Xác định sở thích về gạo chất lượng cao của người tiêu dùng vùng Đồng bằng sông Hồng

J. Sci. & Devel. 2014, Vol. 12, No. 8: 1192-1201  
Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 8: 1192-1201  
XÁC ĐỊNH SỞ THÍCH VỀ GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG  
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG  
Nguyễn Trọng Khanh1*, Nguyễn văn Hoan2  
1Viện Cây lương thực Cây thực phẩm, 2Dự án DCG-JICA-VNUA  
Ngày gửi bài: 29.09.2014  
Ngày chấp nhận: 20.11.2014  
TÓM TẮT  
Nhu cầu tiêu thụ gạo chất lượng tốt tại vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ngày càng cao trong những năm  
gần đây. Đáp ứng nhu cầu đó, việc tạo ra các giống lúa phù hợp với điều kiện tự nhiên, canh tác, có chất lượng gạo  
tốt mang tính quyết định, là tiền đề để có được sản phẩm gạo chất lượng tốt. Việc xây dựng tiêu chí cho chọn giống  
lúa chất lượng tốt sẽ góp phần giúp nhà chọn giống định hướng đúng cho cả quá trình chọn giống. Bằng phương  
pháp điều tra thị hiếu người tiêu dùng, tình hình tiêu thụ các loại gạo chất lượng tốt trên thị trường, kết hợp với đánh  
giá các đặc tính nông sinh học và chất lượng gạo của một số giống lúa chất lượng tốt được thị trường chấp nhận đã  
xây dựng được tiêu chí cho một giống lúa chất lượng tốt phù hợp với vùng ĐBSH. Các tiêu chí chính bao gồm: thời  
gian sinh trưởng ngắn (khoảng 130-135 ngày ở vụ xuân, 100-105 ngày ở vụ mùa), kiểu cây thâm canh thuộc dạng  
bán lùn, năng suất ổn định (55-70 tạ/ha), hạt gạo trong, hàm lượng amylose 17-21%, có mùi thơm. Tuy nhiên, yêu  
cầu về tính trạng hạt gạo dài và hình dạng hạt thon dài của người tiêu dùng vùng ĐBSH khác với các tỉnh phía Nam  
cũng như nhiều thị trường khác trên thế giới ở chỗ họ không coi hai tính trạng nêu trên là yêu cầu bắt buộc phải có  
của gạo chất lượng cao. Do vậy, nhà chọn giống có thể chọn các giống có dạng hạt dài, trung bình, ngắn, có hình  
dạng hạt gạo thon, trung bình hoặc bầu đều được chấp nhận.  
Từ khoá: Giống lúa, gạo chất lượng tốt, tiêu chí giống lúa chất lượng tốt.  
Identifying Consumer Preference for Milled Rice Quality in The Red River Delta  
ABSTRACT  
Over the last years, the demand for good quality of milled/white rice in the Red River Delta (RRD) of Vietnam  
has been increasing rapidly. To meet that demand, breeding new varieties with fine grain quality, suitable for  
cultivation conditions and climate of the RRD is of crucial significance and a prerequisite. Identifying criteria for  
breeding good quality rice can help rice breeders to keep breeding programs on track. From the results of  
investigating consumer preferences and the consumption of good quality rice in the market as well as evaluating  
agronomic characteristics and milled rice of quality varieties accepted by market, selection criteria for quality varieties  
for the RRD were established. The main criteria include early maturity, stable yield (5.5-7.0 tons/ha), low to moderate  
amylose content (17-23%) and fragrance. However, there were no strict requirements for grain length and grain  
shape and the breeders can select varieties that have long, medium or short grain.  
Keywords: Milled rice quality preference, rice variety, selection criteria.  
khoảng 26 triệu dân. Trong giai đoạn trước năm  
2000, yêu cầu tăng năng suất và sản lượng lúa  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
là quan trọng nhất, vì thế các nhà chọn giống đã  
tập trung mọi nỗ lực để lai tạo và chọn lọc được  
các giống lúa có năng suất cao hơn, yếu tố chất  
lượng ít được quan tâm. Từ năm 2000 trở lại  
Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có diện  
tích canh tác lúa khoảng 1 triệu ha/năm với  
tổng sản lượng thóc đạt trên 6 triệu tấn, có  
nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực cho  
1192  
Nguyễn Trọng Khanh, Nguyễn văn Hoan  
+ Đối tượng phỏng vấn theo giới tính:  
(nam/nữ): 50/50  
- Đánh giá các chỉ tiêu nông sinh học, khả  
năng chống chịu sâu bệnh hại, điều kiện bất  
thuận được thực hiện theo Hệ thống tiêu chuẩn  
đánh giá lúa của IRRI (1996).  
đây, với sự tăng trưởng tốt của nền kinh tế, số  
người có thu nhập cao tăng lên không ngừng  
nên nhu cầu tiêu thụ các loại gạo có chất lượng  
tốt cũng tăng theo. Đáp ứng nhu cầu nêu trên  
của thị trường cũng như mong muốn nâng cao  
thu nhập cho người trồng lúa, việc tạo ra các  
giống lúa mới chất lượng tốt, phù hợp với điều  
kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, canh tác... là rất  
cần thiết, là tiền đề cho cả chuỗi sản xuất, tiêu  
thụ gạo có chất lượng tốt, hiệu quả cao. Để góp  
phần giúp nhà chọn giống có định hướng rõ ràng  
về một số chỉ tiêu cơ bản của cây lúa chất lượng  
tốt, phù hợp chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu  
và xác định một số chỉ tiêu lúa gạo chất lượng  
tốt của người tiêu dùng vùng ĐBSH.  
