Giáo trình môn Công tác xã hội với người khuyết tật

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH  
GIÁO TRÌNH  
MÔ ĐUN: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT  
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG NGHỀ  
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCDCGNB ngày…….tháng….năm 2017  
của Hiệu trưởng Trường cao đẳng Cơ giới Ninh Bình  
Ninh Bình, năm 2017  
1
 
LỜI GIỚI THIỆU  
Nước ta trong những năm qua vào thời kỳ công cuộc đổi mới đã đạt được  
nhiều thành tựu to lớn. Trong đó, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến các vấn  
đề xã hội với mục tiêu xuyên suốt từ chủ trương, chính sách đối với hoạt động  
xã hội mà cụ thể là chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người với tư  
cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Trong đó vấn  
đề trợ giúp cho người khuyết tật là một trong những vấn đề hết sức quan trọng  
và cần thiết cả trong hiện tại và tương lai sau này. Với những đặc thù riêng của  
mình , người khuyết tật là nhóm người bị thiệt thòi, yếu thế trong xã hội, khả  
năng tiếp cận với các dịch vụ phúc lợi công cộng và nhất là cơ hội tìm kiếm việc  
làm còn hạn chế, đời sống luôn luôn bị mặc cảm về mặt tâm lý, trạng thái cũng  
như tinh thần.  
Môn học Công tác xã hội đối với người khuyết tật được biên soạn theo  
chương trình dạy nghề trình độ Cao đẳng nghề Công tác xã hội của Trường Cao  
đẳng nghề Cơ Giới Ninh Bình, gồm 5 bài do nhóm giáo viên khoa sư phạm kỹ  
thuật biên soạn.  
Bài 1: kiến thức chung về tàn tật và người khuyết tật  
Bài 2: công tác hỗ trợ người khuyết tật  
Bài 3: kỹ năng công tác xã hội với người khuyết tật  
Bài 4: các hoạt động hoà nhập cộng đồng cho người khuyết tật  
Bài 5: các tổ chức của người khuyết tật  
Giáo trình Công tác xã hội đối với người khuyết tật đã được Hội đồng  
thẩm định Trường Cao đẳng nghề Cơ Giới Ninh Bình xét duyệt.  
Tuy nhiên trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những sai sót, rất  
mong được sự đóng góp quý báu chân thành của bạn đọc.  
…............, ngày…..........tháng…........... năm……  
Tham gia biên soạn:  
1. Chủ biên Vũ Ánh Dương  
2. Lê Hùng Cường  
2
MỤC LỤC  
Trang  
3
 
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN  
Tên mô đun: Công tác xã hội với người khuyết tật  
Mã mô đun: MĐ29  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun:  
- Vị trí: Công tác xã hội với người khuyết tật là mô đun chuyên môn nghề  
quan trọng của chương trình đạo tạo nghề công tác xã hội, liên quan tới các hoạt  
động cung cấp dịch vụ cho đối tượng.  
- Tính chất: Là mô đun lý thuyết chuyên môn nghề bắt buộc.  
Mục tiêu của mô đun:  
- Về kiến thức:  
+ Trình bày được khái niệm, phân dạng các loại khuyết tật;  
+ Trình bày được đặc điểm tâm lý, nguyên nhân và hậu quả của tàn tật,  
các biện pháp hỗ trợ người khuyết tật.  
- Về kỹ năng:  
+ Giao tiếp được với người khuyết tật theo dạng tật;  
+ Tổ chức, hỗ trợ được người khuyết tật về việc làm, về giáo dục và y tế;  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tôn trọng, chia sẻ, cảm thông với  
người khuyết tật, tích cực ủng hộ, tổ chức các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật.  
Nội dung của mô đun:  
Bài 1: Kiến thức chung về tàn tật và người khuyết tật  
Mã bài: MĐ29_B01  
Giới thiệu: Giới thiệu các kiến thức chung về tàn tật, người khuyết tật, các khái  
niệm, phân dạng và đặc điểm tâm lý.  
Mục tiêu:  
- Về kiến thức: Trình bày được khái niệm, phân dạng tàn tật, nguyên nhân  
và hậu quả của tàn tật  
- Về kỹ năng: Truyền thông vận động cộng đồng phòng ngừa tàn tật  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Cảm thông, chia sẻ với những khó  
khăn của người khuyết tật trong hòa nhập cộng đồng.  
Nội dung chính:  
1. Khái niệm, phân dạng tàn tật  
Vấn đề đưa ra khái niệm như thế nào là người khuyết tật nó quyết định  
đến số lượng, đặc điểm và các giải pháp đề ra. Tuy nhiên ở nước ta tại thời điểm  
hiện nay do cách tiếp cận khác nhau nên cũng nhiều khái niệm khác nhau.  
4
   
* Bộ Y tế: Người khuyết tật là người có khuyết tật thể hiện những dối  
loạn tâm sinh lý hoặc một chức năng nào đó của con người như nghe, nhìn, vận  
động, thần kinh…  
* Bộ Lao động Thương binh và Xã hội: Người khuyết tật là người có  
khuyết tật, không có khả năng tự nuôi sống bản thân phải dựa vào cộng đồng,  
người thân và trợ giúp của Nhà nước.  
* Pháp lệnh Người tàn tật: Người khuyết tật là ngươì không phân biệt  
nguồn gốc sinh ra khuyết tật, là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận  
của cơ thể hay chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm  
khả năng lao động, khiến cho sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn.  
* Tàn tật: là sự mất mát, thiệt thòi phải chịu đựng do khuyết tật hay do  
mất khả năng khiến họ không thực hiện được một phần hay toàn bộ công việc  
như người bình thường (có xét tới tuổi tác, giới tính, các yếu tố văn hoá và hoàn  
cảnh xã hội).  
* Thông qua các khái niệm trên rút ra đặc điểm chung:  
- Người khuyết tật là người thiếu, hỏng hoặc không bình thường về thể  
lực, trí lực, hoặc thẩm mỹ cơ thể.  
- Người khuyết tật là người giảm hoặc mất khả năng thực hiện những  
chức năng bình thường của cơ thể trong cuộc sống, trong lao động, trong học tập  
hoặc do những mặc cảm tâm lý gây ra.  
