Đào tạo nhân lực du lịch ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH Ở VIỆT NAM - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ  
LUẬN VÀ THỰC TIỄN  
DƯƠNG VĂN SÁU  
1. Nhân lực du lịch – sản phẩm văn hóa, sản phẩm du lịch đặc biệt Trong xã hội  
hiện đại, nhân lực [human resources; manpower] là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát  
triển của đất nước, bởi nhân lực chính là nguồn lực chủ đạo của xã hội. Theo Đại Từ điển  
tiếng Việt: “Nhân lực là sức người dùng trong sản xuất”1. Nhân lực là nguồn lực lao động  
hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội trên một địa bàn nhất định,  
trong những khoảng thời gian nhất định. Do có vai trò, vị trí quan trọng như vậy nên nhân  
lực luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào trong đó có các  
doanh nghiệp du lịch. Là ngành kinh tế dịch vụ mang tính tổng hợp cao, đối tượng chính  
của du lịch là du khách; du khách trong quá trình đi du lịch sẽ tiêu dùng các sản phẩm du  
lịch. Sản phẩm du lịch sẽ quyết định kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong  
ngành du lịch. Muốn vậy, phải đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đủ các yêu cầu, điều kiện  
đặt ra từ thực tế. Đào tạo nguồn nhân lực trong du lịch cũng là đào tạo ra những người  
biết tạo ra các sản phẩm du lịch đặc sắc để đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu khác nhau  
của du khách; có như vậy, du lịch mới phát triển bền vững. Như vậy, trước hết cần phải  
hiểu sản phẩm du lịch là gì? Theo Luật Du lịch, “sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ  
cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”2. Trong quá  
trình du lịch, không chỉ đòi hỏi được thỏa mãn những nhu cầu sinh học, du khách còn  
mong muốn được thỏa mãn các nhu cầu văn hóa ngày càng cao. Những nhu cầu này phụ  
thuộc nhiều vào các yếu tố chủng tộc, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, vị trí xã hội, sức  
khỏe, khả năng tài chính và các yếu tố tâm sinh lý khác… Do vậy, để thỏa mãn nhu cầu  
ngày càng cao của du khách, các sản phẩm du lịch đòi hỏi phải đạt được nhiều tiêu chí  
hết sức cơ bản. Là một ngành kinh tế tổng hợp mang bản chất và nội dung văn hóa sâu  
sắc; trên cơ sở, nền tảng văn hóa dân tộc - vùng miền, hoạt động Du lịch luôn đem đến  
cho du khách những sản phẩm chứa đựng các giá trị nhân văn đặc sắc mang sắc thái bản  
địa, đó chính là những sản phẩm du lịch. Từ thực tế hoạt động du lịch, cho thấy: Sản  
phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do  
các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những nhu cầu của các  
đối tượng du khách khác nhau. Sản phẩm du lịch phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp  
theo thông lệ quốc tế đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa, đáp  
ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa  
phương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch. Sản phẩm du lịch trước hết  
là một loại hàng hóa nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt, nó cũng cần có quá trình  
nghiên cứu, đầu tư, có người sản xuất, có người tiêu dùng... như lực du lịch là nguồn  
nhân lực hoạt động trong ngành du lịch trên một địa bàn cụ thể trong những khoảng thời  
gian nhất định. Muốn có nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao, cần phải xem xét,  
đánh giá việc đào tạo nguồn nhân lực này một cách khoa học. Như vậy, xét về bản chất,  
nhân lực du lịch chính là một “sản phẩm văn hóa” - “sản phẩm du lịch” đặc biệt, “sản  
phẩm” này sẽ giữ vai trò quyết định đến việc hình thành các sản phẩm du lịch khác.  
2. Những thành tố của nhân lực du lịch ở Việt Nam  
Cũng như bất kỳ một ngành kinh tế nào khác, kinh tế du lịch cũng bao gồm hai  
nguồn nhân lực chính, đó là nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp và nguồn nhân lực hoạt  
động gián tiếp trong ngành du lịch. Trong đó nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp giữ vai  
trò quyết định sự thành công của ngành kinh tế quan trọng này. Nguồn nhân lực trực tiếp  
hoạt động trong ngành du lịch, bao gồm:  
- Những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch. Đây là đối  
tượng đầu tiên phải kể đến trong kinh tế du lịch của một đất nước đang chuyển hướng  
trên bước đường xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự  
quản lý của nhà nước. Nguồn nhân lực này làm việc trong các cơ quan chuyên ngành của  
Chính phủ, các Bộ, ngành của Trung ương và địa phương. Trước hết phải kể đến các cán  
bộ chuyên môn thuộc Bộ Văn hóa ,Thể thao và Du lịch. Các cá nhân và tập thể làm việc  
tại Tổng cục Du lịch, các bộ phận chuyên trách thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch ở  
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.  