- Số liệu thống kê được xử lý bằng chương  
trình Excel  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Kết quả điều tra giá bán và các chỉ tiêu  
chất lượng của các loại gạo chính được bán  
tại một số siêu thị được trình bày ở bảng 1  
cho thấy:  
Tại các siêu thị chỉ bán một số loại gạo có  
chất lượng tốt và đã có thương hiệu, giá bán  
cùng chủng loại gạo cao hơn so với thị trường  
bán buôn và bán lẻ khoảng 15-30%. Giá các  
loại gạo tại thời điểm điều tra biến động từ  
18000đ/kg (gạo Xi23) đến 25.000 đ/kg (gạo Tám  
thơm Hải Hậu). Nhóm gạo có mùi thơm như:  
BT7, Tám thơm Hải Hậu, Nàng xuân, T10 cho  
giá bán cao hơn so với nhóm gạo không có mùi  
thơm, với giá từ 22.000-25.000 đồng/kg so với  
mức 18.000-19.000 đ/kg. Kết quả điều tra cho  
thấy có sự đa dạng về chiều dài hạt, hình dạng  
hạt gạo của các loại gạo bán trong siêu thị: có 3  
giống là BT7, Tám thơm Hải Hậu, T10 có chiều  
dài hạt gạo < 6mm, hai giống IR64 Điện Biên  
và Nàng xuân có chiều dài hạt gạo > 6,5mm.  
Trong 7 giống chất lượng tốt bán trong siêu thị,  
6 giống có tỉ lệ D/R từ 2,5-2,9, chỉ có duy nhất  
giống IR64 Điện Biên có tỉ lệ D/R > 3,0. Các  
thông số trên cho thấy giá bán các loại gạo chất  
lượng tốt được bán trong siêu thị không phụ  
thuộc vào chiều dài hạt và hình dạng hạt gạo.  
Nhóm gạo có giá cao được bán trong các siêu  
thị có hàm lượng amylose trong khoảng 17-  
23%. Tất cả các loại gạo được bày bán trong  
siêu thị đều có độ bạc bụng điểm 0-1 (gạo trong  
và rất trong), nhiệt độ hoá hồ thấp và trung  
bình. Trong tất cả các mẫu gạo thu từ các siêu  
thị không có mẫu gạo nào có hàm lượng  
amylose > 23%, điểm bạc bụng ≥ 3, nhiệt độ  
hoá hồ cao.  
2.VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Các mẫu gạo thu được từ các địa điểm điều  
tra (siêu thị, đại lý bán buôn, bán lẻ).  
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu  
- Địa điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,  
Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh.  
- Thời gian: năm 2012  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
- Thu thập số liệu về giá bán, lượng tiêu thụ  
các loại gạo tại 100 điểm kinh doanh (bán buôn,  
bán lẻ) và 3 siêu thị là Big C, Intimex, Marko.  
- Thu các mẫu gạo tại địa điểm điều tra, các  
mẫu này sẽ được phân tích đánh giá các chỉ tiêu  
chất lượng (chiều dài, rộng, tỉ lệ dài/rộng, độ  
trong, mùi thơm, hàm lượng amylose, độ bền thể  
gel, nhiệt độ hoá hồ..) theo Hệ thống tiêu chuẩn  
đánh giá lúa của IRRI (1996).  
- Phỏng vấn sở thích tiêu thụ các loại gạo  
khác nhau của 500 người tiêu dùng thuộc các  
nhóm đối tượng có thu nhập khác nhau (theo  
tiêu chuẩn phân loại của Việt Nam, 2008) gồm:  
+ Người có thu nhập thấp (<2 triệu  
đồng/tháng/người): 100 người  
+ Người có thu nhập trung bình (2-6 triệu  
đồng/tháng/người): 200 người  
Các loại gạo chất lượng tốt đã có thương hiệu  
như BT7, Tám thơm Hải Hậu, Xi23 luôn được  
tiêu thụ với lượng lớn nhất trong các siêu thị.  
+
Người có thu nhập cao (>6 triệu  
đồng/tháng/người): 200 người  
1193  
Xác định một số chỉ tiêu lúa gạo chất lượng tốt của người tiêu dùng vùng Đồng bằng sông Hồng  
Bảng 1. Giá bán, lượng tiêu thụ và các chỉ tiêu chất lượng của các loại gạo chính  
được bán tại các siêu thị Marko, Big C, Intimex (tại thời điểm 12/2012)  
Lượng tiêu thụ trong tháng 12/2012  
Chiều  
Giá bán  
trung bình  
(VND)  
Chiều  
dài hạt  
Độ bạc  
bụng  
(điểm)  
rộng hạt  
gạo  
Tỉ lệ  
D/R  
Hàm lượng  
Amylose (%)  
Nhiệt độ  
hoá hồ  
Mùi thơm  
(điểm)  
Intimex  
H.Dương  
(kg)  
TT  
Marko Hà Nội  
Big C  
Hà Nội (kg)  
Tên giống  
gạo (cm)  
(kg)  
(cm)  
1
2
BT7  
22.000  
120.000  
221.000  
40.000  
30.000  
48.000  
5.000  
8.000  
11.000  
1.100  
5,8  
5,9  
6,9  
6,8  
5,6  
6,3  
5,9  
6,8  
6,9  
7,0  
5,7  
5,6  
5,5  
5,5  
5,5  
5,7  
2,1  
2,2  
2,2  
2,1  
2,1  
2,5  
2,2  
2,2  
2,2  
2,2  
2,1  
2,1  
2,2  
2,5  
2,3  
2,4  
2,7  
2,8  
3,1  
3,2  
2,7  
2,5  
2,7  
2,7  
2,9  
3,2  
2,7  
2,7  
2,5  
2,2  
2,3  
2,3  
0
0
0
1
0
1
1
0
1
0
1
0
5
5
5
5
19  
18  
18  
19  
16  
21  
23  
19  
17  
17  