Sự khuyết tật có thể được phân loại theo các loại hình sau:  
- Vật lý  
- Các giác quan ( nghe/nhìn)  
- Trí tuệ  
- Tâm lý  
* Có nhiều cấp độ của khuyết tật  
- Nhẹ: Cá nhân có thể yêu cầu ít hoặc không cần yêu cầu giúp đỡ để thực  
hiện một hành vi cụ thể nào đó.  
- Trung bình: Người đó cần một sự giúp đỡ nhỏ để thực hiện các hành vi  
thông thường.  
- Cao: Cá nhân đó cần sự giúp đỡ đáng kể trong mọi hoạt động thường nhật.  
Đại đa số người trong xã hội thường cảm thấy không có thái độ hợp tác  
với người khuyết tật đặc biệt là trong lĩnh vực tạo việc làm vì họ cho rằng người  
khuyết tật không thể làm việc bình thường và hiệu quả như những người bình  
thường khác. Vì vậy việc giúp đỡ người khuyết tật còn gặp nhiều rào cản, khó  
5
khăn, cần tìm ra các giải pháp hỗ trợ hiệu quả để giúp người khuyết tật tìm được  
việc làm, cảm thấy có ích cho gia đình, xã hội và tìm được niềm vui trong cuộc  
sống, tạo cho họ một việc làm phù hợp với khả năng để họ có thể tự nuôi sống  
bản thân và gia đình.  
2. Nguyên nhân  
Khuyết tật không đơn thuần do chính con người gây ra mà còn chịu sự tác  
động trực tiếp hay gián tiếp của nhiều yếu tố tiêu cực khác nhau thuộc các  
nguyên nhân về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội.  
* Do bẩm sinh: Trong này có những bệnh bẩm sinh như bệnh tim, tâm  
thần, thiểu năng trí tuệ, sứt môi, hở hàm ếch…  
Hay là quái thai do cha mẹ bị nhiễm độc trong chiến tranh, hậu quả chiến tranh  
để lại.  
* Do bệnh tật: Trong cuộc sống chúng ta không thể tránh khỏi được  
những bất trắc sảy ra như bệnh tật, nghèo đói, thất nghiệp… Người khuyết tật  
cũng là hậu quả của một trong những bất trắc đó là bệnh tật. Cũng chính bệnh tật  
đã cướp đi một số bộ phận, chức năng, cơ quan hoạt động của cơ thể con người,  
làm cho con người gặp không ít khó khăn về hoạt động lao động, học tập, vui  
chơi và giai trí… như bệnh bại liệt, các bệnh do quái thai, sứt môi, hở hàm ếch,  
điếc, câm, mù…  
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, ở nước ta có khoảng 1%trẻ sơ sinh bị  
dị tật bẩm sinh. Nhưng theo khảo sát ở 7 tỉnh đồng bằng Sông Hồng thì 36,25%  
nguyên nhân dẫn đến khuyết tật là do bẩm sinh; 31,86% do bệnh tật.  
Trong điều kiện nền kinh tế đất nước còn nghèo, khả năng cung cấp các dịch vụ  
chăm sóc y tế còn gặp nhiều khó khăn thì xu hướng gia tăng số người khuyết tật  
là không thể tránh khỏi.  
* Do hậu quả chiến tranh: Chiến tranh đã để lại nhiều di chứng nặng nề ở  
Việt Nam. Hàng triệu người dân đã hy sinh tính mạng, hy sinh một phần thân  
thể, để lại những căn bệnh nguy hiểm trên cơ thể.  
Mặc dù chiến tranh đã qua đi nhưng bom đạn vẫ còn sót lai trên đất nước  
ta rất nhiều. Hàng ngày, hàng giờ người dân vẫn bị chết hoặc bị tàn phế suốt đời  
do bom đạn gây ra. Trên các cánh đồng, cánh rừng và các khu đân cư hiện còn  
hàng vạn tấn bom đạn chưa nổ…Chỉ một làng nhỏ ven bờ sông Bến Hải thời  
gian qua đã có hàng chục người bị chết hoặc bị thương do bom đạn còn sót lại  
của chiến tranh.  
6
 
Ngoài ra, do ảnh hưởng của chất độc, đặc biệt là chất độc màu da cam đã  
dẫn dến những đứa trẻ bị dị tật suốt đời.  
Ví dụ: Ở tỉnh Quảng Trị và nhiều địa phương khác có những cặp vợ  
chồng sinh ra con đều bị dị tật.  
* Do tác nhân môi trường: Môi trường luôn luôn có sự tác động lên đời  
sống của chúng ta. Bên cạnh những tác động tích cực còn có những tác động  
tiêu cực như lũ lụt, bão, động đất, hạn hán…Chính những tác động tiêu cực này  
đã làm cho không ít người lâm vào hoàn cảnh đói khổ, mất nhà, mất cửa, đói ăn,  
rách mặc…là điều kiện phát sinh ra các dịch bệnh về đường ruột, đường hô  
hấp…  
Cùng với những tác động tiêu cực của tự nhiên thì hàng năm có hàng triệu  
tấn rác thải, khí độc do con người thải ra đã làm cho môi trường nước, không khí  
bị ô nhiễm một cách nặng nề. Có những chỗ nguồn nước không thể sử dụng  
được hoặc sử dụng được thì cũng bị ô nhiễm. Đây là nguyên nhân làm cho nhiều  
gia đình, nhiều vùng gặp phải các bệnh nguy hiểmvà dẫn đến khuyết tật.  
* Do tai nạn: Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: chúng ta đang bước  
vào thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Thế nhưng  
trang thiết bị an toàn vệ sinh lao động còn thiếu và vi phạm các nguyên tắc trong  
lao động còn nhiều dẫn đến số người bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp  
chiếm tỷ lệ cao, có nơi, có nghề lên tới hàng chục % tổng số lao động bị bệnh  
nghề nghiệp như bệnh điếc, bệnh rung chuyển, bệnh lao, bệnh viêm gan.  