- Những người trực tiếp đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho ngành du lịch. Đây là  
một bộ phận đông đảo trong các trường đại học, cao đẳng, trung học nghề của ngành Du  
lịch, các khoa Du lịch trong hệ thống các trường Đại học và cao đẳng, trung học chuyên  
nghiệp trên toàn quốc. Với nhiều qui mô và cấp độ đào tạo khác nhau, các cơ sở đào tạo  
đang là cơ sở đầu tiên đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực đa dạng, chất lượng cao cho  
kinh tế du lịch của đất nước.  
-Những người làm việc trực tiếp trong ngành du lịch: bao gồm toàn bộ cán bộ công  
nhân viên ở tất cả các bộ phận khác nhau nằm trong các công ty du lịch, các hãng lữ  
hành, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên toàn quốc. Những người trực tiếp kinh  
doanh du lịch ở các vị trí khác nhau của ngành kinh tế trọng điểm này của đất nước. Toàn  
bộ những người làm việc ở các vị trí khác nhau trong 5 lĩnh vực kinh doanh du lịch là  
những người lao động trực tiếp, bao gồm: Những người làm việc trong các doanh nghiệp  
Kinh doanh lữ hành. Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh lưu trú.  
Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh vận chuyển khách du lịch.  
Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh các dịch vụ bổ trợ. Những  
người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh khu du lịch, đô thị du lịch.  
Trong mỗi một lĩnh vực, lại có rất nhiều các vị trí khác nhau với các nhiệm vụ và  
chức năng khác nhau. Tất cả những cá nhân đó được tổ chức, sắp xếp, biên chế thành  
những bộ phận với cơ cấu khác nhau… Đó là những người trực tiếp làm việc trong ngành  
du lịch. Trong nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp lại hình thành đội ngũ lao động chuyên  
nghiệp và đội ngũ lao động thời vụ. Đội ngũ lao động thời vụ trong ngành du lịch thường  
xuất hiện ở những nơi có hoạt động du lịch diễn ra không thường xuyên. Ví dụ như ở các  
bãi biển phía Bắc nước ta, do điều kiện thời tiết chi phối nên hầu như các hoạt động du  
lịch biển thường chỉ diễn ra trong các tháng mùa hè. Vào thời điểm này, tại các khu du  
lịch biển như Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò… du khách đổ về rất đông, chủ yếu là khách nội  
địa. Các nhà nghỉ, khách sạn hoạt động hết công xuất và phải thuê nhân công thời vụ để  
tham gia vào những công việc phục vụ khách tại các khách sạn, nhà hàng… Ngoài những  
người hoạt động trực tiếp, nguồn nhân lực hoạt động gián tiếp trong ngành du lịch bao  
gồm:  
- Những người làm các công việc khác nhau tại các tuyến điểm du lịch. Tại các tuyến  
điểm này, để phục vụ hoạt động du lịch có rất nhiều các công việc khác nhau đòi hỏi  
nhiều người làm việc trong các dịch vụ có liên quan đến hoạt động du lịch: từ các nhân  
viên bảo vệ, những người bán và kiểm soát vé, những người cung ứng các dịch vụ lưu  
niệm, dịch vụ ẩm thực, nghỉ ngơi, giải trí, lưu trú ngắn… đến những người làm công tác  
điều phối và quản lý giao thông, vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rác thải.v.v…  
- Những cá nhân và tổ chức làm công tác nghiên cứu ở các hình thái và cấp độ khác  
nhau mà nội dung và kết quả nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến ngành  
du lịch: các Viện nghiên cứu phát triển du lịch; các cơ quan kiến trúc, qui hoạch, đầu tư...  
-Những người hoạt động trong các lĩnh vực thông tin – truyền thông bao gồm các cơ  
quan báo chí, đài phát thanh, truyền hình, các nhà xuất bản… mà nội dung thông tin đăng  
tải do họ cung cấp có liên quan, phục vụ hoạt động du lịch.  
