Tiểu thuyết Giấc mộng con của Tản Đà nhìn từ góc độ thể loại

48  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC - NGHIÊN CỨU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT  
TIỂU THUYẾT GIẤC MỘNG CON  
CỦA TẢN ĐÀ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI  
NGUYỄN HƯƠNG NGỌC*  
Tản Đà là một trong những đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỷ  
XX lúc giao điểm nối giữa văn học Việt Nam trung đại và văn học Việt Nam hiện  
đại. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm độc đáo,  
thể hiện được cá tính của bản thân. Ông cố gắng thử sức mình trong các thể  
loại mới mà tiểu thuyết (theo lối viết phương Tây) là một trong số đó. Giấc mộng  
con là tiểu thuyết đã cho thấy sự cố gắng cách tân thể loại của Tản Đà. Bài  
nghiên cứu này sẽ tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế của Tản Đà trong việc  
cách tân thông qua phân tích các phương diện thời gian nghệ thuật, không gian  
nghệ thuật và nhân vật.  
Từ khóa: Tản Đà, Giấc mộng con, văn học Việt Nam thế kỷ XX  
Nhận bài ngày: 10/4/2019; đưa vào biên tập: 13/4/2019; phản biện: 19/4/2019;  
duyệt đăng: 24/5/2019  
1. DẪN NHẬP  
hình thành và văn chƣơng trở thành  
một thứ hàng hóa nhờ sự xuất hiện  
của báo chí, xuất bản theo bƣớc chân  
xâm lƣợc của ngƣời Pháp. Sự hình  
thành của các đô thị làm xuất hiện  
những tầng lớp mới trong xã hội dẫn  
đến sự thay đổi trong tầm đón đợi của  
văn học. Văn học đã thay đổi một  
cách tổng thể từ nội dung, hình thức  
nghệ thuật đến quan điểm, tƣ duy  
nghệ thuật. Trong những năm đầu ấy,  
văn học Việt Nam đã chứng kiến rất  
nhiều những cây bút xuất sắc, có tài  
năng đã có công trong việc đổi mới,  
Những năm đầu thế kỷ XX, văn học  
Việt Nam trải qua một sự vận động rất  
quan trọng. Đây là mốc có một ý  
nghĩa đặc biệt bởi nó là giao thời của  
cả nền văn học. Thời đoạn này chính  
là lúc văn học Việt Nam đang dần  
chuyển mình, dần thay đổi để có thể  
chuyển từ lối viết cũ sang lối viết mới.  
Định nghĩa về nhà văn bắt đầu đƣợc  
* Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – TIỂU THUYẾT GIẤC MỘNG CON CỦA…  
49  
cách tân văn học. Một trong số đó, Tản cái phong thái ung dung. Đời Tiên  
Đà không thể không đƣợc nhắc đến.  
sinh tuy bơ vơ, hồn Tiên sinh còn có  
nơi nƣơng tựa. Tiên sinh đã đi qua  
giữa cái hỗn độn của xã hội Việt Nam  
đầu thế kỷ XX với tấm lòng bình thản  
của một ngƣời thời trƣớc” (Hoài  
Thanh, 1999: 256).  
Ở Tản Đà, một trong những đại diện  
tiêu biểu của thời điểm lịch sử đặc biệt  
đó, ngƣời ta vừa tìm đƣợc một gƣơng  
mặt của những giá trị truyền thống  
nho gia vừa thấy đƣợc những nét  
cách tân mang hơi hƣớng phƣơng  
Tây hiện đại. Tản Đà chính là ngƣời  
Sáng tác văn học của Tản Đà thể hiện  
rõ ràng cá tính, phẩm chất và tƣ duy  
đứng ở giao điểm văn học Việt Nam nghệ thuật có sự hòa trộn giữa văn  
học trung đại và văn học hiện đại. Ông  
cố gắng thử sức mình trong các thể  
loại mới mà tiểu thuyết (theo lối viết  
phƣơng Tây) là một trong số đó.  
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ  
nghiên cứu, tìm hiểu tiểu thuyết Giấc  
mộng con dƣới góc độ thể loại để thấy  
sự cố gắng cách tân thể loại của ông  
và đánh giá cả những hạn chế trong  
quá trình đó.  
trung đại và văn học Việt Nam hiện  
đại. Thời điểm chuyển giao giữa hai  
thời đại nên ông mang trong mình cả  
những đặc điểm, thậm chí những hệ  
lụy của nền cựu học đồng thời dung  
nạp cả những giá trị tri thức, hệ tƣ  
tƣởng của nền tân học. Sáng tác của  
ông mang đậm dấu ấn của một nhà  
nho ý thức đƣợc sự hạn chế của thế  
hệ mình, của những ý thức hệ đã tồn  
tại bám rễ quá lâu trở nên lạc hậu và  
muốn thay đổi, muốn hòa mình vào  
dòng chảy hiện đại. Tản Đã đã  
Giấc mộng con của Tản Đà gồm có  
hai phần I và II nhƣng trong bài viết  
này, chúng tôi tập trung tìm hiểu tiểu  
nghiêm túc thực hiện mộng ƣớc cách thuyết Giấc mộng con I. Tác phẩm  
tân văn học đó của mình. Tất nhiên sự này đƣợc in lần đầu năm 1916. Sau  
này, Tản Đà đã tự tái bản vào năm  
1926. Tiểu thuyết là hành trình chu du  
khắp nơi của nhân vật tự xƣng  
Nguyễn Khắc Hiếu. Trong cuộc dịch  
chuyển đó, nhân vật đã gặp đƣợc một  
số nhân vật có sự đồng điệu về quan  
điểm sống và viết. Tác phẩm có vai trò  
quan trọng trong việc thể hiện quan  
điểm sáng tác cũng nhƣ quan niệm về  
xã hội, nhân sinh của Tản Đà và quan  
trọng hơn là sự cách tân nghệ thuật  
của nhà văn trong văn xuôi.  
