Một số vấn đề xã hội cơ bản trong quá trình phát triển ở Việt Nam hiện nay
Một số vấn đề xã hội cơ bản trong quá trình
phát triển ở Việt Nam hiện nay
Nguyễn Tuấn Anh(*)
Tóm tắt: Bài viết bàn về các vấn đề xã hội ở Việt Nam, tập trung vào hai nội dung chính.
Nội dung thứ nhất tìm hiểu một số vấn đề xã hội cơ bản. Nội dung thứ hai đề xuất định
hướng giải quyết những vấn đề xã hội cơ bản này. Dưới một góc nhìn nhất định, bài viết
góp phần mở rộng sự hiểu biết đối với các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển của
Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Việt Nam, Vấn đề xã hội, Chính sách xã hội
Abstract: This paper discusses social issues in Vietnam, focusing on two main points
including basic social issues and possible solutions. From a certain perspective, the
paper contributes to providing knowledge about social issues in the development process
of Vietnam today.
Keywords: Vietnam, Social Problem, Social Policy
1. Tính tất yếu của sự nảy sinh, tồn tại các
vấn đề xã hội cơ bản1(*)
Nam 35 năm vừa qua, nhiều vấn đề xã hội
cơ bản cũng nảy sinh, biến đổi và gia tăng
mức độ tác động tiêu cực.
35 năm đổi mới vừa qua (1986-2020)
là chặng đường quá độ rất quan trọng đối
với sự phát triển toàn diện của Việt Nam.
Trên thực tế, qua hơn ba thập kỷ đổi mới,
Việt Nam đã đạt được những thành tựu
lớn trên nhiều phương diện. Từ một nước
nghèo, Việt Nam trở thành một nước có thu
nhập trung bình với nền kinh tế thị trường
năng động, hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng
vào hệ thống kinh tế toàn cầu (Nhóm Ngân
hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
2016). Tuy nhiên, bên cạnh nhiều thành tựu
nổi bật, trong tiến trình phát triển của Việt
Logic tất yếu của sự nảy sinh, tồn tại
các vấn đề xã hội trong quá trình đổi mới ở
Việt Nam bắt nguồn từ tăng trưởng kinh tế
mà quá trình này mang lại. Đổi mới mang
lại sự tăng trưởng kinh tế đất nước mạnh
mẽ, thu nhập và mức sống của người dân
tăng lên. Minh chứng cụ thể là năm 2010,
quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP)
tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp
3,26 lần so với năm 2000; GDP bình quân
đầu người đạt 1.168 USD (Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X, 2011). Năm
2015, GDP đạt 193,4 tỷ USD, bình quân
đầu người khoảng 2.109 USD (Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI, 2016b).
Năm 2018, GDP đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng,
(*)
PGS.TS., Trường Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội;
Email: [email protected]
Một số vấn đề xã hội…
39
gấp 2 lần quy mô GDP năm 2011. GDP của mỗi cá nhân trong xã hội. Bởi vì, những
bình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt vấn đề xã hội cơ bản không được giải quyết
58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, sẽ làm giảm chất lượng sống của người dân
tăng 198 USD so với năm 2017 (Tổng và gây bất lợi đối với việc phát triển con
cục Thống kê, 2018). Trong bối cảnh tăng người. Vì vậy, việc nhận diện và giải quyết
trưởng kinh tế và cải thiện thu nhập, mức các vấn đề xã hội cơ bản là hết sức quan
sống của người dân như thế, sự phân hóa trọng đối với Việt Nam trong quá trình phát
xã hội đã diễn ra mạnh mẽ. Biểu hiện cụ triển hiện nay.
thể của sự phân hóa xã hội là phân tầng xã 2. Thực tiễn giải quyết một số vấn đề xã
hội trên nhiều phương diện khác nhau như: hội cơ bản
phân tầng xã hội về thu nhập, phân tầng xã
Trên thực tế, trong mấy thập kỷ vừa qua,
hội về chi tiêu, phân tầng xã hội về tài sản Việt Nam đã đạt được những kết quả hết sức
và nhà ở. Hệ quả của phân tầng xã hội là quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề
phân cực giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội. xã hội cơ bản. Báo cáo chính trị của Ban
Cùng với đó, những vấn đề xã hội khác phát Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
sinh liên quan đến an sinh xã hội như các Nam khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc
vấn đề liên quan đến lao động việc làm, bảo lần thứ XII của Đảng đã nhận định: “Trong
hiểm xã hội, bảo trợ xã hội (Nguyễn Văn những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn
Khánh, Nguyễn Tuấn Anh, 2014; Phạm quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các
Quang Minh, 2019; Phạm Quang Minh, chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội,
Nguyễn Tuấn Anh, 2019).