Tai nạn giao thông: Nhu cầu đi lại học tập, vui chơi, giải trí, du lịchcủa  
người dân ngày càng tăng. Do vậy phương tiện giao thông trong nước đang tăng  
nhanh. Tuy nhiên, do đường xá chưa được cải tạo và nâng cấp nhiều, người  
tham gia giao thông chấp hành luật giao thông chưa cao là nguyên nhân dãn dến  
tình trạng tai nạn giao thông còn ở mức cao. Hàng năm có khoảng 1,7 – 2 vạn  
người bị tai nạn giao thông,trong đó có người thì bị tử vong và có người thì bị  
khuyết tật suốt đời.  
* Do kinh tế và một số nguyên nhân khác: Kinh tế kém phát triển, đời  
sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Các bà mẹ, đặc biệt là các bà mẹ ở vùng  
nông thôn, vùng sâu, vùng xa không được chăm sóc đầy đủ về mặt dinh dưỡng  
trong thời kỳ mang thai dẫn đến đẻ con nhẹ cân, thiếu thánglà nguyên nhân của  
bệnh còi xương, thiểu năng trí tuệ… Cũng do kinh tế kém phát triển cho nên các  
điều kiện chăm sóc, phục hối chức năng cho người khuyết tật không được quan  
7
tâm, bảo đảm. Làm cho số lượng người khuyết tật không những không giảm mà  
còn có chiều hướng gia tăng.  
Cuộc chạy đua kịch liệt trong nền kinh tế thị trường ngày càng sâu sắc.  
Nhiều người không có cơ hội nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí sau những giờ làm việc  
căng thẳng dẫn đến các bệnh đứt mạch máu não, nhồi máu cơ tim, bệnh thần  
kinh.  
Một số địa phương, gia đình có trình độ nhận thức thấp cho nên vẫn còn  
tin vào những lời nói nhảm nhí của những ông cô, bà đồng chữa bệnh bằng cách  
uống những thứ mất vệ sinh mà theo các thày bói đó là thuốc như: nước hài cốt,  
nước ở trong các hang động…để rồi không những không chữa được bệnh mà  
còn làm cho căn bệnh trở nên trầm trọng hơn, thậm trí còn phát sinh ra nhiều  
căn bệnh khác.  
3. Hậu quả của tàn tật  
Vấn đề khuyết tật đang là một vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Để lại  
những hậu quả không những về vật chất mà còn về tinh thần do chính bản thân  
người khuyết tật, cho gia đình và cho xã hội. Cụ thể:  
* Đối với chính bản thân người khuyết tật: Khuyết tật dẫn đến sức khoẻ  
giảm sút, khả năng thích nghi chống chọi lại bệnh tật của người khuyết tật là khó  
khăn. Hơn nữa, cơ hội tham gia vào các chương trình phúc lợi công cộng như:  
chăm sóc y tế, giáo dục…rất hiếm đối với người khuyết tật. Do vậy tỷ lệ tử  
vong, đặc biệt là tỷ lệ tử vong dưới 20 tuổi thường cao chiếm khoảng 90%.  
Khuyết tật cũng dẫn đến khả năng tham gia các hoạt động học tập, vui  
chơi, giải trí của người khuyết tật bị hạn chế. Nhiều người không thể đến trường  
được, hoặc đến trường phải nhờ sự giúp đỡ của người khác. Đặc biệt là cơ hội  
tìm kiếm việc làm khó khăn. Những yếu tố đó đã buộc người khuyết tật phải  
sống lệ thuộc vào gia đình, người thân hoặc cộng đồng. Họ không có điều kiện  
học tập, nâng cao trình độ văn hoá. Do đó khả năng hoà nhập vào vào cộng đồng  
là rất khó. Do ảnh hưởng về thẩm mỹ, do đó nó cũng làm ảnh hưởng tới giao  
tiếp. Bất kể người khuyết tật nào ở đâu cũng bị thiệt thòi và mang tính tự ti.  
* Đối với gia đình: Những gia đình có người khuyết tật phải dành nhiều  
thời gian, chi phí không ít tiền của để giúp đỡ chăm sóc người khuyết tật như:  
đưa đi khám bệnh, đưa đi học…Do đó, họ không có thời gian tham gia lao động  
sản xuất dẫn đến thu nhập kém. Mặt khác, do lo lắng về kinh tế, ám ảnh về bệnh  
tật của con mình làm cho không khí gia đình trở nên căng thẳng. Đặc biệt là sự  
dằn vặt về tâm lý, sự ám ảnh về sự trừng phạt của đấng tối cao đã dẫn đến nhiều  
8
 
gia đình không muốn giao tiếp với người ngoài. Họ sống co lại trong không gian  
hẹp, luôn sợ người khác chê bai.  
* Đối với xã hội: Khuyết tật đã làm cho xã hội mất di một lực lượng lao  
động lớn làm ra của cải cho xã hội. Đồng thời, xã hội phải tiêu tốn một lượng  
tiền lớn để xây dựng cơ sở vật chất để nuôi dưỡng, chữa chạy những người  
khuyết tật nặng bao gồm: Kinh phí quản lý trung tâm, đào tạo chuyên môn, trợ  
cấp, chữa bệnh cho người khuyết tật. Đặc biệt là xã hội phải dành một khoản  
kinh phí để thành lập các trung tâm phục hồi chức năng, mua thuốc men chữa trị  
cho người khuyết tật, hướng nghiệp dạy nghề cho họ để họ sớm hoà nhập vào  
cộng đồng và ngoài ra còn để nghiên cứu các biện pháp để phòng ngừa khuyết  
tật.  
4. Những khó khăn của người khuyết tật trong hòa nhập cộng đồng  
Đa số người khuyết tật chủ yếu sống ở nông thôn nơi mà điều kiện kinh tế  
– xã hội còn gặp khó khăn, đặc biệt là khả năng tiếp cận với các dịch vụ phúc lợi  
công cộng bị hạn chế.  
* Tình trạng hôn nhân gia đình:  
Trong số những người khuyết tật ở nước ta hiện nay thì chỉ có 40% là đã  
có vợ chồng. Còn lại là những người chưa kết hôn lần nào hoặc đã kết hôn  
nhưng lại gặp trắc trở trong tình duyên vì những trở ngại do khuyết tật của họ  
gây ra. Cụ thể: số người ở độ tuổi từ 31- 50 chưa kết hôn lần nào chiếm 40,34%  
số người ở độ tuổi đó. Trong khi số người ở lứa tuổi 20 – 30 và từ 51 tuổi trở lên  
chiếm tỷ lệ lần lượt trong những lứa tuổi đó là 38% và 13,56% chưa kết hôn.  