thành bại của quá trình này sẽ đƣợc  
bàn cụ thể hơn ở phần sau của bài  
viết nhƣng những cố gắng là có thật  
và sự ghi nhận công sức của ông là  
xứng đáng. Chính Hoài Thanh, từ rất  
sớm đã ý thức đƣợc vai trò đó của  
Tản Đà trong văn học nên ngay từ mở  
đầu Thi nhân Việt Nam, bài viết về  
Tản Đà đã đƣợc trịnh trọng đặt ngay  
đầu tiên bởi: “với chúng tôi Tiên sinh  
vẫn là một bậc đàn anh; chúng tôi  
không dám xem Tiên sinh nhƣ một  
ngƣời bạn. Tiên sinh còn giữ đƣợc 2. GIẤC MỘNG CON MANG DẤU ẤN  
của thời trƣớc cái cốt cách vững vàng, CỦA MỘT TIỂU THUYẾT TRINH THÁM  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (248) 2019  
VÀ DU KÝ  
thức và cảm xúc mới lạ về phong  
cảnh, phong tục, dân tình của xứ sở  
ít ngƣời biết đến…”. Thể loại du ký có  
vai trò quan trọng đối với văn học thế  
kỷ XVIII- XIX trong việc mở rộng tầm  
nhìn và tƣởng tƣợng của nhà văn”.  
Biên độ trải rộng của không gian di  
chuyển cũng nhƣ thời gian dịch  
chuyển và sự xuất hiện của cái tôi trải  
nghiệm là những đặc điểm vô cùng  
quan trọng để cấu thành nên một tác  
phẩm du ký.  
Văn học trinh thám mặc dù đã tồn tại  
trong không gian văn học thế giới từ  
rất lâu với nhiều tên tuổi lớn nhƣ  
Conan Doyle hay Agatha Christie  
nhƣng chƣa đƣợc định danh rõ ràng  
nhƣ một thể loại lớn bên cạnh nhƣng  
nhóm thể loại nhƣ tiểu thuyết lịch sử,  
tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết truyền  
kỳ,… Trong lý luận văn học hiện đại,  
ngƣời ta vẫn coi Edgar Ellen Poe là  
ngƣời mở đầu cho dòng văn học này.  
Quan niệm văn học trinh thám luôn  
thay đổi theo thời gian nhƣng thống  
nhất ở điểm tác phẩm phải luôn đặt ra  
“câu đố” và toàn bộ tác phẩm là quá  
trình đi giải đáp câu đố về một vụ án  
đã đƣợc đặt ra. S.S. Van Dine trong  
Twenty rules for writing detective  
stories đã chỉ ra hai mƣơi quy tắc  
vàng khi viết truyện trinh thám trong  
đó phải luôn đảm bảo sự xuất hiện  
của các yếu tố nhƣ vụ án, kẻ gây án,  
kẻ tinh nghi và thám tử điều tra; quá  
trình phá án phải dựa trên các suy  
luận logic và vấn đề tình cảm lãng  
mạn không nên đƣợc đề xuất trong  
các tác phẩm trinh thám.  
Bài viết tập trung phân tích làm rõ các  
yếu tố không gian, thời gian và nhân  
vật của tiểu thuyết Giấc mộng con I từ  
đó đƣa ra nhận định về thể loại của  
tác phẩm này.  
2.1. Thời gian và không gian nghệ  
thuật trong tiểu thuyết Giấc mộng  
con  
Giấc mộng con của Tản Đà thực chất  
là một hành trình phiêu lƣu khắp thế  
giới của nhân vật tự xƣng Nguyễn  
Khắc Hiếu. Nói cách khác, tiểu thuyết  
này, ngay trong cấu trúc đã tiềm ẩn  
tính chất của một tiểu thuyết phiêu lƣu  
phƣơng Tây mang màu sắc trinh thám.  
Nhân vật chính, anh chàng Nguyễn  
Khắc Hiếu đã đặt chân lên rất nhiều  
vùng đất trong suốt hành trình này.  
Anh đã đi đến những miền đất có thật  
ở Châu Á qua Châu Âu đến Châu Phi,  
Châu Mỹ. Anh đến cả địa điểm không  
có thật, địa điểm đƣợc tác giả hƣ cấu  
nhƣ Cõi đời mới.  
