Nghiên cứu tác động của nhân khẩu học đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng

22  
Phạm Quang Tín  
Nghiên cứu tác động của nhân khẩu học đến ý định  
khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế  
tại thành phố Đà Nẵng  
Phạm Quang Tín  
Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng  
Email liên hệ: [email protected]  
Tóm tắt: Bài viết sử dụng tuần tự các phương pháp kiểm định độ tin cậy thang đo, phân  
tích nhân tố khám phá (EFA); mô hình đa cấu trúc tuyến tính (SEM) để nghiên cứu các biến  
nhân khẩu học được đo lường bằng thang đo nhị phân (0-1) tác động đến ý định khởi nghiệp  
kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố giới tính và đặc điểm kinh tế gia đình tác  
động trực tiếp, nhân tố khu vực sinh sống vừa tác động trực tiếp vừa tác động gián tiếp thông  
qua đặc điểm kinh tế gia đình đến ý định khởi nghiệp kinh doanh. Nhân tố đặc điểm trường  
đại học (công lập và ngoài công lập) không tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên  
khối ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng.  
Từ Khóa: Khởi nghiệp; Nhân khẩu học; Sinh viên, Kinh doanh; Mô hình SEM; Đà Nẵng.  
An investigation into effects of demographic factors on entrepreneurial intention of  
economics students in Da Nang city  
Abstract: This paper employs a combination of quantitative research methods namely  
scalereliabilitytest,exploratoryfactoranalysis(EFA),andstructuralequationmodeling(SEM)to  
investigate how demographic variables, measured by binary scale (0-1), affect entrepreneurial  
intention, measured by Likert scale. The research findings indicate that gender and family  
economic background have direct effects, whereas the place of residence has both direct and  
indirect effects via family economic background on one’s entrepreneurial intention. Types of  
universities (public and non-public ones) have no influence on the entrepreneurial intention  
of economics students in Da Nang city.  
Key words: Entrepreneurial intention; demographic; economics students; structural  
equation modeling (SEM); Da Nang city.  
Ngày gửi bài: 09/07/2021  
Ngày duyệt đăng: 10/09/2021  
1. Đặt vấn đề  
Nghiên cứu của Abdullah, Annum, Mohsin, & Asma (2011) cho thấy khởi sự kinh doanh  
đã và đang dần trở thành một chủ trương, định hướng ưu tiên phát triển ở nhiều quốc gia trên  
thế giới, vì hoạt động khởi nghiệp sẽ tạo ra việc làm, nhiều lợi ích kinh tế và xã hội, là động lực  
để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Theo Anderson (2018) hệ sinh thái khởi nghiệp là chủ đề mà  
các nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà hoạch định chính sách quan tâm xây dựng và phát triển  
để làm nền tảng duy trì sự phát triển của các nền kinh tế. Nghiên cứu của Davidsson (1995)  
cho thấy từ những năm 1970 ở các nước phương Tây, các công ty có lịch sử phát triển lâu năm  
không còn tạo ra việc làm mới cho người lao động nên cần phải có những doanh nghiệp mới  
23  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 05 (73) - 2021  
thành lập để gia tăng việc làm mới trong nền kinh tế. Theo Baumol, Litan, & Schram (2007) khởi  
nghiệp kinh doanh là một chiến lược quan trọng hình thành nên cộng đồng doanh nghiệp và  
là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển (Zanabazar & Jigjiddorj, 2020). Khởi nghiệp, ngoài  
việc tạo việc làm mới cho nền kinh tế, còn gia tăng tính đa dạng các ngành nghề kinh doanh,  
giảm sự phụ thuộc vào một số ít ngành kinh tế, thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với  
môi trường. Nghiên cứu của Jena (2020) cho thấy ngày càng nhiều quốc gia công nhận khởi  
nghiệp là một phương tiện hữu hiệu để tạo việc làm, tăng năng suất, khả năng cạnh tranh, cải  
thiện chất lượng cuộc sống và đạt được các mục tiêu của cộng đồng.  
Như vậy, khởi nghiệp kinh doanh có thể việc tạo ra việc làm, thúc đẩy đổi mới công  
nghiệp, giảm sự phụ thuộc tăng trưởng kinh tế vào một số ngành nghề nhất định, là động lực  
để phát triển. Vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi trọng và hỗ trợ hoạt động khởi  
nghiệp kinh doanh đối với tất cả các thành phần dân cư, trong đó một bộ phận không nhỏ  
cần được khuyến khích mạnh mẽ để khởi nghiệp kinh doanh là sinh viên tại các trường đại  
học, đặc biệt là sinh viên khối ngành Kinh tế. Dickson, Solomon, & Weaver (2008) đã cho thấy  
mối quan hệ giữa giáo dục và khởi nghiệp kinh doanh, cũng như sự thành công của các dự  
án khởi nghiệp kinh doanh có ảnh hưởng bởi yếu tố giáo dục. Linan (2004) chỉ ra phong trào  
khởi nghiệp kinh doanh ở những người đang đi học là thật sự hữu ích cho phong trào khởi  
nghiệp kinh doanh cho mỗi quốc gia. Theo Tkachev & Kolvereid (2019), sinh viên là một lực  
lượng tiềm năng trở thành doanh nghiệp của quốc gia.  
Đà Nẵng là một trong những thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam. Đà Nẵng  
có tổng dân số là 1.241.000 người, có 31 cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học, quy mô đào  
tạo đến cuối năm 2018 là 74.626 sinh viên (GSO, 2020). Như vậy, Đà Nẵng là một những địa  
phương có tiềm năng để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp kinh doanh ở sinh viên. Tuy nhiên,  
chủ đề ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên nói chung và khối ngành kinh tế nói riêng  
chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Đặc biệt, chủ đề nghiên cứu ảnh hưởng của  
nhân khẩu học đến ý định khởi nghiệp kinh doanh sinh viên khối ngành kinh tế chưa được  
quan tâm nghiên cứu. Bài báo này tập trung nghiên cứu tác động của các nhân tố thuộc nhân  
khẩu học đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn  
thành phố Đà Nẵng. Đây là căn cứ định lượng quan trọng để các bên có liên quan tham khảo,  
đề xuất các chương trình, chính sách thúc đẩy phong trào khởi nghiệp kinh doanh tại thành  
phố Đà Nẵng nói chung và sinh viên khối ngành kinh tế nói riêng phù hợp với các đặc điểm  
nhân khẩu học.  
