Phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

J. Sci. & Devel. 2014, Vol. 12, No. 5: 769-778  
Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 5: 769-778  
PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN THỊT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA  
Phạm Xuân Thanh1*, Lương Thị Dân2, Mai Thanh Cúc2  
1Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Thanh Hóa  
2Khoa Kinh tế & PTNT, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Ngày gửi bài: 03.06.2014  
Ngày chấp nhận: 08.09.2014  
TÓM TẮT  
Chăn nuôi lợn thịt đóng vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa. Những năm qua, chăn  
nuôi lợn thịt đã đạt được những kết quả nhất định nhưng chưa thực sự hiệu quả và bền vững. Nghiên cứu được tiến  
hành dựa trên quá trình tổng hợp, phân tích những số liệu thống kê từ các báo cáo chuyên ngành, số liệu thống kê  
đã được công bố về tình hình chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng, qua đó nhằm đánh giá đúng  
thực trạng và xác định những thuận lợi, khó khăn trong phát triển chăn nuôi lợn thịt ở địa bàn nghiên cứu. Từ những  
đánh giá đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển chăn nuôi lợn thịt trong thời gian tới.  
Từ khóa: Chăn nuôi lợn thịt, nông hộ, Thanh Hóa, thực trạng phát triển.  
Development of Pig Farming for Pork in Thanh Hoa Province  
ABSTRACT  
Pig farming for pork or pork production is an important industry of the agricultural sector in Thanh Hoa province.  
In recent years, thanks to well management of local governments, pig rearing in the province has gradually  
developed; nevertheless, it is not really sustainable. Data gathered from statistical reports, especially from published  
statistical data on pig farming in general and pig farming for pork in particular were analyzedto evaluate the status  
and advantages and disadvantages of pork production in the province. Some solutions for future pork production  
were recommended..  
Keywords: Develop situation, household, pig rearing, Thanh Hoa.  
lợn thịt lớn đối với thị trường trong và ngoài  
tỉnh. Sản lượng lợn thịt thương phẩm năm 2010  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
khoảng 130,4 nghìn tấn, tăng dần qua các năm  
với tốc độ 0,7%/năm, đạt 133,4 nghìn tấn năm  
2013 (Số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh  
Thanh Hóa, 2013).  
Số liệu thống kê năm 2010 cho thấy tỷ  
trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chiếm  
khoảng 25% trong toàn ngành nông nghiệp,  
trong đó chăn nuôi lợn thịt của nước ta đã có  
bước phát triển nhanh chóng, đóng góp khoảng  
70% tổng sản lượng thịt xẻ của ngành chăn nuôi  
(Phạm Thị Tân và Phạm Văn Hùng, 2013).  
Ngoài mục đích tăng thu nhập, chăn nuôi lợn  
góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.  
Bên cạnh những kết quả đạt được, chăn  
nuôi lợn thịt ở Thanh Hóa vẫn gặp phải những  
khó khăn như: Việc quy hoạch, thực hiện quy  
hoạch vẫn chưa thực sự được quan tâm; đầu tư  
chưa đáp ứng yêu cầu, phương thức chăn nuôi  
chủ yếu là bán công nghiệp, quy mô nhỏ lẻ, phát  
triển chăn nuôi trang trại cũng như ở hộ còn  
phân tán, tự phát, thiếu kiểm soát trong phòng  
trừ dịch bệnh, gây ô nhiễm môi trường... Chính  
Thanh Hóa là địa phương có tổng đàn lợn  
lớn thứ 2 ở vùng Bắc Trung Bộ (tính đến tháng  
10 năm 2013, đàn lợn của Thanh Hóa có tổng số  
887,619 nghìn con) và là nơi cung ứng sản phẩm  
769  
Phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
có xu hướng tăng trong những năm qua, từ  
25,5% năm 2010 tăng lên 32,8% năm 2013  
(UBND tỉnh Thanh Hóa, 2014). Như vậy, có thể  
thấy Thanh Hóa có tiềm năng lớn trong phát  
triển nông nghiệp, đây cũng là các nguồn lực  
quan trọng cho phát triển chăn nuôi lợn thịt  
trên địa bàn tỉnh.  
vì vậy, phát triển chăn nuôi lợn thịt ở địa bàn  
chưa đạt được hiệu quả và tính bền vững, rất  
cần quan tâm nghiên cứu.  
Trong thời gian qua, mặc dù có nhiều  
nghiên cứu về chăn nuôi nói chung cũng như  
chăn nuôi lợn thịt nói riêng nhưng chưa có  
nghiên cứu, đánh giá nào về phát triển chăn  
nuôi lợn thịt ở Thanh Hóa như bài viết này với  
mục đích tìm ra một số giải pháp chủ yếu phát  
triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh trong  
thời gian tới.  