Du ký là một khái niệm đã tồn tại từ  
trong văn học trung đại để chỉ “một  
thể loại thuộc loại hình ký mà cơ sở  
là sự ghi chép của bản thân ngƣời đi  
du lịch, ngoạn cảnh về những điều  
mắt thấy tai nghe của chính mình tại  
những xứ sở xa lạ hay những nơi ít  
ngƣời có dịp đi đến. Hình thức của  
du ký rất đa dạng, có thể là ghi chép,  
ký sự, nhật ký, thƣ tín, hồi tƣởng,  
miễn là mang lại những thông tin, tri  
Về vấn đề thời gian, ngoại trừ mốc  
xuất phát đƣợc ghi rõ là “Đêm hôm 28  
tháng Giêng năm Bính Thìn là năm  
Duy Tân thứ 10, lấy lịch Tây 1916” (Tản  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – TIỂU THUYẾT GIẤC MỘNG CON CỦA…  
51  
Đà, 2002: 69) và mốc từ Mỹ đi Canada thể. Tuy vậy qua nghiên cứu chƣơng  
là “Ngày tháng Janvier năm 1922” (Tản IX. Cố hƣơng và chƣơng X. Cố nhân  
Đà, 2002: 98) thì các mốc thời gian thƣ, chúng tôi đoán định rằng thời  
trong tiểu thuyết này không đƣợc chỉ điểm Nguyễn Khắc Hiếu nhận đƣợc  
rõ cụ thể. Nhiều mốc thời gian quan bức thƣ của Chu Kiều Oanh là  
trọng khác, tác giả đã thống kê tổng khoảng hơn một năm sau khi nhân  
thời gian lƣu trú của nhân vật ở từng vật về nhà. Nhƣ vậy, nhân vật đã chu  
địa điểm (Bảng 1, 2, 3) qua Giấc mộng du cùng quan bác sĩ trong khoảng  
con I in trong Tản Đà toàn tập (tập 2) hơn kém 2 năm. Dựa trên các luận  
của Nhà xuất bản Văn học do Nguyễn cứ đó, chúng ta có thể nhận thấy  
Khắc Xƣơng biên soạn in năm 2002. rằng nhân vật đã dành nhiều thời  
Thông qua khảo sát tác phẩm, chúng gian nhất  
ở
Saint Etienne,  
ở
tôi tổng hợp các mốc thời gian diễn ra Washington và trong cuộc hành trình  
những sự kiện quan trọng hoặc thời chu du khắp các châu lục với quan  
gian lƣu trú ở từng đất nƣớc, từng địa bác sĩ (hơn kém 2 năm).  
điểm của nhân vật (Bảng 1). Đây là  
Để làm rõ hơn nữa tần suất di chuyển  
các mốc thời gian có đủ luận cứ trong  
cũng nhƣ mức độ quan trọng của  
tác phẩm để chứng minh.  
từng địa điểm trong cuộc hành trình  
của Nguyễn Khắc Hiếu, chúng tôi đã  
liệt kê không gian di chuyển của nhân  
vật (Bảng 2).  
Khoảng thời gian chu du cùng quan  
bác sĩ cũng là một mốc quan trọng  
nhƣng không đƣợc tác giả đề cập cụ  
Bảng 1. Bảng tổng hợp thời gian dịch chuyển của nhân vật Nguyễn Khắc Hiếu trong  
tiểu thuyết Giấc mộng con  
STT  
1
Địa điểm/ sự kiện xê dịch  
Thời gian  
Trang luận cứ  
28 tháng Giêng năm Bính Thìn  
(tức năm 1916)  
Đi núi Sài Sơn, lên chợ Giời  
69  
Ít ngày sau sự kiện 1 (tức cũng  
trong năm 1916)  
2
Đi Sài Gòn rồi từ đó sang Pháp  
72  
3
4
5
6
Sống và làm việc ở Saint Etienne  
Trốn ở New York vì bị nghi oan  
Về Pháp sau khi bị minh oan  
Trong vòng hơn 2 năm  
Khoảng 4 tháng  
77  
88-89  
Không rõ thời gian  
Sang Washington sống và làm việc Gần 2 năm  
97  
98  
Chu du nhiều châu lục, vùng đất  
cùng quan bác sĩ  
Đi tháng Janvier năm 1922 (tức  
1/1922)  
7
8
Về cố hƣơng và nhận đƣợc thƣ của  
Chu Kiều Oanh  
Thƣ viết ngày 11/9/1925  
8 năm  
126  
124  
Tổng thời gian chu du  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ “Giấc mộng con I”, in trong Nguyễn Khắc Xƣơng (biên  
soạn). 2002. Tản Đà toàn tập (tập 2). Nxb. Văn học.  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (248) 2019  
Bảng 2. Bảng tổng hợp không gian dịch chuyển trong tiểu thuyết Giấc mộng con I  
STT  
2
Không gian xê dịch  
Trang luận cứ  
1 Núi Sài Sơn  
Từ trang 69 đến giữa trang 72  
Từ ga Hàng Cỏ đi Hải phòng rồi đi Sài Gòn và sang  
Cuối trang 72  
Pháp  
3 Từ Marseile đi tàu hoả đến Saint Etienne  
4 Làm việc tại tiệm Drayon của ông Dravine  
5 Từ Paris đi Havre đến New York  
6 Trốn tại một nhà hàng ở Mỹ  
Trang 73  
Từ trang 73 đến trang 83  
Trang 83  
Trang 84  
7 Đến Sầu Thành ở Mỹ  
Từ trang 84 đến trang 87  
Trang 88  
8 Từ New York đi khai mỏ ở San Francisco  
Đi với ông chủ mục súc ngƣời Bồ Đào Nha đến Nam  
Mỹ làm thuê  
9
Từ trang 89 đến trang 91  
10 Quay về Pháp  
Trang 92  
11 Từ Pháp đi Washington  
12 Đi Canada với quan bác sĩ  
13 Đi qua Alaska, thám hiểm Bắc Băng Dƣơng  
14 Đến Cõi đời mới  
Từ trang 93 đến trang 97  
Trang 98  
Trang 99  
Từ trang 99 đến trang 114  
Trang 115  
15 Từ Cõi đời mới đi Thƣợng Hải  
16 Đi Sơn Đông  
Trang 116  
17 Đi Bắc Kinh rồi đến Tứ Xuyên  
18 Đi Ấn Độ  
Trang 117  
Trang 118  
19 Đi Châu Úc  
Trang 120  
20 Đi Châu Phi  
Trang 120  
21 Đi chơi thành Alger  
22 Quay lại Saint Etienne  
23 Về Sài Gòn rồi ra Hàng Cỏ  
24 Quay về Sơn Tây  
Trang 122  
Trang 122  
Trang 123  
Từ trang 123 đến 125  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ “Giấc mộng con I”, in trong Nguyễn Khắc Xƣơng (biên  
soạn). 2002. Tản Đà toàn tập (tập 2). Nxb. Văn học.  