dân tộc, tôn giáo để giải quyết các vấn đề
Trước thực tiễn đó, cùng với đẩy mạnh xã hội... Ngân sách nhà nước dành cho các
tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề chương trình quốc gia nhằm thực hiện tiến
xã hội cơ bản có vai trò đặc biệt quan trọng bộ và công bằng xã hội gia tăng hằng năm.
trong quá trình phát triển ở Việt Nam hiện Việt Nam đã hoàn thành hầu hết và cơ bản
nay. Tầm quan trọng của việc giải quyết các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Đặc biệt là đã
các vấn đề xã hội được thể hiện trên ba thực hiện tốt chỉ tiêu giảm nghèo, nâng cao
phương diện. Thứ nhất , giải quyết các vấn chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện nhiều
đề xã hội cơ bản là tạo điều kiện cho tăng chính sách để ổn định, từng bước nâng cao
trưởng kinh tế. Bởi vì, những vấn đề xã hội đời sống nhân dân. Quan tâm thực hiện
cơ bản không được giải quyết sẽ sinh ra các chính sách chăm sóc người có công. Đã thực
rào cản đối với việc huy động và sử dụng hiện có hiệu quả nhiều chính sách đối với
vốn kinh tế, vốn con người, vốn xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ
vốn văn hóa để phát triển kinh tế. Thứ hai, nữ, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao,
giải quyết các vấn đề xã hội để giữ vững vùng sâu, vùng xa, giảm nghèo bền vững,
ổn định xã hội. Bởi vì, những vấn đề xã chăm sóc sức khoẻ cho người dân, đồng thời
hội cơ bản không được quyết giải kịp thời, tạo điều kiện để người dân chủ động phòng
hiệu quả thì sẽ tạo nên căng thẳng, bất ổn ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro trong
xã hội. Thứ ba, giải quyết các vấn đề xã đời sống, kinh tế, xã hội và môi trường. Đời
hội để đảm bảo an ninh con người, nâng sống và thu nhập của người dân không ngừng
cao chất lượng sống của nhân dân, tạo điều được nâng lên” (Ban Chấp hành Trung ương
kiện phát huy đầy đủ tiềm năng con người Đảng khóa XI, 2016a).
Thông tin Khoa học xã hội, số 1.2020
40
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan địa phương còn hạn chế. Thêm nữa, nhiều
trọng như vậy, nhưng Báo cáo cũng chỉ rõ: doanh nghiệp nhỏ chưa thể thực hiện đầy
“Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến đủ trách nhiệm trong việc đóng bảo hiểm
bộ và công bằng xã hội còn nhiều hạn chế, xã hội cho người lao động. Thứ năm là bảo
khuyết điểm. Sự phát triển các lĩnh vực, trợ xã hội được thực hiện tốt trên nhiều
các vùng, miền thiếu đồng bộ. Việc giải phương diện nhưng chế độ đối với các đối
quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả; tượng bảo trợ xã hội chỉ đáp ứng được một
mục tiêu xây dựng quan hệ hài hòa giữa phần nhu cầu cuộc sống của họ. Thứ sáu là
các lĩnh vực, ngành nghề, vùng, miền chưa mâu thuẫn, xung đột xã hội , trong đó đáng
đạt yêu cầu; giảm nghèo chưa bền vững, lưu ý bao gồm mâu thuẫn, xung đột xã hội
chênh lệch giàu - nghèo và bất bình đẳng liên quan đến đất đai, mâu thuẫn xung đột
có xu hướng gia tăng. Chưa nhận thức đầy giữa công nhân và chủ doanh nghiệp, mâu
đủ vai trò của phát triển xã hội hài hòa, thuẫn xung đột trong các cộng đồng dân
chưa có chính sách, giải pháp kịp thời, cư liên quan đến các vấn đề xã hội tại địa
hiệu quả đối với vấn đề biến đổi cơ cấu, phương (Phạm Quang Minh, 2020).