Những năm gần đây, cùng với các chính  
sách phát triển chăn nuôi lợn nói chung và chăn  
nuôi lợn thịt nói riêng của Đảng và Nhà nước,  
tỉnh Thanh Hóa cũng đã có những quan tâm  
nhất định đối với lĩnh vực này, cụ thể như:  
Quyết định số 1745/2011/QĐ-UBND, ngày  
03/6/2011 của UBND tỉnh về cơ chế, chính sách  
hỗ trợ giống gốc vật nuôi; Quyết định số  
271/2011/QĐ- UBND ngày 21/01/2011 của  
UBND tỉnh về cơ chế chính sách phát triển chăn  
nuôi gia súc, gia cầm;... Những chủ trương,  
chính sách đó đã góp phần thúc đẩy quá trình  
phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh, đặc biệt  
là chăn nuôi lợn thịt. Năm 2011, toàn tỉnh có  
374 trang trại các loại, đến năm 2013 đã tăng  
lên 587 trang trại, trong đó 324 trang trại là  
chăn nuôi, chiếm 61%. Tuy nhiên, hiện tại  
Thanh Hóa chưa có chính sách đặc thù dành  
riêng cho phát triển chăn nuôi lợn thịt, do đó  
chăn nuôi lợn thịt ở Thanh Hóa chưa thực sự  
tạo ra những bước đột phá.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
- Phương pháp thu thập thông tin: Các số  
liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu  
thập và tổng hợp từ các nguồn sẵn có như: Đề  
án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng  
nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững,  
tỉnh thanh hóa đến năm 2020 (UBND tỉnh  
Thanh Hóa); Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng  
thể phát triển nông nghiệp tỉnh thanh hóa đến  
năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (Sở  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh  
Thanh Hóa); các báo cáo của Chi cục Chăn nuôi,  
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh  
Thanh Hóa; các số liệu thống kê hàng năm...  
- Phương pháp phân tích: Nghiên cứu sử  
dụng phương pháp thống kê mô tả và phương  
pháp so sánh nhằm phản ánh sự biến động của  
các chỉ tiêu có liên quan đến phát triển chăn  
nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh.  
3.1.2. Thực trạng phát triển đàn lợn  
- Tốc độ tăng đàn  
Giai đoạn 2006 - 2010, giá thức ăn chăn  
nuôi liên tục tăng, đặc biệt năm 2008 - 2009  
dịch bệnh bùng phát mạnh ở Thanh Hóa trong  
khi giá bán thịt lợn hơi tăng không đáng kể là  
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tổng đàn lợn  
trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm mạnh, bình  
quân 8,6%/năm. Mặc dù vậy, trong 3 năm trở  
lại đây, đàn lợn ở Thanh Hóa có chiều hướng  
tăng, từ 2011- 2013 đạt 0,5%/năm. Năm 2010  
đàn lợn có 874,5 nghìn con, đến năm 2013 đã  
có 887,6 nghìn con. Một số huyện tăng mạnh vì  
có nhiều trang trại và gia trại như: Nga Sơn,  
Triệu Sơn, Yên Định, Thiệu Hoá, Vĩnh lộc,  
Thạch Thành, Cẩm thuỷ... So với mục tiêu tới  
năm 2013 là 1,9 triệu con lợi thì thực tế mới chỉ  
đạt 46%.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn  
thịt ở nông hộ của Thanh Hóa  
3.1.1. Bối cảnh chăn chung trong chăn nuôi  
lợn thịt  
Thanh Hóa có diện tích tự nhiên lớn với  
1.110.609 ha, có điều kiện thời tiết, khí hậu  
tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp  
đa dạng. Bên cạnh đó, Thanh Hóa có nguồn  
nhân lực dồi dào, với tổng dân số năm 2013 là  
3,44 triệu người, trong đó có 88,48% sinh sống ở  
khu vực nông thôn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo  
770  
Phạm Xuân Thanh, Lương Thị Dân, Mai Thanh Cúc  
Bảng 1. Tổng hợp một số chính sách liên quan đến phát triển  
chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
Chính sách  
Nội dung  
Kết quả  
Đánh giá  
Chính sách của Nhà nước  
Chương trình 134,  
135  
Đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ  
trợ phát triển sản xuất,  
nhà ở, đất ở, đất sản xuất  
và nước sinh hoạt cho  
đồng bào dân tộc thiểu số  
và các xã, thôn bản đặc  
biệt khó khăn  
Trong giai đoạn 2006-2010, đã  
đầu tư 214km đường giao thông.  
