Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến năng suất, thành phần hóa học của hai dòng cao lương (OPV86 và OPV88) và chất lượng thức ăn ủ chua từ cây cao lương

J. Sci. & Devel. 2014, Vol. 12, No. 5: 675-682  
Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 5: 675-682  
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM THU CẮT ĐẾN NĂNG SUẤT,  
THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA HAI DÒNG CAO LƯƠNG (OPV86 VÀ OPV88)  
VÀ CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN Ủ CHUA TỪ CÂY CAO LƯƠNG  
Nguyễn Thanh Nhàn1, Nguyễn Xuân Trạch2*, Bùi Quang Tuấn2, Phạm Văn Cường3  
1Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Yên Bái, 2Khoa Chăn nuôi và NTTS, Học viện Nông nghiệp  
Việt Nam, 3Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Ngày gửi bài: 04.08.2014  
Ngày chấp nhận: 30.08.2014  
TÓM TẮT  
Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời điểm thu cắt khác nhau đến năng suất, thành  
phần hoá học của hai dòng cao lương mới chọn tạo là OPV86 và OPV88, đồng thời đánh giá chất lượng thức ăn ủ  
chua từ cây cao lương. Tổng số 24 ô thí nghiệm (12 ô cho mỗi dòng cao lương) được bố trí theo mô hình thiết kế thí  
nghiệm một yếu tố hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Cây cao lương được thu cắt ở 4 thời điểm khác nhau: khi  
cây phân hóa hoa (sau trồng 45 ngày), trước khi hoa trỗ 5 ngày, khi hạt chín sáp (sau trỗ 25 ngày) và khi thu hoạch  
hạt (sau trỗ 35 ngày). Sau thu cắt, toàn bộ cây cao lương được thái ngắn 2-3cm và được ủ chua trong bình nhựa (3  
kg/bình) theo 2 công thức gồm: (1) ủ chua với 0,5% NaCl và (2) ủ chua với 0,5% NaCl + 5% rỉ mật. Kết quả thí  
nghiệm cho thấy thời điểm thu cắt thích hợp với 2 dòng cao lương này là khi cây phân hóa hoa hoặc trước trỗ 5  
ngày. Khối lượng chất khô tích lũy của OPV86 đạt 145,02 kg/ha/ngày (cắt khi cây phân hóa hoa) và  
144,75kg/ha/ngày (cắt trước trỗ 5 ngày), của OPV88 tương ứng đạt 154,60 và 138,24 kg/ha/ngày. Cắt tại hai thời  
điểm này có tỷ lệ xơ thô thấp (25,85% cắt khi phân hóa hoa và 28,21% cắt trước trỗ 5 ngày đối với dòng OPV86;  
26,34% cắt khi phân hóa hoa và 29,22% cắt trước trỗ 5 ngày đối với dòng OPV88), tỷ lệ protein thô cao (11,01% cắt  
khi phân hóa hoa và 10,38% cắt trước trỗ 5 ngày đối với dòng OPV86; 10,88% cắt khi phân hóa hoa và 10,33% cắt  
trước trỗ 5 ngày đối với dòng OPV88) và mật độ năng lượng trao đổi cao (2224 kcal/kg VCK cắt khi phân hóa hoa và  
2166 kcal/kg VCK cắt trước trỗ 5 ngày đối với dòng OPV86; 2222 kcal/kg VCK cắt khi phân hóa hoa và 2138 kcal/kg  
VCK cắt trước trỗ 5 ngày đối với dòng OPV88). Cây cao lương OPV86 cắt ở thời điểm khi phân hóa hoa, trước trỗ 5  
ngày, hạt chín sáp hay khi thu hạt đều có thể ủ chua một cách dễ dàng, có hoặc không bổ sung rỉ mật. Thức ăn ủ  
chua dự trữ trong thời gian dài 3 tháng vẫn cho chất lượng ủ chua tốt (pH từ 3,80-4,29), tỷ lệ hỏng do mốc thấp (từ  
2,39-3,56%), độc tố HCN giảm xuống rất thấp (6,97-7,74 mg/kg).  
Từ khóa: Cao lương, chất lượng, năng suất, thức ăn, ủ chua.  
Effects of Cutting Time on Yield, Chemical Composition  
of Two Sorghum Lines (OPV86 and OPV88) and Quality of Ensilaged Sorghum  
ABSTRACT  
An experiment was conducted to evaluate effects of diferent cutting points on yield and chemical composition of  
two new sorghum lines as well as quality of the ensilage. A total of 24 plots were arranged accoding to a completely  
randomized block design with 3 replicates to grow the two sorghum lines and 4 cutting points at different phases of  
plant growth. The cut materials were choped into 3-5cm in length by a slicer and mixed with supplements in small  
containers (3kg/container) for sillage making according to the following treatments: whole folliage at start of flowering,  
whole folliage with flowers, whole folliage with milky seeds, and whole mature folliage with left flowers. It was found  
that the new sorghum lines had good growth with high green matter yield (72.45 to 101.14 ton /ha). Sorghum whole  
folliage at start of flowering, whole folliage with flowers, whole folliage with milky seeds can be easily made silage  
with 0.5% NaCl or 0.5% NaCl plus 5% molasses. The silage can be preserved for 3 months with low pH (3.80-4.29),  
low moulded proportion (2.39 to 3.56%), and low HCN content (6.97-7.74 mg/kg).  