phân hóa giàu - nghèo, phân tầng xã hội,
Trước những vấn đề xã hội này, nhu cầu
kiểm soát rủi ro, giải quyết mâu thuẫn xã thực tiễn đặt ra là phải tiếp tục giải quyết
hội, bảo đảm an toàn xã hội, an ninh cho các vấn đề xã hội một cách hiệu quả nhằm
con người” (Ban Chấp hành Trung ương giảm những rủi ro, đảm bảo an toàn xã hội,
Đảng khóa XI, 2016a). “Nhiều vấn đề bức an ninh con người. Tức là đảm bảo nền tảng
xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và vững chắc cho sinh tồn, sinh kế và phẩm
quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy giá của con người; để các cá nhân có đầy đủ
đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn điều kiện cho việc phát huy tiềm năng con
những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã người của mình một cách toàn diện.
hội. Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một 3. Đề xuất định hướng giải quyết một số
bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy vấn đề xã hội cơ bản
đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi
mới” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiễn quá trình phát triển ở Việt Nam đã được
khóa XI, 2016a). đề cập ở trên, một số điểm đáng lưu ý trong
Từ các vấn đề xã hội cơ bản trong thực
Trên thực tế, kết quả của các công trình việc giải quyết những vấn đề xã hội cơ bản
nghiên cứu cũng chỉ ra một số vấn đề xã hội cụ thể như sau:
cơ bản. Trước hết là phân cực giàu nghèo,
Thứ nhất là, đổi mới thể chế một cách
được thể hiện giữa các vùng miền, giữa đồng bộ. Đây là một trong những yêu cầu
nông thôn và đô thị và giữa các nhóm dân quan trọng để giải quyết các vấn đề xã hội.
tộc. Thứ hai là phân tầng xã hội và bất bình Việc đổi mới thể chế phải mang tính toàn
đẳng xã hội , cụ thể là trên phương diện kinh diện, tổng thể và đổi mới phải đồng bộ cả
tế; phương diện tiếp cận giáo dục; phương thể chế kinh tế lẫn thể chế chính trị để tạo
diện tiếp cận dịch vụ y tế. Thứ ba là vấn nên sự cân bằng, hài hòa (Phạm Quang
đề việc làm còn có những hạn chế nhất Minh, Nguyễn Tuấn Anh, 2019: 226). Việc
định liên quan đến đào tạo nghề, giải quyết đổi mới thể chế tổng thể, cân bằng giữa thể
việc làm cho người lao động. Thứ t ư là chế kinh tế và thể chế chính trị mới mang
việc tham gia bảo hiểm tự nguyện ở nhiều lại hiệu quả trên thực tế và trên phạm vi
Một số vấn đề xã hội…
41
rộng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành qua việc thiết lập hệ thống các tiêu chí để
Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại đo lường sự thực thi nhiệm vụ của những
biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ người làm việc trong các cơ quan nhà nước
ra rằng: “Thể chế kinh tế thị trường định và cơ chế để đảm bảo những tiêu chí đó
hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là hệ thống được thực hiện. Thêm nữa, trách nhiệm giải
luật pháp, cơ chế, chính sách, tiếp tục được trình của thể chế còn phản ánh cơ chế đánh
hoàn thiện. Vai trò, hiệu quả, sức cạnh giá sự thực thi nhiệm vụ của thiết chế (Phạm
tranh của các chủ thể kinh tế, các loại hình Quang Minh, Nguyễn Tuấn Anh, 2019:
doanh nghiệp trong nền kinh tế được nâng 228). Minh bạch thể hiện qua việc sẵn có
lên. Môi trường đầu tư và kinh doanh được thông tin dành cho công chúng cũng như
cải thiện, bình đẳng và thông thoáng hơn” sự rõ ràng của các quy định, quyết định của
(Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, các cơ quan nhà nước. Minh bạch giúp giảm
2016a). Tuy nhiên, về thể chế chính trị, Báo bớt sự thiếu chắc chắn và ngăn chặn tham
cáo chính chỉ ra rằng: “Đổi mới chính trị nhũng của những người làm việc trong hệ
chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế; năng lực thống các cơ quan nhà nước (Phạm Quang
và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính Minh, Nguyễn Tuấn Anh, 2019: 228). Tính
trị chưa ngang tầm nhiệm vụ” (Ban Chấp nhất quán trong việc áp dụng chính sách,
hành Trung ương Đảng khóa XI, 2016a). luật pháp, được thể hiện qua sự đầy đủ của
Như vậy, đổi mới thể chế chính trị chưa cân chính sách, luật pháp và sự công bằng cũng
bằng với đổi mới thể chế kinh tế. Vấn đề như nhất quán trong việc áp dụng chính
quan trọng là cần tiếp tục đổi mới thể chế sách, pháp luật. Những cơ sở này giúp mọi
chính trị để tạo nên sự cân bằng trong đổi người biết được, dự đoán được những cách
mới thể chế ở Việt Nam. Đó là cơ sở quan thức hành động, quyết định và kết quả,
trọng cho việc giải quyết các vấn đề xã hội, hệ quả của các hành động, quyết định của
mang lại sự phát triển nhanh và bền vững những người có thẩm quyền làm việc trong
cho Việt Nam trên con đường đi lên chủ các cơ quan nhà nước (Phạm Quang Minh,
nghĩa xã hội.