Trên 60 ngàn hộ dân được hỗ trợ  
đất sản xuất, giống vật nuôi. Tổng  
kinh phí đã đầu tư, hỗ trợ trên 876  
tỷ đồng  
Chương trình chưa đáp ứng nhu cầu,  
vẫn còn 02 xã và 151 thôn, bản chưa  
có đường ô tô đến trung tâm; 01 xã và  
60 thôn, bản chưa có điện lưới quốc  
gia  
Chương trình  
MTQG giảm nghèo  
Hỗ trợ xây dựng các mô  
hình giảm nghèo, phát  
triển sản xuất, khuyến  
nông, lâm, ngư  
Đã hỗ trợ trên 2.279 tỷ đồng cho  
hơn 429 nghìn lượt hộ nghèo vay  
vốn; hỗ trợ 15,15 tỷ đồng xây  
dựng 115 mô hình khuyến nông  
Vốn đối ứng của nhân dân không đáp  
ứng được nên việc triển khai thực hiện  
chương trình chưa đạt được kết quả  
như mong muốn  
Chương trình giảm  
nghèo nhanh và  
bền vững theo Nghị  
quyết 30a  
Hỗ trợ các huyện nghèo  
đầu tư cơ sở hạ tầng, phát trí cho chương trình là 252,6 tỷ  
triển sản xuất  
Từ năm 2011-2013, tổng vốn bố  
Có tác động tích cực tới việc chuyển  
dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát  
triển sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên, so  
với mục tiêu đề án được phê duyệt,  
nguồn vốn hỗ trợ còn thấp  
đồng (bình quân 87,5 tỷ  
đồng/năm)  
Nghị định số  
61/2010/NĐ-CP  
Khuyến khích doanh  
nghiệp đầu tư vào nông  
nghiệp, nông thôn  
Đã cấp giấy chứng nhận ưu đãi  
đầu tư cho 17 doanh nghiệp để  
thụ hưởng chính sách  
Việc triển khai thực hiện chính sách  
còn nhiều hạn chế do ít doanh nghiệp  
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông  
thôn thuộc đối tượng điều chỉnh của  
chính sách  
Nghị quyết số  
48/NQ-CP  
Hỗ trợ giảm tổn thất sau  
thu hoạch đối với nông  
sản, thuỷ sản  
Đã thực hiện cho 174 tổ chức, cá  
nhân vay vốn hỗ trợ lãi suất với  
tổng số tiền là 31,7 tỷ đồng, tổng  
lãi suất hỗ trợ là 2,6 tỷ đồng  
Tuy đã mang lại hiệu quả bước đầu  
nhưng còn trong phạm vi hẹp, chưa  
thực hiện được trong lĩnh vực chăn  
nuôi  
Nghị định số  
41/2010/NĐ-CP  
Chính sách tín dụng phục  
vụ phát triển nông nghiệp,  
nông thôn  
Đã có 120.285 lượt cá nhân, hộ gia  
đình; 365 lượt chủ trang trại và 25  
lượt hợp tác xã được vay vốn, với  
tổng dư nợ cho vay là 964 tỷ đồng.  
Việc các hộ nông dân được tiếp cận  
và vay vốn tín dụng ưu đãi còn khó  
khăn  
Chính sách của tỉnh  
Quyết định số  
1745/2011/QĐ-  
UBND  
Hỗ trợ giống gốc vật nuôi  
Trong 5 năm (2009-2013) hỗ trợ  
lưu giữ 7.578 lợn giống ông bà, hỗ trong tỉnh, nâng cao được năng suất,  
trợ lưu giữ 10.000 gà mái ông bà,  
2.500 ngan ông bà và 20.000 vịt  
ông bà  
Đã góp phần thay đổi cơ cấu đàn lợn  
hiệu quả trong chăn nuôi lợn.  
Quyết định số  
271/2011/QĐ-  
UBND  
Hỗ trợ phát triển chăn nuôi Đã phát triển được 166 trang trại  
Góp phần chuyển biến nhận thức của  
một phần lớn người dân trong đầu tư  
phát triển chăn nuôi công nghiệp  
gia súc, gia cầm  
theo tiêu chí mới, trong đó có 57  
trang trại chăn nuôi lợn thịt và có  
60 trang trại chăn nuôi tập trung  
quy mô lớn  
Nguồn: UBND tỉnh Thanh Hóa năm 2011, 2013, 2014 và Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thanh Hóa, 2014.  
- Sản lượng thịt lợn:  
Hiện tại, lợn được nuôi tập trung ở các  
huyện đồng bằng, khu vực miền Núi gồm 11  
huyện nhưng chỉ có 275,4 nghìn con, chiếm 31%.  
Sản lượng thịt lợn tăng dần qua các năm  
với tốc độ tăng bình quân 4,9% (giai đoạn 2006-  
2010 tăng 7,5%/năm), tương đương từ 90,8  
nghìn tấn năm 2005 lên 130,4 nghìn tấn năm  
2010 và 197,9 nghìn tấn năm 2012.  
Trong phát triển chăn nuôi lợn ở khu vực  
Bắc Trung Bộ, tính đến năm 2012 Thanh Hóa là  
tỉnh đứng thứ 2 về số lượng đầu lợn hàng năm,  
với 854,8 nghìn con (sau tỉnh Nghệ An, với  
1.006 nghìn con).  
Tuy tổng đàn lợn của tỉnh Thanh Hóa năm  
2012 chỉ đứng thứ hai khu vực Bắc Trung Bộ  
771  
Phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
Biểu đồ 1. Biến động đàn lợn của tỉnh Thanh Hóa từ năm 1995 - 2013  
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa, 2014  
(sau tỉnh Nghệ An) nhưng năng suất chăn nuôi  
cao dẫn đến sản lượng lợn thịt của tỉnh cao hơn  
71,3 nghìn tấn so với Nghệ An và chiếm gần  
50% tổng sản lượng lợn thịt của toàn khu vực.  
Thanh Hóa trở thành tỉnh có sản lượng lợn thịt  
lớn nhất trong khu vực Bắc Trung Bộ.  
Biểu đồ 2. Tổng đàn lợn của các tỉnh Bắc Trung Bộ năm 2012 (nghìn con)  
Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2013  
Biểu đồ 3. Sản lượng lợn thịt của tỉnh Thanh Hóa qua các năm (nghìn tấn)  
772  
Phạm Xuân Thanh, Lương Thị Dân, Mai Thanh Cúc  
Biểu đồ 4. Sản lượng lợn thịt của tỉnh Thanh Hóa  
so với các tỉnh Bắc Trung Bộ năm 2012 (Nghìn tấn)  
Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2012  
- Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi lợn thịt  
ngoại hướng nạc mới chiếm 20%, lợn nội, lợn lai  
chiếm tới 80%. Năng lực đầu tư phát triển chăn  
nuôi hàng hóa hạn chế; phát triển chăn nuôi lợn  
thịt phụ thuộc rất lớn vào giá cả thức ăn chăn  
nuôi và giá lợn thịt hơi.  
Tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi lợn thịt  
ứng dụng công nghệ cao khá thấp. Các sản phẩm  
chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao ở Thanh Hóa  
bao gồm: bò sữa tập trung 1.500 con, gà công  
nghiệp tập trung 350 nghìn con, trong khi đó chăn  
nuôi lợn thịt siêu nạc tập trung mới chỉ đạt 65  
nghìn con. Tuy nhiên, tổng giá trị sản xuất của  
chăn nuôi lợn thịt vẫn đứng đầu trong cơ cấu giá  
trị sản xuất ngành chăn nuôi của tỉnh (năm 2010  
chiếm 34,3% và đến năm 2013 tăng lên 42,3%).  
3.1.3. Phát triển các hình thức chăn nuôi  
lợn thịt  
Chăn nuôi trong các hộ gia đình: Chăn nuôi  
lợn của tỉnh theo mô hình nông hộ nhỏ lẻ là chủ  
yếu. Trong tổng đàn lợn, hộ (dưới 30 con lợn) ở khu  
vực nông thôn có 675,9 nghìn con, chiếm 76,2%, hộ  
khu vực thành thị 13,6 nghìn con, chiếm 1,5%; gia  
trại (từ 30 con lợn trở lên) có 79,7 nghìn con, chiếm  
9%, bình quân 51,3 con/gia trại;  
Hiện tại, chăn nuôi lợn thịt quy mô nông  
hộ, nhỏ, phân tán mang tính tận dụng còn  
chiếm tỉ lệ cao (73%), chăn nuôi trang trại sản  
xuất hàng hoá mới chiếm 27%. Chăn nuôi lợn  
Bảng 2. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi lợn và các vật nuôi chủ yếu  
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (%)  
TT  
1
Chỉ tiêu  
Năm 2010  
34,3  
7,2  
Năm 2011  
38,1  
7,3  
Năm 2012  
43,5  
5,8  
Năm 2013  
42,3  
5,7  
Lợn  
2
Trâu  
3
Bò  
12,1  
33,4  
4,0  
9,4  
8,3  
8,4  
4
Gà  
32,6  
3,9  
30,8  
3,4  
30,4  
3,8  
5
Vịt  
6
Ngan, ngỗng  
2,0  
2,0  
1,9  
1,8  
7
Trứng và giá trị các sản phẩm khác  
6,9  
6,6  
6,1  
7,6  
Nguồn: UBND tỉnh Thanh Hóa, 2014  
773  
Phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
Thực tế cho thấy chăn nuôi theo mô hình hộ  
nhỏ lẻ kém hiệu quả đang có xu hướng giảm  
chuyển dần sang chăn nuôi tập trung theo hình  
thức gia trại và trang trại. Thanh Hóa hiện có  
252,1 nghìn hộ có chăn nuôi lợn, giảm 56,3  
nghìn hộ so với năm 2010, nhưng tổng đàn lợn  
vẫn tăng thêm 13,1 nghìn con.  
Tuy chăn nuôi gia công có hiệu quả kinh tế  
cao nhưng hiện chưa phải hình thức chủ yếu  
trong chăn nuôi lợn thịt ở địa phương. Nguyên  
nhân chủ yếu do: i) yêu cầu vốn đối ứng của các  
hộ gia đình/trang trại lớn (thường từ 1 đến 3 tỷ  
đồng) trong khi tiềm lực về vốn của hộ và trang  
trại hạn chế; ii) Vấn đề môi trường xung quanh  
khu vực chăn nuôi bị ảnh hưởng rất nặng nề; iii)  
Kiến thức và kinh nghiệm chăn nuôi theo hướng  
sản xuất hàng hóa lớn của người dân chưa đáp  
ứng nhu cầu của doanh nghiệp.  
Chăn nuôi trang trại: Theo tiêu chí mới quy  
định tại Thông tư số: 27 /2011/TT-BNNPTNT,  
ngày 13 tháng 4 năm 2011 (cơ sở chăn nuôi phải  
đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu  
đồng/năm trở lên), năm 2011 toàn tỉnh có 187  
trang trại chăn nuôi; đến năm 2012 tăng lên  
324 trang trại. Tuy nhiên, số lượng gia súc và  
sản phẩm của chăn nuôi trang trại mới chiếm  
khoảng 25%, chăn nuôi gia trại, hộ gia đình vẫn  
chiếm chủ yếu trong sản xuất ngành chăn nuôi  
toàn tỉnh. Riêng về chăn nuôi lợn thịt, năm  
2014 toàn tỉnh có 285 trang trại được chứng  
nhận, tăng 42 trang trại so với năm 2013 với số  
lượng 100,2 nghìn con, chiếm 11,3% tổng đàn  
toàn tỉnh. Chăn nuôi dần phát triển theo mô  
hình trang trại tập trung, gia trại thay thế dần  
chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình. Tuy nhiên, sự  
phát triển của trang trại trên địa bàn hiện nay  
chưa theo quy hoạch tổng thể, tình trạng phát  
triển tự phát vẫn còn diễn ra ở nhiều địa  
phương trong tỉnh.  
