Phân tích ảnh hưởng của vốn nhân lực đến thu nhập và bất bình đẳng thu nhập theo giới tính tại Đồng bằng sông Cửu Long
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
ANALYSIS OF EFFECTS OF THE HUMAN CAPITAL ON
INCOME AND GENDER INCOME DIFFERENTIALS IN THE
MEKONG RIVER DELTA REGION
Le Pham Tuong Via
Huynh Truong Huyb
Can Tho University
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
11/10/2021
23/10/2021
29/10/2021
05/11/2021
30/11/2021
DOI:
his article combines both the capital human theory by Mincer (1974) and the income decomposition
analysis by Oaxaca (1973) and Blinder (1973) that aims at estimating the impacts of the human
T
capital on laborer’s income and gender income differentials in the Mekong River Delta (MRD) region, by
using the data extracted from the Vietnam Household Living Standards Survey in 2018 (called VHLSS
2018). The emprical findings from the sample of 7.558 paid laborers in this region reports that the female
laborers earned about 84% of what male co-worker earned. Not surprisingly, such gender differential in
incomes was caused on the calculation by the phenomenon called “labor market discrimination”. While,
factors relating to the human capital and demographic features are estimated as strong predictors of the
incomes, but not affect the gender income differentials. The empirical findings suggest the intervention
policies on improving gender-aware for employers, preferentials on recruitment for female laborers, and
vocational training for females to better engage in labor market. (forthcoming)
Keywords: Incomes; Income differentials; Gender; Labor; The Mekong river delta region.
1. Đặt vấn đề
chứng minh rằng bất kỳ sự phân biệt đối xử trong
thị trường lao động sẽ dẫn đến giảm sút thu nhập
thực tế đối với nhóm lao động bị phân biệt đối xử.
Bất bình đẳng thu nhập giữa các nhóm lao động
trên thị trường lao động luôn tồn tại khách quan
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Theo đó, Fletcher
(2013) cho rằng, sự bất bình đẳng thu nhập gắn liền
với sự khác biệt giữa các cá nhân trong xã hội hay
giữa các quốc gia. Trong khi đó, Mincer (1974)
nhấn mạnh đến vai trò của vốn nhân lực ảnh hưởng
đến thu nhập và bất bình đẳng thu nhập giữa các
nhóm lao động có sự khác biệt về trình độ học vấn.
Edgeworth (1922) được xem như một trong
những nhà nghiên cứu tiên phong tìm hiểu và đề
cập về sự phân biệt trên thị trường lao động, đặc
biệt sự phân biệt về trả thù lao theo giới tính. Sau
đó, Becker (1957) cũng phản ánh về sự bất bình
đẳng thu nhập theo giới tính, bên cạnh các yếu tố
khác sắc tộc, tôn giáo, vị trí xã hội… Becker đã
Theo báo cáo Điều tra lao động việc làm giai
đoạn 2016-2019, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình
quân/tháng của lao động nữ đạt 11,44%/năm, so với
10,65%/năm đối với lao động nam. Sự tăng trưởng
thu nhập cao và nhanh của lao động nữ đã góp phần
thu hẹp sự chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ từ
1,21 lần xuống còn 1,18 lần trong cùng giai đoạn
(Tổng cục Thống kê, 2020a). Xét về góc độ vùng
kinh tế, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có
xấp xỉ 1 triệu lao động đang làm việc từ 15 tuổi trở
lên, chiếm 55,7% dân số của vùng và chiếm 18%
lực lượng lao động của cả nước. Chênh lệch thu
nhập của người lao động của vùng ĐBSCL so với
cả nước cũng dần được thu hẹp, giảm từ 1,21 lần
44
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
năm 2010 xuống còn 1,10 lần năm 2019. Tuy nhiên, năm 2014, Mai Quang Hợp và cộng sự (2018) phát
thông tin thống kê và phân tích gần đây về bất bình hiện rằng tiền lương tính theo giờ của lao động nam
đẳng thu nhập theo giới tính ở cấp vùng hầu như cao hơn so với lao động nữ gần 3.000 đồng mỗi giờ
thiếu vắng. Vì vậy, mục tiêu trọng tâm của nghiên lao động. Đáng chú ý, sự bất bình đẳng thu nhập
cứu này phân tích sự bất bình đẳng thu nhập theo trên chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố chưa quan
giới tính và đo lường mức độ ảnh hưởng của vốn sát được (phân biệt đối xử), so với các yếu tố giải
nhân lực đến sự bất đẳng thu nhập đối với lao động thích được như vốn nhân lực. Có thể suy luận, tồn
tại vùng ĐBSCL.