Nguyễn Tuấn Anh, 2019: 228). Đây là ba
Thứ hai là, nâng cao chất lượng thể điểm quan trọng giúp nâng cao chất lượng
chế. Để nâng cao chất lượng thể chế cần thể chế để giải quyết có hiệu quả các vấn đề
chú trọng ba điểm, cụ thể là nâng cao trách xã hội (Liu, 2014).
nhiệm giải trình của thể chế; đảm bảo minh
Thứ ba là, chuyển từ cơ chế quản lý
bạch của thể chế; và ban hành đầy đủ đồng phát triển xã hội sang cơ chế quản trị phát
thời với việc thực hiện nhất quán chính triển xã hội trong việc giải quyết các vấn
sách, luật pháp trong giải quyết các vấn đề đề xã hội. Trên thực tế, Việt Nam mới chủ
xã hội (Root, 1995). Trách nhiệm giải trình yếu chú trọng quản lý phát triển xã hội
của thể chế là trách nhiệm và ứng xử của trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.
thể chế đối với nhu cầu của công dân. Cụ Cụ thể là vai trò của Đảng Cộng sản Việt
thể là cấu trúc các cơ quan nhà nước phải Nam, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể
đủ linh hoạt để thiết kế và thực hiện có hiệu trong quản lý phát triển xã hội được thể
quả các chương trình, các dự án nhằm giải hiện trên nhiều phương diện (Phạm Quang
quyết các vấn đề xã hội. Ngoài ra, trách Minh, Nguyễn Tuấn Anh, 2019: 233).
nhiệm giải trình của thể chế còn thể hiện Trước hết, chủ trương, đường lối, chính
Thông tin Khoa học xã hội, số 1.2020
42
sách, luật pháp luôn thể hiện rõ vai trò của chức công và vai trò quan trọng của Nhà
Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức đoàn nước; Ba, xã hội là trung tâm. Con đường
thể trong giải quyết bất bình đẳng xã hội, này nhấn mạnh đến sự tương tác giữa các
phân cực giàu nghèo, phân tầng xã hội, mâu tổ chức công và xã hội với việc ra quyết
thuẫn xung đột xã hội; giảm thiểu rủi ro, định nên từ dưới lên và phản ánh ý kiến
đảm bảo an ninh con người, an sinh xã hội của đại chúng, công chúng (Phạm Quang
(Phạm Quang Minh, Nguyễn Tuấn Anh, Minh, Nguyễn Tuấn Anh, 2019: 229-231).
2019: 233). Minh chứng cụ thể là thực tế Điều quan trọng là tùy vào từng vấn đề xã
quá trình thực hiện các chính sách xã hội, hội cụ thể mà một trong ba lựa chọn trên
các chương trình nhằm giải quyết những có thể được vận dụng để giải quyết vấn đề
vấn đề xã hội cơ bản đã mang lại nhiều kết xã hội cụ thể đó. Như vậy, nhìn một cách
quả tích cực (Phạm Quang Minh, 2019). tổng thể, cơ chế quản trị xã hội dựa trên
Điểm quan trọng nữa là các nguồn lực để cơ sở hợp tác giữa chính quyền, tổ chức
giải quyết những vấn đề xã hội cũng chủ xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng và các
yếu đến từ khu vực nhà nước. Như vậy, cá nhân sẽ giúp huy động và sử dụng hiệu
trên thực tế quản lý phát triển xã hội nhấn quả nhiều loại nguồn lực, bao gồm: vốn
mạnh đến việc Nhà nước, dưới sự lãnh đạo kinh tế, vốn con người, vốn xã hội, vốn
của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết văn hóa trong việc giải quyết các vấn đề
các vấn đề xã hội để thúc đẩy phát triển xã hội (Phạm Quang Minh, 2019). Vì vậy,
xã hội bền vững, công bằng. Tuy nhiên, định hướng quan trọng là chuyển từ quản
để hiệu quả của việc giải quyết các vấn đề lý phát triển xã hội sang quản trị phát triển
xã hội được nâng cao hơn nữa thì cần có xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội một
sự hợp tác, phối hợp tốt hơn giữa chính cách phù hợp, hiệu quả, hiệu lực, có giá trị
quyền, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cộng nhằm thúc đẩy phát triển xã hội bền vững,
đồng và các cá nhân trên nền tảng của thị công bằng (Xem: Liu, 2014).