Keywords: Feed, quality, sorghum, silage, yield.  
675  
Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến năng suất, thành phần hóa học của hai dòng cao lương (OPV86 và OPV88) và  
chất lượng thức ăn ủ chua từ cây cao lương  
Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 20m2.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Đất trồng được làm kỹ, tơi xốp và sạch cỏ  
dại, sau đó lên luống và rạch hàng sâu 20-25cm.  
Bón lót 25 tấn phân lợn + 200kg P2O5 + 100kg  
Thức ăn thô xanh đặc biệt quan trọng trong  
chăn nuôi gia súc nhai lại, đặc biệt trong vụ  
đông-xuân hiện nay ở nước ta nhiều vùng đã  
K2O cho 1ha đất trồng. Cao lương được gieo  
xảy ra hiện tượng trâu, bò chết hàng loạt do  
trong vườn ươm, khi cây có 2-3 lá tiến hành  
thiếu thức ăn thô xanh. Trên thực tế đã có  
đánh cây con ra trồng với khoảng cách hàng  
nhiều giải pháp nhằm giải quyết nguồn thức ăn  
thô xanh cho trâu, bò như trồng cỏ voi, ghi nê,  
40cm, khoảng cách hốc 25cm, mỗi hốc trồng 2  
cây. Bón thúc vào thời điểm 25 ngày sau trồng  
ruzi, ngô dày…, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa  
và 20 ngày sau thu cắt mỗi lứa, sử dụng 150kg  
đáp ứng đủ nhu cầu cho đàn vật nuôi.  
phân urê và 30kg K2O/ha.  
Nhằm góp phần giải quyết nguồn thức ăn  
thô xanh cho đàn trâu, bò trong vụ đông-xuân,  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành  
thu thập và chọn được một số giống cao lương ở  
2.2. Ủ chua cây cao lương  
Hai dòng cao lương có thành phần hóa học  
sai khác nhau không nhiều nên thí nghiệm chỉ  
các địa phương trong nước cũng như nhập nội từ  
tiến hành ủ chua dòng cao lương OPV86: Cây cao  
Nhật Bản và trên cơ sở đó lai tạo được một số  
lương thu cắt ở 4 thời điểm nêu trên, được thái  
ngắn (2-3cm) và ủ theo 2 công thức bổ sung:  
dòng cao lương có sinh khối chất xanh cao, chịu  
hạn tốt. Các dòng cao lương cho từ 2-3 lứa cắt  
nhưng tổng sinh khối chất xanh biến động rất  
mạnh phụ thuộc vào thời điểm thu cắt và thời  
điểm gieo trồng. Bài viết này trình bày kết quả  
nghiên cứu về ảnh hưởng của thời điểm thu cắt  
đến năng suất, thành phần hóa học của hai dòng  
cao lương OPV86 và OPV88 trồng tại Học viện  
Nông nghiệp Việt Nam cũng như kết quả đánh  
giá chất lượng thức ăn ủ chua từ cây cao lương.  
Công thức ủ 1: Bổ sung 0,5% NaCl  
Công thức ủ 2: Bổ sung 0,5% NaCl + 5% rỉ mật  
Sau khi trộn chất bổ sung, hỗn hợp thức ăn  
được ủ nén chặt trong bình nhựa, mỗi bình ủ  
3kg. Mỗi công thức ủ 9 bình. Các bình ủ đảm  
bảo điều kiện yếm khí, cất trữ trong điều kiện  
nhiệt độ bình thường của phòng.  
2.3. Phương pháp phân tích  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Trồng cao lương thí nghiệm  
- Phân tích thành phần hóa học:  
Sau khi ủ được 30, 60 và 90 ngày, mẫu thức  
ăn ủ chua được lấy để đánh giá chất lượng sản  
phẩm ủ chua theo các chỉ tiêu: mức độ thối/mốc,  
pH, axit hữu cơ tổng số, hàm lượng chất khô,  
protein thô, xơ thô và HCN.  
Hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 được  
trồng tại vườn cỏ thí nghiệm của Khoa Chăn  
nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam, vào tuần đầu tháng 5 năm  
2013. Thí nghiệm được thiết kế theo mô hình  
thiết kế thí nghiệm một yếu tố hoàn toàn ngẫu  
nhiên, gồm 24 ô (12 ô cho mỗi dòng cao lương)  
để đánh giá 4 thời điểm thu cắt khác nhau với 3  
lần lặp lại. Thời gian thu cắt như sau:  
CT1: Khi cây phân hóa hoa (sau trồng 45  
ngày, tái sinh 30 ngày)  
CT2: Trước khi hoa trỗ 5 ngày (sau trồng 55  
ngày, tái sinh 35 ngày)  
Các mẫu thức ăn của 3 lứa cắt được trộn  
đều, nghiền nhỏ để gửi phân tích chất khô,  
protein thô, xơ thô, lipit, khoáng tổng số và  
HCN tại Phòng thí nghiệm trung tâm của khoa  
Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Học viện  
Nông nghiệp Việt Nam. Chất khô phân tích theo  
TCVN 4326-2007, protein thô phân tích theo  
TCVN 4328-2001, xơ thô phân tích theo TCVN  
4329-2007, lipit phân tích theo TCVN 4331-  
2007, NDF, ADF và ADL phân tích theo  
Goering và Van Soest (1970), khoáng tổng số  
phân tích theo TCVN 4327-2007. Axit hữu cơ  
tổng số phân tích theo phương pháp chuẩn độ  
axit-bazơ. Axit HCN phân tích theo phương  
CT3: Khi hạt chín sáp (sau trồng 75 ngày,  
tái sinh 55 ngày)  
CT4: Khi thu hoạch hạt (sau trồng 90 ngày,  
tái sinh 70 ngày)  
676  
Nguyễn Thanh Nhàn, Nguyễn Xuân Trạch, Bùi Quang Tuấn, Phạm Văn Cường  
pháp chuẩn độ kết tủa: Tách chiết HCN bằng  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
chưng cất lôi cuốn hơi nước, tạo kết tủa với  
AgNO3 dư trong môi trường axit HNO3, chuẩn  
độ ngược (AgNO3 dư) với NH4SCN.  