tại phân biệt đối xử trong việc trả tiền công, lương
đối với lao động nữ.
2. Tổng quan nghiên cứu
Dựa trên lược khảo về lý thuyết và bằng chứng
phân tích về tác động của các yếu tố nhân khẩu học,
vốn nhân lực và yếu tố phân biệt đối xử… đến thu
nhập và bất bình đẳng thu nhập giữa các nhóm lao
động theo yếu tố giới tính. Vì vậy, một số giả thuyết
đặt ra trong nghiên cứu này, đó là:
Trong nghiên cứu về vai trò của vốn nhân lực
(học vấn và kinh nghiệm) đối với thu nhập của cá
nhân, Mincer (1974) khẳng định, lao động với vốn
nhân lực tốt hơn sẽ đạt được mức thu nhập cao
hơn. Đồng thời, ông cũng chỉ ra có sự tồn tại về bất
bình đẳng thu nhập giữa lao động nam và nữ. Một
vài nghiên cứu về bất bình đẳng thu nhập tại Việt
Giả thuyết 1: Yếu tố vốn nhân lực có ảnh hưởng
Nam, điển hình trong số đó như nghiên cứu của Liu quan trọng đến mức thu nhập của người lao động.
(2004) sử dụng số liệu từ cuộc khảo sát mức sống
hộ dân cư năm 1993 và năm 1998 tại Việt Nam để
phân tích sự bất bình đẳng thu nhập và vận dụng
phương pháp phân tích Oaxaca và Blinder (1973).
Kết quả phân tích đã khẳng định rằng với số năm
học vấn tăng thêm, lao động nam sẽ nhận được mức
lương cao hơn 5% so với lao động nữ, mặc dù họ
cùng trình độ học vấn và kinh nghiệm.
Sau này, nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt
(2014) tiếp tục phát hiện mức lương trung bình của
lao động nữ chỉ bằng 85% so với mức lương trung
bình của lao động nam. Đáng chú ý hơn, khi phân
tích đối với ngành nông, lâm và ngư nghiệp, tỷ lệ
này chỉ đạt 67%, ngành công nghiệp là 78%. Một
nghiên cứu về bất bình đẳng thu nhập theo khu vực
thành thị và nông thôn, Trần Thị Tuấn Anh (2015)
sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát mức sống hộ dân
cư năm 2012. Kết quả phân tích chỉ ra rằng lao động
làm việc ở thành thị nhận được mức thu nhập cao
hơn so với những đồng nghiệp làm việc ở khu vực
nông thôn; điều này diễn ra ở các ngành nghể trong
nền kinh tế.
Gần đây nhất, Hong Vo và cộng sự (2021) sử
dụng dữ liệu theo chuỗi thời gian từ cuộc khảo sát
mức sống hộ dân cư giai đoạn 2004 - 2016 để phân
tích về sự bất bình đẳng thu nhập liên quan đến
giới tính tại Việt Nam. Các tác giả đã nhấn mạnh
sự chênh lệch về trình độ học vấn là nguyên nhân
chính dẫn đến bất bình đẳng thu nhập giữa lao động
nam và nữ. Bên cạnh đó, một số yếu tố khác như
dân tộc, lĩnh vực làm việc và địa bàn làm việc của
lao động cũng được ghi nhận có ảnh hưởng. Từ
những nghiên cứu được lược khảo trên, rõ ràng sự
bất bình đẳng thu nhập theo giới tính tại Việt Nam
từ lâu đã trở thành vấn đề tồn tại trên thị trường lao
động và thể hiện mức độ khác nhau theo từng ngành
nghề, lĩnh vực.