Trong nhóm người khuyết tật trên 60 tuổi có tới 53,06% chưa từng lập gia đình  
lần nào và nhiều người đã phải sống cô đơn suốt đời hoặc phải dựa vào người  
thân, dựa vào cộng đồng, Nhà nước.  
* Tình trạng văn hoá:  
Đa số người khuyết tật có trình độ văn hoá thấp, thậm trí có người còn mù  
chữ. Tập trung chủ yếu là những người mang tật bẩm sinh và mức độ khuyết tật  
nặng.  
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến người khuyết  
tật nhưng số người biết chữ cũng chỉ chiếm tỷ lệ35,8%, trong đó 5,8% học hết  
cấp THPT, 22,08% học hết THCS, và 26,09 học hết tiểu học. Trong khi số  
người không biết chữ chiếm 35,58%, số người không biết đọc, biết viết chiếm  
10,45%.  
9
 
Trình độ văn hoá của người khuyết tật ở nông thôn và thành thị có sự  
chênh lệch lớn. Số người đi học ở các bậc học, đặc biệt là bậc học THPT và các  
bậc học cao hơn thì ở thành thị cao hơn nông thôn. Theo kết quả điều tra về  
người khuyết tật cho thấy trong số 5,8% học hết THPT, thì ở thành thị  
chiếm15,89%, trong hki ở nông thôn chỉ chiếm 4,31%.  
* Hoàn cảnh sống:  
Khuyết tật đã dẫn đến khả năng lập gia đình của họ bị hạn chế. Đại đa số  
sống chung và phụ thuộc vào gia đình, người thân, con số này chiếm từ 80-  
84%. Một số ít người khuyết tật phải sống độc thân, thậm chí một số ít không có  
nhà cửa, người thân thích phải sống lang thang, kiếm sống nay đây mai đó.  
Chính vì phải sống phụ thuộc vào gia đình và người thân nên đời sống của  
người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn. Họ không tự lo được cuộc sống của  
mình. Một số ít có thể lao động, tăng thu nhập cho gia đình như nấu ăn, dọn dẹp  
nhà cửa… nhiều lúc họ là trung tâm của sự không tôn trọng của người thân.  
* Thu nhập:  
Người khuyết tật có thu nhập rất thấp bởi vì đa số họ không có nghề mà  
chỉ có một số có thể làm phụ giúp gia đình, kinh tế phụ thuộc gia đình. Nhiều  
người khuyết tật sống lang thang kiếm sống trên hè phố.  
* Việc làm của người khuyết tật:  
Mặc dù quyền được làm việc của người khuyết tật đã được tôn trọng thể  
hiện trong Bộ luật lao động, pháp lệnh về người tàn tật và một số văn bản khác.  
Nhưng do trình độ học vấn thấp, sức khoẻ yếu,thị trường lao động thay đổi  
nhanh chóng, trong khi thái độ của người sử dụng lao động đối với người khuyết  
tật còn chưa rõ ràng nên nhiều người khuyết tật chưa có việc làm, nếu có thì chỉ  
được bố chí làm những công việc thủ công, nặng nhọc, lao động chân tay vất vả,  
hiệu quả lao động thấp, thu nhập không đủ sống. Trong số người có việc làm thì  
có 4,35% người có nghề không phù hợp với tay nghề; 52% không phù hợp với  
bệnh tật; 32,78% không được đào tạo nghề.  
* Đặc điểm tâm lý của người khuyết tật:  
- Quy luật bù trừ về các giác quan: Vì người ta mất cái này thì được bù trừ  
nhạy cảm của giác quan khác. Và từ đó để dựa trên các đặc điểm khuyết tật của  
bố trí nghề nghiệp và đào tạo nhgề.  
- Do bị khuyết tật nên tâm lý mặc cảm, tự ti. Tuy vậy, nhưng cũng rất  
nhiều người khuyết tật có ý chí vươn lên rất tốt.  
10  
Ví dụ: Tấm gương anh Nguyễn Ngọc Ký mặc dù anh bị tật nguyền như  
vậy nhưng với ý chí vươn lên anh đã vượt lên tất cả.  
- Người khuyết tật có một sức bền bỉ trong một số công việc tốt.  
* Nhu cầu:  
Người khuyết tật cũng là một con người nên cũng có tất cả các nhu cầu  
như những người bình thường khác như:  
- Hoà nhập xã hội vì họ bị khép kín trong bốn bức tường nên họ mong  
muốn được hoà nhập xã hội; nhu cầu rất lớn để được giao tiếp với mọi người,  
được học hỏi, được người khác tôn trọng.  
- Nhu cầu chữa bệnh: vì họ hay ốm đau rất cần được chăm sóc.  
- Nhu cầu học văn hoá.  
- Nhu cầu việc làm và có thu nhập để giải phóng sự ràng buộc.  
- Nhu cầu phục hồi thẩm mỹ: Hiện nay mới có một trung tâm của quốc tế  
về phục hồi thân thể: những người hở hàm ếch.  
- Nhu cầu thể thao – văn nghệ: Năm 1997 đã có tổ chức cuộc thi thể thao  
văn nghệ toàn quốc dành cho người khuyết tật.  
* Đời sống của người khuyết tật:  
Nhìn chung đời sống của người khuyết tật hiện nay còn gặp rất nhiều khó  
khăn, do sức khoẻ bị giảm sút họ không tự phục vụ được bản thân mình. Nhiều  
người mặc dù còn sức lao động nhưng chỉ làm những việc đơn giản dẫn đến thu  
nhập thấp. Đa số người khuyết tật phải sống dựa vào gia đình, người thân, một  
số ít do không còn người thân hoặc có nhu cầu được sống tập trung tại các trung  
tâm của Nhà nước.  
11  
Bài 2: Công tác hỗ trợ người khuyết tật  
Mã bài: MĐ29_B02  
Giới thiệu: Giới thiệu các chính sách hỗ trợ người khuyết tật như: chính sách  
giáo dục, chính sách việc làm, chính sách chăm sóc sức khỏe, y tế và các chính  
sách tham gia hoạt động xã hội.  