3.1. Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến  
năng suất của cây cao lương  
Cũng như cây ngô và cây mía, cây cao lương  
thuộc nhóm cây C4, có cường độ quang hợp rất  
cao, cho sinh khối chất xanh lớn. Tuy nhiên, cây  
ngô chỉ cho thu cắt 1 lần rồi không cho tái sinh,  
còn cây cao lương cho thu cắt 2-3 lứa nên sinh  
khối lớn. Năng suất của 2 dòng cao lương  
OPV86 và OPV88 chênh lệch nhau không  
nhiều. Ở lứa cắt 1 năng suất của cả 2 dòng cao  
lương đều rất cao, nhưng ở những lứa thu cắt  
tiếp theo năng suất của chúng giảm rất mạnh,  
đặc biệt ở lứa thu cắt thứ 3 năng suất chất xanh  
chỉ còn khoảng 14% (thu cắt ở thời điểm khi  
phân hóa hoa) và 42% (thu cắt ở thời điểm thu  
hạt) so với lứa 1.  
- Xác định giá trị năng lượng trao đổi (ME)  
của thức ăn:  
Giá trị ME của thức ăn được ước tính như sau:  
DE (Mcal/kg CK) = 0,04409 TDN  
ME (Mcal/kg CK) = 0,82 DE  
TDN (% CK thức ăn) tính theo Wardeh  
(1981) (Viện Chăn nuôi, 2001):  
TDN (% CK) = - 21,7656 + 1,4284 Pth +  
1,0277 DXKN + 1,2321 CB+0,4867 Xth  
Trong đó: Pth: Protein thô, DXKN: Dẫn  
xuất không nitơ, CB: Chất béo, Xth: Xơ thô  
Số liệu được phân tích phương sai, sử dụng  
bảng tính của Microsoft Excel 2007.  
Bảng 1. Năng suất của giống OPV86 qua các lứa cắt  
Lứa 1  
Lứa 2  
Lứa 3  
Tổng  
Năng suất chất xanh (tấn/ha)  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
44,51  
51,72  
51,69  
1,11  
33,86  
31,54  
24,68  
1,27  
19,14  
17,88  
7,30  
97,50  
101,14  
83,67  
2,93  
SEM  
1,03  
Thu hạt  
55,56  
<0,05  
15,73  
<0,01  
4,60  
75,89  
<0,05  
P
<0,001  
Năng suất chất khô (tấn/ha)  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
6,95  
9,25  
5,29  
5,64  
5,02  
2,99  
3,20  
1,49  
15,23  
18,09  
17,04  
10,52  
Thu hạt  
12,57  
3,56  
1,04  
17,14  
SEM  
0,21  
0,23  
0,19  
2,93  
P
<0,001  
<0,05  
<0,01  
>0,05  
Năng suất protein (tấn/ha)  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
Thu hạt  
0,77  
0,96  
0,94  
1,05  
0,02  
<0,01  
0,58  
0,58  
0,45  
0,30  
0,02  
<0,01  
0,33  
0,33  
1,68  
1,88  
1,53  
1,43  
0,05  
<0,05  
0,13  
0,09  
SEM  
0,02  
P
<0,001  
677  
Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến năng suất, thành phần hóa học của hai dòng cao lương (OPV86 và OPV88) và  
chất lượng thức ăn ủ chua từ cây cao lương  
Bảng 2. Năng suất của giống OPV88 qua các lứa cắt  
Lứa 1  
Lứa 2  
Lứa 3  
Tổng  
Năng suất chất xanh (tấn/ha)  
Phân hóa hoa  
45,50  
46,70  
47,84  
48,76  
1,34  
32,34  
32,01  
25,71  
16,25  
1,41  
19,61  
18,53  
7,47  
97,45  
97,24  
81,02  
72,45  
2,86  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
Thu hạt  
7,43  
SEM  
0,66  
P
>0,05  
<0,01  
<0,001  
<0,05  
Năng suất chất khô (tấn/ha)  
Phân hóa hoa  
7,58  
8,30  
5,39  
5,69  
5,19  
3,61  
0,26  
<0,05  
3,26  
3,29  
16,23  
17,28  
16,35  
16,07  
0,52  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
9,65  
1,51  
Thu hạt  
10,82  
0,25  
1,65  
SEM  
0,10  
P
<0,01  
<0,001  
>0,05  
Năng suất protein (tấn/ha)  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
Thu hạt  
0,82  
0,86  
0,87  
0,90  
0,02  
>0,05  
0,59  
0,59  
0,47  
0,30  
0,03  
<0,01  
0,36  
0,34  
1,77  
1,78  
1,47  
1,34  
0,05  
<0,05  
0,14  
0,14  
SEM  
0,01  
P
<0,001  
Bảng 3. Khối lượng chất khô tích lũy của OPV86 và OPV88  
Thời điểm thu cắt  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
OPV86 (kg CK/ha/ngày)  
OPV88 (kg CK/ha/ngày)  
145,02  
144,75  
92,11  
74,52  
4,00  
154,60  
138,24  
88,38  
69,87  
3,99  
Thu hạt  
SEM  
P
<0,001  
<0,001  
gỗ, tỷ lệ chết cao dẫn đến sụt giảm năng suất  
mạnh ở các lứa cắt tiếp theo. Đặc biệt tỷ lệ thối  
chết rất cao ở những nơi đất không thoát nước  
sau những trận mưa mùa hè.  