2. Cơ cơ lý thuyết  
2.1. Ý định khởi nghiệp kinh doanh  
Theo Ajzen (1991) ý định là sự nỗ lực của mỗi cá nhân để thực hiện một hành vi nhất  
định và quan điểm này được đồng thuận bởi các nhà nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của  
khách hàng (Herbst, Hannah, & Allan, 2013), (Mandan , Hossein, & Furuzandeh, 2013). Bird  
(1988) đã đề xuất rằng ý định khởi nghiệp kinh doanh liên quan đến trạng thái suy nghĩ của cá  
nhân nhằm tạo ra doanh nghiệp mới, phát triển khái niệm kinh doanh mới hoặc tạo ra giá trị  
mới trong công ty hiện có. Davidsson (1995) cho rằng ý định khởi nghiệp kinh doanh là những  
giả định hoặc kế hoạch kinh doanh của mỗi cá nhân trước khi thành lập doanh nghiệp trong  
thực tế. Theo Abdullah, Annum, Mohsin, & Asma (2011), ý định khởi nghiệp kinh doanh là sự  
lựa chọn và quyết định trở thành doanh nhân trong tương lai của mỗi cá nhân (Mohamad, Lim  
, Yusof, & Soon, 2015).  
24  
Phạm Quang Tín  
2.2. Tác động của nhân khẩu học đến ý định khởi nghiệp kinh doanh  
Các yếu tố thuộc nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, khu vực sinh sống, xuất thân  
gia đình, ... có sự ảnh hưởng khác nhau đến tâm lý và hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội.  
Nghiên cứu của Reynolds, Camp, & Bygrave (2001) cho thấy, các nhân tố nhân khẩu học (giới  
tính, độ tuổi, kinh nghiệm, khu vực sinh sống, v.v.) có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân.  
Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm của Almeida-Couto & Borges-Tiago (2009) cho thấy  
giữa các nhân tố nhân khẩu học và ý định khởi nghiệp kinh doanh có mối liên hệ với nhau.  
Azhar, Javaid, Rehman, & Hyde (2011) đã tìm thấy sự tác động của các nhân tố nhân khẩu học  
đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại Pakistan. Mặc  
dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau và phương pháp phân tích khác nhau nhưng nhiều kết  
quả nghiên cứu cho thấy ý định khởi nghiệp kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố nhân  
khẩu học. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới hạn nghiên cứu sự ảnh hưởng của các  
nhân tố nhân khẩu học sau: giới tính, khu vực sinh sống, đặc điểm trường đại học và đặc điểm  
kinh tế gia đình của sinh viên.  
- Giới tính:  
Giới tính tự nhiên của mỗi cá nhân được xác định từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi.  
Mỗi khu vực, quốc gia sẽ có những quan điểm, chuẩn mực riêng biệt dành cho mỗi giới tính  
khác nhau, từ đó hình thành nên hệ thống quan điểm khác nhau về các vấn đề kinh tế, xã  
hội, chính trị, ... Điều này tạo ra sự khác biệt trong hành vi của mỗi cá nhân trước một sự vật  
và hiện tượng. Kết quả nghiên cứu của Almeida-Couto & Borges-Tiago (2009) cho thấy, cảm  
xúc sợ hãi trong việc chấp nhận rủi ro khi đưa ra một quyết định cụ thể tạo nên sự khác biệt  
trong ý định khởi nghiệp kinh doanh của đàn ông và phụ nữ. Nghiên cứu khả năng phát hiện  
cơ hội trong cuộc sống, DeTienne & Chandler (2007) cho rằng khả năng phát hiện cơ hội kinh  
doanh của nam và nữ là khác nhau, từ đó ý định khởi nghiệp kinh doanh của nam và nữ là  
khác nhau. Sự khác biệt giữa nam và nữ về ý định khởi nghiệp kinh doanh còn được tìm thấy  
trong các nghiên cứu của Abdullah, Annum, Mohsin, & Asma (2011); Azhar, Javaid, Rehman, &  
Hyde (2011); Camelo-Ordaz, Diánez-González, & Ruiz-Navarr (2016).  
- Khu vực sinh sống:  
Theo Damanpour & Scheneider (2006), khu vực sinh sống cũng có tác động đến hành  
vi của mỗi cá nhân một cách khác nhau vì sự khác biệt của các tập quán, thông lệ cũng như  
truyền thống văn hóa vùng miền. Asheim, Moodysson, & Todtling (2011) cho rằng khu vực  
sinh sống của mỗi cá nhân có thể chia thành 3 khu vực: thành thị, ngoại ô, và các khu công  
nghiệp. Điều kiện sinh sống cũng như các dịch vụ công như y tế và giáo dục tại khu vực ngoại  
ô không tiện nghi bằng khu vực đô thị, từ đó sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến tinh thần,  
suy nghĩ và năng lực của mỗi cá nhân trong xã hội. Nghiên cứu của Davidsson (1995) cho  
thấy, tinh thần doanh nhân của mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng bởi yếu tố vùng miền sinh sống.  
Nghiên cứu của Francisco, Esperanza, Inés, & Desiderio (2017) với dữ liệu sơ cấp đã cho thấy  
sự ảnh hưởng của khu vực sinh sống đến ý định khởi nghiệp kinh doanh. Kết quả nghiên cứu  
này tương đồng với những nghiên cứu của Azhar, Javaid, Rehman, & Hyde (2011); Huggins &  
Thompson (2015).  