Giả thuyết 2: Sự bất bình đẳng thu nhập theo
giới tính có thể được giải thích chủ yếu bởi sự khác
biệt về vốn nhân lực của người lao động.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Dữ liệu phân tích
Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được trích
lọc từ kết quả Điều tra mức sống dân cư năm 2018
của Tổng cục thống kê Việt Nam. Đây được xem là
bộ dữ liệu tổng quan về mức sống của cá nhân và
hộ gia đình tại Việt Nam và được thực hiện khảo sát
hai năm một lần bao gồm các đặc điểm nhân khẩu
học, giáo dục, y tế, việc làm và thu nhập, chi tiêu,
cơ sở vật chất và giảm nghèo của hộ gia đình (Tổng
cục Thống kê, 2019). Trong số 170.529 người dân
được thu thập thông tin trong năm 2018, có đến
101.758 lao động đang làm việc từ 15 tuổi trở lên,
chiếm 59,7%. Đối với mẫu khảo sát người lao động
tại vùng ĐBSCL, số lượng lao động đang làm việc
được trả lương là 7.558 người, chiếm 7,43% tổng số
lao động cả nước được khảo sát.
Một số chỉ tiêu phân tích được trích lọc từ dữ
liệu trên, bao gồm:
Thu nhập (Wi) của lao động sẽ được phân tích
dưới dạng chuyển đổi sang logarit (LnWi), bởi vì
biến này thường có phân phối lệch phải. Hơn nữa,
mức thu nhập cũng được qui đổi theo giờ công lao
động nhằm giảm sự khác biệt cách tính thu nhập
giữa các công việc khác nhau (như tính theo giờ,
ngày, tuần, tháng, …). Cụ thể, thu nhập theo giờ
được tính như sau:
Wi = Y/(24 × 8)
Trong đó: Y: thu nhập/tháng, số ngày lao động
làm việc trong 1 tháng là 24 ngày, một ngày lao
động làm việc 8 giờ.
Bên cạnh đó, một số yếu tố giải thích ảnh hưởng
đến thu nhập và bất bình đẳng thu nhập cũng được
thu thập và trình bày ở Bảng 1.
Nghiên cứu tương tự về bất bình đẳng thu nhập
theo giới tính tại Việt Nam, dựa vào dữ liệu VHLSS
Volume 10, Issue 4
45
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Bảng 1. Mô tả đặc điểm các biến phân tích
Biến phân tích
Ý nghĩa
Kỳ vọng
Cơ sở chọn biến
Logarit tiền công
theo giờ (LnWi)
Logarit của biến tiền công
bình quân 1 giờ lao động
Biến phụ thuộc
(Mincer, 1974)
Số năm đi học càng nhiều thì mức thu nhập càng
cao (Mincer, 1974)
Học vấn (năm)
Số năm đến trường
Số năm làm việc
+
+
Kinh nghiệm (năm)
Có nhiều năm kinh nghiệm làm việc sẽ gia tăng
thu nhập, nhưng với tốc độ giảm dần theo thời gian
(Mincer, 1974; Huy, 2011; Huỳnh Trường Huy &
Huỳnh Văn Biền, 2018)
Kinh nghiệm bình
phương
(năm)
Kinh nghiệm làm việc bình
phương
-
Lao động nam có tiền công cao hơn lao động nữ
(Gannon & cộng sự, 2007; Huỳnh Trường Huy &
Huỳnh Văn Biền, 2018)
Biến giả nhận giá trị 1 là nam
và giá trị 0 là nữ
Giới tính (nam)
+
Lao động đã lập gia đình tỷ lệ thuận với độ tuổi và
có cơ hội việc làm tốt hơn nên kỳ vọng có mức thu
nhập cao hơn (Feng & Tang, 2019; Nie & Xing,
2019)
Tình trạng hôn nhân Biến giả nhận giá trị 1 đã kết
+
+
+
(kết hôn)
hôn và giá trị 0: độc thân
Biến giả nhận giá trị 1 nếu
người lao động ở thành thị và
0 ở nông thôn
Người lao động ở thành thị thường có mức tiền công