Kết hợp Bảng 1 với Bảng 2, chúng ta viết ngắn hơn. Có những không gian  
có thể thấy ba địa điểm là nƣớc Pháp, chỉ đƣợc tác giả liệt kê chứ không  
Mỹ và Cõi đời mới không chỉ đƣợc tác đƣợc miêu tả cụ thể. Nói cách khác  
giả nhắc đến rằng nhân vật đã lƣu lại địa điểm nƣớc Pháp (cụ thể là Saint  
trong khoảng thời gian lâu nhất mà Etienne), nƣớc Mỹ (New York và  
còn đƣợc tác giả sử dụng để tƣờng Washington) và Cõi đời mới có ý  
thuật cũng nhiều nhất. Hành trình nghĩa vô cùng quan trọng với nhân vật  
nhân vật đến các địa điểm khác đƣợc Nguyễn Khắc Hiếu. Nƣớc Pháp là nơi  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – TIỂU THUYẾT GIẤC MỘNG CON CỦA…  
53  
nhân vật chính gặp đƣợc ngƣời con cánh đồng mùa của các nhà hầu  
gái mang tên Chu Kiều Oanh - hồng vƣơng nƣớc chuyên chế… Trong chàn  
nhan tri kỷ của cuộc đời mình. Anh và hoa, thấy có nhiều cột sắt nhƣ cột dây  
Kiều Oanh có thể đàm đạo những thép dƣới ta mà cao đến gấp hai…  
Dƣới mỗi lƣới hoa chia làm mỗi khu,  
có đƣờng đi… Đi khỏi một chàn hoa  
thời ruộng nƣơng lúa mạ đủ cả, thôn  
lạc cũng không xa” (Tản Đà, 2002:  
100). Khí hậu nơi đây đƣợc miêu tả là  
“toàn nhƣ ở Bắc Kỳ ta trong mấy  
tháng về mùa xuân” (Tản Đà, 2002:  
100). Nếu nƣớc Pháp là nơi gắn với  
hình ảnh hồng nhan tri kỷ của nhân  
vật thì Cõi đời mới là biểu tƣợng cho  
quan niệm về một xã hội lý tƣởng của  
Tản Đà, nơi mà con ngƣời sống hòa  
bình, vạn vật đều tốt tƣơi, cơ sở vật  
chất hiện đại, đủ đầy, con ngƣời đƣợc  
sống tự do, hạnh phúc. Thông qua  
hình ảnh Cõi đời mới, Tản Đà đã thể  
hiện hết sức rõ ràng sự kỳ vọng của  
mình vào một xã hội phát triển hơn,  
tiến hóa hơn xã hội mà ông đang sống  
mà cụ thể là Việt Nam những năm  
đầu thế kỷ XX.  
quan điểm sống và quan niệm về văn  
chƣơng suốt hàng giờ đồng hồ mà  
không biết chán. Ở Chu Kiều Oanh,  
Nguyễn Khắc Hiếu tìm thấy sự thấu  
hiểu mà chính ngƣời vợ của anh ở  
quê nhà không có đƣợc (nhân vật này  
sẽ đƣợc chúng tôi phân tích kỹ hơn ở  
phần sau 2.2. Nhân vật xuất hiện  
trong quá trình dịch chuyển). Còn  
nƣớc Mỹ với Nguyễn Khắc Hiếu là nơi  
đã cƣu mang anh khi anh bị tình nghi  
là kẻ trộm. Đến với nƣớc Mỹ, nhân vật  
Nguyễn Khắc Hiếu không những tìm  
đƣợc sự an toàn mà còn có nơi để  
giải sầu (thông qua địa điểm Sầu  
Thành). Đồng thời đây cũng là nơi tin  
tƣởng và trọng dụng anh bởi sau khi  
anh đƣợc giải oan quay lại Pháp thì  
ông chủ đã đề nghị anh sang Mỹ làm  
việc do ngƣời chủ bên đó đã thác bởi  
bệnh. Nếu Pháp và Mỹ là những  
không gian thực về mặt địa lý thì Cõi  
đời mới lại là địa điểm đƣợc tạo nên  
nhờ năng lực hƣ cấu của nhà văn.  