- Đặc điểm nghề nghiệp của gia đình:  
Quan hệ gia đình là mối quan hệ được thiết lập đầu tiên của mỗi cá nhân, vì vậy cũng  
có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của họ. Theo Ajzen (1991), hành vi của mỗi cá nhân trong  
25  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 05 (73) - 2021  
xã hội chịu ảnh hưởng từ quan điểm của những người xung quanh, đặc biệt là ý kiến từ người  
thân trong gia đình như ông bà và bố mẹ. Sự lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân chịu ảnh  
hưởng từ truyền thống gia đình. Nghiên cứu của Stavrou & Swiercz (1998) cho thấy, mỗi cá  
nhân trong xã hội đều có xu hướng kế thừa truyền thống nghề nghiệp gia đình. Theo (Wang,  
Wang, & Chen, 2018), gia đình kinh doanh có xu hướng định hướng con cháu theo nghiệp  
kinh doanh nhiều hơn so với gia đình thuộc các ngành nghề khác. Huggins & Thompson  
(2015); Sarfraz, Muhammad, Naheed, & Sharjeel (2020); Abdullah, Annum, Mohsin, & Asma  
(2011) cho rằng, gia đình kinh doanh có ảnh hưởng tích cực đến ý định kinh doanh của con  
cái trong gia đình. Sieger, Fueglistaller, & Zellweger (2014) đã chỉ ra sự khác biệt về ý định khởi  
nghiệp kinh doanh của sinh viên ở gia đình kinh doanh và gia đình không kinh doanh, với đối  
tượng khảo sát là sinh viên tại Romania.  
- Đặc điểm trường đại học:  
Theo Kassean, Vanevenhoven, Liguori, & Wink (2015); Kubberød & Pettersen (2017) các  
trường đại học có đào tạo khối ngành kinh tế là nơi cung cấp cho sinh viên kiến thức, rèn  
luyện kỹ năng, hành vi và thái độ cần thiết để tương lai sinh viên có thể trở thành một doanh  
nhân. Sarfraz, Muhammad, Naheed, & Sharjeel (2020) cho rằng các trường đại học đều có sự  
khác biệt về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng dạy, triết lý giáo dục, cũng như hệ thống hỗ  
trợ khởi nghiệp kinh doanh cho sinh viên. Hiểu theo nghĩa rộng, mức độ ảnh hưởng của các  
trường đại học đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên là khác nhau. Nghiên cứu của  
Moraes, Iizuka, & Pedro (2018) tại Brasil đã cho thấy môi trường học tập, hoạt động ngoại khóa  
của trường đại học có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên. Giới hạn  
khảo sát trong nghiên cứu của Bazan, et al., (2019) là sinh viên nam, với kết quả cho thấy môi  
trường học tập tại trường đại học có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.  
3. Mô hình nghiên cứu và mô tả các biến trong mô hình  
3.1. Mô hình nghiên cứu  
Trên cơ sở khung phân tích ở trên, mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố nhân  
khẩu học (gồm: Giới tính; Khu vực sinh sống; đặc điểm nghề nghiệp gia đình; Đặc điểm của  
trường đại học) đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Đà  
Nẵng được thể hiện ở hình 1.  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Mô hình nghiên cứu (hình 1) có 4 nhân tố tác động trực tiếp ý định khởi nghiệp kinh  
doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng. Theo đó, các giả thuyết nghiên  
cứu được mô tả như sau:  
H1: Giới tính có tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh  
tế tại thành phố Đà Nẵng.  
26  
Phạm Quang Tín  
H2: Khu vực sinh sống có tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối  
ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng.  
H3: Gia đình kinh doanh có tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối  
ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng.  
H4: Đặc điểm trường đại học có tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên  
khối ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng.  
3.2. Đo lường các biến trong mô hình  
- Biến “Ý định khởi nghiệp kinh doanh” của sinh viên khối ngành kinh tế được đo lường  
bằng 4 câu hỏi đơn ý theo thang đo Likert 5 mức độ (tỷ lệ thuận). Thang đo này dựa trên sự  
kế thừa từ nghiên cứu của các tác giả Linan & Chen (2009); Kassean, Vanevenhoven, Liguori,  
& Wink (2015); và Francisco, Esperanza, Inés, & Desiderio (2017); Thang đo Ý định khởi nghiệp  
kinh doanh được mô tả cụ thể ở bảng 1.  
Bảng 1. Thang đo Ý định khởi nghiệp kinh doanh  
STT Mã hóa  
Câu hỏi thành phần  
Nguồn  
Tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để khởi sự kinh (Francisco, Esperanza, Inés, &  
1
2
3
4
YDinh1  
doanh thành công.  
YDinh2 Tôi có mục tiêu là trở thành doanh nhân.  
Desiderio , 2017);  
(Francisco, Esperanza, Inés, &  
Desiderio , 2017); (Jena, 2020)  
Tôi quyết tâm tạo ra một doanh nghiệp trong (Francisco, Esperanza, Inés, &  
YDinh3  
Ydinh4  
tương lai.  
Desiderio , 2017); (Jena, 2020)  
Tôi đã suy nghĩ rất nghiêm túc về khởi sự kinh  
doanh.  
(Linan & Chen, 2009)  
- Các biến“Giới tính”, “Khu vực sinh sống”, “Đặc điểm kinh tế gia đình”;“Đặc điểm trường  
đại học sinh viên đang theo học” được đo lường bằng biến nhị phân (biến giả), thể hiện chi  
tiết trong bảng 2.  
Bảng 2. Mô tả các biến nhân khẩu học  
STT Mã hóa  
Biến độc lập  
Cách thức đo lường  
Nhận giá trị 1 nếu sinh viên có giới tính là Nam; Nhận  
giá trị 0 cho các trường hợp khác  
1
Gioitinh Giới tính  
Nhận giá trị 1 nếu sinh viên có khu vực sinh sống (hộ  
khẩu thường trú) là thành thị; Nhận giá trị 0 cho các  
trường hợp khác  
Khu vực sinh  
sống  
2
Khuvuc  
Nhận giá trị 1 nếu sinh viên có phụ huynh là doanh  
nhân, hoặc gia đình là hộ kinh doanh; Nhận giá trị 0  
cho các trường hợp khác  
Đặc điểm kinh tế  
gia đình  
3
4
Kinhdoanh  
Daihoc  
Đặc điểm trường Nhận giá trị 1 nếu sinh viên đang học tại các trường đại  
đại học học công lập; Nhận giá trị 0 cho các trường hợp khác  
4. Kết quả phân tích  
4.1. Mẫu nghiên cứu  
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập bằng bảng câu hỏi điều tra trực tuyến (online), với  
tổng số 387 sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng được điều tra.  
