lúa AG24 và đậu xanh ở Bảy Núi, An Giang. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ. (09):
109-1118.
Nguyễn Duy Cần, 2008. Nghiên cứu đánh giá thực trạng các hệ thống canh tác và đề xuất các
giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững cho các huyện biên giới Tây
Nam Bộ: Trường hợp huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, An Giang. Đề tài cấp Bộ, B2006-16-
40.
Võ văn Hà và Dương Ngọc Thành. 2005. Tổng kết và thực nghiệm mô hình canh tác trong
mùa lũ, tỉnh An Giang. Đề tài cấp tỉnh. An Giang 2005.
364
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng các hệ thống canh tác và đề xuất các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững cho huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_thuc_trang_cac_he_thong_canh_tac_va_de_xuat_cac_gia.pdf