19  
18  
25  
26  
25  
24  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
T. bình  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Cao  
2
2
0
1
1
0
0
1
0
1
1
2
0
0
0
0
Tám thơm Hải Hậu  
IR64 Điện Biên  
HT1  
25.000  
3
24.000  
4
-
5
RVT  
-
6
BC15  
-
7
Xi23  
18.000  
145.000  
32.000  
-
15.000  
23.500  
-
23.000  
2.000  
8.000  
8
Nàng xuân  
P6  
23.000  
9
19.000  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
Nam định 5  
BT7 (KBL)  
T10  
-
19.000  
11.000  
7.000  
22.000  
KD18  
-
-
-
-
Q5  
Cao  
KD đột biến  
TBR1  
Cao  
Cao  
1194  
Nguyễn Trọng Khanh, Nguyễn văn Hoan  
Bảng 2. Giá bán và các chỉ tiêu chất lượng của các loại gạo chính  
được bán tại các cửa hàng bán lẻ (tại thời điểm 12/2012)  
Giá bán tại (đ/kg)  
Chiều  
dài hạt  
gạo  
Hàm  
Chiều  
rộng hạt  
gạo (cm)  
Độ bạc  
bụng  
(điểm)  
Mùi  
thơm  
(điểm)  
Tỉ lệ  
D/R  
lượng  
Amylose  
(%)  
Nhiệt độ  
hoá hồ  
TT  
Hải  
Phòng  
Nam  
Hải  
Tên giống  
Hà Nội  
Bắc Ninh Thái Bình  
Định  
Dương  
(cm)  
1
2
3
4
5
6
7
BT7  
19.000  
22.500  
21.000  
17.000  
18.000  
14.000  
16.000  
17.500  
20.500  
-
15.000  
20.000  
-
16.000  
20.500  
-
17.000  
22.000  
-
15.500  
20.000  
-
5,8  
5,9  
6,9  
6,8  
5,6  
6,3  
5,9  
2,1  
2,2  
2,2  
2,1  
2,1  
2,5  
2,2  
2,7  
2,8  
3,1  
3,2  
2,7  
2,5  
2,7  
0
0
0
1
0
1
1
19  
18  
18  
19  
16  
21  
23  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
2
2
0
1
1
0
0
Tám thơm Hải Hậu  
IR64 Điện Biên  
HT1  
16.500  
18.000  
13.000  
13.000  
16.000  
16.000  
12.500  
13.000  
17.000  
16.000  
13.000  
13.500  
17.500  
17.000  
14.000  
15.000  
16.000  
17.000  
13.000  
13.500  
RVT  
BC15  
Xi23  
Trung  
bình  
8
Nàng xuân  
P6  
18.000  
16.000  
-
16.000  
-
16.500  
16.000  
16.000  
16.000  
17.000  
11.000  
9.100  
17.000  
-
16.000  
15.500  
16.000  
15.000  
16.000  
10.500  
9.000  
6,8  
6,9  
7,0  
5,7  
5,6  
5,5  
5,5  
5,5  
5,7  
2,2  
2,2  
2,2  
2,1  
2,1  
2,2  
2,5  
2,3  
2,4  
2,7  
2,9  
3,2  
2,7  
2,7  
2,5  
2,2  
2,3  
2,3  
0
1
0
1
0
5
5
5
5
19  
17  
17  
19  
18  
25  
26  
25  
24  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Thấp  
Cao  
1
0
1
1
2
0
0
0
0
9
-
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
Nam định 5  
BT7 (KBL)  
T10  
-
-
15.500  
15.000  
-
-
-
-
16.000  
-
16.000  
18.000  
11.500  
9.700  
9.800  
-
KD18  
12.500  
9.500  
10.000  
-
11.500  
9.500  
9.500  
9.000  
11.000  
9.300  
9.800  
-
Q5  
Cao  
KD đột biến  
TBR1  
9.800  
9.100  
Cao  
9.200  
8.800  
Cao  
1195  
Xác định một số chỉ tiêu lúa gạo chất lượng tốt của người tiêu dùng vùng Đồng bằng sông Hồng  
Điều tra tình hình tiêu thụ gạo tại các đại  
lý bán buôn, cửa hàng bán lẻ cho thấy, giá tất cả  
các loại gạo tại thị trường Hà Nội luôn cao hơn  
1.000-2.000đ/kg so cùng chủng loại tại các tỉnh  
lân cận như Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định,  
Thái Bình, Hải Phòng. Tại tất cả các thị trường,  
giá nhóm gạo chất lượng tốt cao hơn 1,5-2 lần so  
với nhóm gạo chất lượng thấp. Các loại gạo BT7,  
Tám thơm Hải Hậu, IR64 Điện Biên, T10 là  
nhóm gạo có giá cao nhất. Các loại gạo có hàm  
lượng amylose từ 17-23% cho giá bán cao hơn  
các loại gạo có hàm lượng amylose > 23% từ  
2.000-4.000 đ/kg. Các loại gạo có điểm bạc bụng  
thấp (điểm 0-1) cho giá bán cao hơn loại gạo có  
điểm bạc bụng cao (điểm 5) khoảng 2.000-5.000  
đ/kg. Các loại gạo có mùi thơm (điểm 1-2) luôn  
cho giá bán cao nhất so với các giống không có  
mùi thơm. Các loại gạo cho giá bán cao trên thị  
trường có chiều dài hạt gạo như sau: 06 giống có  
chiều dài hạt gạo < 6mm, 05 giống có chiều dài  
hạt gạo nằm trong khoảng 6- 7mm, có 1 giống có  
chiều dài hạt gạo > 7mm. Như vậy, kết quả điều  
tra cho thấy có sự biến động lớn về chỉ số chiều  
dài hạt gạo của các loại gạo được bán trên thị  
trường. Kết quả này cũng đồng nhất với kết quả  
điều tra tại các siêu thị đã nêu tại bảng 1.Tuy  
nhiên, đây là điểm khác biệt với tiêu chí gạo chất  
lượng tốt, xuất khẩu tại các tỉnh phía Nam có  
tiêu chí là chiều dài hạt gạo phải ≥ 7mm.  