27  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 05 (73) - 2021  
Xét cấu trúc mẫu theo giới tính, có 106 sinh viên nam, chiếm 27,4%, và 281 sinh viên nữ  
chiếm 72,6%. Cơ cấu mẫu theo giới tính có sự chênh lệch như vậy là phù hợp với thực tế ở Việt  
Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng rằng, có nhiều nữ sinh viên theo học khối ngành kinh tế  
hơn so với nam sinh viên.  
Xét cấu trúc mẫu theo khu vực, có 174 sinh viên đến từ khu vực thành thị (chiếm 45%),  
và 213 sinh viên từ khu vực nông thôn (chiếm 55%). Cơ cấu mẫu như vậy là phù hợp với thực  
tế, vì Đà Nẵng là trung tâm chính trị - văn hóa, kinh tế của cả khu vực miền Trung - Tây Nguyên  
nên các trường đại học tại Đà Nẵng tập trung tuyển sinh tại tất cả các tỉnh, thành trong vùng.  
Tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, tỷ lệ người dân sinh sống ở khu vực nông thôn chiếm  
bình quân trên 70 % trong tổng dân số (GSO, 2020).  
Xét cấu trúc mẫu theo đặc điểm trường đại học, có 171 sinh viên đại học công lập (chiếm  
44,2%) và 216 sinh viên các trường ngoài công lập (chiếm 55,8%). Cơ cấu mẫu như vậy là phù  
hợp với thực tế tại Đà Nẵng hiện nay, số trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế ngoài công  
lập nhiều hơn về số lượng cơ sở đào tạo cũng như số lượng sinh viên tuyển sinh hàng năm.  
Theo Lee & Comrey (2016), mẫu nghiên cứu ở mức 200 quan sát là đảm bảo yêu cầu  
nghiên cứu. Hair, Black , Babin , & Anderson (2006) cho rằng mẫu nghiên cứu cần thiết đủ để  
đại diện cho tổng thể nghiên cứu khi số quan sát mẫu nhiều gấp 5 lần số câu hỏi thành phần  
trong bảng câu hỏi. Vậy với mẫu nghiên cứu là 387, theo nghiên cứu của Lee & Comrey (2016)  
cũng như Hair, Black , Babin , & Anderson (2006), là đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu. Nói  
cách khác, mẫu nghiên cứu (Bảng 3) đảm bảo độ tin cậy về tính đại diện để nghiên cứu ý định  
khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng.  
Bảng 3. Dữ liệu mẫu nghiên cứu  
Biến  
Nữ  
Số người (sinh viên)  
Tỷ trọng (%)  
27,4  
Nam  
106  
281  
174  
213  
171  
216  
387  
Giới tính  
72,6  
Thành thị  
45,0  
55,0  
Khu vực  
Nông thôn  
Công lập  
44,2  
55,8  
100  
Trường đại học  
Ngoài công lập  
Tổng  
Nguồn: Kết quả điều tra trực tuyến  
4.2. Kiểm định thang đo và phân tích nhân tố khám phá  
Vì thang đo của nhân tố“Ý định khởi nghiệp kinh doanh”được đo lường bằng thang đo  
Likert, chúng tôi thực hiện việc kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá  
để đảm bảo các câu hỏi thành phần (Ydinh1; Ydinh2; Ydinh3; Ydinh4) có thể đáp ứng được yêu  
cầu của việc đo lường nhân tố “Ý định khởi nghiệp kinh doanh”.  
Theo dữ liệu bảng 4, giá trị Cronbach’s Alpha là 0,812 (lớn hơn 0,6) và giá trị hệ số tương  
quan của từng câu hỏi thành phần với tương quan tổng (Corrected Item-Total Correlation)  
tương ứng với (Ydinh1; Ydinh2; Ydinh3; Ydinh4) đều lớn hơn 0,3. Theo Lavrakas (2008) thì kết  
quả phân tích độ tin cậy thang đo như vậy là đảm bảo.  
28  
Phạm Quang Tín  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis – EFA) cho thấy, giá trị  
hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) là 0,787 (lớn hơn 0.5); giá trị sig (mức ý nghĩa) của kiểm định  
Barlett’s là 0,000 (nhỏ hơn 5%); Initial Eigenvalues là 2,597 (lớn hơn 1) và các giá trị hệ số tải  
nhân tố (Loading value) tương ứng với 4 câu hỏi thành phần đều lớn hơn 0,5. Dựa theo Hair,  
Black , Babin , & Anderson, (2006) thì kết quả phân tích EFA là đảm bảo độ tin cậy.  
Bảng 4. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá  
đối với biến “Ý định khởi nghiệp kinh doanh”  
Biến  
YDinh1  
YDinh2  
YDinh3  
YDinh4  
Chỉ tiêu  
Corrected Item-Total Correlation  
Loading value  
0,485  
0,671  
0,681  
0,844  
0,729  
0,872  
0,648  
0,821  
Cronbach’s Alpha  
KMO  
Bartlett’s Test (Sig)  
Initial Eigenvalues  
Rotation Sums of Squared Loadings (%)  
0,812  
0,787  
0,000  
2,597  
64,919  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra trực tuyến  
4.3. Kết quả kiểm định các nhân tố  
Để phân tích tác động của các yếu tố thuộc nhân khẩu học đến ý định khởi nghiệp  
kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng (hình 1), tác giả sử dụng  
phương pháp phân tích hồi quy Bình phương bé nhất (OLS). Trong đó, biến phụ thuộc là “Ý  
định khởi nghiệp kinh doanh”được xác định bằng trung bình cộng của 4 câu hỏi thành phần  
(Ydinh1, Ydinh2, Ydinh3, Ydinh4) và các biến độc lập được xác định theo bảng 2.  
