Phân tích ảnh hưởng của vốn nhân lực đến thu nhập và bất bình đẳng thu nhập theo giới tính tại Đồng bằng sông Cửu Long

CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
ANALYSIS OF EFFECTS OF THE HUMAN CAPITAL ON  
INCOME AND GENDER INCOME DIFFERENTIALS IN THE  
MEKONG RIVER DELTA REGION  
Le Pham Tuong Via  
Huynh Truong Huyb  
Can Tho University  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
11/10/2021  
23/10/2021  
29/10/2021  
05/11/2021  
30/11/2021  
DOI:  
his article combines both the capital human theory by Mincer (1974) and the income decomposition  
analysis by Oaxaca (1973) and Blinder (1973) that aims at estimating the impacts of the human  
T
capital on laborer’s income and gender income differentials in the Mekong River Delta (MRD) region, by  
using the data extracted from the Vietnam Household Living Standards Survey in 2018 (called VHLSS  
2018). The emprical findings from the sample of 7.558 paid laborers in this region reports that the female  
laborers earned about 84% of what male co-worker earned. Not surprisingly, such gender differential in  
incomes was caused on the calculation by the phenomenon called “labor market discrimination”. While,  
factors relating to the human capital and demographic features are estimated as strong predictors of the  
incomes, but not affect the gender income differentials. The empirical findings suggest the intervention  
policies on improving gender-aware for employers, preferentials on recruitment for female laborers, and  
vocational training for females to better engage in labor market. (forthcoming)  
Keywords: Incomes; Income differentials; Gender; Labor; The Mekong river delta region.  
1. Đặt vấn đề  
chứng minh rằng bất kỳ sự phân biệt đối xử trong  
thị trường lao động sẽ dẫn đến giảm sút thu nhập  
thực tế đối với nhóm lao động bị phân biệt đối xử.  
Bất bình đẳng thu nhập giữa các nhóm lao động  
trên thị trường lao động luôn tồn tại khách quan  
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Theo đó, Fletcher  
(2013) cho rằng, sự bất bình đẳng thu nhập gắn liền  
với sự khác biệt giữa các cá nhân trong xã hội hay  
giữa các quốc gia. Trong khi đó, Mincer (1974)  
nhấn mạnh đến vai trò của vốn nhân lực ảnh hưởng  
đến thu nhập và bất bình đẳng thu nhập giữa các  
nhóm lao động có sự khác biệt về trình độ học vấn.  
Edgeworth (1922) được xem như một trong  
những nhà nghiên cứu tiên phong tìm hiểu và đề  
cập về sự phân biệt trên thị trường lao động, đặc  
biệt sự phân biệt về trả thù lao theo giới tính. Sau  
đó, Becker (1957) cũng phản ánh về sự bất bình  
đẳng thu nhập theo giới tính, bên cạnh các yếu tố  
khác sắc tộc, tôn giáo, vị trí xã hội… Becker đã  
Theo báo cáo Điều tra lao động việc làm giai  
đoạn 2016-2019, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình  
quân/tháng của lao động nữ đạt 11,44%/năm, so với  
10,65%/năm đối với lao động nam. Sự tăng trưởng  
thu nhập cao và nhanh của lao động nữ đã góp phần  
thu hẹp sự chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ từ  
1,21 lần xuống còn 1,18 lần trong cùng giai đoạn  
(Tổng cục Thống kê, 2020a). Xét về góc độ vùng  
kinh tế, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có  
xấp xỉ 1 triệu lao động đang làm việc từ 15 tuổi trở  
lên, chiếm 55,7% dân số của vùng và chiếm 18%  
lực lượng lao động của cả nước. Chênh lệch thu  
nhập của người lao động của vùng ĐBSCL so với  
cả nước cũng dần được thu hẹp, giảm từ 1,21 lần  
44  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
năm 2010 xuống còn 1,10 lần năm 2019. Tuy nhiên, năm 2014, Mai Quang Hợp và cộng sự (2018) phát  
thông tin thống kê và phân tích gần đây về bất bình hiện rằng tiền lương tính theo giờ của lao động nam  
đẳng thu nhập theo giới tính ở cấp vùng hầu như cao hơn so với lao động nữ gần 3.000 đồng mỗi giờ  
thiếu vắng. Vì vậy, mục tiêu trọng tâm của nghiên lao động. Đáng chú ý, sự bất bình đẳng thu nhập  
cứu này phân tích sự bất bình đẳng thu nhập theo trên chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố chưa quan  
giới tính và đo lường mức độ ảnh hưởng của vốn sát được (phân biệt đối xử), so với các yếu tố giải  
nhân lực đến sự bất đẳng thu nhập đối với lao động thích được như vốn nhân lực. Có thể suy luận, tồn  
tại vùng ĐBSCL.  