Hai thời điểm thu cắt đầu gần như không bị  
ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết khô và lạnh  
của mùa đông, còn thu cắt ở thời điểm thu hạt  
thì lứa cắt 2 và 3 bị ảnh hưởng (để thu cắt 3 lứa  
phải mất 230 ngày). Hơn nữa, về mặt sinh lý  
khi đoạn gốc cây già, khả năng tái sinh sẽ kém,  
số mầm ít, vị trí nhánh đẻ càng cao khả năng  
sinh trưởng của nhánh càng yếu.  
Thời điểm thu cắt có ảnh hưởng rõ rệt (P<0,05)  
đến năng suất chất xanh của 3 lứa cắt. Năng suất  
chất xanh của 3 lứa cắt đạt cao nhất ở thời điểm  
cây phân hóa hoa và trước trỗ 5 ngày, thấp nhất ở  
thời điểm hạt chín sáp và thu hoạch hạt.  
Hai dòng cao lương OPV86 và OPV88 cũng  
có nhược điểm như các giống cao lương nhập nội  
khác là sau khi thu cắt lứa 1 phần gốc dễ hóa  
Thời điểm thu cắt không có ảnh hưởng rõ  
rệt (P>0,05) đến năng suất chất khô của 3 lứa  
678  
Nguyễn Thanh Nhàn, Nguyễn Xuân Trạch, Bùi Quang Tuấn, Phạm Văn Cường  
cắt. Mặc dù năng suất chất xanh thấp nhưng do  
cao lương OPV86 và OPV88 được trình bày  
trong bảng 4. Tăng tuổi thu cắt đã làm tăng tỷ  
lệ chất khô cũng như tỷ lệ xơ thô, NDF, ADF,  
ADL, ngược lại làm giảm tỷ lệ protein thô trong  
cây cao lương (P<0,05). Tăng tuổi thu cắt làm  
tăng mật độ năng lượng trao đổi của cây cao  
lương nếu tính theo dạng sử dụng, tuy nhiên  
mật độ này sẽ giảm nếu tính theo chất khô.  
Tăng tuổi thu cắt cũng làm giảm hàm lượng độc  
tố HCN trong cây cao lương. Hàm lượng này  
trong 2 dòng cao lương trên biến động từ 19,32-  
26,12 mg/kg, tương đối nguy hiểm khi cho gia  
súc nhai lại ăn tự do cây cao lương không ủ  
chua. Theo Makkar (2004), liều gây chết cho  
trâu, bò là 2-4mg HCN/kg thể trọng.  
tỷ lệ chất khô trong thức ăn cao nên năng suất  
chất khô của 3 lứa cắt ở thời điểm hạt chín sáp  
và thời điểm thu hạt lại tương đối cao.  
Đối với cả 2 dòng cao lương trên, năng suất  
protein của 3 lứa cắt khi thu cắt ở thời điểm  
phân hóa hoa và trước trỗ 5 ngày cao hơn rõ rệt  
(P<0,05) so với khi thu cắt ở thời điểm hạt chín  
sáp và thời điểm thu hạt.  
Với mức phân bón 100kg urê/ha, năng suất  
chất xanh của cỏ voi đạt 36,30 tấn/ha/lứa cắt,  
của cỏ ghi nê đạt 23,40 tấn/ha/lứa cắt, còn với  
mức bón 200kg urê/ha năng suất của cỏ voi và  
cỏ ghi nê tương ứng đạt 45,88 tấn và 27,97  
tấn/ha/lứa (Bùi Quang Tuấn, 2005b). Năng suất  
chất xanh lứa 1 của 2 dòng cao lương trong thí  
nghiệm này cao hơn so với năng suất của cỏ voi,  
nhưng ở 2 lứa tiếp theo thì thấp hơn.  