3.1.4. Quản lý và phát triển các cơ sở giết mổ  
Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu được tiêu thụ  
thông qua các hộ kinh doanh giết mổ. Số lượng  
cơ sở giết mổ lợn thịt phụ thuộc lớn vào nhu cầu  
của thị trường tiêu dùng và thông thường sẽ tỷ  
lệ thuận với số đầu gia súc xuất chuồng hàng  
năm của địa phương. Theo thống kê, năm 2010,  
toàn tỉnh có 2.851 cơ sở giết mổ và con số này  
tăng lên 2.878 cơ sở năm 2013, với năng suất  
giết mổ đạt khoảng 2.000 con gia súc/ngày. Tuy  
nhiên, sự gia tăng này tập chung chủ yếu ở số cơ  
sở giết mổ nhỏ lẻ, tự phát, phân tán trong khu  
dân cư và thiếu sự quản lý của cơ quan thú y.  
Do đó, đại bộ phận các cơ sở giết không đảm bảo  
tiêu chuẩn vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm,  
tiềm ẩn nguy cơ phát sinh, phát triển các loại  
dịch bệnh nguy hiểm trên gia súc gia cầm và đe  
dọa đến sức khỏe cộng đồng.  
Doanh nghiệp chăn nuôi: Các doanh nghiệp  
tham gia trực tiếp vào chăn nuôi lợn thịt trên  
địa bàn tỉnh hầu như không có. Các doanh  
nghiệp chăn nuôi lợn thịt thường liên kết với các  
trang trại chăn nuôi hoặc hộ gia đình theo hình  
thức chăn nuôi gia công. Đây cũng là yếu tố  
thúc đẩy cho quá trình phát triển các trang trại  
ở Thanh Hóa. Theo thống kê, năm 2010 số lượng  
trang trại tham gia liên kết với doanh nghiệp  
(công ty thức ăn chăn nuôi CP Thái Lan) là 83  
trang trại, đến năm 2011 tăng lên 107 trang  
trại và cuối năm 2013 đã tăng lên 154 trang  
trại. Hầu hết các trang trại tham gia chăn nuôi  
gia công đều thu hút được từ 3 đến 7 lao  
động/trang trại, thu nhập bình quân đạt 5 đến 7  
triệu đồng/lao động và hàng năm doanh thu từ  
hoạt động chăn nuôi gia công của trang trại từ  
500 - 900 triệu đồng.  
Theo Quyết định số 2321 “Về việc quy  
hoạch tổng thể phát triển thương mại tỉnh  
Thanh Hóa đến năm 2010”, đến năm 2005 xây  
dựng 3 lò giết mổ tập trung với các thiết bị  
tương đối hiện đại tại các phường Phú Sơn,  
Đông Sơn, Đông Vệ (thành phố Thanh Hóa). Tại  
thị xã Sầm Sơn và Bỉm Sơn mỗi nơi một lò. 13  
huyện đồng bằng và 7 huyện miền núi mỗi  
huyện xây dựng một lò tại khu vực thị trấn.  
Năm 2010 xây dựng thêm 26 lò giết mổ. Tuy  
nhiên, thực tế đến năm 2013 toàn tỉnh chỉ có 8  
cơ sở giết mổ bán công nghiệp tập trung, 2 cơ sở  
giết mổ công nghiệp để xuất khẩu. Trong 8 cơ sở  
giết mổ bán công nghiệp tập trung chỉ có 3 cơ sở  
đang hoạt động và có sự giám sát hàng ngày của  
cơ quan thú y. Bên cạnh đó, các cơ sở này hiện  
774  
Phạm Xuân Thanh, Lương Thị Dân, Mai Thanh Cúc  
Bảng 4. Số cơ sở giết mổ gia súc gia cầm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
Diễn giải  
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013  
Tổng số cơ sở giết mổ  
2.851  
2.836  
2.840  
2.878  
Phân theo giấy phép hoạt động  
- Chưa được cấp phép  
2.848  
103  
2.730  
106  
2.837  
113  
2.759  
119  
- Được cấp phép  
Phân theo vị trí  
- Số cơ sở giết mổ tập trung  
- Số cơ sở phân tán trong khu dân cư  
Phân theo sự quản lý của cơ quan thú y  
- Được kiểm soát  
6
8
9
9
2.845  
2.828  
2.831  
2.869  
923  
1.005  
1.831  
1.024  
1.816  
1.038  
1.840  
- Không được kiểm soát  
1.928  
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Sở công thương  
chưa đủ điều kiện vệ sinh thú y. Như trên đã  
nêu, Thanh Hóa có đến 2.878 điểm giết mổ gia  
súc, gia cầm thủ công, nhỏ lẻ, trong đó 119 cơ sở  
được cấp phép kinh doanh, 1.038 điểm giết mổ  
có sự kiểm soát của cơ quan thú y. Nếu mỗi  
ngày các cơ sở chưa có sự kiểm soát của cơ quan  
thú y giết mổ trung bình 3 con thì hàng năm có  
đến hơn 1,9 triệu con gia súc, gia cầm không  
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được tiêu  
thụ trên thị trường.  