Nguyễn Khắc Hiếu đến đƣợc Cõi đời  
mới trong chuyến hành trình chu du  
khắp nơi cùng quan bác sĩ. Vùng đất  
này đƣợc miêu tả là “một cù lao mới  
chƣa ai biết đến”, “đằng xa, tựa nhƣ  
có rừng cây. Đến nơi, quả là một rừng  
thông, cành lá lơ thơ, nhƣ cảnh sắc  
các thứ cây về mùa đông dƣới giải  
ấm” (Tản Đà, 2002: 99). Khi băng qua  
băng tuyết, đi hết rừng thông, “lộ ra  
một chàn hoa, trăm sắc hoa tranh tƣơi,  
cái khí tƣợng mênh mông nhƣ một  
Bên cạnh đó, tiểu thuyết còn có yếu tố  
của văn học trinh thám khi nhân vật  
Nguyễn Khắc Hiếu bị vƣớng vào một  
vụ trộm tại tiệm vàng của ông chủ  
Dravine. Mọi bằng chứng tại hiện  
trƣờng đều dẫn sự nghi hoặc đến  
Nguyễn Khắc Hiếu. Nhờ sự giúp đỡ  
của Chu Kiều Oanh và ngƣời bạn  
thân lâu năm, Woallak, Khắc Hiếu đã  
trốn sang Mỹ để tránh cảnh tù tội. Sự  
kiện chạy trốn cũng đƣợc miêu tả kín  
kẽ, nhanh gọn. Vụ án đƣợc xây dựng  
có thắt nút, cao trào và cũng có gỡ nút  
tại thời điểm Khắc Hiếu gặp lại  
Woallak tại Praha và biết mình đã  
54  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (248) 2019  
đƣợc giải oan bởi có sự nhầm lẫn. lại không đồng đều, thời gian lƣu trú  
Mặc dù vụ án không đƣợc xây dựng của nhân vật tại các địa điểm phục vụ  
trọn vẹn thành một tiến trình từ nghi cho mục đích khác ngoài chu du. Câu  
vấn đến giải đáp nghi vấn nhƣng nhà chuyện án oan đã đƣợc xây dựng với  
văn đã hơi vội vã trong quá trình giải sự vắng mặt của hung thủ đã đƣợc  
quyết vấn đề. Tác giả đã gỡ nút thắt xây dựng nhƣng chƣa đƣợc khai thác  
quá nhanh và đơn giản dẫn đến việc triệt để để tạo nên sự hấp dẫn và sinh  
vụ trộm chỉ lƣớt qua nhƣ một cái cớ động của thể loại trinh thám. Đây là  
để Khắc Hiếu có thể sang Mỹ, đến những hạn chế rất lớn của Tản Đà  
đƣợc Sầu Thành và đi đến đƣợc Nam khiến tác phẩm chƣa thể hoàn toàn là  
Mỹ (cụ thể là Brazil).  
tiểu thuyết trinh thám hay du ký.  
Nhƣ vậy, Giấc mộng con I của Tản Đà 2.2. Hệ thống nhân vật trong tiểu  
có ẩn chứa yếu tố du ký bởi hành thuyết Giấc mộng con I  
trình của Nguyễn Khắc Hiếu đƣợc trải  
Trong cuộc hành trình dài khoảng tám  
dài khắp các châu lục trên thế giới,  
năm của mình, Nguyễn Khắc Hiếu đã  
đƣợc kể lại dƣới sự chứng kiến của  
tiếp xúc, gặp gỡ và đã xác lập những  
cái tôi trải nghiệm. Tuy nhiên sự phân  
mối quan hệ khăng khít với một số  
bố thời gian nhân vật mà nhân vật lƣu  
Bảng 3. Bảng tổng hợp nhân vật trong tiểu thuyết Giấc mộng con I  
Mối quan hệ với nhân vật chính/  
STT  
Tên nhân vật  
vai trò với cốt truyện  
1
2
3
4
5
Nguyễn Khắc Hiếu  
Lệ Trùng  
Nhân vật trung tâm  
Bạn thân  
Thu Thủy  
Phạm Duy Tâm  
Vinailles  
Ngƣời giúp Nguyễn Khắc Hiếu quen với quan tây Vinailles  
Ngƣời đƣa Nguyễn Khắc Hiếu sang Pháp  
Chủ tiệm vàng bạc Drayon (nơi Nguyễn Khắc Hiếu làm  
thuê ở Pháp)  
6
Dravine  
7
8
Chu Văn Lập  
Chủ tiệm vàng bạc ở Pháp, thân phụ của Chu Kiếu Oanh  
Tri kỷ của Nguyễn Khắc Hiệu tại Pháp  
Chu Kiều Oanh  
Bạn thƣở nhỏ của Kiều Oanh, ngƣời giúp Nguyễn Khắc  
Hiếu trốn sang Mỹ khi anh bị nghi oan  
9
Woallak  
Ông chủ mục súc ngƣời Nhận Nguyễn Khắc Hiếu làm thuê trong lúc bị anh đang  
10  
Bồ Đào Nha  
trốn  
11 Quan bác sĩ  
Ngƣời đƣa Nguyễn Khắc Hiếu chu du nhiều nơi  
12 Thống trƣởng Cõi đời mới  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ “Giấc mộng con I”, in trong Nguyễn Khắc Xƣơng (biên  
soạn). 2002. Tản Đà toàn tập (tập 2). Nxb. Văn học.  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – TIỂU THUYẾT GIẤC MỘNG CON CỦA…  
55  
nhân vật. Để giúp cho việc hình dung Khắc Hiếu sang Pháp và Woallak,  
đƣợc dễ dàng, tác giả đƣa ra bảng nhân vật giúp Khắc Hiếu trốn thoát  
duy chỉ có nhân vật ông quan bác sĩ,  
nhân vật đƣa Khắc Hiếu đi chu du  
khắp nơi đã đƣợc chú tâm miêu tả  
hơn. Đó là một ngƣời đàn ông “đã  
ngoại 50, cáo hƣu về nhà để làm  
sách” (Tản Đà, 2002: 94), có mối quan  
hệ quen biết với ông Dravine. Độc giả  
cũng hiểu đƣợc sự quan tâm của ông  
quan bác sĩ với ngƣời An Nam qua  
các dòng đối thoại với nhân vật chính.  