Kết quả của nghiên cứu này cũng phản ánh  
xu hướng tương tự như trong nghiên cứu trước  
đây của Bùi Quang Tuấn (2005a): khi tăng tuổi  
thu cắt của cỏ voi từ 30 ngày tuổi lên 60 ngày  
tuổi, tỷ lệ chất khô tăng từ 15,83% lên 20,86%,  
xơ thô tăng từ 27,11% lên 34,60%, trong khi đó  
tỷ lệ protein thô giảm từ 12,17% xuống còn  
9,19%. Tương tự ở cỏ ghi nê, khi tăng tuổi thu  
cắt từ 30 ngày tuổi lên 60 ngày tuổi, tỷ lệ chất  
khô tăng từ 17,64% lên 19,90%, xơ thô tăng từ  
28,55% lên 34,80%, tỷ lệ protein thô giảm từ  
12,60% xuống còn 10,10%. Vũ Chí Cương và cs.  
(2010) cho biết, khi tăng tuổi thu cắt của cỏ voi  
từ 35 ngày tuổi lên 50 ngày tuổi, tỷ lệ chất khô  
tăng từ 12,37% lên 14,21%, xơ thô tăng từ  
33,97% lên 38,47%, tỷ lệ protein thô giảm từ  
13,18% xuống còn 10,10%.  
Khối lượng chất khô tích lũy/ngày là chỉ  
tiêu khối lượng chính xác nhất để đánh giá khả  
năng quang hợp của cây thức ăn chăn nuôi. Kết  
quả bảng 3 cho thấy thời điểm thu cắt có ảnh  
hưởng rõ rệt đến khối lượng chất khô tích lũy  
của 2 dòng cao lương OPV86 và OPV88  
(P<0,001). Đối với OPV86, giá trị này đạt cao  
nhất ở thời điểm phân hóa hoa và trước trỗ 5  
ngày, thấp nhất ở thời điểm hạt chín sáp và thu  
hạt. Đối với dòng cao lương OPV88, giá trị này  
giảm dần khi tăng tuổi thu hoạch. Như vậy, thu  
hoạch dòng cao lương OPV86 và OPV88 vào thời  
điểm khi phân hóa hoa và thời điểm trước trỗ 5  
ngày sẽ cho năng suất cao nhất.  
Theo khảo sát của Bùi Quang Tuấn  
(2005a), khối lượng chất khô tích lũy của cỏ voi  
là 120,3-185,7 kg/ha/ngày, của cỏ ghi nê là 52,5-  
58,8 kg/ha/ngày. Như vậy, khối lượng chất khô  
tích lũy trung bình 3 lứa cắt của 2 dòng cao  
lương trong thí nghiệm ở thời điểm phân hóa  
hoa và trước trỗ 5 ngày tương đương với trung  
bình các lứa cắt của cây cỏ voi, nhưng cao hơn  
gần 3 lần so với cây cỏ ghi nê.  
Cây cao lương có thân to nên chứa nhiều  
chất xơ và nhiều nước, tương đối nghèo protein.  
Thành phần hóa học của 2 dòng cao lương  
OPV86 và OPV88 cũng gần giống với thành  
phần hóa học của cỏ voi, thân lá cây ngô. Những  
cây này nhiều chất xơ, nhiều nước hơn so với  
những cây cỏ dạng bụi hay thảm (ghi nê,  
setaria, ruzi, cỏ thừng …) có thân cành nhỏ,  
nhiều lá.  
3.2. Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến  
thành phần hóa học và giá trị năng lượng  
của cây cao lương  
3.3. Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến  
chất lượng thức ăn ủ chua  
Kết quả phân tích thành phần hóa học và  
xác định giá trị năng lượng trao đổi của 2 dòng  
Các chỉ tiêu thể hiện chất lượng thức ăn ủ  
chua được trình bày trong bảng 5a, 5b và 5c.  