- Những người làm ở các khâu công việc mà có liên quan đến việc xuất nhập cảnh  
của du khách: các cơ quan ngoại giao, các nhân viên tại các cửa khẩu, các nhân viên an  
ninh, biên phòng, hải quan, thuế vụ, kiểm dịch.v.v… Tất cả nguồn nhân lực du lịch hoạt  
động trực tiếp hoặc gián tiếp đều cần phải được đào tạo với các cấp độ và yêu cầu khác  
nhau. Việc đào tạo đóng vai trò quyết định sự phát triển của ngành kinh tế dịch vụ đặc  
biệt quan trọng này.  
3. Đặc điểm và yêu cầu của nhân lực du lịch ở Việt Nam Là một quốc gia đang  
phát triển, nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam cũng nằm trong tình trạng chung, mang  
những đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam: trẻ, thiếu và yếu; tính chuyên nghiệp  
chưa cao, thiếu tính đồng bộ. Nhiều người, nhiều công việc thiếu những tiền lệ và sự trải  
nghiệm, đang trong quá trình tìm tòi, tiếp cận để học hỏi, bổ sung, hoàn thiện mình.  
- Đặc điểm về giới tính, tuổi tác, sức khỏe: một số lĩnh vực phù hợp với nam giới  
(hướng dẫn viên suốt tuyến…), một số lĩnh vực lại phù hợp với nữ giới (cung cấp các  
dịch vụ bổ sung…). Hầu hết đòi hỏi sức khỏe, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và  
ngoại ngữ nên cần những người trẻ tuổi, xông xáo nhưng trong công việc cũng luôn đòi  
hỏi người lao động phải có kinh nghiệm thực tế.  
- Đặc thù công việc: Du lịch là hoạt động mang tính động rất cao, luôn biến đổi và  
phát triển không ngừng. Nội dung công việc liên quan đến nhiều đối tượng, thành phần  
khác nhau. Kết quả công việc luôn chịu sự tác động của hiệu quả tài chính, tiền bạc trong  
kinh doanh nên thường xuất hiện tính thực tế, thực dụng cao. Điều đó cũng chi phối phần  
nào các mối quan hệ trong ngành giữa các cá nhân và tổ chức với nhau.  
-Tính liên ngành, liên vùng cao đòi hỏi sự phối kết hợp cao, sâu và rộng mang tính  
đồng bộ… giữa nhiều cơ quan, ban ngành, các cá nhân và tổ chức; giữa các địa phương  
vùng miền; giữa các quốc gia trong khu vực và quốc tế.  
-Tính tổng hợp, kế thừa cao những kết quả thành tựu, kinh nghiệm của những người  
đi trước, của những hoạt động kinh doanh đã và đang hoàn thành. Trong kinh doanh du  
lịch, đôi khi xuất hiện tình trạng “hớt váng” khi thời cơ và điều kiện cho phép.  
-Tính luân chuyển nhanh chóng, kịp thời: sự luân chuyển vị trí, nhiệm vụ;  
luân chuyển địa bàn, hình thức hoạt động. Ví dụ, các sinh viên, những người làm  
trong các ngành văn hóa – ngoại ngữ, sư phạm đang nhiều người có xu hướng  
chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Những người đã kinh qua thời  
gian làm Hướng dẫn viên có thể chuyển vào vị trí người điều hành du lịch... Điều  
đó dẫn đến yêu cầu chuyển đổi, cập nhật bổ sung, hoàn thiện và nâng cao kiến  
thức phải được tiến hành thường xuyên, liên tục.  
-Tính linh hoạt, thích ứng cao đòi hỏi sự tích cực, chủ động, nhạy bén, sáng tạo…  
của người làm du lịch nhưng phải luôn tuân thủ luật pháp trên tinh thần “thượng tôn pháp  
luật” đồng thời lại phải phù hợp với những thông lệ trong nước và quốc tế, lề luật của các  
địa phương, vùng miền.  