Tổng hợp kết quả phỏng vấn sở thích tiêu  
dùng gạo của người tiêu dùng được trình bày tại  
bảng 4 cho biết những người có thu nhập cao quan  
tâm đến các đặc tính chất lượng tốt, trong đó trên  
90% thích gạo trong không bạc bụng, có mùi thơm,  
cơm mềm, cơm không dính. Đối với chiều dài hạt  
gạo thì 52% thích gạo hạt dài, 48% không quan  
tâm đến chiều dài hạt gạo khi mua. Trong nhóm  
người tiêu thụ có thu nhập trung bình, 32,5%  
thích gạo hạt dài, 67,5% không quan tâm đến  
chiều dài hạt gạo. Trên 60% người được hỏi ý kiến  
thích gạo trong, có mùi thơm, cơm mềm và cơm  
không dính. Số còn lại ít quan tâm đến các tính  
trạng nêu trên. Nhóm những người thu nhập thấp  
thích được sử dụng gạo có mùi thơm, số còn lại ít  
quan tâm đến từng chỉ tiêu chất lượng riêng biệt  
trong khi 45% trong số họ thích ăm cơm cứng.  
Nhận xét chung cả 3 nhóm tiêu dùng cho  
thấy: 67% người được hỏi ý kiến không quan  
tâm đến hạt gạo sẽ mua là gạo hạt dài hay  
ngắn, 33% thích mua gạo hạt dài > 7mm; 67-  
68% người tiêu dùng thích mua và sử dụng loại  
gạo hạt trong, không bạc bụng và có mùi thơm.  
Phần còn lại (33% và 34%) không quan tâm đến  
những yếu tố này. 77% người tiêu dùng thích  
được ăn cơm mềm, cơm không dính, 33% thích  
cơm cứng, trong đó chủ yếu thuộc về nhóm  
người tiêu dùng có thu nhập thấp.  
Kết quả trên cho thấy phần lớn người tiêu  
dùng vùng ĐBSH có quan tâm nhiều đến các  
tiêu chí cụ thể của loại gạo mà họ sẽ mua và sử  
dụng? Thu nhập càng cao thì đòi hỏi về chất  
lượng gạo càng cao.  
Kết quả điều tra ở bảng 3 cho thấy: gạo  
BT7, Tám thơm Hải Hậu được tiêu thụ khắp các  
thị trường, nhiều nhất là ở Hà Nội. Giống IR64  
Điện Biên chỉ được tiêu thụ tại thị trường Hà  
Nội. Giống HT1, Xi23 được tiêu thụ ổn định.  
Các giống chất lượng thấp như KD18, Q5  
chiếm thị phần rất thấp; các giống BT7, Tám  
thơm Hải Hậu chiếm phần lớn trong thị  
trường bán buôn của tỉnh Nam Định nhưng  
giảm nhiều tại thị trường bán lẻ do chủ yếu  
bán buôn đi các tỉnh khác. Các giống lúa T10,  
Nàng xuân, Nam định 5 cũng chiếm thị phần  
đáng kể tại nhiều thị trường. Giống BC15  
chiếm thị phần chính (bán buôn và bán lẻ) tại  
Thái Bình. Giống P6 chỉ có tại Hải Dương và  
Thái Bình. Giống BT kháng bạc lá chiếm thị  
phần đáng kể tại các tỉnh lẻ, chưa thấy xuất  
hiện tại thị trường Hà Nội.  
Các giống lúa có gạo được tiêu thụ chính trên  
thị trường được trồng và đánh giá lại một số đặc  
tính nông sinh học cơ bản nhằm góp phần xác  
định các tiêu chuẩn cho giống lúa chất lượng cao  
vùng ĐBSH. Số liệu của bảng 5 cho thấy:  
Trong 12 giống lúa thuộc nhóm chất lượng  
tốt, 8 giống có thời gian sinh trưởng ngắn. Bốn  
giống thuộc nhóm có chất lượng trung bình cũng  
có đặc tính thời gian sinh trưởng tương tự. Đây  
là bộ giống cơ bản hiện đang tồn tại khá ổn định  
trong canh tác lúa vùng ĐBSH. Giống lúa Tám  
thơm Hải Hậu là giống lúa mùa địa phương dài  
ngày, phản ứng ánh sáng ngày ngắn, nó mang  
1196  
Nguyễn Trọng Khanh, Nguyễn văn Hoan  
Bảng 3. Tỉ lệ bán ra của các loại gạo tại các đại lý bán buôn và cửa hàng bán lẻ trong tháng 12/2012  
của một số thị trường trong vùng ĐBSH  
Hà Nội (nội thành)  
Hải Phòng  
Hải Dương  
Nam Định  
Thái Bình  
TT  
Tên giống  
Bán buôn  
Bán lẻ  
Bán buôn  
Bán lẻ  
Bán buôn  
Bán lẻ  
Bán buôn  
Bán lẻ  
Bán buôn  
Bán lẻ  
(% )  
18,0  
12,0  
6,0  
27,0  
3,0  
5,0  
20,0  
1,0  
-
(% )  
(% )  
5,0  
6,0  
-
(% )  
(% )  
10,0  
1,0  
-
(% )  
(% )  
35,0  
33,0  
-
(% )  
(% )  
4,0  
1,0  
-
(% )  
1
2
BT7  
20,0  
11,0  
5,0  
23,0  
4,0  
6,0  
20,0  
1,0  
-
6,0  
5,0  
11,0  
1,0  
-
20,0  
20,0  
-
4,0  
1,0  
-
Tám thơm Hải Hậu  
IR64 Điện Biên  
HT1  
3
4
7,0  
10,0  
25,0  
10,0  
2,0  
-
8,0  
7,0  
27,0  
11,0  
1,0  
-
12,0  
9,0  
11,0  
7,0  
2,0  
13,0  
2,0  
2,0  
7,0  
17,0  
4,0  
3,0  
-