679  
Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến năng suất, thành phần hóa học của hai dòng cao lương (OPV86 và OPV88) và  
chất lượng thức ăn ủ chua từ cây cao lương  
Bảng 4. Thành phần hóa học và giá trị năng lượng trao đổi  
của 2 dòng cao lương ở các thời điểm thu cắt khác nhau  
Chỉ tiêu nghiên cứu  
Xơ  
thô  
DX  
KN  
CK  
Pr. thô  
Lipit  
NDF  
ADF  
ADL  
KTS  
ME  
ME  
HCN  
CT  
(%  
CK)  
(%  
CK)  
(%  
CK)  
(%  
CK)  
(%  
CK)  
(%  
CK)  
(%  
CK)  
(%  
CK)  
(kcal/kg  
CK)  
(%)  
(kcal/kg)  
(mg/kg)  
OPV86  
Phân hóa hoa  
15,62  
17,89  
11,01  
10,38  
2,36  
2,36  
25,85  
28,21  
61,42 31,15  
64,86 34,42  
2,47  
2,74  
10,11  
10,20  
50,67  
48,85  
347,5  
387,1  
2224  
2166  
25,17  
25,43  
Trước trỗ 5  
ngày  
Chín sáp  
Thu hạt  
SEM  
20,36  
22,62  
0,69  
8,97  
8,32  
2,06  
2,06  
29,86  
32,21  
0,60  
67,42 37,12  
67,31 38,64  
2,84  
3,05  
0,07  
10,34  
10,19  
0,37  
48,77  
47,22  
428,4  
465,1  
11,78  
<0,05  
2106  
2056  
21,01  
<0,05  
23,83  
19,32  
0,61  
0,31  
0,11  
0,84  
0,64  
P
<0,05  
<0,05  
>0,05  
<0,05  
<0,05 <0,05 <0,05 >0,05  
<0,05  
OPV88  
Phân hóa hoa  
16,66  
17,77  
10,88  
10,33  
2,21  
2,04  
26,34  
29,22  
63,77 33,52  
65,38 34,89  
2,56  
2,78  
9,83  
50,74  
48,07  
370,4  
379,6  
2222  
2138  
26,12  
25,35  
Trước trỗ 5  
10,33  
ngày  
Chín sáp  
Thu hạt  
SEM  
20,18  
22,19  
0,73  
9,00  
8,33  
1,98  
2,05  
29,51  
32,47  
0,63  
66,87 36,95  
68,28 39,07  
2,94  
3,07  
0,11  
10,33  
10,01  
0,42  
49,18  
47,15  
426,0  
497,5  
12,86  
<0,05  
2113  
2058  
25,39  
19,88  
0,82  
0,28  
0,12  
0,95  
0,77  
221,01  
<0,05  
P
<0,05  
<0,05  
>0,05  
<0,05  
<0,05 <0,05 <0,05 >0,05  
<0,05  
Bảng 5a. Kết quả đánh giá chất lượng của cây cao lương ủ chua sau 30 ngày bảo quản  
Chỉ tiêu nghiên cứu  
CK  
Pr. thô  
(% CK)  
Xơ thô  
Mốc  
A.lactic  
(%)  
A.axetic  
(%)  
A.butyric  
(%)  
HCN  
CT  
pH  
(%)  
(% CK)  
(%)  
(mg/kg)  
Ủ chua với 0,5% NaCl  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
15,26  
15,86  
19,14  
20,95  
0,42  
4,10  
4,14  
4,17  
4,37  
0,05  
<0,05  
9,72  
9,14  
8,25  
7,97  
0,24  
<0,05  
25,12  
27,00  
28,16  
30,38  
0,32  
2,65  
2,31  
2,10  
1,88  
0,16  
<0,05  
1,23  
1,25  
1,24  
1,27  
0,04  
>0,05  
0,16  
0,24  
0,22  
0,21  
0,02  
>0,05  
0,067  
0,05  
0,00  
0,00  
0,01  
<0,05  
13,98  
10,34  
11,43  
10,79  
0,52  
Thu hạt  
SEM  
P
<0,05  
<0,05  
<0,05  
Ủ chua với 0,5% NaCl + 5% rỉ mật  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
Thu hạt  
15,51  
16,12  
19,26  
21,25  
0,37  
4,02  
4,00  
4,12  
4,28  
0,07  
>0,05  
9,84  
9,27  
8,62  
8,02  
0,18  
<0,05  
25,63  
27,33  
28,66  
30,48  
0,33  
2,62  
2,33  
2,12  
1,86  
0,11  
<0,05  
1,34  
1,36  
1,44  
1,31  
0,03  
>0,05  
0,14  
0,14  
0,12  
0,19  
0,02  
>0,05  
0,03  
0,00  
11,86  
10,28  
10,56  
10,10  
0,53  
0,00  
0,00  
SEM  
0,008  
>0,05  
P
<0,05  
<0,05  
>0,05  
680  
Nguyễn Thanh Nhàn, Nguyễn Xuân Trạch, Bùi Quang Tuấn, Phạm Văn Cường  
Bảng 5b. Kết quả đánh giá chất lượng của cây cao lương ủ chua sau 60 ngày bảo quản  
Chỉ tiêu nghiên cứu  
CT  
CK  
Pr. thô  
(% CK)  
Xơ thô  
Mốc  
A.lactic  
(%)  
A.axetic  
(%)  
A.butyric  
(%)  
HCN  
pH  
(%)  
(% CK)  
(%)  
(mg/kg)  
Ủ chua với 0,5% NaCl  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
15,12  
15,78  
19,06  
20,73  
0,40  
3,86  
3,90  
3,98  
4,31  
0,05  
<0,05  
9,64  
9,08  
8,14  
7,91  
0,19  
<0,05  
25,13  
26,88  
28,25  
30,13  
0,29  
3,14  
2,87  
2,97  
2,15  
0,16  
<0,05  
1,22  
1,24  
1,26  
1,30  
0,04  
>0,05  
0,18  
0,22  
0,25  
0,22  
0,02  
>0,05  
0,077  
0,043  
0,040  
0,00  
8,14  
8,22  
7,78  
7,68  
0,48  
>0,05  
Thu hạt  
SEM  
