Ảnh hưởng của CaO, SiO2 lên sinh trưởng, độ cứng cây và năng suất của hai giống lúa MTL612 và MTL547

Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 30 - 37  
Trường Đại học An Giang  
ẢNH HƯỞNG CỦA CaO, SiO2 LÊN SINH TRƯỞNG, ĐỘ CỨNG CÂY VÀ NĂNG SUẤT  
CỦA HAI GIỐNG LÚA MTL612 VÀ MTL547  
Nguyễn Thành Hối1, Mai Vũ Duy2, Lê Vĩnh Thúc3, và Nguyễn Thị Mỹ Hạnh4  
1TS. Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ  
2ThS. Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ  
3TS. Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ  
4SV. Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ  
Thông tin chung:  
Ngày nhận bài: 12/01/13  
Ngày nhận kết quả bình duyệt:  
14/02/14  
Ngày chấp nhận đăng:  
30/07/14  
ABSTRACT  
The effects of CaO and SiO2 chemicals on growth, stem hardness, and yield of  
two rices (including MTL547 and MTL612) are investigated. The experiments  
are arranged in a randomized form with two factors and 4 replicates. Two  
experimental factors are the variey of rice and adding of CaO and SiO2  
chemicals. For the experiments with the combination of CaO and SiO2, the  
results do not show the effects on plant height and number of shoots. However,  
the adding of CaO and SiO2 was able to improve the stem hardness, number of  
seeds/cotton, hard seeds, seed weight (based on 1000 seeds) and rice yield. For  
MTL547 rice, the highest yield of rice (30.1 g/pot) was observed in the  
experiment of 2 g/l CaO and 0,5 g/l SiO2 chemicals.  
Title:  
Effects of CaO, SiO2 on the  
growth and hardness of rice  
stem and yield of MTL612 and  
MTL547  
TÓM TẮT  
Từ khóa:  
MTL612, MTL547, CaO, SiO2  
Đề tài “Ảnh hưởng của CaO, SiO2 lên sinh trưởng, độ cứng cây và năng suất của  
hai giống lúa MTL612 và MTL547” được thực hiện nhằm tìm ra nồng độ CaO  
kết hợp SiO2 thích hợp đến sinh trưởng, gia tăng độ cứng cây và năng suất. Thí  
nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên thừa số hai nhân tố, 4 lần  
lặp lại. Nhân tố thứ nhất là hai giống lúa (MTL612 và MTL547) và nhân tố thứ  
hai là ba nồng độ CaO kết hợp SiO2 (0; 0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2 và 2 g/l  
CaO+0,5 g/l). Kết quả thí nghiệm cho thấy CaO kết hợp SiO2 không ảnh hưởng  
đến chiều cao cây, số chồi nhưng có tác dụng làm tăng độ cứng thân, số  
hạt/bông, tỉ lệ hạt chắc, trọng lượng 1000 hạt và năng suất. Xử lý nồng độ 2 g/l  
CaO kết hợp 0,5 g/l SiO2 trên giống lúa MTL547 cho năng suất cao nhất (30,1  
g/chậu).  
Keywords:  
MTL612, MTL547, CaO, SiO2  
để tăng năng suất lúa mà còn để hạn chế đổ ngã.  
Trong đó, CaO, SiO2 cũng được xem là biện pháp  
1. GIỚI THIỆU  
Trong quá trình sản xuất lúa cho thấy cây lúa bị  
đổ ngã thường gây ra những thất thoát lớn cả về  
năng suất lẫn chất lượng hạt. Cây bị đổ ngã, quá  
trình tạo hạt bị đình trệ do quá trình vận chuyển  
các chất bị trở ngại (Yoshida, 1981, Yoshinaga,  
2005). Hiện nay, đổ ngã còn gây không ít khó  
khăn cho thu hoạch, để khắc phục tình trạng đỗ  
ngã trên lúa, một số biện pháp được áp dụng như:  
sử dụng giống kháng đổ ngã, tháo nước giữa vụ.  
Bên cạnh đó, sử dụng phân bón là một trong  
những kỹ thuật canh tác không những quan trọng  
có thể hạn chế đổ ngã và tăng năng suất lúa. Hiện  
nay, các giống lúa cao sản MTL612, MTL547 là  
những giống có triển vọng, chất lượng cao chống  
chịu tốt với một số sâu hại được trồng nhiều ở các  
tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên,  
những nghiên cứu CaO, SiO2 nhằm khắc phục đổ  
ngã và tăng năng suất trên các giống lúa còn hạn  
chế.  