Mục tiêu:  
- Về kiến thức:  
+ Trình bày được các chính sách hỗ trợ người khuyết tật;  
+ Mô tả được đầy đủ các mô hình, dịch vụ trợ giúp người khuyết tật.  
- Về kỹ năng: Thực hiện được thành thạo và hiệu quả các chính sách, dịch  
vụ trợ giúp người khuyết tật.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tạo cơ hội cho người khuyết tật  
tham gia và tôn trọng quyền được hưởng chính sách, dịch vụ trợ giúp của người  
khuyết tật.  
Nội dung chính:  
1. Chính sách hỗ trợ giáo dục  
Ðể cải thiện tình trạng trên, nâng cao cơ hội cho người khuyết tật được  
học nghề, có việc làm cần sự phối hợp đồng bộ, có hiệu quả của các ngành hữu  
quan và sự quan tâm của cả cộng đồng. Phải phổ cập và nâng cao trình độ văn  
hóa cho người khuyết tật, tạo điều kiện cho họ học tập và học lên càng cao càng  
tốt. Cần đào tạo nghề cho người khuyết tật ở mọi trình độ văn hóa. Ðào tạo nghề  
phải gắn với tạo việc làm, có thu nhập.  
Quan tâm vấn đề can thiệp sớm, phục hồi chức năng ngay từ khi còn nhỏ  
để tránh khuyết tật nặng, gây khó khăn trong học nghề và tìm việc làm sau này.  
Ðể tạo điều kiện cho người khuyết tật đi lại thuận lợi, các cơ quan, doanh  
nghiệp, cơ sở giáo dục, đào tạo, dạy nghề cần sửa chữa, cải tạo cơ sở vật chất để  
người khuyết tật tiếp cận và sử dụng. Nếu như cùng chung một ngành nghề, một  
môi trường làm việc, thì hãy quan tâm chia sẻ và ưu tiên hơn cho người khuyết  
tật.  
Thay đổi nhận thức của chủ sử dụng lao động về khả năng làm việc của  
người khuyết tật. Bên cạnh những lợi ích của việc sử dụng lao động người  
khuyết tật, cần nhận thức đây cũng là trách nhiệm đối với xã hội. Vì nếu không  
được làm việc thì ng-êi người khuyết tật sẽ phải sống phụ thuộc, trở thành gánh  
nặng của gia đình và cộng đồng. Có chính sách khuyến khích dạy nghề cho  
người khuyết tật tại cộng đồng. Vì phần lớn người khuyết tật sống ở gia đình,  
12  
   
gắn với cộng đồng dân cư nên hướng dạy nghề, tạo việc làm cho người khuyết  
tật ở cộng đồng là thích hợp và thuận tiện nhất.  
Ðầu tư nâng cao năng lực, trang bị kiến thức, kỹ năng, tay nghề, phát huy  
tài năng của lao động người khuyết tật. Với người khuyết tật ở vùng sâu, vùng  
xa, khu vực nông thôn, nên quan tâm và nâng thành tầm chiến lược cấp quốc gia  
thực hiện "Chương trình tạo việc làm tại chỗ", tạo điều kiện cho người khuyết  
tật và gia đình của họ tự tạo việc làm.  
Nhà nước, các tổ chức, hiệp hội, đoàn thể đã tổ chức các trờng lớp giáo  
dục chuyên biệt cho trẻ em câm, điếc, thiểu năng trí tuệ và các lớp giáo dục hòa  
nhập cho các trẻ em có mức độ tật vừa và nhẹ. Trong vấn đề này, Bộ Giáo dục -  
Đào tạo đã được Chính phủ giao cho xây dựng các mô hình giáo dục trẻ khuyết  
tật.  
Giáo dục tập trung (các trường chuyên biệt):  
Với mô hình này đã đợc triển khai rộng rãi ở hơn 50% tỉnh thành trong cả  
nước, với 69 trờng trong đó có 43 trường dạy trẻ điếc, 14 trường dạy trẻ mù và  
12 trường dạy trẻ chậm phát triển tinh thần. Tổng số lớp là 366 lớp, trong đó có  
272 lớp trẻ điếc, 52 lớp trẻ mù, và 43 lớp trẻ chậm phát triển. Ngoài việc chú ý  
dạy văn hóa ra, các trung tâm (trường) còn chú ý dạy nghề cho các em, với 56  
lớp dạy nghề đã thu hút 3.714 em, trong đó có 2.743 em điếc, 406 em mù và 406  
em chậm phát triển. Tổng số giáo viên dạy trong các trường là 554 giáo viên.  
Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế đất nước hiện nay thì mô hình  
này còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở sở vật chất còn thiếu, giáo viên không đợc  
đào tạo chuyên sâu về dạy trẻ em khuyết tật, chỉ có 17 trong số 554 giáo viên là  
có bằng cử nhân sư phạm chuyên biệt.  
2. Chính sách hỗ trợ việc làm  
Nhà nước có nhiều chính sách và biện pháp hỗ trợ sản xuất cho người  
khuyết tật và cơ sở sản xuất của họ. Từ việc cho vay vốn, cấp ruộng đất thuận  
lợi canh tác, miễn giảm thuế, giúp đỡ ph]ơng tiện, công cụ, mặt bằng sản xuất,  
sau đó thì giúp tiêu thụ sản phẩm.  
Kết quả điều tra năm 1995, cả nước có 177 cơ sở sản xuất, ng]ời khuyết  
tật thu hút 7.821 lao động, ngân sách nhà nước hỗ trợ 7.821 triệu đồng (chưa  
tính vốn vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng). Năm 1996 tăng lên 340 cơ sở, thu  
hút 12.500 lao động. Ngân sách hỗ trợ 12 tỷ năm trăm triệu đồng. Trong số 340  
cơ sở hiện nay có 27 cơ sở có trên 100 lao động là ngời khuyết tật. Đó là những  
cơ sở doanh nghiệp nhà nước, còn lại 313 cơ sở là tổ hợp và các hợp tác xã. Về  
13  
 
cơ chế hoạt động, trong số 340 cơ sở, có 125 cơ sở sản xuất tập trung, 90 cơ sở  
kết hợp sản xuất tập trung dựa vào cộng đồng, 125 cơ sở hòan tòan dựa vào  
cộng động, không có cơ sở tập trung.  