cao hơn ở nông thôn (Tổng cục Thống kê, 2020a;
Hong Vo & cộng sự., 2021
Khu vực
(thành thị)
Lao động dân tộc Kinh được mức thu nhập cao hơn
lao động dân tộc thiểu số (Pimhidzai, 2018; Ủy ban
Dân tộc & Tổng cục Thống kê, 2020; Hong Vo &
cộng sự., 2021)
Dân tộc
(Kinh)
Biến giả nhận giá trị 1: dân tộc
Kinh và 0: dân tộc thiểu số
Biến giả nhận giá trị 1: tham
Tham gia hoạt động gia hoạt động nông nghiệp
Lao động tham gia hoạt động nông nghiệp có tiền
công thấp hơn lao động tham gia hoạt động phi nông
nghiệp (Nguyễn Thị Nguyệt, 2014)
-
nông nghiệp
và 0: tham gia hoạt động phi
nông nghiệp
3.2. Kỹ thuật phân tích
yếu tố khác được cho là sự phân biệt đối xử của thị
trường lao động.
Biến thu nhập và các đặc điểm cá nhân của lao
động sẽ được phân tích mô tả với những giá trị như
trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị
lớn nhất; nhằm mô tả thực trạng thu nhập và chênh
lệch thu nhập giữa các nhóm lao động theo giới tính
tại vùng ĐBSCL.
Để ước lượng tác động của yếu tố vốn nhân lực
và các yếu tố khác đến thu nhập, phương trình thu
nhập Mincer (1974) và Mincer mở rộng sẽ được
vận dụng với kỹ thuật ước lượng bình phương bé
nhất nhằm xác định được các hệ số ước lượng của
yếu tố giải thích. Tiếp theo, phương pháp phân tích
thành phần Oaxaca và Blinder (1973) được sử dụng
để tính toán sự chênh lệch giữa hai nhóm lao động
xuất phát từ sự chênh lệch của vốn nhân lực và các
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Đặc điểm mẫu khảo sát
Xét về mức thu nhập bình quân (tính theo giờ
hoặc tháng), kết quả phân tích trình bày ở Bảng 2
cho thấy lao động nữ gặp bất lợi về mức tiền công
được trả so với lao động nam. Đáng lưu ý, trong
một số trường hợp lao động nam được trả công lên
đến gần 280 ngàn đồng/giờ lao động; trong khi đó,
mức cao nhất đối với lao động nữ chưa đến 200
ngàn đồng. Thực trạng này có thể suy luận rằng
phải chăng sự khác biệt về vốn nhân lực hay phân
biệt đối xử trên thị trường lao động là nguyên nhân
ảnh hưởng.
Bảng 2. Thống kê mức thu nhập của lao động phân theo giới tính
Giới tính
Đơn vị tính
1.000 đồng/giờ
1.000 đồng/tháng
1.000 đồng/giờ
1.000 đồng/tháng
Trung bình
27,2
Độ lệch chuẩn
16,4
Cao nhất
279,9
Thấp nhất
3,0
Nam
5.230
3.072
52.567
199,0
576
23,1
14,4
8,0
Nữ
4.430
2.764
38.208
1.536
Nguồn. Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2018
46
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
4.2. Ước lượng ảnh hưởng của vốn nhân lực
đến thu nhập
Kết quả phân tích được trình bày ở bảng 3 cho
thấy rằng các hệ số ước lượng của yếu tố vốn nhân
lực thể hiện được ý nghĩa thống kê và có ảnh hưởng
đến thu nhập với hệ số tương quan 17,7%. Đồng
thời, khi xét đến từng yếu tố vốn nhân lực, có thể cơ
sở thống kê để khẳng định rằng vốn nhân lực có ảnh
hưởng tích cực đến thu nhập của người lao động với
giá trị biên hơn 6%. Hơn nữa, yếu tố kinh nghiệm
hay tuổi tác cũng thể hiện tác động biên giảm dần,
nghĩa là càng lớn tuổi thì thu nhập sẽ giảm, phù hợp
với lý thuyết của Mincer.