Vì vậy, đề tài được thực hiện nhằm tìm nồng độ  
CaO kết hợp SiO2 thích hợp đến sinh trưởng, độ  
30  
Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 30 - 37  
Trường Đại học An Giang  
cứng cây và năng suất của hai giống lúa MTL612  
và MTL547.  
- Bước 1: Chọn ngẫu nhiên 10 cây/chậu để chọn  
ra 3 cây phát triển bình thường không bị sâu bệnh.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
- Bước 2: Gác cây lúa còn nguyên bẹ lên giá đỡ,  
khoảng cách từ nơi gác cây lúa đến mặt đất  
khoảng 60 cm. Chiều cao của vật treo là 10 cm,  
bắt đầu đo ở lóng trên cùng (tính từ cổ bông lúa  
xuống) (Hình 1).  
2.1 Vật liệu  
Hai giống lúa: MTL612, MTL547 được chọn làm  
giống thí nghiệm. Giống MTL612 có thời gian  
sinh trưởng 95-100 ngày, chiều cao 100-110 cm,  
năng suất bình quân 4-6 tấn/ha, trọng lượng 1.000  
hạt 23-24 g (Lê Xuân Thái & cs., 2011). Giống  
MTL547 có thời gian sinh trưởng 100-110 ngày,  
chiều cao 105-115 cm, trọng lượng 1.000 hạt 26-  
27 g, năng suất 6-7 tấn/ha (Nguyễn Quốc Lý &  
Bùi Ngọc Tuyển, 2011).  
- Bước 3: Treo vật lên cây lúa sau đó từ từ tăng  
trọng lượng bằng cách cho cát vào đến khi cây lúa  
bị gãy thì ngưng lại (Hình 2).  
- Bước 4: Đem cân toàn bộ trọng lượng của vật  
treo tại thời điểm làm cây lúa bị gãy (Hình 3).  
Độ cứng của lúa được tính bằng kg tương đương  
với 10 Newton (1 kg = 10 N). Rồi tiếp tục đo độ  
cứng của các lóng còn lại.  
Phân đạm urea [CO(NH2)2], 46% N (Đạm Phú  
Mỹ); Super Lân Long Thành Ca(H2PO4)2 16%  
P2O5; Chlorua Kali (KCl) 60% K2O; CaO, SiO2.  
2.2 Phương pháp nghiên cứu  
Thí nghiệm được bố trí trồng trong chậu (cao 35  
cm, rộng 30 cm), theo thể thức hoàn toàn ngẫu  
nhiên thừa số hai nhân tố. Nhân tố thứ nhất gồm  
hai giống lúa MTL612 và MTL547, nhân tố thứ  
hai là nồng độ CaO, SiO2 ở ba mức độ: đối chứng  
không phun CaO, SiO2; phun ở nồng độ 0,4 g/l  
CaO+0,1 g/l SiO2 và phun ở nồng độ 2 g/l  
CaO+0,5 g/l SiO2; gồm 6 nghiệm thức, mỗi  
nghiệm thức có 4 lần lặp lại (mỗi lần lặp lại là 1  
chậu). Phân bón quy ra theo tổng trọng lượng đất  
trồng lúa trên 1 ha là 2 triệu kg đất khô tự nhiên  
và chia thành 4 đợt bón với công thức phân: 100N  
– 60P2O5 – 30K2O  
Hình 1: Đo độ cứng của lóng lúa  
Bón lót: Toàn bộ P + ½ K  
Hình 2: Đổ cát vào  
Bón thúc 1: 1/5 N, lúc 10 – 14 ngày sau khi sạ  
Bón thúc 2: 2/5 N, lúc 20 – 25 ngày sau khi sạ  
Bón nuôi đồng: 2/5 N + 1/2K, lúc 40 – 45 ngày  
sau khi sạ  
Các chỉ tiêu theo dõi  
Các chỉ tiêu theo dõi gồm: chiều cao cây (cm), số  
chồi/chậu, số bông/chậu, số hạt/bông, tỉ lệ hạt  
chắc (%). Trọng lượng 1.000 hạt (w14%, g, 14%),  
năng suất thực tế (W14%, g/chậu, 14%), chỉ số  
thu hoạch (HI). Độ cứng của cây lúa được áp  
dụng theo phương pháp của Nguyễn Minh Chơn  
(2007) gồm các bước sau:  
Hình 3: Cây lúa bị gãy khi cho cát vào  
Tính toán thống kê các số liệu bằng phần mềm  
SPSS và dùng phép thử Duncan để so sánh sự  
khác biệt giữa các nghiệm thức.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1 Đặc tính nông học  
31  
Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 30 - 37  
3.1.1 Chiều cao cây  
Trường Đại học An Giang  
(71,4 cm). Tuy nhiên, nồng độ CaO kết hợp SiO2  
không ảnh hưởng đến chiều cao của cây lúa thời  
điểm này, sự tương tác giữa hai giống và nồng độ  
CaO kết hợp SiO2 không có ý nghĩa thống kê.  