Trong hành trình phiêu lƣu của  
Nguyễn Khắc Hiếu đã xảy ra một sự  
biến đó là vụ trộm tại tiệm vàng của  
ông Dravine mà anh là kẻ bị tình nghi  
số một. Tên trộm vắng mặt từ đầu vụ  
án và cho đến cuối cùng vẫn không  
xuất hiện, không đƣợc chỉ rõ. Nhân  
vật duy nhất có vai trò quan trọng  
trong một tác phẩm trinh thám là thủ  
phạm, cuối cùng không đƣợc làm rõ.  
Đồng thời, để làm nên một tiểu thuyết  
trinh thám, câu chuyện này còn thiếu  
hệ thống các nhân vật điều tra nhƣ  
cảnh sát, thám tử. Truyện chỉ đảm  
bảo có sự kiện vụ án xảy ra, kẻ bị tình  
nghi và cuối cùng vụ án đƣợc phá.  
Nói cách khác, nó chỉ đảm bảo đƣợc  
về mặt tổng thể khái quát chứ chƣa đi  
vào chi tiết, cụ thể.  
thống kê các nhân vật đã xuất hiện  
trong chuyến chu du khắp thế giới này,  
cả những nhân vật có mặt trƣớc khi  
cuộc hành trình diễn ra bởi những  
nhân vật đó có vai trò thúc đẩy sự ra  
đi của nhân vật trung tâm. Sự sắp xếp  
này theo thứ tự xuất hiện của nhân  
vật trong tiểu thuyết (Bảng 3).  
Theo đó, trong số các nhân vật thì Lệ  
Trùng, Thu Thủy, Phạm Duy Tâm và  
ông quan Tây Vinailles đóng vai trò  
thúc đẩy quá trình xê dịch của Nguyễn  
Khắc Hiếu. Sau cuộc trò chuyện về  
giang sơn, đất trời về việc con ngƣời  
nên “nuôi cái tài sức, theo cái ý thú”  
(Tản Đà, 2002: 71) thì nhân vật Khắc  
Hiếu mới tìm đến Phạm Duy Tâm và  
nhờ đó quen biết ông Vinailles, ngƣời  
sẽ đƣa anh ta sang Pháp. Nhân vật  
Phạm Duy Tâm tuy không phải nhân  
vật chính, không tham gia nhiều vào  
diễn trình truyện nhƣng lại là một yếu  
nhân bởi nếu không có nhân vật này  
thì cuộc hành trình của Nguyễn Khắc  
Hiếu sẽ không thể thực hiện đƣợc.  
Nhân vật Phạm Duy Tâm là cầu nối  
để Khắc Hiếu đến đƣợc những chân  
trời mới tuy nhiên tác giả không miêu  
tả cụ thể nhân vật này. Ngoài tên  
nhân vật, ngƣời đọc không biết thêm  
thông tin gì khác. Đây cũng là một  
trong những đặc điểm xuyên suốt tiểu  
thuyết này của Tản Đà. Nhà văn chƣa  
có sự chú trọng với những nhân vật  
xuất hiện, đóng vai trò quan trọng  
trong những bƣớc ngoặt của cuộc đời  
nhân vật chính. Điều này cũng xảy ra  
với nhân vật Vinailles, ngƣời đƣa  
Nhân vật đƣợc Tản Đà chú trọng hơn  
cả là cô gái 17 tuổi Chu Kiều Oanh,  
con gái ông Chu Văn Lập, “ngƣời Sài  
Gòn, sang làm ăn buôn bán ở Đại  
Pháp đã hơn 20 năm” (Tản Đà, 2002:  
74). Cô đƣợc miêu tả là “dòng giống  
Lạc Hồng mà sinh trƣởng đất Đại  
Pháp; chữ Tây đã biết nhiều, còn  
đƣơng học chữ nho cũng thông hiểu  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (248) 2019  
điển tích” (Tản Đà, 2002: 74), đƣợc Các nhân vật khác trong tiểu thuyết  
cha mẹ yêu chiều hết mực. Thông qua  
các đối thoại, thƣ từ qua lại giữa Kiều  
Oanh và Khắc Hiếu cho thấy có sự  
đồng cảm, thấu hiểu không chỉ trong  
quan điểm sống, thế giới quan mà còn  
cả trong công việc văn chƣơng. Có  
phải chăng nhân vật Chu Kiều Oanh  
không chỉ là hồng nhan tri kỷ của  
Nguyễn Khắc Hiếu mà kỳ thực cũng  
chính là bóng hình ngƣời con gái lý  
tƣởng trong tâm khảm của nhà văn đa  
tình Tản Đà? Trên còn đƣờng tình  
duyên, Tản Đà từng gặp một cú sốc  
lớn khi chứng kiến cảnh ngƣời con gái  
mình yêu đi lấy chồng. Sau sự biến ấy,  
Tản Đà từng mất một thời gian để tìm  
lại sự cân bằng. Ngƣời vợ sau này của  
ông là do gia đình mai mối để giúp ông  
ổn định cuộc sống chứ không phải là  
bóng hồng ông thƣơng nhớ. Có lẽ bởi  
vậy mà trong lòng Tản Đà luôn chịu  
một ẩn ức. Hình ảnh Chu Kiều Oanh,  
một ngƣời con gái hoàn hảo từ nhân  
thân đến trí tuệ và tinh thần cũng  
chính là một niềm khao khát thầm kín  
mà Tản Đà đã ký thác vào đó. “Tản  
Đà vẫn sống tâm trạng của “khách  
phong lƣu”, “bậc tài danh” của thời đại  
trƣớc” (Phan Cự Đệ, 2013: 183). Với  
ông “ngƣời đàn bà lý tƣởng… không  
phải chỉ là mỹ nhân mà còn là giai  
nhân” và ông “phân biệt yêu và lấy vợ”  
hết sức rõ ràng (Phan Cự Đệ, 2013:  
183). Có lẽ chính vì lẽ đó mà bóng  
hình ấy đã đổ dài trên các trang văn  
của Giấc mộng con. Sau này trong  
Giấc mộng con II (1932), nhân vật ấy  
lại một lần nữa xuất hiện cũng với vai  
trò là tri kỷ của Nguyễn Khắc Hiếu.  