Qua thực tế họat động mô hình sản xuất phi tập trung dựa vào cộng đồng  
tỏ ra có hiệu quả. Song, đòi hỏi có sự hỗ trợ đầu ra, tiêu thụ sản phẩm của các  
cấp hội và chính quyền địa phương, các doanh nghiệp trên cùng địa bàn.  
Riêng Hội Người mù Việt Nam, trong khoảng thời gian 1993-1996, có  
12.385 ngời mù được các cấp hội can thiệp và chính quyền địa phơng hỗ trợ, cấp  
ruộng đất thuận lợi cho canh tác, miễn giảm thuế 21.980 lượt người, được vay  
vốn tạo việc làm, bình quân mức vay 1 triệu đồng/người. Hầu hết các cơ sở sản  
xuất của người khuyết tật đều đợc miễn giảm thuế lợi tức giảm 50% thuế doanh  
thu (đối với cơ sở trên 10 lao động). Nếu doanh nghiệp nào không sử dụng lao  
động là nggười khuyết tật thì phải có trách nhiệm trích một phần lợi nhuận để  
đóng góp vào Quỹ hỗ trợ việc làm cho nggười khuyết tật.  
Nhà nớc, các cơ sở dạy nghề, các tổ chức kinh tế tạo điều kiện cho người  
khuyết tật được lựa chọn nghề, học nghề tự tạo việc làm tại nhà phù hợp với sức  
khỏe và khả năng lao động của mình. Trong quá trình học nghề, học viên là  
người khuyết tật được giảm hoặc miễn học phí, cấp học bổng và đợc hưởng trợ  
cấp xã hội theo quy định của nhà nước…  
Trong vấn đề hiện nay, có hai trường dạy nghề cho ngời khuyết tật thuộc  
Bộ lao động thương binh và xã hội quản lý, hàng năm thu hút hàng ngàn người  
khuyết tật học nghề. Hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trên tòan quốc cũng  
thu hút hàng ngàn người khuyết tật vào học nghề, sản xuất. Đáng chú ý là một  
số tổ chức, Hiệp hội tư nhân cũng tích cực tham gia vào dạy nghề cho người  
khuyết tật. Đặc biệt là Hội Người mù Việt Nam trong gian đoạn 1993-1996, Hội  
đã mở ra đợc 306 lớp dạy nghề, truyền nghề khuyến nông cho 8.475 người mù  
với tổng kinh phí trên 810 triệu đồng. Trong đó ngân sách nhà nớc cấp khoảng  
55%, còn lại là vận động quyên góp và nhờ vào sự trợ giúp quốc tế. Kết quả  
điều tra chọn mẫu năm 1995 cho thấy 55,18% người khuyết tật còn khả năng lao  
động đang làm việc trong một số ngành nghề kinh tế quốc dân. Chỉ có 30,43%  
là thiếu và không có việc làm. Khi được hỏi về nguyện vọng thì 48,5% người  
khuyết tật trả lời có nguyện vọng hỗ trợ vốn để tạo việc làm, 13,56% đề nghị bố  
trí việc làm thích hợp, 4,1% đề nghị được học nghề.  
3. Chính sách ưu đãi về y tế  
14  
 
Chính sách ưu đãi về y tế là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết đối  
với người khuyết tật. Đại đa số (67%) người khuyết tật vận động mong muốn  
được hỗ trợ chỉnh hình, phục hồi chức năng (được cung cấp phương tiện: chân,  
tay giả, xe chuyên dùng). Điều này cũng phù hợp với khả năng sản xuất các  
dụng cụ chỉnh hình của Việt Nam. Hiện nay, với số lượng dụng cụ hơn 20.000  
dụng cụ các loại/năm mới đáp ứng đợc khoảng 15% nhu cầu của đối tượng.  
Trong 6 năm từ năm (1991-1996) đã phục hồi chức năng cho 175.000 đồng trẻ  
em khuyết tật, điều trị chỉnh hình 55.000 em đắp được và 15.000 nẹp và ấn  
chỉnh hình, cấp 550 xe lăn các loại cho đối tượng.  
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn 68% người khuyết tật cần nhưng chưa có  
dụng cụ chỉnh hình. Trong đó có 12% là có khả năng kinh tế để mua dụng cụ,  
còn lại 56% dù muốn có dụng cụ nhng không có tiền để mua.  
Về khám chữa bệnh cho người khuyết tật thì những người được nuôi dư-  
ỡng tại trung tâm thì đã được nhà nước cấp miễn phí hoàn toàn các khoản chữa  
bệnh, còn những người được nuôi dưỡng tại cộng đồng được nhà nước cấp thẻ  
bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh. Nếu trường hợp phải phẫu thuật thì Nhà nước  
giảm một phần kinh phí.  
4. Hỗ trợ người khuyết tật trong hoạt động thể thao và văn nghệ  
Đây là những hoạt động có ý nghĩa rất lớnvề mặt tinh thần cho người  
khuyết tật vươn lên và hoà nhập cộng đồng. chính vì vậy mà nhà nước cần hỗ  
trợ cho những trang thiết bị dụng cụ cho những trung tâm thể thao cho người  
khuyết tật. Phối hợp với hội bảo trợ người khuyết tật và các cơ quan khác tạo  
mọi điều kiện về vật chất, phương tiện cho người khuyết tật tham gia các hoạt  
động văn hoá thể thao. Hàng năm đã tổ chức ngày hội văn hoá thể thao văn nghệ  
cho người khuyết tật như hai hội thi năm 1997 ở Quảng Trị và năm 1999 ở Đà  
Nẵng đã động viên khuyến khích người khuyết tật vươn lên hoà nhập cộng  
đồng.  
15  
 
Bài 3: Kỹ năng công tác xã hội với người khuyết tật  
Mã bài: MĐ29_B03  
Giới thiệu: Giới thiệu các kỹ năng công tác xã hội với người khuyết tật: kỹ năng  
giao tiếp, kỹ năng chăm sóc sức khỏe...  
Mục tiêu:  
- Về kiến thức:  
+ Trình bày được đặc điểm tâm lý, nhu cầu người khuyết tật;  
+ Trình bày được các kỹ năng công tác xã hội với người khuyết tật.  