Kết quả Bảng 1 cho thấy có sự khác biệt ở mức ý  
nghĩa 1% về chiều cao giữa hai giống ở thời điểm  
thu hoạch. Trong đó, chiều cao của giống  
MTL612 (73,4 cm) cao hơn giống MTL547  
Bảng 1. Chiều cao (cm) lúc thu hoạch và số chồi/chậu ở 60 NSKG của hai giống lúa theo nồng độ CaO kết hợp SiO2  
(g/l)  
Nhân tố  
Số chồi  
60 NSKG  
Số bông/chậu  
Chiều cao thu hoạch  
Giống (A)  
MTL612  
MTL547  
73,4 a  
71,4 b  
23,5  
24,2  
15,3  
15,7  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
0
72,8  
72,3  
72,0  
**  
24,3  
23,9  
23,4  
ns  
15,3  
15,8  
15,4  
ns  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
F(A)  
F(B)  
ns  
ns  
ns  
F(A*B)  
CV(%)  
ns  
ns  
ns  
1,5  
6,5  
6,1  
ns: khác biệt không có ý nghĩa, **: khác biệt có ý nghĩa 1%.  
3.1.2 Số chồi/chậu  
nghĩa 1%, trong đó độ cứng lóng thứ nhất của  
giống MTL547 (0,6 N) lớn hơn giống MTL612  
(0,5 N). Nồng độ CaO kết hợp SiO2 cũng ảnh  
hưởng đến độ cứng lóng thứ nhất, đạt cao nhất ở  
nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 (0,8 N), khác biệt  
có ý nghĩa thống kê ở mức 1% so với các nồng độ  
còn lại, thấp nhất là đối chứng (0,3 N). Ngoài ra,  
có sự tương tác giữa nồng độ CaO, SiO2 và hai  
giống lúa ở mức ý nghĩa 1% đến độ cứng lóng thứ  
nhất. So sánh giữa hai giống thì độ cứng của  
giống MTL547 đạt cao nhất (0,9 N) khi xử lý ở  
nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2.  
Số chồi/chậu giữa hai giống lúa không có sự khác  
biệt ý nghĩa thống kê ở thời điểm 60 NSKG  
chứng tỏ khả năng phát triển chồi ở hai giống là  
như nhau. Tương tự, nồng độ CaO kết hợp SiO2  
không ảnh hưởng đến sự gia tăng số chồi/chậu  
(Bảng 1).  
3.2 Độ cứng lóng thân  
3.2.1 Độ cứng của lóng thứ nhất  
Kết quả Bảng 2 cho thấy độ cứng lóng thứ nhất  
giữa hai giống có sự khác biệt thống kê ở mức ý  
Bảng 2. Độ cứng (N) lóng thân thứ nhất của hai giống lúa theo các nồng độ CaO kết hợp SiO2 (g/l) ở thời điểm thu  
hoạch  
Giống (A)  
MTL 612  
0,3 e  
0,4 d  
0,7 b  
0,5 b  
**  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
Trung bình (B)  
MTL 547  
0,3 e  
0,6 c  
0,9 a  
0,6 a  
0
0,3 c  
0,5 b  
0,8 a  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
F(A)  
32  
Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 30 - 37  
Trường Đại học An Giang  
F(B)  
**  
F(A*B)  
CV (%)  
**  
12,2  
**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%.  
3.2.2 Độ cứng của lóng thứ hai  
lại, thấp nhất là đối chứng (1,2 N). Giữa nồng độ  
CaO kết hợp SiO2 và hai giống lúa có sự tương  
tác ở mức ý nghĩa 1% đến độ cứng lóng thứ hai.  