trường. Đó chính là cơ chế quản trị phát
Thứ t ư là, tích hợp các chính sách xã
triển xã hội - quá trình Chính phủ, các hội để giải quyết hiệu quả các vấn đề xã
tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội, an ninh
cộng đồng và các cá nhân là những đối con người . Kết quả nghiên cứu từ thực
tác hợp tác bình đẳng để điều chỉnh và tế chỉ ra rằng việc tổ chức thực hiện các
quản lý các vấn đề xã hội (Phạm Quang chính sách xã hội, bao gồm: chính sách về
Minh, Nguyễn Tuấn Anh, 2019: 229-233). lao động việc làm, chính sách bảo hiểm xã
Trong quá trình quản trị xã hội, vai trò của hội, chính sách trợ giúp xã hội, chính sách
Chính phủ, thị trường và xã hội cùng tồn giảm nghèo, giảm bất bình đẳng và phân
tại. Tuy nhiên, quyền lực của Chính phủ, tầng xã hội đã mang lại nhiều tác động tích
thị trường và xã hội không cân bằng. Vì cực (Phạm Quang Minh, 2019: 37-130).
thế, ba cách thức của quản trị xã hội có Tuy nhiên, thực tế ban hành chính sách xã
thể là: Một, thị trường là trung tâm. Con hội và tổ chức thực hiện các chính sách xã
đường này nhấn mạnh đến cơ chế cạnh hội ở Việt Nam trong những năm qua còn
tranh, quản lý doanh nghiệp, công nghệ; có tồn tại nhất định. Đó là tình trạng chồng
Hai, Nhà nước là trung tâm. Con đường chéo về chính sách. Thực tế này không chỉ
này nhấn mạnh đến tương tác giữa các tổ diễn ra giữa các chính sách khác nhau, mà
Một số vấn đề xã hội…
43
Tài liệu tham khảo
còn diễn ra trong cùng một hệ thống chính
sách. Hệ quả là gia tăng sự lãng phí trong
quản lý điều hành; phân tán các nguồn
lực; giảm tính chủ động và tăng tính ỷ lại
ở nhiều nhóm đối tượng hưởng thụ chính
sách. Thực tế này làm giảm hiệu quả của
việc giải quyết các vấn đề xã hội (Phạm
Quang, 2019). Vì vậy, yêu cầu thực tế đặt
ra là cần tích hợp các chính sách xã hội
nhằm giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội,
đảm bảo an sinh xã hội, an ninh con người.