- Về kỹ năng:  
+ Vận dụng được các kỹ năng phù hợp với tình huống và dạng tật;  
+ Lập được kế hoạch và kết nối dịch vụ trợ giúp người khuyết tật.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Tự tin trong giao tiếp với người khuyết tật;  
+ Có ý thức khích lệ sự vươn lên hòa nhập cộng đồng của người khuyết  
tật.  
Nội dung chính:  
1. Kỹ năng giao tiếp  
- Đặc điểm tâm lý người khuyết tật  
+ Mặc cảm ngoại hình: là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể  
đến nỗi gây đau đớn.  
+ Ám ảnh sợ xã hội: là một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các  
hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu, gặp gỡ ở chỗ đông người.  
- Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật  
+ “Hãy nhìn vào con người họ hơn là nhìn vào tình trạng khuyết tật của  
họ.”  
+ Tránh tò mò hỏ những câu hỏi về tình trạng khuyết tật của họ khi mới  
gặp.  
+ Không nên có thái độ khó chịu vì những khoảng thời gian chết trong khi  
đang giao tiếp với NKT  
+ Hỏi ý kiến của NKT trước khi có ý định hỗ trợ họ.  
+ Nếu cần phê bình thì hãy phê bình cách thực hiện chứ không phải phê  
bình khuyết tật hay con người họ.  
+ Sử dụng ngôn từ đúng mực, mang tính tích cực, giảm nhẹ, tránh gây sự  
phân biệt, kỳ thị.  
2. Kỹ năng lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh  
16  
     
Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có  
thời hạn, nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt  
nhất… để thực hiện một mục tiêu cuối cùng đã được đề ra. Khi bạn lập được kế  
hoạch thì tư duy quản lý của bạn sẽ có hệ thống hơn để có thể tiên liệu được các  
tình huống sắp xảy ra. Bạn sẽ phối hợp được mọi nguồn lực của cá nhân, tổ chức  
để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, có thể giữ vững “mũi tiến công” vào mục  
tiêu cuối cùng mình muốn hướng đến. Bên cạnh đó, bạn cũng sẽ dễ dàng kiểm  
tra, giám sát hiệu quả thực hiện dự án của mình.  
Để lập được một bản kế hoạch chi tiết, cụ thể và khoa học, bạn có thể  
dùng phương pháp 5W1H2C5M bao gồm các yếu tố sau:  
- Xác định mục tiêu, yêu cầu công việc 1W (why)  
- Xác định nội dung công việc 1W (what)  
- Xác định 3W (where, when, who)  
- Xác định cách thức thực hiện 1H (how)  
- Xác định phương pháp kiểm soát và kiểm tra 2C (control, check)  
- Xác định nguồn lực thực hiện 5M (man, money, material, machine và  
method)  
1. Xác định mục tiêu, yêu cầu (Why)  
Khi phải làm một công việc, điều đầu tiên mà bạn cần phải tự hỏi mình là:  
- Tại sao tôi phải làm công việc này?  
- Nó có ý nghĩa như thế nào với tổ chức, bộ phận của tôi?  
- Hậu quả gì nếu tôi không thực hiện chúng?  
Khi bạn thực hiện một công việc thì điều đầu tiên bạn nên xem xét đó  
chín là why với nội dung như trên. Khi xác định được yêu cầu, mục tiêu  
thì bạn sẽ luôn hướng trọng tâm các công việc vào mục tiêu và đánh giá  
hiệu quả cuối cùng.  
2. Xác định nội dung công việc (What)  
- WHAT: (cái gì?) Nội dung công việc đó là gì?  
- Hãy chỉ ra các bước để thực hiện công việc đó.  
- Bạn hãy chắc rằng, bước sau là sự phát triển của bước trước.  
3. Xác định 3W  
- WHERE: (ở đâu?) có thể bao gồm các câu hỏi sau:  
+ Công việc đó thực hiện tại đâu ?  
+ Giao hàng tại địa điểm nào ?  
+ Kiểm tra tại bộ phận nào ?  
17  
+ Thử nghiệm những công đoạn nào ? v.v…  
- WHEN: (khi nào?) Công việc đó thực hiện khi nào, khi nào thì giao, khi  
nào kết thúc…  
+ Để xác định được thời hạn phải làm công việc, bạn cần xác định được  
mức độ khẩn cấp và mức độ quan trọng của từng công việc.  
+ Có 4 loại công việc khác nhau: công việc quan trọng và khẩn cấp, công  
việc không quan trọng nhưng khẩn cấp, công việc quan trọng nhưng  
không khẩn cấp, công việc không quan trọng và không khẩn cấp. Bạn  
phải thực hiện công việc quan trọng và khẩn cấp trước.  
- WHO: (ai?) bao gồm các khía cạnh sau:  
+ Ai làm việc đó  
+ Ai kiểm tra  
+ Ai hỗ trợ  
+ Ai chịu trách nhiệm,…  
4. Xác định cách thức thực hiện (How)  
HOW: (như thế nào?) nó bao gồm các nội dung:  
- Tài liệu hướng dẫn thực hiện là gì (cách thức thực hiện từng công việc)?  
- Tiêu chuẩn là gì?  
- Nếu có máy móc thì cách thức vận hành như thế nào?  
5. Xác định phương pháp kiểm soát (Control)  
Cách thức kiểm soát (CONTROL) sẽ liên quan đến:  
- Công việc đó có đặc tính gì?  
- Làm thế nào để đo lường đặc tính đó?  
- Đo lường bằng dụng cụ, máy móc như thế nào?  
- Có bao nhiêu điểm kiểm soát và điểm kiểm soát trọng yếu.  
6. Xác định phương pháp kiểm tra (Check)  
Phương pháp kiểm tra (CHECK) liên quan đến các nội dung sau:  
- Có những bước công việc nào cần phải kiểm tra. Thông thường thì có  
bao nhiêu công việc thì cũng cần số lượng tương tự các bước phải kiểm  
tra.  
- Tần suất kiểm tra như thế nào? Việc kiểm tra đó thực hiện 1 lần hay  
thường xuyên (nếu vậy thì bao lâu một lần?).  
- Ai tiến hành kiểm tra?  