Kết quả ước lượng và kiểm định (Phụ lục 1) có giá trị Sig của kiểm định F (ANOVA) là  
0,000 (nhỏ hơn 5%) cho thấy mô hình nghiên cứu (hình 1) có ý nghĩa thống kê và đảm bảo  
tính phù hợp. Tuy nhiên, kết quả kiểm định đa cộng tuyến bằng hệ số nhân tử phóng đại  
phương sai (VIF) cho thấy nhân tố khu vực sinh sống (Khuvuc) và đặc điểm kinh tế của gia  
đình (Kinhdoanh) có thể tồn tại hiện tượng tương quan với nhau vì giá trị hệ số VIF của hai  
nhân tố này là 11,521. Kết quả này cho thấy mô hình nghiên cứu (hình 1) có thể tồn tại hiện  
tượng đa cộng tuyến nên kết quả ước lượng và kiểm định theo OLS dùng để kết luận hệ thống  
giả thuyết nghiên cứu là chưa đảm bảo độ tin cậy.  
Thực tế cho thấy, mối quan hệ giữa “Khu vực sinh sống” và “Đặc điểm kinh tế của gia  
đình”có thể không phải là mối quan hệ tương quan, mà đó có thể là mối quan hệ tác động của  
khu vực sinh sống đến đặc điểm kinh tế của gia đình. Theo GSO (2020), phân bổ dân số theo  
khu vực ở Việt Nam nói chung và các địa phương lân cận Đà Nẵng, có tỷ lệ khu vực nông thôn  
khoảng 70%. Do đó, phần lớn điều kiện sinh kế của người dân trong khu vực này không thuận  
lợi cho việc kinh doanh, cụ thể như: thị trường tiêu thụ, hạ tầng giao thông,… giống như ở  
khu vực thành thị. Hoạt động sản xuất ở nông thôn chủ yếu là trong lĩnh vực nông nghiệp.  
Ngược lại, người dân ở khu vực thành thị lại không có nhiều điều kiện về nguồn lực sản xuất  
(ví dụ như đất canh tác), nên xu hướng lựa chọn kinh doanh sẽ cao hơn so với người dân ở khu  
vực nông thôn. Vì vậy, mô hình nghiên cứu ở hình 1 được điều chỉnh thành mô hình ở hình 2.  
29  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 05 (73) - 2021  
Hình 2. Mô hình nghiên cứu điều chỉnh  
Về cơ bản, mô hình nghiên cứu ở hình 1 và mô hình nghiên cứu điều chỉnh ở hình 2  
không có sự khác biệt lớn. Trong đó, ở mô hình nghiên cứu điều chỉnh (hình 2), nhân tố khu  
vực sinh sống (Khuvuc) không chỉ tác động trực tiếp mà còn có tác động gián tiếp đến Ý định  
khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế Đà Nẵng thông qua nhân tố Đặc  
điểm kinh tế gia đình (Kinhdoanh). Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của mô hình điều chỉnh  
(hình 2) không thay đổi so với mô hình chưa điều chỉnh (hình 1).  
Mô hình nghiên cứu điều chỉnh (hình 2) phản ảnh mối quan hệ đa tầng, gồm có 3 nhân  
tố, cụ thể: “Đặc điểm trường đại học”, “Giới tính”, “Đặc điểm kinh tế của gia đình” có tác động  
trực tiếp; và nhân tố “Khu vực sinh sống” có tác động vừa trực tiếp vừa gián tiếp đến “Ý định  
khởi nghiệp kinh doanh” của sinh viên khối ngành kinh tế tại Đà Nẵng. Theo Haenlein &  
Kaplan (2004), mô hình đa cấu trúc tuyến tính (SEM) cho phép thực hiện việc ước lượng và  
kiểm định các mối quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp đa tầng giữa các nhân tố trong mô  
hình điều chỉnh (hình 2). Kết quả phân tích SEM ở bảng (5), có P (mức ý nghĩa) của kiểm định  
chi bình phương (Chisquare test) là 0,000 (nhỏ hơn 5%); giá trị Chisquare\df là 2,982 (nhỏ hơn  
3); CFI là 0,968 và TLI là 0,841 (đều cao hơn 0.8); RMSEA là 0,05 (nhỏ hơn 0,08). Theo Haenlein  
& Kaplan (2004). Nhìn chung, các kết quả kiểm định chỉ ra mô hình nghiên cứu là đáng tin cậy,  
do vậy các kết quả phân tích SEM là phù hợp để kết luận các giả thuyết nghiên cứu của mô  
hình (hình 1).  
Bảng 5. Kết quả ước lượng và kiểm định bằng mô hình SEM  
Estimate  
0,314  
-0,010  
0,479  
0,586  
0,186  
S.E.  
0,043  
0,042  
0,056  
0,053  
C.R.  
P
***  
0,802  
***  
***  
Kinhdoanh  
YDinh  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
Khuvuc  
Daihoc  
Gioitinh  
Khuvuc  
Kinhdoanh  
2,982  
7,236  
-0,251  
8,511  
11,142  
3,823  
YDinh  
YDinh  
YDinh  
Chisquare\df  
CFI  
0,049  
***  
0,000  
Chisquare test  
RMSEA  
,968  
TLI  
0,841  
0,005  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra trực tuyến  
4.4. Kết quả nghiên cứu  
Kết quả kiểm định cho thấy, có ba giả thuyết nghiên cứu (H1; H2; H3) được chấp nhận  
và một giả thuyết nghiên cứu (H4) bị bác bỏ.  