Trong đó, nghiệm thức xử lý 2 g/l CaO+0,5 g/l  
SiO2 ở giống MTL547 có độ cứng lóng thứ hai  
cao nhất (1,9 N) gấp 1,58 lần so với đối chứng  
(1,2 N) (Bảng 3).  
Tương tự, độ cứng lóng thứ hai của giống  
MTL547 (1,6 N) cao hơn giống MTL612 (1,5 N),  
khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Bên cạnh  
đó, nồng độ CaO kết hợp SiO2 cũng ảnh hưởng  
đến độ cứng lóng thứ hai, cao nhất vẫn ở nồng độ  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 (1,8 N), khác biệt có ý  
nghĩa thống kê ở mức 1% so với các nồng độ còn  
Bảng 3. Độ cứng (N) lóng thứ hai của hai giống lúa theo các nồng độ CaO kết hợp SiO2 (g/l) ở thời điểm thu hoạch  
Giống (A)  
MTL 612  
1,3 e  
1,5 d  
1,8 b  
1,5 b  
**  
Trung  
bình (B)  
1,2 c  
1,6 b  
1,8 a  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
MTL 547  
1,2 f  
1,6 c  
1,9 a  
1,6 a  
0
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
F(A)  
F(B)  
**  
F(A*B)  
**  
CV (%)  
4,1  
**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%.  
3.2.3 Độ cứng của lóng thứ ba  
sự tương tác giữa nồng độ CaO, SiO2 và hai giống  
lúa đến độ cứng lóng thứ ba, khác biệt thống kê ở  
mức ý nghĩa 5%. Khi so sánh giữa hai giống thì  
độ cứng lóng thứ ba của giống MTL547 đạt cao  
nhất 2,9 N khi xử lý 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 (Bảng  
4).  
Độ cứng của lóng thứ ba của giống MTL547 (2,5  
N) lớn hơn giống MTL612 (2,4 N) và có sự khác  
biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Tương tự, nồng  
độ CaO kết hợp SiO2 cũng ảnh hưởng đến độ  
cứng lóng thứ ba, cao nhất khi xử lý với nồng độ  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 (2,8 N). Bên cạnh đó, có  
Bảng 4. Độ cứng (N) lóng thứ ba của hai giống lúa theo các nồng độ CaO kết hợp SiO2 (ml/l) ở thời điểm thu hoạch  
Giống (A)  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
Trung bình (B)  
MTL 612  
2,2 e  
2,4 d  
2,7 b  
2,4 b  
*
MTL 547  
2,2 e  
2,6 c  
2,9 a  
2,5 a  
0
2,2 c  
2,5 b  
2,8 a  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
F(A)  
F(B)  
**  
F(A*B)  
**  
CV (%)  
2,6  
*: khác biệt có ý nghĩa 5%, **: khác biệt có ý nghĩa 1%.  
3.2.4 Độ cứng của lóng thứ tư  
Đồng thời, nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 cũng  
đạt độ cứng lóng thứ tư cao nhất (5,6 N) và khác  
biệt ý nghĩa thống kê ở mức 1% so với các nồng  
độ còn lại, thấp nhất là đối chứng 3,1 N. Như vậy,  
xử lý CaO kết hợp SiO2 đều làm tăng độ cứng các  
Qua kết quả Bảng 5, độ cứng lóng thứ tư của  
giống MTL547 (4,5 N) lớn hơn giống MTL612  
(4,0 N), khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.  