tại phân biệt đối xử trong việc trả tiền công, lương  
đối với lao động nữ.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Dựa trên lược khảo về lý thuyết và bằng chứng  
phân tích về tác động của các yếu tố nhân khẩu học,  
vốn nhân lực và yếu tố phân biệt đối xử… đến thu  
nhập và bất bình đẳng thu nhập giữa các nhóm lao  
động theo yếu tố giới tính. Vì vậy, một số giả thuyết  
đặt ra trong nghiên cứu này, đó là:  
Trong nghiên cứu về vai trò của vốn nhân lực  
(học vấn và kinh nghiệm) đối với thu nhập của cá  
nhân, Mincer (1974) khẳng định, lao động với vốn  
nhân lực tốt hơn sẽ đạt được mức thu nhập cao  
hơn. Đồng thời, ông cũng chỉ ra có sự tồn tại về bất  
bình đẳng thu nhập giữa lao động nam và nữ. Một  
vài nghiên cứu về bất bình đẳng thu nhập tại Việt  
Giả thuyết 1: Yếu tố vốn nhân lực có ảnh hưởng  
Nam, điển hình trong số đó như nghiên cứu của Liu quan trọng đến mức thu nhập của người lao động.  
(2004) sử dụng số liệu từ cuộc khảo sát mức sống  
hộ dân cư năm 1993 và năm 1998 tại Việt Nam để  
phân tích sự bất bình đẳng thu nhập và vận dụng  
phương pháp phân tích Oaxaca và Blinder (1973).  
Kết quả phân tích đã khẳng định rằng với số năm  
học vấn tăng thêm, lao động nam sẽ nhận được mức  
lương cao hơn 5% so với lao động nữ, mặc dù họ  
cùng trình độ học vấn và kinh nghiệm.  
Sau này, nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt  
(2014) tiếp tục phát hiện mức lương trung bình của  
lao động nữ chỉ bằng 85% so với mức lương trung  
bình của lao động nam. Đáng chú ý hơn, khi phân  
tích đối với ngành nông, lâm và ngư nghiệp, tỷ lệ  
này chỉ đạt 67%, ngành công nghiệp là 78%. Một  
nghiên cứu về bất bình đẳng thu nhập theo khu vực  
thành thị và nông thôn, Trần Thị Tuấn Anh (2015)  
sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát mức sống hộ dân  
cư năm 2012. Kết quả phân tích chỉ ra rằng lao động  
làm việc ở thành thị nhận được mức thu nhập cao  
hơn so với những đồng nghiệp làm việc ở khu vực  
nông thôn; điều này diễn ra ở các ngành nghể trong  
nền kinh tế.  
Gần đây nhất, Hong Vo và cộng sự (2021) sử  
dụng dữ liệu theo chuỗi thời gian từ cuộc khảo sát  
mức sống hộ dân cư giai đoạn 2004 - 2016 để phân  
tích về sự bất bình đẳng thu nhập liên quan đến  
giới tính tại Việt Nam. Các tác giả đã nhấn mạnh  
sự chênh lệch về trình độ học vấn là nguyên nhân  
chính dẫn đến bất bình đẳng thu nhập giữa lao động  
nam và nữ. Bên cạnh đó, một số yếu tố khác như  
dân tộc, lĩnh vực làm việc và địa bàn làm việc của  
lao động cũng được ghi nhận có ảnh hưởng. Từ  
những nghiên cứu được lược khảo trên, rõ ràng sự  
bất bình đẳng thu nhập theo giới tính tại Việt Nam  
từ lâu đã trở thành vấn đề tồn tại trên thị trường lao  
động và thể hiện mức độ khác nhau theo từng ngành  
nghề, lĩnh vực.  