30  
Phạm Quang Tín  
- Nhân tố “Giới tính” có tác động đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối  
ngành kinh tế tại Đà Nẵng vì có giá trị P nhỏ hơn 1%. Đồng thời, nhân tố này cũng có tác động  
mạnh nhất vì có giá trị hệ số ước lượng là 0,479 (lớn nhất trong 3 nhân tố tác động đến ý định  
khởi nghiệp). Ngoài ra, hệ số ước lượng mang dấu dương (+), phản ánh ý định khởi nghiệp  
kinh doanh của sinh viên nam cao hơn so với nữ. Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt theo giới  
tính về ý định kinh doanh là do đặc điểm tự nhiên theo tính cách của nam và nữ. Bên cạnh đó,  
quan điểm về vai trò của nam và nữ trong gia đình, theo truyền thống văn hóa - xã hội của Việt  
Nam, làm cho nam giới có động cơ kiếm tiền mạnh mẽ và mức độ chịu rủi ro cao hơn so với nữ.  
Sự khác biệt giữa nam và nữ về ý định khởi nghiệp kinh doanh trong nghiên cứu này tương  
đồng với kết quả nghiên cứu của Abdullah, Annum, Mohsin, & Asma (2011); Azhar, Javaid,  
Rehman, & Hyde (2011); Camelo-Ordaz, Diánez-González, & Ruiz-Navarr (2016).  
- Để ước lượng mức độ tác động gián tiếp của nhân tố “Khu vực sinh sống” đến ý định  
khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Kinh tế tại thành phố Đà Nẵng, chúng tôi đã sử dụng  
phương pháp do MacKinnon (2008) đề xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhân tố “Khu vực  
sinh sống” có giá trị P của tác động trực tiếp và tác động gián tiếp đều nhỏ hơn 1%, nên có  
thể kết luận nhân tố này vừa có tác động trực tiếp, vừa có tác động gián tiếp đến“Ý định khởi  
nghiệp”. Tổng giá trị ước lượng tác động của nhân tố “Khu vực sinh sống” đến “Ý định khởi  
nghiệp” là 0,372 (0,314 + 0,314*0,186) và xếp vị trí thứ hai trong ba nhân tố. Kết quả này cho  
thấy sinh viên được sinh ra và trưởng thành tại khu vực đô thị có ý định khởi nghiệp cao hơn  
ở khu vực nông thôn. Nguyên nhân của sự khác biệt này là do sinh viên ở thành thị được tiếp  
xúc thường xuyên với các hình ảnh về kinh doanh, dịch vụ, trung tâm thương mại, v.v Từ đó,  
họ dần hình thành nên tư tưởng kinh doanh từ nhỏ và có quá trình hình thành lâu dài hơn  
so với sinh viên nông thôn. Ngoài ra, xét ở góc độ về nguồn lực đất sản xuất, cơ hội lựa chọn  
nghề nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên thành thị cũng thấp hơn so với sinh  
viên nông thôn. Điều này cũng góp phần làm cho ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh  
viên thành thị cao hơn so với nông thôn (Azhar, Javaid, Rehman, & Hyde, 2011); (Huggins &  
Thompson, 2015); (Francisco, Esperanza, Inés, & Desiderio, 2017).  
- Xét theo đặc điểm kinh tế của gia đình, sinh viên có phụ huynh là doanh nhân hoặc  
gia đình là hộ kinh doanh thì có ý định khởi nghiệp kinh doanh cao hơn so với các nhóm sinh  
viên khác, vì có giá trị P nhỏ hơn 5% và giá trị hệ số ước lượng mang dấu dương (+) (Abdullah,  
Annum, Mohsin, & Asma , 2011); (Huggins & Thompson, 2015); (Sarfraz, Muhammad , Naheed,  
& Sharjeel, 2020). Với giá trị 0,186, nhân tố“Đặc điểm kinh tế của gia đình”xếp cuối cùng trong  
ba nhân tố tác động đến “Ý định khởi nghiệp kinh doanh” của sinh viên khối ngành kinh tế.  
Nguyên nhân của sự khác biệt này được Stavrou & Swiercz (1998) cho là do tính kế thừa của  
gia đình kinh doanh cao hơn những hộ ở ngành nghề khác. Theo Wang, Wang, & Chen (2018),  
gia đình kinh doanh có xu hướng định hướng con cháu theo nghiệp kinh doanh nhiều hơn so  
với gia đình làm việc ở những ngành nghề khác.  
- Nhân tố “Đặc điểm trường đại học” không có tác động đến “Ý định khởi nghiệp kinh  
doanh”của sinh viên khối ngành kinh tế tại Đà Nẵng vì giá trị P là 0,802 (lớn hơn 10%) (là mức  
ý nghĩa cao nhất chấp nhận được). Nói cách khác, ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành  
kinh tế đang học tại các trường đại học công lập hay ngoài công lập đều như nhau. Kết quả  
nghiên cứu này, mặc dù có khác biệt so với kết quả của Moraes, Iizuka, & Pedro (2018); Bazan,  
et al. (2019) nhưng lại phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam nói chung và Đà Nẵng  
nói riêng. Nguyên nhân là do chương trình đào tạo, hoạt động đào tạo và các hoạt động khác  
31  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 05 (73) - 2021  
trong các trường đại học có đào tạo khối ngành kinh tế ở Việt Nam cũng như ở Đà Nẵng không  
có có sự khác biệt lớn. Tất cả chương trình đào tạo của các trường đại học được xây dựng dựa  
trên một chương trình khung (một số nội dung tương đồng mang tính bắt buộc) của Bộ Giáo  
dục và Đào tạo. Đồng thời, xu hướng kiểm định và đảm bảo chất lượng giáo dục của chương  
trình đào tạo đang được thực hiện theo các tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều này  
cho thấy rằng các trường đại học khi xây dựng nội dung chương trình đào tạo đều hướng đến  
việc đạt chuẩn đảm bảo chất lượng giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc các chuẩn kiểm  
định quốc tế. Ngoài ra, các trường còn tham khảo chương trình đào tạo lẫn nhau khi xây dựng  
chương trình để đối sánh và trao đổi nguồn lực giảng dạy. Vì vậy, chương trình đào tạo cũng  
như các hoạt động khác phục vụ đào tạo không có sự khác biệt lớn giữa các trường đại học  
trong và ngoài hệ thống công lập, dẫn đến kết quả nhân tố “Đặc điểm trường đại học”không  
có ảnh hưởng đến “Ý định khởi nghiệp kinh doanh”của sinh viên.  