33  
Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 30 - 37  
Trường Đại học An Giang  
lóng cao hơn so với không xử lý. Theo Epstein và  
Bloom (2003), Si và Ca đều có tác dụng làm vững  
chắc vách tế bào. Stevens và cs. (2001) cho rằng  
độ cứng gia tăng khi tăng cường Ca và duy trì áp  
suất trương cao trong tế bào. Ca có vai trò quan  
trọng trong việc tạo kết nối các thành phần của  
vách tế bào và làm cho vách tế bào cứng chắc  
(Heldt, 1999). Sử dụng calcium ngoại sinh sẽ duy  
trì được cấu trúc của vách tế bào bằng cách  
calcium liên kết với các pectin để tạo thành các  
pectate và làm giảm sự suy thoái của vách tế bào  
do các enzym (Heldt, 1999; White & Martin,  
2003). Do đó, ion Ca2+ làm giảm tỉ lệ hòa tan của  
pectin và điều này giúp duy trì sức trương tế bào.  
Raven (2003) và Yoshida (1965) cho rằng lớp gel-  
silic được phủ bên ngoài của vách tế bào ở các tế  
bào trong thân, lá tạo thành lớp cutin-silic dày gấp  
đôi bình thường. Nhờ lớp cutin và silic giúp tăng  
cường tính chóng chịu và tính cứng của tế bào. Vì  
vậy, xử lý Ca, Si đã giúp cho cây cứng chắc hơn.  
Giữa giống và nồng độ CaO kết hợp SiO2 có sự  
tương tác ý nghĩa thống kê ở mức 1% đến độ  
cứng lóng thứ tư. So sánh giữa hai giống thì giống  
MTL547 khi xử lý ở nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l  
SiO2 đạt độ cứng cao nhất 6,0 N.  
Bảng 5. Độ cứng (N) lóng thứ tư của hai giống lúa theo các nồng độ CaO kết hợp SiO2 (g/l) ở thời điểm thu hoạch  
Giống (A)  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
Trung bình (B)  
MTL 612  
3,3 de  
3,7 d  
5,3 b  
4,0 b  
**  
MTL 547  
3,0 e  
4,5 c  
6,0 a  
4,5 a  
0
3,1 c  
4,1 b  
5,6 a  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
F(A)  
F(B)  
**  
F(A*B)  
**  
CV (%)  
7,7  
**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%.  
Như vậy, khi xử lý ở nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l  
SiO2 ở giống MTL547 sẽ gia tăng độ cứng từ lóng  
thứ nhất đến lóng thứ tư giúp hạn chế đổ ngã.  
MTL547 (79,1 hạt) cao hơn MTL 612 (75,5 hạt)  
và nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 cho hiệu quả  
số hạt/bông cao nhất (90,2 hạt). Theo Jones  
(2003) Ca tác động đến kỳ giữa trong quá trình  
phân chia tế bào, kéo dài ống phấn và giúp hạt  
phấn nẩy mầm, đồng thời làm cho ống phấn  
trương phồng lên giúp cho sự di chuyển của hạt  
phấn đến tế bào cái dễ dàng hơn. Đồng thời, trong  
quá trình sinh trưởng và phát triển, khi cây lúa hút  
nhiều Si thì sẽ làm lá lúa thẳng đứng (Yoshida &  
cs., 1969). Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho số  
hạt/bông cao. Ngoài ra, có sự tương tác về số  
hạt/bông giữa hai giống và nồng độ CaO kết hợp  
SiO2 ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Khi xử lý ở  
nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 trên giống  
MTL547 đạt số hạt/bông cao nhất 95,9 hạt (Bảng  
6).  
3.3 Thành phần năng suất và năng suất thực tế  
3.3.1 Số bông/chậu  
Qua kết quả thí nghiệm cho thấy đặc tính giống và  
nồng độ CaO, SiO2 không ảnh hưởng đến số  
bông/chậu. Trong đó, số bông/chậu của hai giống  
MTL612 và MTL547 lần lượt là 15,3 và 15,7  
bông, nồng độ CaO kết hợp SiO2 đạt số  
bông/chậu dao động từ 15,3-15,8 bông (Bảng 1).  