14,0  
7,0  
9,0  
7,0  
2,0  
13,0  
1,0  
2,0  
8,0  
18,0  
4,0  
3,0  
-
2,0  
17,0  
5,0  
1,0  
1,0  
-
5,0  
20,0  
15,0  
2,0  
2,0  
-
2,0  
5,0  
58,0  
4,0  
1,0  
6,0  
2,0  
5,0  
3,0  
2,0  
1,0  
1,0  
5,0  
100  
3,0  
5,0  
60,0  
1,0  
1,0  
6,0  
2,0  
5,0  
3,0  
2,0  
1,0  
1,0  
5,0  
100  
5
RVT  
6
BC15  
7
Xi23  
8
Nàng xuân  
P6  
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
Nam định 5  
BT7 (KBL)  
T10  
-
-
3,0  
6,0  
-
2,0  
8,0  
-
2,0  
1,0  
-
3,0  
5,0  
-
-
-
3,0  
4,0  
1,0  
-
4,0  
5,0  
1,0  
KD18  
10,0  
2,0  
6,0  
6,0  
100  
8,0  
3,0  
7,0  
7,0  
100  
1,0  
1,0  
1,0  
-
5,0  
2,0  
1,0  
-
Q5  
KD đột biến  
TBR1  
-
Tổng số (%)  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
Bảng 4. Kết quả phỏng vấn sở thích của người tiêu dùng đối với một số tiêu chí liên quan đến chất lượng gạo (%)  
Nhóm có  
thu nhập trung bình (%)  
Nhóm có  
thu nhập thấp (%)  
Trung bình  
của cả 3 nhóm (%)  
Tiêu chí chất lượng mà người tiêu dùng ưa thích  
Nhóm có thu nhập cao  
Thích mua loại hạt gạo dài trên 7mm  
Không quan tâm đến hạt gạo dài hay ngắn  
Thích mua loại gạo hạt trong, không bạc bụng  
Không quan tâm đến hạt gạo trong hay đục  
Thích mua loại hạt gạo có mùi thơm  
Không quan tâm đến mùi thơm  
52,0  
48,0  
92,0  
8,0  
32,5  
67,5  
63,5  
36,5  
64,5  
35,5  
28,5  
51,0  
20,5  
12,5  
87,5  
45,0  
55,0  
50,5  
44,5  
15,0  
40,0  
45,0  
33,0  
67,0  
67,0  
33,0  
68,0  
32,0  
29,0  
48,0  
23,0  
90,0  
10,0  
41,0  
55,0  
4,0  
Thích mua loại gạo cho cơm mềm  
Thích mua loại gạo cho cơm hơi mềm, không dính  
hích mua loại gạo cho cơm cứng  
1197  
Xác định một số chỉ tiêu lúa gạo chất lượng tốt của người tiêu dùng vùng Đồng bằng sông Hồng  
tính đặc thù cao và chỉ khu trú tại vùng chuyên  
canh riêng biệt. Giống Xi23 cũng có thời gian  
sinh trưởng dài và chủ yếu được canh tác tại các  
chân ruộng vàn trũng, có cơ cấu 2 vụ lúa/năm.  
Giống BC15, P6 thuộc nhóm trung ngày và có  
đặc tính nổi trội về năng suất cao, hàm lượng  
protein cao nên vẫn được phát triển, tuy nhiên  
đặc tính này cũng là yếu tố giới hạn năng suất  
và hiệu quả sản xuất nên cần phải được cải tạo  
để rút ngắn hơn. Để có giống lúa phù hợp với  
điều kiện thời tiết khí hậu và cơ cấu mùa vụ  
vùng ĐBSH, cần các giống lúa có thời gian sinh  
trưởng khoảng 120-135 ngày trong vụ xuân, 95-  
110 ngày trong vụ mùa.  
P6 có khả năng chịu lạnh tốt nhất (điểm 1), 14/16  
giống còn lại đều chịu lạnh đạt điểm 3 và ít nhất  
cũng đạt điểm 5. Qua thực tế phát triển giống lúa  
của vùng ĐBSH cho thấy để có thể tồn tại và  
phát triển trong sản xuất, các giống lúa cần có  
khả năng chịu lạnh <5 điểm. Giống lúa có khả  
năng chịu lạnh kém (điểm 7-9) khó có thể phát  
triển rộng tại vùng ĐBSH.  
Đánh giá tính trạng màu sắc vỏ trấu cho  
thấy các giống lúa BT7, BTKBL, T10, Tám thơm  
Hải Hậu có vỏ trấu nâu và có mùi thơm, hai  
giống lúa RVT và Nàng xuân có vỏ trấu vàng  
nhưng hạt gạo cũng có mùi thơm; các giống lúa  
còn lại đều có màu vỏ trấu vàng. Như vậy, có  
thể thấy mầu vỏ trấu không phải là biểu hiện  
kiểu hình liên quan đến tính trạng mùi thơm,  
tuy nhiên cũng cần được nghiên cứu sâu thêm  
trong các nghiên cứu khác vì xác định tác dụng  
của một biểu hiện rất dễ nhận biết này sẽ rất có  
lợi cho quá trình chọn giống.  
Đánh giá tính trạng chiều cao cây cho thấy  
15/16 giống có chiều cao cây thuộc nhóm bán lùn  
93-115cm, 1 giống thuộc nhóm cao cây 125cm.  
Kết quả này phù hợp với xu hướng chọn giống  
lúa hiện nay là chọn giống có chiều cao cây  
thuộc nhóm bán lùn, kiểu cây thâm canh.  
Kết quả theo dõi đặc tính dạng hình cây cho  
thấy 15/16 giống đều có điểm 3-5, dạng cây gọn,  
thân đứng, mọc chụm, không loè xoè, giống Tám  
thơm Hải Hậu là giống cổ truyền có dạng hình  
cây không gọn, thân mọc nghiêng.  