0,007  
<0,05  
P
<0,05  
<0,05  
Ủ chua với 0,5% NaCl + 5% rỉ mật  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
Thu hạt  
15,31  
16,20  
19,13  
21,16  
0,40  
3,82  
3,84  
3,87  
4,26  
0,06  
<0,05  
9,68  
9,20  
8,45  
7,95  
0,22  
<0,05  
25,54  
27,25  
28,60  
30,32  
0,27  
3,22  
3,00  
3,02  
2,04  
0,15  
<0,05  
1,44  
1,38  
1,42  
1,31  
0,04  
>0,05  
0,12  
0,18  
0,12  
0,20  
0,02  
<0,05  
0,040  
0,000  
0,000  
0,000  
0,006  
<0,05  
7,86  
7,68  
8,12  
7,93  
0,43  
>0,05  
SEM  
P
<0,05  
<0,05  
Bảng 5c. Kết quả đánh giá chất lượng của cây cao lương ủ chua sau 90 ngày bảo quản  
Chỉ tiêu nghiên cứu  
CK  
Pr. thô  
(% CK)  
Xơ thô  
Mốc  
A.lactic  
(%)  
A.axetic  
(%)  
A.butyric  
(%)  
HCN  
CT  
pH  
(%)  
(% CK)  
(%)  
(mg/kg)  
Ủ chua với 0,5% NaCl  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
15,00  
15,64  
18,82  
20,56  
0,44  
3,80  
3,84  
3,90  
4,29  
0,06  
<0,05  
9,50  
8,94  
8,15  
7,90  
0,16  
<0,05  
25,04  
26,94  
28,16  
30,05  
0,46  
3,56  
3,14  
3,21  
2,39  
0,22  
<0,05  
1,27  
1,23  
1,21  
1,27  
0,03  
>0,05  
0,22  
0,20  
0,24  
0,21  
0,02  
>0,05  
0,083  
0,080  
0,073  
0,037  
0,008  
<0,05  
7,11  
7,74  
7,25  
7,19  
0,45  
>0,05  
Thu hạt  
SEM  
P
<0,05  
<0,05  
Ủ chua với 0,5% NaCl + 5% rỉ mật  
Phân hóa hoa  
Trước trỗ 5 ngày  
Chín sáp  
Thu hạt  
15,18  
16,00  
19,03  
20,97  
0,44  
3,80  
3,82  
3,80  
4,24  
0,05  
<0,05  
9,56  
9,10  
8,30  
7,88  
0,23  
<0,05  
25,35  
27,24  
26,44  
30,31  
0,32  
3,50  
3,06  
3,30  
2,39  
0,16  
<0,05  
1,40  
1,32  
1,40  
1,30  
0,04  
>0,05  
0,14  
0,20  
0,20  
0,21  
0,02  
>0,05  
0,067  
0,053  
0,030  
0,033  
0,01  
7,16  
7,45  
7,30  
6,97  
0,31  
>0,05  
SEM  
P
<0,05  
<0,05  
>0,05  
mật là đường dễ lên men sẽ giúp cho quá trình  
lên men lactic diễn ra tốt hơn.  
Giá trị pH là một trong những chỉ tiêu quan  
trọng để đánh giá phẩm chất thức ăn ủ chua.  
Thức ăn ủ chua tốt có pH nằm trong khoảng  
3,8-4,5 tùy vào hàm lượng chất khô của thức ăn  
ủ chua. Khi ủ chua, pH của cả hai công thức ủ  
giảm dần và đều nằm trong khoảng pH cho  
phép của thức ăn ủ chua. Ở công thức thêm 5%  
rỉ mật có độ pH thấp hơn do khi bổ sung thêm rỉ  
Chất lượng sản phẩm ủ chua sau 90 ngày ủ có  
độ pH thấp hơn thí nghiệm ủ chua lá lạc và cỏ tự  
nhiên của Đỗ Thị Thanh Vân (2008) (pH=4,2);  
Nguyễn Xuân Trạch và Bùi Quang Tuấn (2011)  
trên cây cao lương (pH=4,02); Bùi Quang Tuấn  
(2006) trên cây ngô sau thu bắp già (pH=4,1-4,9).  
681  
Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến năng suất, thành phần hóa học của hai dòng cao lương (OPV86 và OPV88) và  
chất lượng thức ăn ủ chua từ cây cao lương  
Tỷ lệ axit lactic cao là dấu hiệu của thức ăn  
ủ chua có chất lượng tốt. Các công thức ủ chua  
cây cao lương trong thí nghiệm này dù có hay  
không bổ sung rỉ mật đường đều có tỷ lệ axit  
lactic tương đối cao, ngay cả sau 90 ngày bảo  
quản tỷ lệ này vẫn đạt 1,21-1,40%.  
Cây cao lương OPV86 cắt ở thời điểm khi  
phân hóa hoa, trước trỗ 5 ngày, hạt chín sáp hay  
khi thu hạt đều có thể ủ chua một cách dễ dàng,  
có hoặc không bổ sung rỉ mật. Thức ăn ủ chua  
dự trữ trong thời gian dài 3 tháng vẫn cho chất  
lượng ủ chua tốt (pH từ 3,80-4,29), tỷ lệ hỏng do  
mốc thấp (từ 2,39-3,56%).  
Tăng tuổi thu cắt làm tăng tỷ lệ chất khô  
của cây cao lương, cải thiện được chất lượng  
thức ăn ủ chua. Tỷ lệ mốc có xu hướng giảm khi  
tăng tuổi thu cắt cây cao lương. Tỷ lệ mốc ở tất  
cả các công thức ủ chua đều thấp, biến động từ  
2,39-3,56% sau 90 ngày bảo quản.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Vũ Chí Cương, Nguyễn Đức Chuyên, Đinh Văn Tuyền,  
Phạm Bảo Duy, Bùi Thị Thu Hiền, Nguyễn Viết  
Đôn, Nguyễn Văn Quân và Lê Thị Oanh (2010).  