Bảng 3. Kết quả ước lượng thu nhập theo mô hình thu nhập của Mincer
Ghi chú: *** ý nghĩa thống kê 0,01
Mô hình thu nhập Mincer
Cơ bản
Mở rộng
Biến độc lập
Hệ số ước
lượng
Sai số chuẩn
Hệ số ước lượng
Sai số chuẩn
Hằng số
1,934***
0,062***
0,060***
-0,001***
0,033
0,002
0,002
0,000
1,834***
0,048***
0,052***
-0,001***
0,249***
0,110***
0,091***
0,121***
-0,333***
7.558
0,041
0,002
0,002
0,000
0,014
0,018
0,027
0,016
0,022
Số năm đi học
Kinh nghiệm
Kinh nghiệm bình phương
Giới tính (nam)
Hôn nhân (kết hôn)
Dân tộc (Kinh)
Khu vực (thành thị)
Tham gia nông nghiệp
Số quan sát
7.558
0,177
0,000
R2 điều chỉnh
0,239
F-statistic
0,000
Nguồn. Dữ liệu khảo sát mức sống hộ dân cư năm 2018 (Tổng cục Thống kê)
Mô hình thu nhập Mincer mở rộng được phân 12,1%. Bên cạnh đó mức tiền công của lao động
tích bao gồm các yếu tố kiểm soát như giới tính, tham gia nông nghiệp sẽ thấp hơn 33,3% so với lao
dân tộc, hôn nhân, khu vực sinh sống và lĩnh vực động tham gia lĩnh vực phi nông nghiệp.
làm việc của lao động. Kết quả ước lượng của mô
hình thu nhập Mincer mở rộng đã thể hiện được ý
nghĩa thống kê, bởi vì hệ số tương quan điều chỉnh
(R2 điều chỉnh) đã tăng lên từ 17,7% đến 23,9%.
Điều này có nghĩa là các yếu tố kiểm soát đã góp
phần giải thích sự biến động về thu nhập của người
lao động.
Trong mô hình thu nhập Mincer mở rộng, hai
hệ số ước lượng của vốn nhân lực thay đổi giảm
0,8- 1,4% điểm tác động biên khi có sự xuất hiện
của các yếu tố kiểm soát. Dựa vào hệ số ước lượng
của các yếu tố kiểm soát cho thấy có sự chênh lệch
về mức tiền công trung bình giữa các nhóm lao
động trên thị trường; cụ thể là, lao động nam có
xu hướng nhận mức tiền công cao hơn so với lao
động nữ khoảng 25%; lao động đã kết hôn nhận
mức tiền công cao hơn lao động độc thân khoảng
11%; lao động dân tộc thiểu số nhận được mức tiền
công thấp hơn khoảng 9,1% so với lao động dân tộc
Kinh. Đồng thời, mức tiền công ở khu vực thành thị
bao giờ cũng cao hơn so với khu vực nông thôn, gần
4.3. Phân tích bất bình đẳng thu nhập theo
phương pháp Oaxaca-Blinder
Sự bất bình đẳng thu nhập giữa những nhóm lao
động trên thị trường luôn tồn tại, xuất phát từ nhiều
nguyên nhân như vốn nhân lực, đặc điểm cá nhân,
đặc điểm nghề nghiệp và kể cả phân biệt đối xử.