Trong năm 2013 chúng tôi đã đánh giá khả  
năng kháng sâu bệnh hại của tất cả 16 giống  
tham gia thí nghiệm trong 2 điều kiện lây  
nhiễm nhân tạo trong nhà lưới và đánh giá mức  
độ nhiễm ngoài đồng ruộng, kết quả cho thấy:  
Đối với bệnh đạo ôn, giống BC15 nhiễm  
nặng nhất ở điểm 9 trong điều kiện lây nhiễm  
nhân tạo và điểm 7 ngoài đồng ruộng, đây là  
nhược điểm của giống lúa này. Thực tiễn cho  
thấy, sản xuất giống BC15 người nông dân phải  
tốn rất nhiều chi phí, công sức để giảm thiệt hại  
về năng suất do ảnh hưởng của bệnh. Tính  
trạng này của BC15 cần được cải tiến để có thể  
nâng cao khả năng kháng đạo ôn. Các giống lúa  
còn lại đều có chỉ số này đạt từ 1-5 điểm.  
Vùng ĐBSH chịu ảnh hưởng nhiều của  
mưa, bão trong giai đoạn cuối vụ lúa xuân  
(tháng 5-6) và cả vụ lúa mùa (tháng 7-10), do  
vậy các giống lúa có độ cứng cây tốt sẽ phù hợp  
hơn, có thể cho năng suất ổn định. Qua kết quả  
đánh giá cho thấy giống lúa Tám thơm Hải Hậu  
mặc dù cho chất lượng hạt rất cao nhưng khả  
năng chống đổ kém (điểm 7) nên khó có thể được  
canh tác trên diện rộng. Các giống lúa BT7,  
BC15, KD18, BT KBL, T10 có khả năng chống  
đổ trung bình (điểm 5), đây là nhược điểm giống  
cần được khắc phục, cải tạo. Để có thể phát triển  
rộng trong sản xuất lúa vùng ĐBSH thì các  
giống lúa mới cần có độ cứng cây đạt điểm 1-3.  
Kết quả xác định tính kháng bệnh bạc lá  
cho thấy: giống lúa BT7 nhiễm nặng bệnh bạc lá  
(điểm 9 và 7), giống BT KBL đã cải thiện tính  
kháng này tốt hơn rõ rệt so với giống BT7 và đạt  
điểm 5 trong điều kiện lây nhiễm nhân tạo,  
Do đặc điểm khí hậu có mùa đông lạnh và  
nóng lạnh bất thường, xen kẽ trong vụ lúa xuân  
nên canh tác lúa vùng ĐBSH đòi hỏi các giống  
lúa có khả năng chịu lạnh tốt. Đánh giá khả  
năng này trong thí nghiệm cho kết quả: giống lúa  
điểm 3 tại điều kiện đồng ruộng. Có 15/16 giống  
còn lại đều ở mức nhiễm nhẹ (điểm 5) trong điều  
kiện nhân tạo và kháng vừa (điểm 3) trong điều  
kiện đồng ruộng.  
1198  
Nguyễn Trọng Khanh, Nguyễn văn Hoan  
Bảng 5. Kết quả đánh giá một số đặc tính nông học, đặc điểm hình thái của các giống lúa có gạo  
được tiêu thụ nhiều trên thị trường vùng ĐBSH (vụ xuân, vụ mùa năm 2013)  
Khả năng kháng  
đạo ôn (điểm)  
Khả năng kháng  
bạc lá (điểm)  
Khả năng kháng  
rầy nâu (điểm)  
Năng suất thưc  
thu (tạ/ha)  
Dạng  
hình  
cây  
Độ  
cứng  
cây  
Khả  
năng  
chịu rét  
(đ)  
TGST (ngày)  
Chiều  
cao cây  
(cm)  
Màu  
vỏ trấu  
TT  
Tên giống  
Nhân  
Đồng  
ruộng  
Nhân  
Đồng  
ruộng  
Nhân  
Đồng  
ruộng  
Vụ  
VX  
VM  
Vụ mùa  
xuân  
(cm)  
(đ)  
tạo  
tạo  
tạo  
A.Nhóm chất lượng tốt  
1
2
BT7  
130  
-
103  
175  
95  
5
7
5
7
5
-
Nâu  
Nâu  
3
5
1
3
9
5
7
3
7
7
5
7
5,6  
-
5,1  
4,2  
Tám thơm Hải  
Hậu  
125  
3
4
IR64 ĐB  
HT1  
135  
134  
133  
145  
160  
134  
145  
129  
132  
132  
105  
110  
105  
120  
128  
110  
120  
108  
104  
110  
94  
110  
100  
110  
115  
102  
93  
3
3
3
5
3
3
3
5
5
3
3
3
1
5
3
3
3
3
5
5
5
3
3
5
3
3
1
3
5
5
vàng  
Nâu  
5
3
5
9
3
5
3
5
5
5
3
3
3
7
1
3
1
3
3
3
5
5
5
5
5
5
3
3
3
3
5
7
3
5
5
5
5
1
3
3
5,9  
6,3  
6,4  
7,0  
6,8  
5,9  
6,4  
6,2  
5,5  
5,9  
4,9  
5,5  
5,6  
6,2  
6,1  
5,7  
5,6  
5,7  
5,4  
5,7  
5
RVT  
Vàng  
Vàng  
Vàng  
Vàng  
Vàng  
Vàng  
Nâu  
6
BC15  
7
Xi23  
8
Nàng xuân  
P6  
9
5
5
5
5
5
3
3
3
7
5
7
3
5
3
5
3
10  
11  
12  
Nam định 5  
BT7 (KBL)  
T10  
98  
97  
100  
Nâu  
B. Nhóm chất lượng trung bình  
13  
14  
15  
16  
KD18  
Q5  
132  
137  
133  
139  
101  
113  
104  
114  
101  
109  
104  
110  
3
3
3
3
5
1
3
1
3
3
3
3
Vàng  
Vàng  
Vàng  
Vàng  
3
5
3
5
1
3
1
3
5
3
5
3
3
3
3
3
5
3
5
3
3
3
3
3
6,5  
6,8  
6,4  
6,9  
6,0  
6,5  
6,1  
6,8  
KD đb  
TBR1  
1199  
Xác định một số chỉ tiêu lúa gạo chất lượng tốt của người tiêu dùng vùng Đồng bằng sông Hồng  
Đánh giá tính kháng rầy cho thấy có 4  
giống nhiễm rầy ở điểm 7 và 5 là BT7, Tám  
thơm Hải Hậu, BT KBL, P6; giống lúa RVT có  
biểu hiện tính kháng cao nhất (điểm 3 và điểm  
1), các giống còn lại đều biểu hiện ở mức nhiễm  
nhẹ và kháng trung bình. Thực tiễn của sản  
xuất lúa vùng ĐBSH trong thời gian qua cho  
thấy cần phải nâng cao tính kháng rầy nâu của  
các giống lúa ở mức <5.  