Giả thuyết 2: Sự bất bình đẳng thu nhập theo  
giới tính có thể được giải thích chủ yếu bởi sự khác  
biệt về vốn nhân lực của người lao động.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Dữ liệu phân tích  
Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được trích  
lọc từ kết quả Điều tra mức sống dân cư năm 2018  
của Tổng cục thống kê Việt Nam. Đây được xem là  
bộ dữ liệu tổng quan về mức sống của cá nhân và  
hộ gia đình tại Việt Nam và được thực hiện khảo sát  
hai năm một lần bao gồm các đặc điểm nhân khẩu  
học, giáo dục, y tế, việc làm và thu nhập, chi tiêu,  
cơ sở vật chất và giảm nghèo của hộ gia đình (Tổng  
cục Thống kê, 2019). Trong số 170.529 người dân  
được thu thập thông tin trong năm 2018, có đến  
101.758 lao động đang làm việc từ 15 tuổi trở lên,  
chiếm 59,7%. Đối với mẫu khảo sát người lao động  
tại vùng ĐBSCL, số lượng lao động đang làm việc  
được trả lương là 7.558 người, chiếm 7,43% tổng số  
lao động cả nước được khảo sát.  
Một số chỉ tiêu phân tích được trích lọc từ dữ  
liệu trên, bao gồm:  
Thu nhập (Wi) của lao động sẽ được phân tích  
dưới dạng chuyển đổi sang logarit (LnWi), bởi vì  
biến này thường có phân phối lệch phải. Hơn nữa,  
mức thu nhập cũng được qui đổi theo giờ công lao  
động nhằm giảm sự khác biệt cách tính thu nhập  
giữa các công việc khác nhau (như tính theo giờ,  
ngày, tuần, tháng, …). Cụ thể, thu nhập theo giờ  
được tính như sau:  
Wi = Y/(24 × 8)  
Trong đó: Y: thu nhập/tháng, số ngày lao động  
làm việc trong 1 tháng là 24 ngày, một ngày lao  
động làm việc 8 giờ.  
Bên cạnh đó, một số yếu tố giải thích ảnh hưởng  
đến thu nhập và bất bình đẳng thu nhập cũng được  
thu thập và trình bày ở Bảng 1.  
Nghiên cứu tương tự về bất bình đẳng thu nhập  
theo giới tính tại Việt Nam, dựa vào dữ liệu VHLSS  
Volume 10, Issue 4  
45  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
Bảng 1. Mô tả đặc điểm các biến phân tích  
Biến phân tích  
Ý nghĩa  
Kỳ vọng  
Cơ sở chọn biến  
Logarit tiền công  
theo giờ (LnWi)  
Logarit của biến tiền công  
bình quân 1 giờ lao động  
Biến phụ thuộc  
(Mincer, 1974)  
Số năm đi học càng nhiều thì mức thu nhập càng  
cao (Mincer, 1974)  
Học vấn (năm)  
Số năm đến trường  
Số năm làm việc  
+
+
Kinh nghiệm (năm)  
Có nhiều năm kinh nghiệm làm việc sẽ gia tăng  
thu nhập, nhưng với tốc độ giảm dần theo thời gian  
(Mincer, 1974; Huy, 2011; Huỳnh Trường Huy &  
Huỳnh Văn Biền, 2018)  
Kinh nghiệm bình  
phương  
(năm)  
Kinh nghiệm làm việc bình  
phương  
-
Lao động nam có tiền công cao hơn lao động nữ  
(Gannon & cộng sự, 2007; Huỳnh Trường Huy &  
Huỳnh Văn Biền, 2018)  
Biến giả nhận giá trị 1 là nam  
và giá trị 0 là nữ  
Giới tính (nam)  
+
Lao động đã lập gia đình tỷ lệ thuận với độ tuổi và  
có cơ hội việc làm tốt hơn nên kỳ vọng có mức thu  
nhập cao hơn (Feng & Tang, 2019; Nie & Xing,  
2019)  
Tình trạng hôn nhân Biến giả nhận giá trị 1 đã kết  
+
+
+
(kết hôn)  
hôn và giá trị 0: độc thân  
Biến giả nhận giá trị 1 nếu  
người lao động ở thành thị và  
0 ở nông thôn  
Người lao động ở thành thị thường có mức tiền công  
cao hơn ở nông thôn (Tổng cục Thống kê, 2020a;  