3.1.6. Quản lý và phát triển thức ăn chăn  
nuôi  
Thanh Hoá là tỉnh có nguồn nguyên liệu từ  
ngành trồng trọt và thủy sản dồi dào: ngô 219  
nghìn tấn/năm, đậu tương 14 nghìn tấn/năm,  
lạc 28 nghìn tấn/năm, thủy sản trên 123 nghìn  
tấn/năm, đáp ứng được một phần nhu cầu  
nguyên liệu cho chế biến thức ăn gia súc trên  
địa bàn. Thực trạng cho thấy, ngoài việc tự chế  
biến của các cơ sở, hộ chăn nuôi (5.120 máy chế  
biến thức ăn chăn nuôi), trên địa bàn tỉnh có 05  
cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi đã đăng ký  
hoạt động và công bố chất lượng sản phẩm với  
công suất từ 12.000 - 40.000 tấn/năm. Sản xuất  
thức ăn trong tỉnh chiếm 20% thị phần thức ăn  
chăn nuôi trên địa bàn (khoảng 200.000  
tấn/năm).  
3.1.5. Quản lý và phát triển giống lợn thịt  
Hệ thống giống lợn ngoại trên địa bàn tỉnh  
Thanh Hóa những năm qua cũng đã nhận được  
nhiều sự quan tâm của tỉnh. Công tác quản lý  
giống vật nuôi đã được các ngành, các địa  
phương quan tâm chỉ đạo theo Pháp lệnh giống  
vật nuôi, Pháp lệnh thú y. Kết quả phát triển  
đàn giống cho thấy, năm 2006 Thanh Hóa có  
1.000 lợn nái ngoại ông bà, đến cuối năm 2012  
đã có 1.670 lợn nái ngoại và 30 lợn nái Móng cái  
thuần được nuôi ở 7 cơ sở sản xuất lợn ông bà đủ  
điều kiện, hàng năm sản xuất khoảng 10.020  
lợn hậu bị cấp bố mẹ, cung cấp con giống cho  
nhân dân trong tỉnh. Năm 2013, tổng đàn nái  
ngoại đạt 20.000 con, chiếm 20% tổng đàn lợn  
nái trong tỉnh. Đàn nái ngoại ông bà trên 1.500  
con, hàng năm cung cấp cho người chăn nuôi  
trên 9.000 lợn cái giống. Đàn lợn nái cấp bố mẹ  
mới phát triển từ năm 2006 đến nay đã đạt trên  
25.000 con  
Mặc dù diện tích gieo trồng cây hàng năm  
diễn biến theo xu thế ngày càng giảm về quy mô  
(bình quân toàn thời kỳ 2006 - 2013 diện tích  
đất trồng cây hàng năm giảm gần 0,7%/năm và  
diện tích gieo trồng giảm 0,1%/năm) nhưng  
phần lớn các sản phẩm từ ngành trồng trọt,  
thủy sản có thể làm nguyên liệu chính cho  
ngành chăn nuôi vẫn được phát triển theo  
hướng tăng. Tổng sản lượng lương thực năm  
2013 đạt 1,65 triệu tấn, tăng 37 nghìn tấn so với  
năm 2010 và 168 nghìn tấn so với năm 2005.  
775  
Phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
Bảng 5. Sản lượng một số nguyên liệu chính làm thức ăn chăn nuôi (tấn)  
Diễn biến qua các năm  
Tăng, giảm BQ/năm  
TT  
1
Hạng mục  
2006-  
2010  
2011-  
2013  
2006-  
2013  
2005  
2010  
2013  
Cây lương thực có hạt  
1.481.724  
1.237.518  
244.206  
1.612.574  
1.396.629  
215.945  
1.649.583  
1.431.051  
218.532  
1,7  
0,8  
0,8  
0,4  
1,4  
Gạo  
2,4  
1,8  
Ngô  
-2,4  
-1,4  
2
Cây công nghiệp  
Lạc  
29.285  
7.349  
27.214  
9.341  
27.635  
13.878  
-1,5  
4,9  
0,5  
14,1  
97,2  
16,1  
6,2  
-0,7  
8,3  
Đậu tương  
Sắn  
126.010  
49.566  
73.544  
28.142  
88.272  
103.385  
215.860  
138.143  
123.800  
-25,9  
12,2  
7,0  
7,0  
Trong đó sắn nguyên liệu  
Thủy sản  
13,7  
6,7  
3
Nguồn: Số liệu thống kê tỉnh Thanh Hóa năm 2011, 2012; Báo cáo của sở Nông nghiệp và PTNT, 2013  
như: đào tạo kỹ thuật dẫn tinh viên; chuyển  
giao kỹ thuật chăn nuôi lợn an toàn dịch bệnh;  
xây dựng phần mềm quản lý giống lợn... Tất cả  
các hướng nghiên cứu, ứng dụng trên đều được  
gắn với việc xây dựng các mô hình sản xuất tiên  
tiến, làm cầu nối để đưa khoa học kỹ thuật vào  
sản xuất, làm cơ sở để chăn nuôi lợn phát triển  
bền vững.  