đồng nhất về tiêu chí điểm bạc bụng là 0-1  
(hạt gạo trong). Đánh giá tiêu chí hàm lượng  
amylose và nhiệt độ hoá hồ cho thấy điểm  
khác biệt của thị trường Thái Lan so với các  
thị trường khác là hàm lượng amylose của các  
mẫu gạo xuất khẩu của Thái Lan có biên độ  
dao động rất lớn từ 12-31%, nhiệt hoá hồ từ  
thấp, trung bình đến cao. Giải thích điều này  
là do gạo của Thái Lan được xuất đi rất nhiều  
thị trường trên thế giới, nhà xuất khẩu đáp  
ứng tốt các đòi hỏi về thị hiếu sử dụng gạo của  
từng thị trường riêng lẻ với các yêu cầu cụ  
thể. Trong khi đó người tiêu thụ vùng ĐBSH  
thích sử dụng các loại gạo không quá cứng  
nhưng cũng không quá mềm, nát. Gạo của Mỹ  
được tiêu thụ nội địa và xuất khẩu đi châu  
Âu, Trung đông nơi mà người tiêu thụ ưa  
dùng các cơm cứng vì thế gạo của Mỹ có hàm  
lượng amylose cao, nhiệt hoá hồ cao. Vùng  
ĐBSCL là vùng nguyên liệu chính phục vụ  
xuất khẩu gạo của Việt Nam đi các thị trường  
châu Á, châu Phi nơi mà người tiêu thụ ưa  
thích các loại gạo có hàm lượng amylose cũng  
như nhiệt độ hoá hồ ở mức trung bình.  
Kết quả đánh giá năng suất thực thu cho  
thấy trong vụ lúa xuân các giống lúa tham gia  
thí nghiệm cho năng suất từ 5,5 đến 7,0 tấn/ha,  
vụ mùa giống Tám thơm Hải Hậu có năng suất  
thấp 4,2 tấn/ha, giống IR64 ĐB cho năng suất là  
4,9 tấn/ha, có 08 giống đạt năng suất nằm trong  
khoảng 5-6 tấn/ha, có 02 giống đạt năng suất  
trên 6 tấn/ha là BC15 và Xi23. Tất cả các giống  
lúa có chất lượng trung bình đều đạt năng suất  
trên 6 tấn/ha trong cả hai vụ.  
Bảng 6 là kết quả so sánh một số tiêu chí cơ  
bản của gạo chất lượng tốt vùng ĐBSH với vùng  
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng như một  
số thị trường tiêu thụ, xuất khẩu khác trên thế giới.  
Thị trường vùng ĐBSH chấp nhận các loại  
gạo có chiều dài hạt gạo từ ngắn đến trung  
bình và dài, tương ứng như vậy tỉ lệ dài/rộng  
cũng có biên độ dao động khá lớn từ 2,3-3,2.  
Thị trường Rome tiêu thụ các loại gạo ngắn và  
trung bình, trong khi các thị trường ĐBSCL,  
Hồng Kông chỉ tiêu thụ các loại gạo có chiều  
dài từ 6,8-7,2mm, đặc biệt hai thị trường lớn  
là Thái Lan và Mỹ chỉ tiêu thụ các loại gạo  
dài. Tất cả các thị trường trên đều có điểm  
Từ kết quả trên cho thấy: khái niệm Tiêu  
chí gạo chất lượng tốt được dựa trên sự đánh giá  
một số Tiêu chí truyền thống đặc biệt là các chỉ  
tiêu liên quan đến chất lượng nấu nướng, chất  
lượng thương trường, nhưng không có tiêu  
chuẩn chung cho tất cả các thị trường trên thế  
giới mà chỉ có thể có tiêu chuẩn cho từng thị  
trường tiêu thụ cụ thể và từ đó sẽ là tiêu chuẩn  
cho vùng sản xuất cung ứng lúa gạo tương ứng.  
Bảng 6. So sánh một số tiêu chí chất lượng gạo tốt của vùng ĐBSH với ĐBSCL và một số  
thị trường tiêu thụ gạo khác trên thế giới.  
Thị trường  
vùng  
ĐBSH  
Thị trường  
vùng ĐBSCL  
Thị trường  
Hồng Kông  
Thị trường  
Mỹ  
Thị trường  
Rome  
Thị trường  
Thái Lan  
TT  
Các tiêu chí chất lượng  
1
2
3
4
5
6
Chiều dài hạt gạo (mm)  
Chiều rộng hạt gạo (mm)  
Tỉ lệ dài/rộng  
5,5-7,0  
2,1-2,8  
2,3-3,2  
0-1  
6,8-7,0  
2,3-2,6  
2,8-3,0  
0-1  
6,8-7,2  
2,3-2,7  
2,8-3,0  
0-1  
7,0-7,5  
2,4- 2,8  
2,9-3,2  
0-1  
5,6-6,5  
2,5-2,9  
2,2-2,6  
0-1  
6,8- 7,5  
2,2-2,9  
2,8-3,4  
Độ bạc bụng (điểm)  
Hàm lượng amylose (%)  
Nhiệt độ hoá hồ  
0-1  
16-23  
20-24  
TB  
18- 23  
23-26  
20-23  
TB  
12-31  
Thấp- TB  
Thấp - TB  
TB-cao  
Thấp-TB-cao  
1200  
Nguyễn Trọng Khanh, Nguyễn văn Hoan  
Nắm rõ được yêu cầu cụ thể về chất lượng gạo  
của từng thị trường là yếu tố quan trọng giúp  
người sản xuất đưa ra các sản phẩm phù hợp, từ  
đó có thể thu được hiệu quả sản xuất kinh  
doanh cao.  