3.3.2 Số hạt/bông  
Số hạt/bông của hai giống và giữa các nồng độ  
CaO kết hợp SiO2 có sự khác biệt thống kê ở mức  
ý nghĩa 1%. Trong đó, số hạt/bông của giống  
Bảng 6. Số hạt/bông của hai giống lúa theo nồng độ CaO kết hợp SiO2 (g/l) ở thời điểm thu hoạch  
Giống (A)  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
Trung bình (B)  
MTL 612  
69,6 e  
72,5 d  
84,5 b  
75,5 b  
MTL 547  
64,1 f  
77,5 c  
95,9 a  
79,2 a  
0
66,9 c  
75,0 b  
90,2 a  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
34  
Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 30 - 37  
Trường Đại học An Giang  
F(A)  
F(B)  
F(A*B)  
CV (%)  
**  
**  
**  
2,0  
**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%  
3.3.3 Tỉ lệ hạt chắc  
biệt ý nghĩa thống kê giữa giống và nồng độ CaO  
kết hợp SiO2. Khi xử lý ở nồng độ 2 g/l CaO+0,5  
g/l SiO2 với giống MTL547 thì tỉ lệ hạt chắc đạt  
cao nhất.  
Tương tự, Bảng 7 cho thấy tỉ lệ hạt chắc của  
giống MTL547 (74,9%) cao hơn giống MTL612  
(72,5%) là nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 đạt tỉ  
lệ hạt chắc cao nhất (83,2%). Ngoài ra, có sự khác  
Bảng 7. Tỉ lệ hạt chắc (%) của hai giống lúa theo nồng độ CaO kết hợp SiO2 (g/l) ở thời điểm thu hoạch  
Giống (A)  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
Trung bình (B)  
MTL 612  
66,0 e  
71,9 d  
79,7 b  
72,5 b  
**  
MTL 547  
61,0 f  
76,8 c  
86,8 a  
74,9 a  
0
63,5 c  
74,4 b  
83,3 a  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
F(A)  
F(B)  
**  
F(A*B)  
**  
CV (%)  
2,5  
**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%.  
3.3.4 Trọng lượng 1.000 hạt  
kiện môi trường và có hệ số di truyền cao. Bên  
cạnh đó, nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 đạt trọng  
lượng 1.000 hạt cao nhất (30,3 g), kế đến là 0,4  
g/l CaO+0,1 g/l SiO2 (26,4 g) và thấp nhất là đối  
chứng (22,4 g). Ngoài ra, giữa hai giống và nồng  
độ CaO kết hợp SiO2 có sự tương tác đến trọng  
lượng 1.000 hạt ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Khi  
so sánh giữa hai giống thì trọng lượng 1.000 hạt  
của giống MTL547 được xử lý với nồng độ 2 g/l  
CaO+0,5 g/l SiO2 đạt hiệu quả cao nhất (31,9 g).  
Trọng lượng 1.000 hạt của hai giống và giữa các  
nồng độ CaO kết hợp SiO2 có sự khác biệt ở mức  
ý nghĩa 1% (Bảng 8). Trong đó, giống MTL547  
(26,8 g) cao hơn MTL612 (25,9 g), sự khác biệt  
này chủ yếu do trọng lượng 1.000 hạt là đặc tính  
ổn định của giống vì kích thước hạt bị kiểm tra  
chặt chẽ bởi kích thước vỏ trấu (Yoshida, 1981).  
Theo Nguyễn Đình Giao và cs. (1997), đặc tính  
trọng lượng 1.000 hạt ít chịu tác động của điều  
Bảng 8. Trọng lượng 1.000 hạt (g) của hai giống lúa theo nồng độ CaO kết hợp SiO2 (g/l) ở thời điểm thu hoạch  
Giống (A)  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
Trung bình (B)  
MTL 612  
23,5 e  
25,5 d  
28,7 b  
25,9 b  
**  
MTL 547  
21,2 f  
27,3 c  
31,9 a  
26,8 a  
0
22,4 c  
26,4 b  
30,3 a  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
F(A)  
F(B)  
**  
F(A*B)  
**  
CV (%)  
2,6  
**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%.  
3.3.5 Năng suất thực tế  
MTL547. Khi xử lý ở nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l  
SiO2 đạt năng suất thực tế cao nhất (29,3 g/chậu),  
tăng hơn 24,7 % (gấp 1,25 lần) so với đối chứng.  