Trong phạm vi của nghiên cứu này, phân tích sự
chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm lao động phân
theo giới tính sẽ được làm rõ gắn với sự khác biệt về
các yếu tố đặc điểm nhân khẩu học và sự phân biệt
đối xử nhằm kiểm định các giả thuyết đặt ra. Các
hệ số ước lượng từ phương trình thu nhập Mincer
mở rộng được trình bày ở Bảng 3 sẽ được sử dụng
để tính mức độ bất bình đẳng thu nhập của lao động
nam và lao động nữ.
Nhìn chung, lao động nữ chỉ nhận thu nhập bằng
84,7% mức thu nhập của lao động nam, tương ứng
với 800.000 đồng/tháng. Theo kết quả thống kê mô
tả cũng cho thấy lao động nữ có bất lợi về thu nhập
so với lao động nam, điều này phần lớn bắt nguồn
từ sự phân biệt đối xử trong xã hội cũng như trong
Volume 10, Issue 4
47
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
môi trường làm việc. Chính điều này đã phần nào này chứng tỏ lao động nữ có các đặc tính năng suất
ảnh hưởng sự bất bình đẳng thu nhập giữa hai nhóm tốt hơn so với lao động nam. Tuy nhiên, phần chệch
lao động này trên thị trường. Cụ thể là, kết quả phân lệch do các yếu tố không giải thích được mang giá
tích cũng cho thấy khoảng cách thu nhập hai nhóm trị dương và chiếm trị số (0,249) lớn hơn so với
là 0,225 đơn vị. Với mức lương của lao động nam khoảng cách thu nhập (0,225), chứng tỏ có sự phân
và lao động nữ được xem là cấu trúc lương không biệt đối xử hay bất bình đẳng trong thu nhập. Mặt
có sự bất bình đẳng nên phần chênh lệch lương do khác, tỷ lệ này có thể thay đổi do còn một số biến
yếu tố giải thích được mang giá trị âm (-0,023) điều giải thích khác chưa đưa vào mô hình.
Bảng 4. Kết quả phân tích chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm lao động
Chênh lệch thu nhập bình quân/tháng giữa lao động nam và lao động nữ
(5.230.000 – 4.430.000) đồng/tháng
800.000
84,7
Tỷ lệ thu nhập của lao động nữ so với lao động nam (%)
Log thu nhập bình quân theo giờ của lao động nam
Log thu nhập bình quân theo giờ của lao động nữ
Chênh lệch Log thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ
Chênh lệch do khác biệt các yếu tố nhân khẩu học
Chênh lệch do phân biệt đối xử (không thể giải thích được)
3,126
2,901
0,225
-0,023
0,249
Nguồn. Dữ liệu VHLSS 2018
5. Thảo luận
0,249 đơn vị)… Tóm lại, kết quả phân tích khá phù
hợp với lý thuyết của Mincer và một số kết quả
nghiên cứu trước đây đã được lược khảo.
Dựa vào dữ liệu 7.558 người lao động đang làm
việc tại vùng ĐBSCL được khảo sát năm 2018, kết
quả phân tích đã cung cấp những hiểu biết cụ thể
hơn về sự tác động của các yếu tố đặc điểm cá nhân
đối với thu nhập và giải thích sự bất bình đẳng thu
nhập giữa hai nhóm lao động phân theo giới tính.
Cụ thể, một số điểm nổi bật từ kết quả phân tích
như sau:
- Thứ nhất, yếu tố vốn nhân lực bao gồm học vấn
và kinh nghiệm làm việc đã thể hiện là một trong
những yếu tố quan trọng góp phần gia tăng thu nhập
cho người lao động, với mức độ ảnh hưởng hơn 6%.