4. KẾT LUẬN  
- Nhu cầu tiêu thụ các loại gạo có chất  
lượng tốt tại vùng ĐBSH cao hơn hẳn các loại  
gạo có chất lượng thấp.  
- Gạo chất lượng tốt được tiêu thụ tại vùng  
ĐBSH mang đầy đủ các tiêu chí của gạo Việt  
Nam chất lượng tốt như gạo trong, không bạc  
bụng, nhiệt độ hoá hồ trung bình hoặc thấp, có  
thể có mùi thơm, nhưng có điểm khác biệt là:  
yếu tố chiều dài hạt gạo không nhất thiết phải  
dài 7 mm và hình dạng hạt cũng không nhất  
thiết phải là dạng thon dài.  
Trên cơ sở điều tra đánh giá thị hiếu sử  
dụng gạo của người tiêu dùng vùng ĐBSH kết  
hợp với đánh giá các đặc tính nông sinh học của  
các giống lúa chất lượng tốt được nông dân trong  
vùng canh tác có hiệu quả, chúng tôi đề xuất  
Tiêu chí cho giống lúa chất lượng tốt phù hợp  
cho canh tác lúa vùng ĐBSH, gồm:  
Thời gian sinh trưởng: 120-135 ngày trong vụ  
xuân (trà xuân muộn); 95-110 ngày trong vụ mùa.  
- Xác định được một số tiêu chí cơ bản của  
giống lúa chất lượng cao phù hợp với canh tác  
vùng ĐBSH là: ngắn ngày (95-115 ngày trong vụ  
mùa), năng suất phải đạt 55-70 tạ/ha, gạo trong  
không bạc bụng, hàm lượng amylose 17-23%,  
nhiệt độ hoá hồ thấp hoặc trung bình, có mùi  
thơm. Tính trạng chiều dài hạt gạo có thể thay  
đổi: chọn lọc hạt ngắn, trung bình và dài. Tương  
tự như vậy hình dạng hạt có thể được chấp nhận  
các loại hạt thon dài, trung bình, bầu.  
- Năng suất: 60-70 tạ/ha trong vụ xuân, 55-  
65 tạ/ha trong vụ mùa  
- Dạng hình cây: điểm 1-3 dạng cây bán lùn  
kiểu cây thâm canh.  
- Hàm lượng amylose: 17-21%  
- Độ bạc bụng: điểm 0-1  
- Mùi thơm: điểm 1-2  
- Đặc tính chiều dài hạt gạo và dạng hình  
hạt không phải là yếu tố quan trọng tham gia  
vào Bộ tiêu chuẩn này, nhu cầu của người tiêu  
dùng ít quan tâm đến yêu cầu gạo dài hay trung  
bình hoặc ngắn, cũng như dạng hình hạt thon  
dài hay trung bình.  
LỜI CẢM ƠN  
Tôi xin chân thành cámơn tập thể cán bộ  
nghiên cứu của Bộ môn Chọn giống lúa cho  
vùng khó khăn, và Nhóm nghiên cứu thuộc đề  
tài Chọn tạo giống lúa cho vùng đồng bằng sông  
Hồng (giai đoạn 2006-1010, 2011-2015) đã giúp  
đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu này.  
- Nhiệt độ hoá hồ: thấp-trung bình  
- Kháng bệnh bạc lá, bệnh đạo ôn: điểm 1-5  
- Kháng rầy nâu: điểm 1-5  
- Khả năng chịu rét: điểm 1-5  
- Độ cứng cây: điểm 1-3  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bienvenido O. Juliano(2007). Rice Chemistry and  
Quality, PhilRice.  
Như vậy, để chọn giống lúa chất lượng tốt  
phù hợp với vùng Đồng bằng sông Hồng, ngoài  
các tiêu chí đặc thù liên quan tới chất lượng gạo,  
nhà chọn giống cần có định hướng lai và chọn  
lọc theo các tiêu chí về thời gian sinh trưởng,  
năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh hại,  
chống đổ như đã nêu trên. Với đặc tính chiều  
dài hạt gạo và dạng hình hạt vốn là các tiêu chí  
rất quan trọng ở các tỉnh phía Nam thì cho vùng  
Đồng bằng sông Hồng lại có thể thay đổi linh  
hoạt: hạt có thể dài, trung bình, ngắn còn dạng  
hạt có thể thon dài, thon hoặc trung bình đều có  
thể dược chấp nhận.  
Bộ Nông nghiệp và PTNT (2013). 966 giống cây trồng  
nông nghiệp mới. Nhà xuất bản Nông nghiệp.  
Tổng cục Thống kê (2012). Niên giám thống kê Việt  
Nam 2012.  
Tổng cục Thống Kê (2010). Niên giám thống kê Việt  
Nam 2009.  
Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nam Định (2013). Báo cáo tình  
hình kinh tế xã hội tỉnh Nam Định năm 2012.  
Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp PTNT (2011). Báo  
cáo kết quả sản xuất lúa năm 2010. Hà Nội.  
IRRI (2002). Standard Evaluation System for Rice.  
International Rice Research Institute. Los Banos,  
Philippines  
1201  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 20860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác định sở thích về gạo chất lượng cao của người tiêu dùng vùng Đồng bằng sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxac_dinh_so_thich_ve_gao_chat_luong_cao_cua_nguoi_tieu_dung.pdf