Bảng 6. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu  
Hệ số ước  
lượng  
Giả thuyết nghiên cứu  
P-Value Kết luận  
Giới tính có tác động đến ý định khởi nghiệp  
H1: kinh doanh của sinh viên khối ngành Kinh tế tại  
Thành phố Đà Nẵng.  
Chấp  
nhận  
0,479  
***  
Khu vực sinh sống có tác động đến ý định khởi  
H2: nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành  
Kinh tế tại Thành phố Đà Nẵng.  
Gia đình kinh doanh có tác động đến ý định khởi  
H3: nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành  
Kinh tế tại Thành phố Đà Nẵng.  
Đặc điểm trường Đại học có tác động đến ý định  
H4: khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành  
Kinh tế tại Thành phố Đà Nẵng.  
Chấp  
nhận  
0,372  
0,186  
-0,010  
***  
Chấp  
nhận  
***  
0,802  
Bác bỏ  
***: Mức ý nghĩa 1%  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra trực tuyến  
5. Kết luận  
Sử dụng dữ liệu điều tra sơ cấp từ 387 sinh viên khối ngành kinh tế đang theo học tại  
các trường đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, bài báo này nghiên cứu các biến nhân  
khẩu học được đo lường bằng thang đo nhị phân (0-1) tác động đến ý định khởi nghiệp kinh  
doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có hai nhân tố tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp  
của sinh viên là “Giới tính”, “Đặc điểm kinh tế của gia đình”. Một nhân tố vừa có tác động trực  
tiếp vừa gián tiếp đến“Ý định khởi nghiệp kinh doanh”là“Khu vực sinh sống”. Kết quả nghiên  
cứu cũng chỉ ra rằng, không có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên  
khối ngành kinh tế đang theo học tại các trường đại học công lập và ngoài công lập.  
Bên cạnh sự đóng góp về mặt thực nghiệm, nghiên cứu này là một trong số ít công  
trình sử dụng mô hình đa cấu trúc tuyến tính (SEM) để phân tích mối quan hệ đa chiều giữa  
các biến số nhân khẩu học và ý định khởi nghiệp kinh doanh. Đây là một cách tiếp cận đáng  
để tham khảo trong thực hiện các nghiên cứu tương đồng. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu  
32  
Phạm Quang Tín  
này còn khá đơn giản khi chỉ đề cập đến duy nhất các biến số nhân khẩu học trong mối  
tương quan với ý định khởi nghiệp kinh doanh; chưa phân tích sự khác biệt trong đặc điểm về  
chuyên ngành đào tạo thuộc khối ngành kinh tế đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh  
viên, và cũng chưa nghiên cứu sự khác biệt theo kinh nghiệm làm thêm của sinh viên đến ý  
định khởi nghiệp kinh doanh.  
Chú thích:  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng  
trong đề tài có mã số B2018-ĐN04-15.  
Tài liệu tham khảo  
Baumol, W. J., Litan, R. E., & Schram, C. J. (2007). Good capitalism, bad capitalism and the  
economics of growth and prosperity. Yale University Press : New Haven.  
Camelo-Ordaz, C., Diánez-González, J. P., & Ruiz-Navarr, J. (2016). The influence of gender  
on entrepreneurial intention: The mediating role of perceptual factor. BRQ Business Research  
Quarterly, 19(4), 261-277.  
Linan, F. (2004). Intention-based models of entrepreneurship education. Piccola Impresa/  
Small Business, 11-35.  
Moraes, G. H., Iizuka, E. S., & Pedro, M. (2018). Effects of Entrepreneurial Characteristics  
and University Environment on Entrepreneurial Intention. RAC, Rio de Janeiro, 22(4), 226-248.  
Abdullah, A., Annum, J., Mohsin, R., & Asma , H. (2011). Entrepreneurial Intentions among  
Business Students in Pakistan. Journal of Business Systems, Governance and Ethics, 5, No 2, 13-21.  
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human  
Decision Processes, 50(2), 179-211.  
Almeida-Couto, J. P., & Borges-Tiago, M. T. (2009). Propensity for entrepreneurship  
among university students. Bussiness Review, 12(1), 308-316.  
Anderson, E. H. (2018). Intersections of Partnership and Leadership in Entrepreneurial  
Ecosystems Comparing Three U.S. Regions. Economic Development Quarterly, 32(2), 119-134.  
Asheim, B., Moodysson, J., & Todtling, F. (2011). Constructing regional advantage:  
towards state-of the-art regional innovation system policies in Europe? European Planning  
Studies, 19(7), 1133-1139.  
Azhar, A., Javaid, A., Rehman, M., & Hyde, A. (2011). Entrepreneurial Intentions among  
Business Students in Pakistan. Journal of Business Systems, Governance and Ethics, 5(2), 13-21.  
Bazan, C., Datta, A., Gaultois, H., Shaikh, A., Gillespie, K., Jones, & Jada. (2019). Effect of  
the university in the entrepreneurial intention of female students. International Journal of  
Entrepreneurial Knowledge, 7(2), 123-131.  
Bird, B. (1988). Implementing Entrepreneurial Ideas: The Case for Intention. The Academy  
of Management Review, 13(3), 442-453.  
Damanpour, F., & Scheneider, M. (2006). Phases of the adoption of innovations in  
organizations: effects of environment, organization and top managers. British Journal of  
Management,, 17(3), 215-236.  
33  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 05 (73) - 2021  
Davidsson, P. (1995). Determinants of entrepreneurial intentions. Piacenza, Italy: Paper  
prepared for the RENT IX Workshop.  
DeTienne, D. R., & Chandler, G. N. (2007).The Role of Gender in Opportunity Identification.  