- Thứ hai, sự chênh lệch thu nhập luôn tồn tại
giữa các nhóm lao động khác nhau liên quan các
đặc điểm như giới tính, hôn nhân, dân tộc, khu vực
làm việc và lĩnh vực làm việc. Đáng chú ý, lao động
nữ cho thấy có sự bất lợi về thu nhập trên thị trường
lao động; phần lớn xuất phát từ sự phân biệt đối xử
trong xã hội (định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ)
cũng như trên thị trường lao động (bất công trong
trả lương, phân biệt ngành nghề, tuổi tác…) (chiếm
6. Kết luận
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, một vài hàm ý
chính sách liên quan đến sinh kế và thu nhập đối với
lao động nữ được đề xuất: Thứ nhất, công tác đầu
tư giáo dục, đối với cộng đồng cần được quan tâm
hơn, đặc biệt là tuyên truyền năng cao nhận thức
cho người sử dụng lao động trong hoạt động tuyển
dụng và sử dụng lao động nữ. Thứ hai, nghiên cứu
và xây dựng chính sách ưu đãi đối với những doanh
nghiệp sử dụng lao động nữ nhằm góp phần tạo cơ
hội việc làm tốt hơn và góp phần thu hẹp chênh
lệch thu nhập thông qua trả lương công bằng. Thứ
ba, chính sách đào tạo, bồi dưỡng nghề phi nông
nghiệp đặc biệt là thương mại, dịch vụ cho lao động
cần được quan tâm nhằm tạo cơ hội việc làm và gia
tăng thu nhập, bởi vì một số nghiên cứu đã chỉ ra
rằng người lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp
nhận mức thu nhập cao hơn so với làm việc trong
lĩnh vực nông nghiệp.
48
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Tai lieu tham khao
Anh, T. T. T. (2015). Phan ra chenh lech tien
luong thanh thi-nong thon o Viet Nam bang
phuong phap hoi quy phan vi. Tap chi Kinh
te va Phat trien, 219, 20-29.
Blinder, A. S. (1973). Wage discrimination:
reduced form and structural estimates.
Journal of Human resources, 436-455.
Brewer, M., & Wren‐Lewis, L. (2016).
Accounting for changes in income inequality:
decomposition analyses for the UK, 1978–
2008. Oxford Bulletin of Economics and
Statistics, 78(3), 289-322.
Diem, N. V., & Quan, N. N. (2004). Giao trinh
quan tri nhan luc. Nxb. Lao dong xa hoi.
Huy, H. T., & Bien, H. V. (2018). Bat binh dang
co hoi viec lam va thu nhap giua lao dong
nhap cu va dia phuong trong cac doanh
nghiep tai thanh pho Can Tho. Tap chi Khoa
hoc quan ly va Kinh te, 6, 31-47.
Liu, A. Y. (2004). Gender wage gap in Vietnam:
1993 to 1998. Journal of Comparative
Economics, 32(3), 586-596.
Hop, M. Q., Liem, N. T., & Anh, T. T. T. (2018).
Chenh lech tien luong tai Dong bang song
Cuu Long duoi goc do tiep can ve gioi tinh
va khu vuc thanh thi-nong thon. Phat trien
Khoa hoc va Cong nghe: Kinh te - Luat va
Quan ly, 2(1), 38-48.
Mincer, J. A. (1974). Schooling, experience, and
Edgeworth, F. Y. (1922). Equal pay to men
and women for equal work. The Economic
Journal, 32(128), 431-457.
Feng, S., & Tang, G. (2019). Accounting for
Urban China’s Rising Income Inequality:
The Roles of Labor Market, Human Capital,
and Marriage Market Factors. Economic
Inquiry, 57(2), 997-1015.
Fletcher, M., & Guttmann, B. (2013). Income
inequality in Australia. Economic Round-
up(2), 35-54.
Gannon, B., Plasman, R., Ryex, F., & Tojerow,
I. (2007). Inter-industry wage differentials
and the gender wage gap: evidence from
European countries. Economic and Social
Review, 38(1), 135.
earnings. NBER Books.
Nguyet, N. T. (2014). Bat binh dang gioi ve thu
nhap cua nguoi lao dong o Viet Nam. Bao
cao De tai cap Bo, Bo Ke hoach va Dau tu.
Ha Noi.