Hong Vo & cộng sự., 2021  
Khu vực  
(thành thị)  
Lao động dân tộc Kinh được mức thu nhập cao hơn  
lao động dân tộc thiểu số (Pimhidzai, 2018; Ủy ban  
Dân tộc & Tổng cục Thống kê, 2020; Hong Vo &  
cộng sự., 2021)  
Dân tộc  
(Kinh)  
Biến giả nhận giá trị 1: dân tộc  
Kinh và 0: dân tộc thiểu số  
Biến giả nhận giá trị 1: tham  
Tham gia hoạt động gia hoạt động nông nghiệp  
Lao động tham gia hoạt động nông nghiệp có tiền  
công thấp hơn lao động tham gia hoạt động phi nông  
nghiệp (Nguyễn Thị Nguyệt, 2014)  
-
nông nghiệp  
và 0: tham gia hoạt động phi  
nông nghiệp  
3.2. Kỹ thuật phân tích  
yếu tố khác được cho là sự phân biệt đối xử của thị  
trường lao động.  
Biến thu nhập và các đặc điểm cá nhân của lao  
động sẽ được phân tích mô tả với những giá trị như  
trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị  
lớn nhất; nhằm mô tả thực trạng thu nhập và chênh  
lệch thu nhập giữa các nhóm lao động theo giới tính  
tại vùng ĐBSCL.  
Để ước lượng tác động của yếu tố vốn nhân lực  
và các yếu tố khác đến thu nhập, phương trình thu  
nhập Mincer (1974) và Mincer mở rộng sẽ được  
vận dụng với kỹ thuật ước lượng bình phương bé  
nhất nhằm xác định được các hệ số ước lượng của  
yếu tố giải thích. Tiếp theo, phương pháp phân tích  
thành phần Oaxaca và Blinder (1973) được sử dụng  
để tính toán sự chênh lệch giữa hai nhóm lao động  
xuất phát từ sự chênh lệch của vốn nhân lực và các  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Đặc điểm mẫu khảo sát  
Xét về mức thu nhập bình quân (tính theo giờ  
hoặc tháng), kết quả phân tích trình bày ở Bảng 2  
cho thấy lao động nữ gặp bất lợi về mức tiền công  
được trả so với lao động nam. Đáng lưu ý, trong  
một số trường hợp lao động nam được trả công lên  
đến gần 280 ngàn đồng/giờ lao động; trong khi đó,  
mức cao nhất đối với lao động nữ chưa đến 200  
ngàn đồng. Thực trạng này có thể suy luận rằng  
phải chăng sự khác biệt về vốn nhân lực hay phân  
biệt đối xử trên thị trường lao động là nguyên nhân  
ảnh hưởng.  
Bảng 2. Thống kê mức thu nhập của lao động phân theo giới tính  
Giới tính  
Đơn vị tính  
1.000 đồng/giờ  
1.000 đồng/tháng  
1.000 đồng/giờ  
1.000 đồng/tháng  
Trung bình  
27,2  
Độ lệch chuẩn  
16,4  
Cao nhất  
279,9  
Thấp nhất  
3,0  
Nam  
5.230  
3.072  
52.567  
199,0  
576  
23,1  
14,4  
8,0  
Nữ  
4.430  
2.764  
38.208  
1.536  
Nguồn. Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2018  
46  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
4.2. Ước lượng ảnh hưởng của vốn nhân lực  
đến thu nhập  
Kết quả phân tích được trình bày ở bảng 3 cho  
thấy rằng các hệ số ước lượng của yếu tố vốn nhân  
lực thể hiện được ý nghĩa thống kê và có ảnh hưởng  
đến thu nhập với hệ số tương quan 17,7%. Đồng  
thời, khi xét đến từng yếu tố vốn nhân lực, có thể cơ  
sở thống kê để khẳng định rằng vốn nhân lực có ảnh  
hưởng tích cực đến thu nhập của người lao động với  
giá trị biên hơn 6%. Hơn nữa, yếu tố kinh nghiệm  
hay tuổi tác cũng thể hiện tác động biên giảm dần,  
nghĩa là càng lớn tuổi thì thu nhập sẽ giảm, phù hợp  
với lý thuyết của Mincer.  