3.1.7. Công tác chuyển giao tiến bộ khoa  
học công nghệ trong chăn nuôi  
Hầu hết các huyện, thị xã, thành phố và các  
cơ sở chăn nuôi lớn trong tỉnh đều đã có cán bộ  
khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý có kinh  
nghiệm về lĩnh vực chăn nuôi. Lực lượng này đã  
cùng với hệ thống khuyến nông trong tỉnh và  
các địa phương triển khai 70 mô hình chăn nuôi  
lợn tại 27 huyện, thị, thành phố. Các tổ chức  
đoàn thể và các địa phương đã tổ chức được: 76  
lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi cho 2.600 lượt  
cán bộ khuyến nông viên cơ sở; 220 lớp tập huấn  
kỹ thuật, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ  
thuật trong chăn nuôi lợn cho nông dân với trên  
230.000 lượt người tham gia. Các đơn vị trong  
tỉnh đã hợp tác với các viện, trường đại học thực  
hiện nhiều chương trình, dự án, đề tài nhằm  
phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh  
3.2. Những thuận lợi, khó khăn và bất cập  
trong phát triển chăn nuôi lợn thịt ở  
Thanh Hóa  
3.2.1 Thuận lợi  
Hiện nay ngành chăn nuôi lợn đang nhận  
được nhiều sự quan tâm lớn thông qua hàng loạt  
chính sách khuyến khích chăn nuôi phát triển,  
nhiều chương trình khuyến nông được thực  
Bảng 6. Một số kết quả phát triển công tác khuyến nông trong chăn nuôi lợn ở Thanh Hóa  
Diễn giải  
Số mô hình chăn nuôi lợn  
Năm 2005  
Năm 2010  
Năm 2013  
25  
57  
70  
Tập huấn kỹ thuật cho cán bộ khuyến nông cơ sở  
Số lớp (Lớp)  
21  
61  
76  
Số lượt tham gia (Lượt người)  
872  
1.983  
2.600  
Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi lợn cho người dân  
Số lớp (Lớp)  
142  
184  
220  
Số lượt tham gia (Lượt người)  
174.259  
224.352  
230.000  
Nguồn: Khuyến nông tỉnh Thanh Hóa, 2014  
776  
Phạm Xuân Thanh, Lương Thị Dân, Mai Thanh Cúc  
hiện để giúp đỡ người dân về kỹ thuật chăn  
nuôi. Bên cạnh đó, thành tự to lớn về công nghệ  
sinh học, khoa học chăn nuôi đang góp phần hỗ  
trợ cho chăn nuôi phát triển theo các mô hình  
hiện đại và quy mô, thân thiện với môi trường,  
hệ thống thông tin liên lạc, giao thông giữa các  
vùng cơ bản phát triển tạo điều kiện thuận lợi  
cho hoạt động thương mại.  
chăn nuôi. Giá đầu vào thường xuyên thay đổi  
theo chiều hướng tăng, giá bán lợn thịt có xu  
hướng giảm đang là khó khăn lớn đối với người  
chăn nuôi.  
Các hộ đang phải đối mặt với nhiều rủi ro  
trong chăn nuôi lợn thịt: rủi ro về giống, thức ăn,  
dịch bệnh…. dẫn tới hiệu quả chăn nuôi thấp.  
3.4. Giải pháp phát triển chăn nuôi lợn thịt  
- Nghiên cứu xây dựng chính sách đặc thù  
dành riêng cho chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh  
Thanh hóa là tỉnh có diện tích đất nông  
nghiệp lớn, địa hình thuận lợi cho việc phát  
triển chăn nuôi lợn thịt.  
Thịt lợn vẫn là thực phẩm chủ yếu và  
thường xuyên trong bữa ăn gia đình người  
Việt Nam nói chung và người tiêu dùng khu  
vực Đông Nam Á, do đó thị trường tiêu thụ lợn  
thịt còn rất lớn.  
- Tạo điều kiện nâng cao năng lực về vốn  
cho hộ nông dân, trang trại khi tham gia chăn  
nuôi lợn thịt, đặc biệt ưu tiên khi tham gia liên  
kết thông qua hình thức chăn nuôi gia công cho  
các doanh nghiệp  
Chăn nuôi lợn đã gắn liền với người nông  
dân từ lâu đời, là ngành sản xuất không thể  
thiếu trong hệ thống chăn nuôi của tỉnh và cả  
nước, vì ngoài việc đáp ứng nhu cầu thịt lợn cho  
nhu cầu tiêu dùng trong nước còn góp phần  
cung cấp nguồn nguyên liệu sản xuất các sản  
phẩm chế biến để xuất khẩu.  
- Trong quá trình phát triển chăn nuôi lợn  
thịt cần trú trọng đến công tác đảm bảo vệ sinh  
môi trường xung quanh. Do đó, trong quy hoạch  
chăn nuôi tập trung cần tính toán đến hệ thống  
xử lý nước thải, chất thải chăn nuôi và Thanh  
Hóa cần sớm thực hiện quy hoạch các điểm chăn  
nuôi tập trung.  
- Tiếp tục nâng cao kiến thức và truyền đạt  
kinh nghiệm chăn nuôi theo hướng sản xuất  
hàng hóa lớn đến hộ chăn nuôi, các chủ trang  
trại trên địa bàn tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu  
của các doanh nghiệp khi tham gia liên kết.  
3.2.2. Khó khăn  
Nhiều hộ có lao động ít, trình độ và nhận  
thức còn hạn chế, do vậy khi triển khai các nội  
dung phát triển chăn nuôi, áp dụng khoa học kỹ  
thuật còn gặp nhiều khó khăn.  
- Khuyến khích phát triển chăn nuôi theo  
hướng công nghiệp, sản xuất hàng hóa  
Hộ chăn nuôi không có vốn sản xuất hoặc có  
nhưng thiếu vốn sản xuất, khả năng tích lũy  
vốn của người chăn nuôi thấp.  