Nie, H., &Xing, C. (2019). Educationexpansion,
assortative marriage, and income inequality
in China. China Economic Review, 55, 37-
51.
Oaxaca, R. (1973). Male-female wage
differentials in urban labor markets.
International economic review, 693-709.
Pimhidzai, O. (2018). Buoc tien moi: Giam
ngheo va thinh vuong chung o Viet Nam:
The World Bank.
Gunawardena, D. (2006). Exploring gender
wagegapsinSriLanka:Aquantileregression
approach. Paper presented at the 5th PEP
Research Network General Meeting, June.
Harris, J. R., & Todaro, M. P. (1970). Migration,
unemployment and development: a two-
sector analysis. The American Economic
Review, 60(1), 126-142.
Hong Vo, D., Van, L. T.-H., Tran, D. B., Vu, T.
N., & Ho, C. M. (2021). The determinants
of gender income inequality in Vietnam:
A longitudinal data analysis. Emerging
Markets Finance and Trade, 57(1), 198-222.
Tong cuc Thong ke. (2019). Ket qua khao sat
muc song dan cu Viet Nam nam 2018. Ha
Noi: Nxb. Thong ke.
Tong cuc Thong ke. (2020a). Bao cao Dieu tra
lao dong viec lam nam 2019. Ha Noi: Vu
Thong ke dan so va lao dong.
Tong cuc Thong ke. (2020b). Dan so va lao
dong. Truy cap ngay 1/9/2021, tu https://
Uy ban Dan toc, & Tong cuc Thong ke. (2020).
Ket qua dieu tra thu thap thong tin ve thuc
trang kinh te - xa hoi 53 dan toc thieu so nam
2019. Ha Noi: Nxb. Thong ke.
Huy, H. T. (2011). Analyzing income gap
between migrant and local workers. Journal
of Economic Development, 208, 49-55.
Volume 10, Issue 4
49
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VỐN NHÂN LỰC ĐẾN
THU NHẬP VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP THEO
GIỚI TÍNH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Lê Phạm Tường Via
Huỳnh Trường Huyb
Khoa Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ
Ngày nhận bài:
11/10/2021
Ngày phản biện: 23/10/2021
Ngày tác giả sửa: 29/10/2021
Ngày duyệt đăng: 05/11/2021
Ngày phát hành: 30/11/2021
DOI:
ghiên cứu này vận dụng lý thuyết vốn nhân lực của Mincer (1974) và phương pháp phân tích thành
phần của Oaxaca (1973) và Blinder (1973) nhằm phân tích ảnh hưởng của vốn nhân lực đến thu
N
nhập và bất bình đẳng thu nhập theo giới tính tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, dựa vào Dữ liệu khảo
sát mức sống dân cư năm 2018 của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Kết quả phân tích từ 7.558 lao động
làm việc được trả lương cho thấy, lao động nữ chỉ nhận khoảng 84% mức thu nhập so với lao động nam
trên thị trường lao động. Đáng chú ý, bất bình đẳng thu nhập theo giới tính được đo lường chủ yếu gắn
liền với các yếu tố phân biệt đối xử; trong khi đó, các yếu tố vốn nhân lực và nhân khẩu học có ảnh hưởng
không đáng kể đến sự bất bình đẳng thu nhập theo giới tính. Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, một vài hàm
ý chính sách liên quan nâng cao nhận thức về bình đẳng giới đối với người sử dụng lao động, ưu đãi tuyển
dụng và sử dụng lao động nữ, và tạo cơ hội tham gia thị trường tốt hơn cho phụ nữ thông qua đào tạo nghề
thật sự cần thiết.
Từ khóa: Thu nhập; Bất bình đẳng thu nhập; Giới tính; Lao động; Đồng bằng sông Cửu Long.
50
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích ảnh hưởng của vốn nhân lực đến thu nhập và bất bình đẳng thu nhập theo giới tính tại Đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_anh_huong_cua_von_nhan_luc_den_thu_nhap_va_bat_bin.pdf