Bảng 3. Kết quả ước lượng thu nhập theo mô hình thu nhập của Mincer  
Ghi chú: *** ý nghĩa thống kê 0,01  
Mô hình thu nhập Mincer  
Cơ bản  
Mở rộng  
Biến độc lập  
Hệ số ước  
lượng  
Sai số chuẩn  
Hệ số ước lượng  
Sai số chuẩn  
Hằng số  
1,934***  
0,062***  
0,060***  
-0,001***  
0,033  
0,002  
0,002  
0,000  
1,834***  
0,048***  
0,052***  
-0,001***  
0,249***  
0,110***  
0,091***  
0,121***  
-0,333***  
7.558  
0,041  
0,002  
0,002  
0,000  
0,014  
0,018  
0,027  
0,016  
0,022  
Số năm đi học  
Kinh nghiệm  
Kinh nghiệm bình phương  
Giới tính (nam)  
Hôn nhân (kết hôn)  
Dân tộc (Kinh)  
Khu vực (thành thị)  
Tham gia nông nghiệp  
Số quan sát  
7.558  
0,177  
0,000  
R2 điều chỉnh  
0,239  
F-statistic  
0,000  
Nguồn. Dữ liệu khảo sát mức sống hộ dân cư năm 2018 (Tổng cục Thống kê)  
Mô hình thu nhập Mincer mở rộng được phân 12,1%. Bên cạnh đó mức tiền công của lao động  
tích bao gồm các yếu tố kiểm soát như giới tính, tham gia nông nghiệp sẽ thấp hơn 33,3% so với lao  
dân tộc, hôn nhân, khu vực sinh sống và lĩnh vực động tham gia lĩnh vực phi nông nghiệp.  
làm việc của lao động. Kết quả ước lượng của mô  
hình thu nhập Mincer mở rộng đã thể hiện được ý  
nghĩa thống kê, bởi vì hệ số tương quan điều chỉnh  
(R2 điều chỉnh) đã tăng lên từ 17,7% đến 23,9%.  
Điều này có nghĩa là các yếu tố kiểm soát đã góp  
phần giải thích sự biến động về thu nhập của người  
lao động.  
Trong mô hình thu nhập Mincer mở rộng, hai  
hệ số ước lượng của vốn nhân lực thay đổi giảm  
0,8- 1,4% điểm tác động biên khi có sự xuất hiện  
của các yếu tố kiểm soát. Dựa vào hệ số ước lượng  
của các yếu tố kiểm soát cho thấy có sự chênh lệch  
về mức tiền công trung bình giữa các nhóm lao  
động trên thị trường; cụ thể là, lao động nam có  
xu hướng nhận mức tiền công cao hơn so với lao  
động nữ khoảng 25%; lao động đã kết hôn nhận  
mức tiền công cao hơn lao động độc thân khoảng  
11%; lao động dân tộc thiểu số nhận được mức tiền  
công thấp hơn khoảng 9,1% so với lao động dân tộc  
Kinh. Đồng thời, mức tiền công ở khu vực thành thị  
bao giờ cũng cao hơn so với khu vực nông thôn, gần  
4.3. Phân tích bất bình đẳng thu nhập theo  
phương pháp Oaxaca-Blinder  
Sự bất bình đẳng thu nhập giữa những nhóm lao  
động trên thị trường luôn tồn tại, xuất phát từ nhiều  
nguyên nhân như vốn nhân lực, đặc điểm cá nhân,  
đặc điểm nghề nghiệp và kể cả phân biệt đối xử.  