Thứ n ăm, xây dựng hệ thống đăng ký
xã hội tích hợp trên cơ sở công nghệ hiện
đại làm nền tảng cho việc triển khai các
chính sách xã hội nhằm giải quyết những
vấn đề xã hội cơ bản (Xem: Bartholo,
Mostafa and Osorio, 2018; The World
Bank, 2017). Đây là hệ thống dựa trên cơ
sở dữ liệu số về mã số công dân. Hệ thống
này chứa đựng toàn bộ dữ liệu liên quan
đến an sinh xã hội của công dân, từ sức
khỏe, học vấn, nghề nghiệp, việc làm, cho
đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nhà
ở, v.v… Hệ thống này cũng liên thông với
các hệ thống chi trả tập trung như ngân
hàng, bảo hiểm, v.v… (Xem: Bartholo,
Mostafa and Osorio, 2018; The World
Bank, 2017). Trên cơ sở hệ thống tích hợp
đó, các cơ quan, tổ chức nhà nước tổ chức
thực hiện các chính sách xã hội hướng
đến giải quyết từng vấn đề xã hội cụ thể;
bởi vì hệ thống này làm nền tảng cho việc
cung cấp dịch vụ an sinh xã hội mang tính
cá nhân hóa, toàn diện, cụ thể, đồng bộ;
đồng thời với việc quản lý vĩ mô các vấn
đề xã hội; thông qua cơ chế đăng ký, nhận
dạng, chi trả, tiếp cận dịch vụ giữa công
dân và các cơ quan nhà nước, các tổ chức
liên quan (Bartholo, Mostafa and Osorio,
2018; The World Bank, 2017). Đây là nền
tảng quan trọng để giải quyết hiệu quả các
vấn đề xã hội
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
X (2011), “Báo cáo chính trị của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Chính
phủ N ước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
tal/page/portal/chinhphu/NuocCHX-
HCNVietNam/ThongTinTongHop/
noidungvankiendaihoidang?category-
Id=10000716&articleId=10038382,
truy cập tháng 1/2018.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI (2016a), “Báo cáo chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII của Đảng”, Báo điện tử Đảng
dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-
uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xii/bao-
cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-
uong-dang-khoa-xi-tai-dai-hoi-dai-bieu-
toan-quoc-lan-thu-xii-cua-dang-1600,
truy cập tháng 01/2018.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI (2016b), “Báo cáo đánh giá kết quả
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương
hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2016 - 2020 tại Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”,
Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,
ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-
dang/lan-thu-xii, truy cập tháng 01/2019.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI (2016b), “Báo cáo đánh giá kết quả
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội 5 năm 2011-2015 và phương
hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2016-2020 tại Đại hội Đại
Thông tin Khoa học xã hội, số 1.2020
44
biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”,
Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,
ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-
hoi-dang/lan-thu-xii, truy cập tháng
01/2019.
nhanh, bền vững: Kinh nghiệm quốc
tế, những vấn đề của Việt Nam và
định hướng đổi mới, hoàn thiện trong
giai đoạn mới”, tr. 217-234, trong: Hội
đồng Lý luận Trung ương (2019), Niên
giám khoa học năm 2018, Nxb. Chính
trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
5. Bartholo, Letícia,
Mostafa, Joana,
and Osorio, Rafael Guerreiro (2018), 10. Phạm Quang Minh (Chủ nhiệm, 2020),
“Integration of administrative records for
social protection policies: contributions
from the Brazilian experience”,
International Policy Centre for Inclusive
Growth (IPC-IG). Working paper
number 169 may, 2018, ISSN 1812-108x,
WP169_Integration_of_administrative_
Kết quả nghiên cứu của đề tài “Quản lý
phát triển xã hội ở nước ta: Thực trạng,
vấn đề đặt ra và định hướng chính
sách”, Mã số: KX.04.15/16-20 thuộc
Chương trình Chương trình: Nghiên
cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn
2016-2020, Mã số: KX.04/16-20 của
Hội đồng Lý luận Trung ương.
records_for_social_protection_policies. 11. Root, Hilton L. (1995), Managing
pdf, truy cập tháng 01/2019.
Development
Through
Institution
6. Liu, Jinfa (2014), “From social
management to social governance: social
conflict mediation in China”, Journal of
Public Affairs, 14(2): 93-104.
Building,
publications/managing-development-
through-institution-building, truy cập
tháng 01/2018.
7. Nguyễn Văn Khánh và Nguyễn Tuấn 12. TheWorldBank(2017),SocialRegistries
Anh (2014), “Biến đổi cơ cấu xã hội
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, Tạp
chí Khoa học xã hội Việt Nam, 79(6):
87-94.
for Social Assistance and Beyond: A
Guidance Note and Assessment Tool,
socialprotection/publication/social
-registries-for-social-assistance-and-
beyond-a-guidance-note-and-assessment
-tool, truy cập tháng 01/2018.
8. Phạm Quang Minh (Chủ biên, 2019),
Quản lý phát triển xã hội Việt Nam:
Thực trạng, vấn đề đặt ra và định
hướng chính sách, Nxb. Chính trị quốc 13. Tổng cục Thống kê (2018), Tổng quan
gia - Sự thật, Hà Nội.
kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2018,
?tabid=382&idmid=2&ItemID=19041,
truy cập tháng 01/2019.
9. Phạm Quang Minh, Nguyễn Tuấn Anh
(2019), “Thể chế và quản lý phát triển
xã hội đảm bảo đất nước phát triển
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề xã hội cơ bản trong quá trình phát triển ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_van_de_xa_hoi_co_ban_trong_qua_trinh_phat_trien_o_vie.pdf