- Tăng cường công tác quản lý, giám sát các  
cơ sở giết mổ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, đồng  
thời, sớm thực hiện quy hoạch cơ sở giết mổ năm  
2020 theo nội dung Quyết định số 3263/QĐ-  
UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa ngày 19  
tháng 09 năm 2013 về việc phê duyệt quy hoạch  
các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn  
tỉnh thanh hóa đến năm 2020.  
Các dịch vụ tài chính trong lĩnh vực nông  
nghiệp còn nhiều hạn chế, khả năng tiếp cận vốn  
của hộ còn gặp nhiều khó khăn. Kết quả khảo sát  
cho thấy, 40,44% hộ đánh giá việc vay vốn là khó  
khăn. Những nguyên nhân dẫn tới việc vay vốn  
khó khăn bao gồm: Ngân hàng đòi tài sản thế  
chấp lớn hơn giá trị vay, thủ tục vay rườm rà, lãi  
suất vay cao, thời gian vay ngắn, không phù hợp  
với chu kỳ sản xuất của hộ.  
4. KẾT LUẬN  
Dựa trên đánh giá, phân tích thực trạng  
phát triển chăn nuôi lợn thịt ở địa bàn tỉnh  
Thanh Hóa, chúng tôi có một số kết luận sau:  
Giá cả các yếu tố đầu vào không ổn định và  
thay đổi liên tục… Sự biến động giá cả đó ảnh  
hưởng đến chi phí và hiệu quả của quá trình sản  
xuất, giá bán sản phẩm đầu ra ảnh hưởng đến  
doanh thu và cũng ảnh hưởng đến hiệu quả  
Thanh Hóa đang phát triển chăn nuôi lợn  
thịt theo chiều rộng và chiều sâu. Tổng đàn lợn  
777  
Phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa  
Lê Ngọc Hướng (2012). Nghiên cứu ngành hàng lợn  
thịt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Luận án tiến sĩ  
Kinh tế, Đại học Nông nghiệp Hà Nội.  
và năng suất chăn nuôi có xu hướng tăng trong  
những năm trở lại đây. Chăn nuôi lợn thịt theo  
phương thức tận dụng cũng đang dần được thay  
thế bởi phương thức chăn nuôi bán công nghiệp  
và công nghiệp. Những hộ có lợi thế về chăn nuôi  
đang có xu hướng mở rộng quy mô chăn nuôi,  
trong khi những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và không có  
lợi thế đang dần dần tách khỏi hoạt động chăn  
nuôi lợn. Các hình thức tổ chức trong chăn nuôi  
lợn thịt tuy không phát triển đa dạng, nhưng  
đang có sự chuyển dịch từ chăn nuôi hộ gia đình  
sang chăn nuôi trang trại, chăn nuôi gia công cho  
các doanh nghiệp. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn thịt  
phát triển còn chậm, thiếu quy hoạch, thiếu bền  
vững; chăn nuôi trang trại hình thành và phát  
triển thiếu sự quy hoạch tổng thể và lâu dài; vấn  
đề kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa  
đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người  
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Công tác  
quản lý kiểm soát giết mổ chưa chủ động, hoạt  
động chưa thường xuyên; số lượng cơ sở giết mổ  
được kiểm soát đạt tỷ lệ thấp.  
Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê (2012). Nhà  
xuất bản Thống kê.  
Phạm Thị Tân, Phạm Văn Hùng (2013). Nghiên cứu  
các tác nhân tham gia kênh tiêu thụ sản phẩm thịt  
lợn trên địa bàn tỉnh nghệ an, Tạp chí Khoa học và  
Phát triển, 11(5): 767-776.  
Võ Trọng Thành (2010). Chăn nuôi lợn Việt Nam: Thực  
trạng, thách thức và triển vọng, Cục Chăn nuôi, Bộ  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.  
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh  
Hóa (2014). Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể  
phát triển nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm  
2020 và định hướng đến năm 2030.  
Sở Công thương tỉnh Thanh Hóa (2013). Quy hoạch  
các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh  
Thanh Hóa đến năm 2020.  
UBND tỉnh Thanh Hóa (2014). Đề án tái cơ cấu ngành  
nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng  
và phát triển bền vững, tỉnh Thanh Hóa đến năm  
2020.  
UBND tỉnh Thanh Hóa (2013). Quyết định số  
3263/QĐ-UBND ngày 19 tháng 09 năm 2013 về  
việc phê duyệt quy hoạch các cơ sở giết mổ gia  
súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm  
2020.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Vũ Thị Minh (2010). Thực trạng và giải pháp phát triển  
hệ thống cung ứng giống lợn ở vùng Đồng bằng  
sông Hồng. Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc  
dân, Hà Nội.  
UBND tỉnh Thanh Hóa (2011). Quyết định số  
1745/2011/QĐ-UBND ngày 03/6/2011 về cơ chế,  
chính sách hỗ trợ giống gốc vật nuôi.  
Lê Thanh Hải (2008). Phát triển chăn nuôi trang trại và  
một số giải pháp sản xuất lợn hàng hóa bền vững.  
Tạp chí Chăn nuôi, 7: 19-22.  
UBND tỉnh Thanh Hóa (2011). Quyết định số  
271/2011/QĐ- UBND ngày 21/01/2011 về cơ chế  
chính sách phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm.  
778  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 16340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_chan_nuoi_lon_thit_tren_dia_ban_tinh_thanh_hoa.pdf