Trong phạm vi của nghiên cứu này, phân tích sự  
chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm lao động phân  
theo giới tính sẽ được làm rõ gắn với sự khác biệt về  
các yếu tố đặc điểm nhân khẩu học và sự phân biệt  
đối xử nhằm kiểm định các giả thuyết đặt ra. Các  
hệ số ước lượng từ phương trình thu nhập Mincer  
mở rộng được trình bày ở Bảng 3 sẽ được sử dụng  
để tính mức độ bất bình đẳng thu nhập của lao động  
nam và lao động nữ.  
Nhìn chung, lao động nữ chỉ nhận thu nhập bằng  
84,7% mức thu nhập của lao động nam, tương ứng  
với 800.000 đồng/tháng. Theo kết quả thống kê mô  
tả cũng cho thấy lao động nữ có bất lợi về thu nhập  
so với lao động nam, điều này phần lớn bắt nguồn  
từ sự phân biệt đối xử trong xã hội cũng như trong  
Volume 10, Issue 4  
47  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
môi trường làm việc. Chính điều này đã phần nào này chứng tỏ lao động nữ có các đặc tính năng suất  
ảnh hưởng sự bất bình đẳng thu nhập giữa hai nhóm tốt hơn so với lao động nam. Tuy nhiên, phần chệch  
lao động này trên thị trường. Cụ thể là, kết quả phân lệch do các yếu tố không giải thích được mang giá  
tích cũng cho thấy khoảng cách thu nhập hai nhóm trị dương và chiếm trị số (0,249) lớn hơn so với  
là 0,225 đơn vị. Với mức lương của lao động nam khoảng cách thu nhập (0,225), chứng tỏ có sự phân  
và lao động nữ được xem là cấu trúc lương không biệt đối xử hay bất bình đẳng trong thu nhập. Mặt  
có sự bất bình đẳng nên phần chênh lệch lương do khác, tỷ lệ này có thể thay đổi do còn một số biến  
yếu tố giải thích được mang giá trị âm (-0,023) điều giải thích khác chưa đưa vào mô hình.  
Bảng 4. Kết quả phân tích chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm lao động  
Chênh lệch thu nhập bình quân/tháng giữa lao động nam và lao động nữ  
(5.230.000 – 4.430.000) đồng/tháng  
800.000  
84,7  
Tỷ lệ thu nhập của lao động nữ so với lao động nam (%)  
Log thu nhập bình quân theo giờ của lao động nam  
Log thu nhập bình quân theo giờ của lao động nữ  
Chênh lệch Log thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ  
Chênh lệch do khác biệt các yếu tố nhân khẩu học  
Chênh lệch do phân biệt đối xử (không thể giải thích được)  
3,126  
2,901  
0,225  
-0,023  
0,249  
Nguồn. Dữ liệu VHLSS 2018  
5. Thảo luận  
0,249 đơn vị)… Tóm lại, kết quả phân tích khá phù  
hợp với lý thuyết của Mincer và một số kết quả  
nghiên cứu trước đây đã được lược khảo.  
Dựa vào dữ liệu 7.558 người lao động đang làm  
việc tại vùng ĐBSCL được khảo sát năm 2018, kết  
quả phân tích đã cung cấp những hiểu biết cụ thể  
hơn về sự tác động của các yếu tố đặc điểm cá nhân  
đối với thu nhập và giải thích sự bất bình đẳng thu  
nhập giữa hai nhóm lao động phân theo giới tính.  
Cụ thể, một số điểm nổi bật từ kết quả phân tích  
như sau:  
- Thứ nhất, yếu tố vốn nhân lực bao gồm học vấn  
và kinh nghiệm làm việc đã thể hiện là một trong  
những yếu tố quan trọng góp phần gia tăng thu nhập  
cho người lao động, với mức độ ảnh hưởng hơn 6%.  