Như vậy, việc bổ sung CaO kết hợp SiO2 cho thấy  
đã giúp gia tăng năng suất lúa hơn so với đối  
Kết quả Bảng 9 cho thấy năng suất thực tế của  
giống MTL547 (26,7 g/chậu) cao hơn giống  
MTL612 (26,1 g/chậu), do giống MTL612 có số  
hạt/bông và tỉ lệ hạt chắc thấp hơn giống  
35  
Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 30 - 37  
Trường Đại học An Giang  
chứng. Bổ sung Ca giúp gia tăng độ cứng cây,  
tránh đổ ngã hơn so với đối chứng từ đó giúp gia  
tăng năng suất lúa. Bên cạnh đó, khi bổ sung Ca  
có xu hướng đẩy mạnh hoạt động của Rubisco từ  
đó góp phần làm gia tăng năng suất lúa (Sung &  
Lo, 1990). Ngoài ra, Si cũng giúp tăng năng suất  
và số bông trên các nghiệm thức có xử lý Si so  
với nghiệm thức đối chứng (Kim & cs., 2012).  
Savant và cs. (1997) cho rằng sử dụng Si giúp gia  
tăng năng suất lúa từ 10-30%. Bên cạnh đó, giữa  
hai giống và nồng độ CaO kết hợp SiO2 có sự  
tương tác về năng suất thực tế ở mức ý nghĩa 1%.  
So sánh giữa hai giống thì năng suất thực tế cao  
nhất ở giống MTL547 khi xử lý với nồng độ 2 g/l  
CaO+0,5 g/l SiO2 (30,1 g/chậu).  
Bảng 9. Năng suất thực tế (g/chậu) của hai giống lúa theo nồng độ CaO kết hợp SiO2 (g/l) ở thời điểm thu hoạch  
Giống (A)  
Nồng độ CaO, SiO2 (g/l) (B)  
Trung bình (B)  
MTL 612  
24,1 e  
25,8 d  
28,5 b  
26,1 b  
**  
MTL547  
23,0 f  
27,3 c  
30,1 a  
26,8 a  
0
23,5 c  
26,6 b  
29,3 a  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
F(A)  
F(B)  
**  
F(A*B)  
**  
CV (%)  
1,5  
**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%  
3.3.6 Chỉ số thu hoạch (HI)  
lý ở nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 trên giống  
MTL547 đạt cao nhất (0,53). Gia tăng chỉ số thu  
hoạch làm cho cây lúa ít rơm rạ hơn hoặc các  
phần không quang hợp ít hơn, chiều cao cây giảm,  
giúp cây kháng đổ ngã (DeDatta, 1981).  
Bảng 10 cho thấy chỉ số HI của giống MTL547  
(0,42) cao hơn giống MTL612 (0,39) và nồng độ  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 cho chỉ số HI đạt cao nhất  
(0,5). Ngoài ra, kết quả cho thấy nghiệm thức xử  
Bảng 10. Chỉ số thu hoạch (HI) của hai giống lúa theo nồng độ CaO kết hợp SiO2 (g/l) ở thời điểm thu hoạch  
Giống (A)  
Nồng độ (CaO, SiO2) (g/l) (B)  
Trung bình (B)  
MTL 612  
0,34 e  
0,38 d  
0,46 b  
0,39 b  
**  
MTL 547  
0,30 f  
0,42 c  
0,53 a  
0,42 a  
0
0,32 c  
0,40 b  
0,50 a  
0,4 g/l CaO+0,1 g/l SiO2  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2  
Trung bình (A)  
F(A)  
F(B)  
**  
F(A*B)  
**  
CV (%)  
2,5  
**: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%.  
4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
4.1 Kết luận  
DeDatta, S.K. (1981). Principles and practices of rice  
production. New York: John Wiley.  
Epstein & Bloom. (2003). Mineral Nutrition of plant:  
principles and perspectives. (2nd ed.). New York:  
John Wiley & Sons.  
Heldt, H.W. (1999). Plant biochemistry and molecular  
biology. (2nd ed.). New York: Oxford University  
Press Inc.  
Nồng độ 2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 xử lý trên giống  
MTL547 đạt hiệu quả cao về độ cứng của lóng  
thứ nhất đến lóng thứ tư, các thành phần năng suất  
(trừ số bông/chậu), năng suất thực tế (30,1 g/chậu)  
và chỉ số HI.  
4.2 Khuyến nghị  
Jones, B.J.J.R. (2003). Plant Mineral Nutrition, In:  
Agronomic Handbook-Managerment of Crops,  
Soils and Their Fertility, CRC press, Washington,  
D. C. USA, 291-334.  
Nên thực hiện thí nghiệm ngoài đồng với nồng độ  
2 g/l CaO+0,5 g/l SiO2 trên giống MTL547 để  
kiểm tra tính chính xác của thí nghiệm.  