hầu hết chỉ đƣợc kể tên hoặc miêu tả  
về nghề nghiệp mà không có sự hình  
dung cụ thể nào. Tính cách, phẩm  
chất của các nhân vật trong Giấc  
mộng con đƣợc xác định thông qua  
các hành động, cách ứng xử của họ  
với nhân vật trung tâm và qua các đối  
thoại, trao đổi tƣ tƣởng, quan điểm  
với nhân vật chính. Điều đặc biệt là  
trong tiểu thuyết này không có nhân  
vật phản diện. Nhân vật tên ăn trộm  
thực sự của tiệm vàng Drayon lại  
không đƣợc chỉ đích danh, không  
đƣợc miêu tả. Các nhân vật lần lƣợt  
xuất hiện trong tiểu thuyết để phục vụ  
cho việc thúc đẩy hành trình phiêu lƣu  
của Nguyễn Khắc Hiếu cũng nhƣ để  
anh ta bộc lộ chí nguyện, tâm tình và  
lý tƣởng của chính mình. Chính trong  
lúc này, tiểu thuyết Giấc mộng con I  
với sự manh nha của một tiểu thuyết  
phiêu lƣu, thậm chí là trinh thám đã  
biến mất nhƣờng chỗ cho một tiểu  
thuyết luận đề, triết luận.  
3. GIẤC MỘNG CON NHƯ LÀ MỘT  
TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ  
Về mặt kết cấu tổng thể, nhƣ chúng ta  
đã phân tích ngay từ đầu, Giấc mộng  
con có tố chất của một tiểu thuyết  
phiêu lƣu với biên độ không gian dịch  
chuyển hết sức rộng lớn, thời gian  
chu du của nhân vật khá dài (khoảng  
8 năm). Đồng thời tiểu thuyết cũng  
manh nha màu sắc trinh thám khi xuất  
hiện một vụ án không dễ đoán kết quả.  
Tuy nhiên các tổ chức nhân vật của  
Tản Đà đã dần đƣa tiểu thuyết rời xa  
khung kết cấu của chính nó và dẫn nó  
NGUYỄN HƢƠNG NGỌC – TIỂU THUYẾT GIẤC MỘNG CON CỦA…  
57  
sang một tổ chức kết cấu khác đó là cuộc đời đã đi vào trong các sáng tác  
trở thành tiểu thuyết luận đề.  
của ông. Nó giải thích cho sự xuất  
hiện của những mối tình dang dở, việc  
trốn vào cõi tiên, cõi mộng cũng nhƣ  
thái độ ngông nghênh trong tác phẩm  
của Tản Đà. Đồng thời, lúc này đất  
nƣớc rơi vào ách đô hộ. Tản Đà là  
một trí thức yêu nƣớc đồng thời cũng  
là một nhà nho đa tài, thị tình. Ông  
khao khát đƣợc đi đến những chân  
trời mới không chỉ để khám phá mà  
còn để thi triển tài năng. Tâm lý thoát  
ly khỏi một xã hội đang bị kìm kẹp, đô  
hộ để đi tìm tự do, tìm nguồn cảm  
hứng và tìm nơi để tài năng đƣợc thể  
hiện này đã theo suốt cuộc đời và sự  
nghiệp sáng tác của ông.  
Mặc dù tiểu thuyết đƣợc tổ chức nhƣ  
thể là một tác phẩm phiêu lƣu nhƣng  
sự xuất hiện, hành động của các nhân  
vật xoay quanh nhân vật trung tâm đã  
không thể hiện điều đó. Sự hình dung  
của tác giả về các nhân vật, về hành  
động, lời nói của các nhân vật đều  
phục vụ cho một quan điểm về con  
ngƣời, về tài năng, về xã hội. Việc bộc  
lộ những quan điểm, lý tƣởng thông  
qua cuộc hành trình, đối với tác giả,  
nhiều khi còn quan trọng hơn cả bản  
thân hành trình phiêu lƣu của nhân  
vật. Nhân vật trung tâm Nguyễn Khắc  
Hiếu lúc này giống nhƣ bức chân  
dung tự họa chính con ngƣời Tản Đà.  
Vậy là mặc dù cuộc chu du khắp năm  
châu của nhân vật là tƣởng tƣợng, là  
một ảo mộng nhƣng lại là ảo mộng  
dựa trên thế giới tinh thần khao khát  
tự do, khao khát đƣợc thoát ly của  
Tản Đà. Đây là một tâm lý hoàn toàn  
dễ hiểu trong hoàn cảnh thời đại và  
hoàn cảnh của bản thân Tản Đà lúc  
đó. Cuộc đời của Nguyễn Khắc Hiếu -  
Tản Đà có hai biến cố lớn làm ảnh  
hƣởng đến tinh thần của ông mà sau  
này trực tiếp ảnh hƣởng đến tƣ tƣởng  
trong thơ văn ông. Đó là việc ông yêu  
cô gái họ Đỗ ở phố Hàng Bồ, con của  
nhà tƣ sản Đỗ Thận song nhà gái đòi  
ông phải có công danh sự nghiệp thì  
mới cho cƣới. Tản Đà thi cả hai kỳ thi  
hƣơng năm 1909 và 1912 đều trƣợt.  