- Thứ hai, sự chênh lệch thu nhập luôn tồn tại  
giữa các nhóm lao động khác nhau liên quan các  
đặc điểm như giới tính, hôn nhân, dân tộc, khu vực  
làm việc và lĩnh vực làm việc. Đáng chú ý, lao động  
nữ cho thấy có sự bất lợi về thu nhập trên thị trường  
lao động; phần lớn xuất phát từ sự phân biệt đối xử  
trong xã hội (định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ)  
cũng như trên thị trường lao động (bất công trong  
trả lương, phân biệt ngành nghề, tuổi tác…) (chiếm  
6. Kết luận  
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, một vài hàm ý  
chính sách liên quan đến sinh kế và thu nhập đối với  
lao động nữ được đề xuất: Thứ nhất, công tác đầu  
tư giáo dục, đối với cộng đồng cần được quan tâm  
hơn, đặc biệt là tuyên truyền năng cao nhận thức  
cho người sử dụng lao động trong hoạt động tuyển  
dụng và sử dụng lao động nữ. Thứ hai, nghiên cứu  
và xây dựng chính sách ưu đãi đối với những doanh  
nghiệp sử dụng lao động nữ nhằm góp phần tạo cơ  
hội việc làm tốt hơn và góp phần thu hẹp chênh  
lệch thu nhập thông qua trả lương công bằng. Thứ  
ba, chính sách đào tạo, bồi dưỡng nghề phi nông  
nghiệp đặc biệt là thương mại, dịch vụ cho lao động  
cần được quan tâm nhằm tạo cơ hội việc làm và gia  
tăng thu nhập, bởi vì một số nghiên cứu đã chỉ ra  
rằng người lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp  
nhận mức thu nhập cao hơn so với làm việc trong  
lĩnh vực nông nghiệp.  
48  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
Tai lieu tham khao  
Anh, T. T. T. (2015). Phan ra chenh lech tien  
luong thanh thi-nong thon o Viet Nam bang  
phuong phap hoi quy phan vi. Tap chi Kinh  
te va Phat trien, 219, 20-29.  
Blinder, A. S. (1973). Wage discrimination:  
reduced form and structural estimates.  
Journal of Human resources, 436-455.  
Brewer, M., & Wren‐Lewis, L. (2016).  
Accounting for changes in income inequality:  
decomposition analyses for the UK, 1978–  
2008. Oxford Bulletin of Economics and  
Statistics, 78(3), 289-322.  
Diem, N. V., & Quan, N. N. (2004). Giao trinh  
quan tri nhan luc. Nxb. Lao dong xa hoi.  
Huy, H. T., & Bien, H. V. (2018). Bat binh dang  
co hoi viec lam va thu nhap giua lao dong  
nhap cu va dia phuong trong cac doanh  
nghiep tai thanh pho Can Tho. Tap chi Khoa  
hoc quan ly va Kinh te, 6, 31-47.  
Liu, A. Y. (2004). Gender wage gap in Vietnam:  
1993 to 1998. Journal of Comparative  
Economics, 32(3), 586-596.  
Hop, M. Q., Liem, N. T., & Anh, T. T. T. (2018).  
Chenh lech tien luong tai Dong bang song  
Cuu Long duoi goc do tiep can ve gioi tinh  
va khu vuc thanh thi-nong thon. Phat trien  
Khoa hoc va Cong nghe: Kinh te - Luat va  
Quan ly, 2(1), 38-48.  
Mincer, J. A. (1974). Schooling, experience, and  
Edgeworth, F. Y. (1922). Equal pay to men  
and women for equal work. The Economic  
Journal, 32(128), 431-457.  
Feng, S., & Tang, G. (2019). Accounting for  
Urban China’s Rising Income Inequality:  
The Roles of Labor Market, Human Capital,  
and Marriage Market Factors. Economic  
Inquiry, 57(2), 997-1015.  
Fletcher, M., & Guttmann, B. (2013). Income  
inequality in Australia. Economic Round-  
up(2), 35-54.  
Gannon, B., Plasman, R., Ryex, F., & Tojerow,  
I. (2007). Inter-industry wage differentials  
and the gender wage gap: evidence from  
European countries. Economic and Social  
Review, 38(1), 135.  
earnings. NBER Books.  
Nguyet, N. T. (2014). Bat binh dang gioi ve thu  
nhap cua nguoi lao dong o Viet Nam. Bao  
cao De tai cap Bo, Bo Ke hoach va Dau tu.  
Ha Noi.  