Entrepreneurship Theory and Practice, 31(3), 365–386.  
Dickson, P. H., Solomon, G. T., & Weaver, K. M. (2008). Entrepreneurial selection and  
success: does education matter. Journal of Small Business and Enterprise Development , 15(2),  
239 - 258.  
Francisco, G.-R. J., Esperanza, G.-S., Inés, R.-R., & Desiderio , G.-T. (2017). Entrepreneurial  
potential in less innovative regions: the impact of social and cultural environment. European  
Journal of Management and Business Economic, 26(2), 163-179.  
Georgescu, M.-A., & Herman, E. (2020).The Impact of the Family Background on Students’  
Entrepreneurial Intentions: An Empirical Analysis. Sustainability (MDPI), 12, 1-8.  
GSO. (2020). General Statistics Office Report. HaNoi, VietNam: General Statistics Office-  
Haenlein, M., & Kaplan, A. M. (2004). A Beginner’s Guide to Partial Least Squares Analysis.  
Understanding Statistics, 3(4), 283–297.  
Hair, J., Black , W., Babin , B., & Anderson. (2006). Multivariate data analysis (Vol. 6 ed.).  
Pearson Prentice Hall Upper Saddle River: ttps://is.muni.cz/el/1423/podzim2017/PSY028/  
um/_Hair_Multivariate_data_analysis_7th_revised.pdf.  
Herbst, K. C., Hannah, S. T., & Allan, D. (2013). Advertisement Disclaimer Speed and  
Corporate Social Responsibility: “Costs” to Consumer Comprehension and Effects on Brand  
Trust and Purchase Intention. Journal of Business Ethics, 3, 1-15.  
Huggins, R., & Thompson, P. (2015). Entrepreneurship, innovation and regional growth:  
a network theory. Small Business Economics, 45(1), 103-128.  
Jena, R. K. (2020). Measuring the impact of business management Student’s attitude  
towards entrepreneurship education on entrepreneurial intention: A case study. Computers in  
Human Behavior, 107, 1-10.  
Kassean, H., Vanevenhoven, J., Liguori, E., & Wink, D. (2015). Entrepreneurship education:  
A need for reflection, real-world experience and action. International Journal of Entrepreneurial  
Behaviour & Research, 21, 690–708.  
Kubberød, E., & Pettersen, I. B. (2017). Exploring situated ambiguity in students’  
entrepreneurial learning. Education and Training, 59(3), 265–279.  
Lavrakas, P. (2008). Encyclopedia of Survey Research Methods (1st ed ed.). SAGE.  
Lee, H., & Comrey, A. (2016). A First Course in Factor Analysis (2nd ed.). Psychology Press -  
ISBN-13: 978-1138965454.  
Linan, F., & Chen, Y. (2009). Development and cross-cultural application of a specific  
instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 33(3),  
593-617.  
MacKinnon, D. P. (2008). Introduction to Statistical Mediation Analysis (1st ed.). New York:  
Lawrence Erlbaum Associates.  
34  
Phạm Quang Tín  
Mandan , M., Hossein, S., & Furuzandeh, A. (2013). Investigating the Impact of Advertising  
on Customers Behavioural Intentions: A Case of Agriculture Bank. Business and Economics  
Research, 33(1), 1-20.  
Mohamad, N., Lim , K. H., Yusof, N., & Soon, J. J. (2015). Estimating the effect of  
entrepreneur education on graduates intention to be entrepreneurs. Education+ Training,,  
57(8/9), 874 – 890.  
Reynolds, P. D., Camp, S. M., & Bygrave, W. D. (2001). Global Entrepreneurship Monitor.  
London.: Babson College, IBM, Kauffman Center for Entrepreneurial Lead ership and London  
Business School,.  
Sarfraz, Z., Muhammad , A., Naheed, S., & Sharjeel, S. (2020). The effect of family business  
exposure on individuals’ entrepreneurial intentions: an institutional theory perspective.  
Journal of Family Business Management, 4, 1-18.  
Sieger, P., Fueglistaller, U., & Zellweger, T. (2014). Student entrepreneurship across the  
globe: a look at intentions and activities”,. Gallen: International Report of the GUESSS Project  
2013/2014, Swiss Research Institute of Small Bus at the University of St. Gallen (KMU-HSG),  
pdfiness and Entrepreneurship.  
Stavrou, E. T., & Swiercz, P. M. (1998). Securing the future of the family enterprise: a model  
of offspring intentions to join the business. Entrepreneurship Theory and Practice, 23(2), 19-40.  
Tkachev, A., & Kolvereid, L. (2019). Self-employment intentions among Russian students.  
Entrepreneurship & Regional Development, 11(3), 269-280.  
Wang, D.,Wang, L., & Chen, L. (2018). Unlocking the influence of family business exposure  
on entrepreneurial intentions. International Entrepreneurship and Management Journal, 14(4),  
951-974.  
Zanabazar, A., & Jigjiddorj, S. (2020). The factors effecting entrepreneurial intention of  
university students: case of Mongolia. SHS Web of Conferences 73 (IES2019).  
Phụ lục 1: Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình (1) theo OLS  
Unstandardized Standardized  
Collinearity  
Statistics  
Coefficients  
Coefficients  
Sig.  
Tolerance  
Model  
B
t
Std.  
Error  
(Constant) 2,892  
Beta  
VIF  
,034  
,051  
,058  
,042  
,050  
84.238  
11,389  
8,262  
-,249  
.000  
,000  
,000  
,803  
,000  
Khuvuc  
1 Gioitinh  
Daihoc  
,586  
,479  
-,010  
,460  
,337  
-,008  
,133  
,087  
,645  
,992  
,087  
11,521  
1,549  
1,009  
Kinhdoanh ,186  
3,708  
11,521  
Sig (F-ANOVA)  
.000  
a. Dependent Variable: Y dinh khoi nghiep  
pdf 13 trang baolam 18600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tác động của nhân khẩu học đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tac_dong_cua_nhan_khau_hoc_den_y_dinh_khoi_nghiep.pdf