- Những điểm kiểm tra nào là trọng yếu?  
18  
- Trong tổ chức của bạn không thể có đầy đủ các nguồn lực để tiến hành  
kiểm tra hết tất cả các công đoạn, do vậy chúng ta chỉ tiến hành kiểm tra  
những điểm trọng yếu.  
- Điểm kiểm tra trọng yếu tuân theo nguyên tắc Pareto (20/80), tức là  
những điểm kiểm tra này chỉ chiếm 20% số lượng nhưng chiếm đến 80%  
khối lượng sai sót.  
7. Xác định nguồn lực (5M)  
Nhiều kế hoạch thường chỉ chú trọng đến công việc mà lại không chú  
trọng đến các nguồn lực, mà chỉ có nguồn lực mới đảm bảo cho kế hoạch  
được khả thi.  
Nguồn lực bao gồm các yếu tố:  
+ Man = nguồn nhân lực  
+ Money = Tiền bạc  
+ Material = nguyên vật liệu/hệ thống cung ứng  
+ Machine = máy móc/công nghệ  
+ Method = phương pháp làm việc  
3. Công tác xã hội cá nhân và nhóm đối với người khuyết tật  
Người khuyết tật thuộc nhóm yếu thế do sự khiếm khuyết cơ thể, các chức  
năng xã hội của họ có thể bị suy giảm. Vì vậy, đội ngũ nhân viên công tác xã hội  
có thể giúp họ tiếp cận được các nguồn lực bên ngoài, phát huy nguồn lực bên  
trong để họ trở nên mạnh mẽ hơn, có khả năng sống độc lập và tham gia vào các  
hoạt động lao động, học tập như những người bình thường.  
Công tác xã hội trong trợ giúp người khuyết tật chính là đánh giá nhu cầu  
về khía cạnh xã hội của đối tượng; đồng thời đóng vai trò là người quản lý  
trường hợp, hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận những dịch vụ phù hợp và duy trì  
tiếp cận một loạt các dịch vụ phối hợp tốt nhất. Trong trường hợp cần thiết, nhân  
viên công tác xã hội cũng cung cấp hỗ trợ tâm lý cho người khuyết tật và gia  
đình của họ. Như vậy, bằng những kiến thức, kỹ năng và phương pháp, nhân  
viên công tác xã hội đã trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng người khuyết  
tật, phục hồi các chức năng xã hội mà họ bị suy giảm.  
Bên cạnh đó, công tác xã hội còn thúc đẩy môi trường xã hội, bao gồm:  
chính sách, pháp luật, cộng đồng thân thiện để giúp người khuyết tật hòa nhập  
xã hội và làm tốt chức năng của họ. Đội ngũ này đóng vai trò là người xúc tác,  
biện hộ để cá nhân, gia đình người khuyết tật được hưởng những chính sách an  
19  
 
sinh xã hội dành cho họ. Trên cơ sở đó, giúp người khuyết tật nâng cao chức  
năng của mình.  
Nhân viên công tác xã hội, ngoài việc tham gia giải quyết các vấn đề xã  
hội còn thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa, tập huấn, cung cấp  
kiến thức cho gia đình, người thân cách chăm sóc người khuyết tật để giúp đối  
tượng trở nên chủ động, có khả năng tự chăm sóc, như vậy họ sẽ tự tin hơn trong  
cuộc sống và sẽ tránh được những vấn đề khác có thể phát sinh. Đồng thời, họ tư  
vấn để chính quyền có những chính sách phù hợp nhằm ngăn ngừa sự phát sinh  
các vấn đề xã hội. Thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội như: chăm sóc  
sức khoẻ, cải thiện tình hình kinh tế & việc làm, hạ tầng cơ sở, nước sạch vệ  
sinh môi trường, hỗ trợ tâm lý tình cảm... nhân viên công tác xã hội sẽ giúp  
Người khuyết tật có được cơ hội tiếp cận dịch vụ để giải quyết vấn đề của bản  
thân, phát huy được những khả năng của mình, vượt qua khó khăn đó, vươn lên  
tự lập trong cuộc sống. Bằng hoạt động giáo dục, cung cấp kiến thức, kỹ năng  
giải quyết vấn đề cho cá nhân, gia đình và cộng đồng người khuyết tật, đội ngũ  
này sẽ cung cấp cơ hội cho Người khuyết tật được hoà nhập cộng động - là một  
biện pháp giúp họ phát triển nhân cách, tăng cường giao lưu và học hỏi xã hội.  
Năm 2010, Đề án Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020  
(gọi tắt là Đề án 32) được Thủ tướng phê duyệt nhằm phát triển nghề công tác  
xã hội và xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công  
tác xã hội đủ số lượng và đạt yêu cầu, gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp  
dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội  
tiên tiến. Tổng kinh phí thực hiện đề án là 2.347 tỷ đồng. Theo đó, đến năm  
2020, cả nước cần đào tạo và đào tạo lại 60.000 nhân viên xã hội. Trước mắt,  
đến năm 2015, nguồn nhân lực cho ngành công tác xã hội phải đạt 30.000 người.  
Đây là một nhiệm vụ hết sức to lớn và cũng là một thách thức đối với ngành  
công tác xã hội ở Việt Nam. Chúng ta đã có những người làm công tác xã hội  
như các nhân viên ở trung tâm bảo trợ xã hội, cán bộ phụ nữ làm công tác dân số  
trẻ em ở xã phường... Chỉ có điều, họ chưa được đào tạo bài bản và làm việc  
chưa chuyên nghiệp. Phần đông là làm trái ngành nghề, kiêm nhiệm, thiếu  
những kỹ năng cần thiết. Tuy nhiên, hiện vẫn chỉ có đội ngũ cán bộ nhân viên  
công tác xã hội bán chuyên nghiệp với tỷ lệ khiêm tốn. Do không có chuyên  
môn nên họ làm việc theo trực giác, thiếu nhận thức, hiểu biết và những kỹ năng  
cần thiết về công tác xã hội nên hiệu quả giải quyết các vấn đề không cao và  
thiếu bền vững.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 43 trang baolam 28000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Công tác xã hội với người khuyết tật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxgiao_trinh_mon_cong_tac_xa_hoi_voi_nguoi_khuyet_tat.docx