Nie, H., &Xing, C. (2019). Educationexpansion,  
assortative marriage, and income inequality  
in China. China Economic Review, 55, 37-  
51.  
Oaxaca, R. (1973). Male-female wage  
differentials in urban labor markets.  
International economic review, 693-709.  
Pimhidzai, O. (2018). Buoc tien moi: Giam  
ngheo va thinh vuong chung o Viet Nam:  
The World Bank.  
Gunawardena, D. (2006). Exploring gender  
wagegapsinSriLanka:Aquantileregression  
approach. Paper presented at the 5th PEP  
Research Network General Meeting, June.  
Harris, J. R., & Todaro, M. P. (1970). Migration,  
unemployment and development: a two-  
sector analysis. The American Economic  
Review, 60(1), 126-142.  
Hong Vo, D., Van, L. T.-H., Tran, D. B., Vu, T.  
N., & Ho, C. M. (2021). The determinants  
of gender income inequality in Vietnam:  
A longitudinal data analysis. Emerging  
Markets Finance and Trade, 57(1), 198-222.  
Tong cuc Thong ke. (2019). Ket qua khao sat  
muc song dan cu Viet Nam nam 2018. Ha  
Noi: Nxb. Thong ke.  
Tong cuc Thong ke. (2020a). Bao cao Dieu tra  
lao dong viec lam nam 2019. Ha Noi: Vu  
Thong ke dan so va lao dong.  
Tong cuc Thong ke. (2020b). Dan so va lao  
dong. Truy cap ngay 1/9/2021, tu https://  
Uy ban Dan toc, & Tong cuc Thong ke. (2020).  
Ket qua dieu tra thu thap thong tin ve thuc  
trang kinh te - xa hoi 53 dan toc thieu so nam  
2019. Ha Noi: Nxb. Thong ke.  
Huy, H. T. (2011). Analyzing income gap  
between migrant and local workers. Journal  
of Economic Development, 208, 49-55.  
Volume 10, Issue 4  
49  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VỐN NHÂN LỰC ĐẾN  
THU NHẬP VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP THEO  
GIỚI TÍNH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
Lê Phạm Tường Via  
Huỳnh Trường Huyb  
Khoa Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ  
Ngày nhận bài:  
11/10/2021  
Ngày phản biện: 23/10/2021  
Ngày tác giả sửa: 29/10/2021  
Ngày duyệt đăng: 05/11/2021  
Ngày phát hành: 30/11/2021  
DOI:  
ghiên cứu này vận dụng lý thuyết vốn nhân lực của Mincer (1974) và phương pháp phân tích thành  
phần của Oaxaca (1973) và Blinder (1973) nhằm phân tích ảnh hưởng của vốn nhân lực đến thu  
N
nhập và bất bình đẳng thu nhập theo giới tính tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, dựa vào Dữ liệu khảo  
sát mức sống dân cư năm 2018 của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Kết quả phân tích từ 7.558 lao động  
làm việc được trả lương cho thấy, lao động nữ chỉ nhận khoảng 84% mức thu nhập so với lao động nam  
trên thị trường lao động. Đáng chú ý, bất bình đẳng thu nhập theo giới tính được đo lường chủ yếu gắn  
liền với các yếu tố phân biệt đối xử; trong khi đó, các yếu tố vốn nhân lực và nhân khẩu học có ảnh hưởng  
không đáng kể đến sự bất bình đẳng thu nhập theo giới tính. Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, một vài hàm  
ý chính sách liên quan nâng cao nhận thức về bình đẳng giới đối với người sử dụng lao động, ưu đãi tuyển  
dụng và sử dụng lao động nữ, và tạo cơ hội tham gia thị trường tốt hơn cho phụ nữ thông qua đào tạo nghề  
thật sự cần thiết.  
Từ khóa: Thu nhập; Bất bình đẳng thu nhập; Giới tính; Lao động; Đồng bằng sông Cửu Long.  
50  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
pdf 7 trang baolam 23560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích ảnh hưởng của vốn nhân lực đến thu nhập và bất bình đẳng thu nhập theo giới tính tại Đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_anh_huong_cua_von_nhan_luc_den_thu_nhap_va_bat_bin.pdf