36  
Tạp chí Khoa học – 2014, Quyển 3 (2), 30 - 37  
Trường Đại học An Giang  
Kim, Y.H., Khan, A.L., Shinwari, Z.K., Kim, D.H.,  
Waqas, M., Kamran, M. & Lee, I.J. (2012). Silicon  
Treatment to rice (Oryza sativa L. cv  
‘GOPUMBYEO’) plants during different growth  
periods and its effects on growth and grain yield.  
Pak. J. Bot., 44(3), 891-897.  
Lê Xuân Thái., Huỳnh Nguyệt Ánh., & Phạm Thị Phấn  
(2011). Kết quả chọn lọc giống lúa mới kháng rầy  
nâu vụ Đông Xuân 2009-2010 và Hè Thu 2010.  
Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 19a,  
222-232.  
Stevens, G., Wrather A., Moylan C., & Sheckel A.  
(2001). Effects of Potash on Baldo, Lagrue and  
Bengal Rice. Information from 2000 Missouri Rice  
Research Update, February 2001.  
Savant, N.K., Snyder G.H. & Datnoff L.E. (1997).  
Silicon management and sustainable rice  
production. Adv. Agron., 58, 151-199.  
Sung F. J. M. & Lo W. S. (1990) Growth responses of  
rice in ammonium-based nutrient solution with  
variable calcium supply. Plant and Soil, 125 (2),  
239-244  
Nguyễn Đình Giao., Nguyễn Thiện Huyên., Nguyễn  
Hữu Tề., & Hà Công Vương. (1997). Giáo trình  
Cây lương thực (tập 1-Cây lúa). Hà Nội: Nhà xuất  
bản Nông nghiệp.  
Nguyễn Minh Chơn. (2007). Hạn chế đổ ngã cho cây  
lúa. Kỷ yếu hội thảo khoa học. Hội thảo phát triển  
bền vững Đồng bằng sông Cửu Long sau khi Việt  
Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO):  
342-350.  
White, F.J.V. & Martin R.B. (2003). Calcium in plant.  
Annals of Botany, 92, 487-511.  
Yoshida, S. (1965). Chemical aspects of the role of  
silicon in physiology of the rice plant. Bulletin of  
the National Institute Agricultural Science Series B,  
15, 1-58.  
Yoshida, S. (1981). Fundamental of rice crop science.  
International Rice Research Institute. Philippines:  
Los Banos, Laguna.  
Nguyễn Quốc Lý & Bùi Ngọc Tuyển (2011). Kết quả  
khảo nghiệm giống lúa ngắn ngày tại các tỉnh Nam  
Bộ vụ Hè Thu 2010. Trung tâm KKN Giống, Sản  
phẩm cây trồng Nam Bộ. Diễn đàn khuyến nông @  
Nông nghiệp lần thứ 5-2011 chuyên đề sản xuất và  
cung ứng lúa giống các tỉnh phía Nam. Hồ Chí  
Minh: Nhà xuất bản Nông Nghiệp.  
Raven J.A. (2003). Cycling silicon—the role of  
accumulation in plants. New Phytol, 158, 419–430.  
Savant, N.K., Snyder G.H. & Datnoff L.E. (1997).  
Silicon management and sustainable rice  
production. Adv. Agron., 58, 151-199.  
Yoshida, S., Navasero S.A., & Ramirez E.A. (1969).  
Effects of silica and nitrogen supply on some leaf  
characters of the rice plant. Plant Soil, 31, 48-56.  
Yoshinaga, S. (2005). Improved Lodging Resistance in  
Rice (Oryza sativa L.) Cultivated by Submerged  
Direct Seeding Using a Newly Developed Hill  
Seeder. Department of Paddy Farming, National  
Agriculture Research Center for Tohoku Region  
(Daisen, Akita 012-0104, Janpan). JARQ, 39 (3),  
147-152.  
37  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 13760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của CaO, SiO2 lên sinh trưởng, độ cứng cây và năng suất của hai giống lúa MTL612 và MTL547", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_cao_sio2_len_sinh_truong_do_cung_cay_va_nang_s.pdf