Ảnh hưởng của giống, loài gia súc đến tỷ lệ tiêu  
hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn  
thô dùng cho gia súc nhai lại. Tạp chí Khoa học  
Công nghệ Chăn nuôi, 24: 37-43.  
Cây cao lương tươi có hàm lượng HCN đáng  
kể (khoảng 20mg/kg), có thể gây độc và chết cho  
gia súc nhai lại khi cho ăn tự do (Bùi Quang  
Tuấn và cs., 2008). Qua quá trình ủ chua, hàm  
lượng HCN đã giảm xuống rõ rệt ở cả hai công  
thức, đặc biệt trong công thức có bổ sung rỉ mật,  
hàm lượng HCN thấp hơn so với công thức còn  
lại. Với hàm lượng HCN trên, trâu bò có thể ăn  
một lượng lớn thức ăn ủ chua mà không bị ngộ  
độc HCN.  
Goering H.K., P.J. Van Soest (1970). Forage fiber  
analysis (apparatus, reagent, procedures and some  
applications). USDA Agricultural Research  
Service. Handbook number 379 as modified by  
D.R. Mertens (1992, Personal Communication).  
Makkar H. P. S. (2004). Antinutritional factors in  
animal feedstuffs - Mode of action. Int. J. Anim.  
Sci. 6: 88-94.  
Nguyễn Xuân Trạch và Bùi Quang Tuấn (2011). Sử  
dụng cây cao lương trong chăn nuôi bò thịt. Tạp  
chí Khoa học và Phát triển, 9(4): 608-613.  
4. KẾT LUẬN  
Thời điểm thu cắt có ảnh hưởng rõ rệt đến  
năng suất chất xanh, năng suất protein và khối  
lượng chất khô tích lũy của 2 dòng cao lương  
OPV86 và OPV88. Thời điểm thu cắt thích hợp  
với 2 dòng cao lương này là khi cây phân hóa  
hoa hoặc trước trỗ 5 ngày. Khối lượng chất khô  
tích lũy của OPV86 tại hai thời điểm thu cắt  
tương ứng là 145,02 kg/ha/ngày và 144,75  
kg/ha/ngày, của OPV88 tương ứng là 154,60  
kg/ha/ngày và 138,24 kg/ha/ngày.  
Bùi Quang Tuấn (2005a). Ảnh hưởng của tuổi thu  
hoạch đến năng suất và chất lượng thức ăn của cỏ  
voi (Pennisetum purpureum), cỏ ghi nê (Panicum  
maximum) trồng tại Đan Phượng, Hà Tây. Tạp chí  
KHKT Nông nghiệp, 3(3): 202-206.  
Bùi Quang Tuấn (2005b). Nghiên cứu mức bón phân  
urê đối với cỏ voi và cỏ ghi nê. Tạp chí Chăn nuôi,  
7: 17-19.  
Bùi Quang Tuấn (2006). Ủ chua cây ngô sau thu bắp  
già làm thức ăn cho bò sữa tại Đan Phượng, Hà  
Tây. Tạp chí chăn nuôi, 9: 32-36.  
Cây cao lương cắt tại hai thời điểm đã nêu có  
tỷ lệ xơ thô thấp (25,85% cắt khi phân hóa hoa và  
28,21% cắt trước trỗ 5 ngày đối với dòng OPV86;  
26,34% và 29,22% tương ứng đối với dòng OPV88);  
tỷ lệ protein thô cao (11,01% và 10,38% đối với  
dòng OPV86; 10,88% và 10,33% tương ứng đối với  
dòng OPV88) và mật độ năng lượng trao đổi cao  
(2224 kcal/kg VCK cắt khi phân hóa hoa và 2166  
kcal/kg VCK cắt trước trỗ 5 ngày đối với dòng  
OPV86; 2222 kcal/kg VCK và 2138 kcal/kg VCK  
tương ứng đối với dòng OPV88).  
Bùi Quang Tuấn, Nguyễn Xuân Trạch, Phạm Văn Cường  
(2008). Giá trị thức ăn chăn nuôi của một số giống  
cao lương trong mùa đông tại Gia Lâm, Hà Nội. Tạp  
chí Khoa học và Phát triển, 6(1): 52-55.  
Đỗ Thị Thanh Vân (2009). Nghiên cứu chế biến, bảo  
quản và sử dụng thân lá lạc để vỗ béo bò tại tỉnh  
Quảng Trị. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu  
khoa học và phát triển công nghệ, Bộ Nông nghiệp  
& Phát triển nông thôn.  
Viện Chăn nuôi (2001). Thành phần và giá trị dinh  
dưỡng thức ăn gia súc-gia cầm Việt Nam. Nhà xuất  
bản Nông nghiệp, Hà Nội.  
682  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 18620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến năng suất, thành phần hóa học của hai dòng cao lương (OPV86 và OPV88) và chất lượng thức ăn ủ chua từ cây cao lương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_thoi_diem_thu_cat_den_nang_suat_thanh_phan_hoa.pdf