Hỏng thi, Tản Đà quay về Hà Nội thì  
ngƣời con gái ông yêu đã lên xe hoa  
về nhà chồng. Hai thất bại lớn này của  
Giấc mộng con trở thành một tiểu  
thuyết luận đề cũng là minh chứng  
cho những gì còn sót lại của tƣ tƣởng  
nho gia trong thế giới quan Tản Đà.  
Văn học nho gia đề cao “chí”, “đạo”  
(thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo). Nhà  
nho sáng tác thơ văn không phải để  
sáng tạo nghệ thuật mà mục đích đầu  
tiên là để nêu lên quan điểm, để thể  
hiện ý chí, cốt cách, nhân phẩm của  
mình. Nhà nho làm thơ, làm văn  
không phải là thú chơi đơn thuần mà  
phải có chức năng cảm hóa, giáo dục  
hoặc cảnh tỉnh nhất định. Sáng tác  
của họ không phải những tiểu tự sự  
nhƣ văn học hiện đại mà thiên về  
những luận điểm mang tính đại tự sự.  
Giấc mộng con đã bị “kẹt” ở thế đứng  
giữa hai hệ tƣ duy, văn học trung đại  
và văn học hiện đại nên mới có sự  
đứng giữa ngã ba đƣờng thể loại nhƣ  
vậy.  
58  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (248) 2019  
4. THAY LỜI KẾT  
197), các giấc mộng của ông cứ thế  
tan vỡ. Tản Đà muốn thay đổi văn  
chƣơng, muốn lập nên một sự nghiệp  
mới hiển hách nhƣng con ngƣời văn  
học gốc nhà nho đã kìm giữ ngòi bút  
của chính ông để cuối cùng tác phẩm  
của ông quay trở lại với đặc điểm của  
văn học nho gia quen thuộc. Cả cuộc  
đời cầm bút của mình “Tản đà vẫn là  
một nhà nho, một nhà nho ít thanh  
thản” (Phan Cự Đệ, 2013: 202-203).  
Giấc mộng con I chính là một trong số  
những tác phẩm nằm trong vòng tròn  
đó.  
Tản Đà là ngƣời chủ trƣơng “bán văn”  
(trong Hầu trời) nghĩa là ông đã nhận  
ra sự cần thiết của việc thay đổi trong  
sáng tác văn học. Văn chƣơng cần  
phải hiện đại, cấp tiến và phù hợp hơn  
với độc giả của một xã hội đã xuất  
hiện hình thái sản xuất đô thị kiểu  
phƣơng Tây. Tuy nhiên quá trình thực  
hiện mộng ƣớc thay đổi đó lại bất  
thành. Tản Đà sáng tác văn học theo  
một “tiềm thức” sáng tạo rất nho gia  
đó là tự họa con ngƣời tinh thần, lý trí  
của chính mình. Tác phẩm của ông  
phần lớn để nói lên chí nguyện, mong  
ƣớc của chính tác giả. Trong tiểu  
thuyết này, giấc mộng lập đại nghiệp,  
sở thích đƣợc “xê dịch”, ƣớc nguyện  
về một hồng nhan tri kỷ và giấc mơ về  
một xã hội lý tƣởng đã đƣợc thể hiện  
rất rõ. Tản Đà loay hoay ở vạch ranh  
giới giữa văn học trung đại và văn học  
hiện đại để cuối cùng ông mắc vào bi  
kịch “lại giống” (Phan Cự Đệ và nhiều  
tác giả, 2013: 197). Ông “vừa bƣớc  
vào thực tế, các ảo tƣởng cứ vỡ dần”  
(Phan Cự Đệ và nhiều tác giả, 2013:  
Mặc dù sự cách tân không thành công  
song không thể phủ nhận công sức  
của Tản Đà. Những cố gắng của ông  
đƣợc thừa nhận và đã khơi mạch cảm  
hứng cho các nhà văn hậu thế. Tản  
Đà thực sự xứng đáng là ngƣời của  
hai thời đại văn học, là ngƣời mở  
cánh cửa giao thời nhƣ Hoài Thanh  
(1999: 255) trong Thi nhân Việt Nam  
đã khẳng định: “… Tiên sinh đã dạo  
những bản đàn mở đầu cho một cuộc  
hòa nhạc tân kỳ đƣơng sắp sửa…”.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hƣợu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng,  
Hà Văn Đức. 2013. Văn học Việt Nam 1900 - 1945. Hà Nội: Nxb. Giáo dục Việt Nam.  
2. Hoài Thanh. 1999. Hoài Thanh toàn tập, tập 2. Hà Nội: Nxb. Văn học.  
3. Nguyễn Khắc Xƣơng (biên soạn). 2002. Tản Đà toàn tập, tập 2. Hà Nội: Nxb. Văn  
học.  
pdf 11 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 25220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiểu thuyết Giấc mộng con của Tản Đà nhìn từ góc độ thể loại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_thuyet_giac_mong_con_cua_tan_da_nhin_tu_goc_do_the_loai.pdf