-Tính chuyên biệt, chuyên nghiệp trong một số lĩnh vực cao đòi hỏi tính chính xác,  
cụ thể, khách quan, khoa học. Ví dụ, các nhân viên điều hành du lịch phải đảm bảo tính  
chính xác nhưng linh hoạt, thích ứng cao và luôn bám sát thực tế. Các Hướng dẫn viên  
phải luôn bình tĩnh, sáng suốt, quyết đoán nhưng phải thể hiện sự vui vẻ, hòa nhã… Hoạt  
động du lịch luôn đòi hỏi và đặt ra yêu cầu ngày càng cao cả về số và chất lượng nguồn  
nhân lực du lịch, đáp ứng các vị trí khác nhau (trực tiếp hay gián tiếp) trong ngành du  
lịch. Những yêu cầu luôn cụ thể, sát thực cả về nội dung và hình thức. Ví dụ cụ thể, với  
Hướng dẫn viên du lịch, cần có “hai nội và ba ngoại”. “Hai nội”, gồm: nội dung (nắm  
chắc kiến thức chuyên môn); nội tình (nắm chắc diễn biến tình hình công việc cụ thể).  
“Ba ngoại”, gồm: ngoại hình (có sức khỏe, hình thức đẹp, trang phục, trang thiết bị phù  
hợp, hiệu quả…); ngoại ngữ (sử dụng hiệu quả ngôn ngữ đối với các đối tượng khách  
khác nhau); “ngoại tình” (có tình cảm, thân thiện với người ngoài (tức du khách) - tình  
cảm đúng đắn với du khách).v.v…  
4. Những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam  
hiện nay  
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định thành công, hiệu quả của bất cứ một ngành kinh  
tế nào. Trong kinh tế du lịch, để hình thành nguồn nhân lực du lịch có chất lượng, hiệu  
quả phải làm tốt 3 khâu: đào tạo – tuyển chọn  
– sử dụng đúng mục đích và cách thức. Vấn đề đầu tiên của kinh tế du lịch  
chính là tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc có sức thu hút, hấp dẫn cao đối  
với du khách. Bất cứ một sản phẩm du lịch nào cũng phải là một sản phẩm văn  
hóa cao. Để có được điều này, trước tiên phải có nhân lực du lịch tốt. Muốn có  
được nguồn nhân lực du lịch tốt cần phải có cơ chế chính sách, đường lối phát  
triển. Nhân lực trước hết chịu sự tác động, điều phối của đường lối chính sách  
phát triển. Bên cạnh đó vấn đề đào tạo và đào tạo lại là công việc thường xuyên  
của bất cứ một doanh nghiệp nào. Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp  
cũng là quá trình quản lý, khai thác, sử dụng nguồn nhân lực đi đôi với việc đánh  
giá, thẩm định khen thưởng và sử lý, khắc phục hạn chế nảy sinh trong hoạt  
động tại doanh nghiệp. Việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam hiện nay  
được diễn ra bằng những hình thức sau đây: Đào tạo gián tiếp &Đào tạo  
trực tiếp. Đào tạo gián tiếp thông qua công tác tuyên truyền, quảng bá qua các  
chương trình thông tin truyền thông của các cơ quan thông tin đại chúng. Xuất  
bản và cung cấp các ấn phẩm dưới nhiều hình thức khác nhau, các chương trình  
phát thanh truyền hình để cung cấp phổ biến kiến thức, tuyên truyền đường lối  
chính sách, pháp luật, nâng cao nhận thức chuyên môn nghiệp vụ; gợi ý và định  
hướng ý tưởng kinh doanh… Đào tạo trực tiếp nguồn nhân lực du lịch tại các cơ  
sở đào tạo nghề và việc đào tạo lại, đào tạo bổ sung tại các doanh nghiệp trong  
ngành du lịch với nhiều hình thức khác nhau như tổ chức các khóa đào tạo ngắn  
hạn và dài hạn, các lớp tập huấn, bồi dưỡng, bổ túc và cập nhật kiến thức, kỹ  
năng chuyên môn. Năm 2008, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào  
tạo kết hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Lao động thương binh và  
xã hội đã tổ chức Hội thảo quốc gia Đào tạo Nhân lực ngành du lịch theo nhu  
cầu xã hội. Hội thảo một lần nữa nhấn mạnh đến việc đổi mới và nâng cao chất  
lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt gắn quá trình đào tạo với thực  
tiễn hoạt động của ngành, tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo  
với các doanh nghiệp. Đặc điểm của đào tạo du lịch là đào tạo nghề nên rất cần  
các cơ sở thực hành, thực tế. Các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ đào tạo thường  
rất đắt tiền và nhanh chóng thay đổi khiến cho các cơ sở đào tạo thường khó  
theo kịp sự phát triển của ngành. Dẫn đến tình trạng đào tạo du lịch hiện nay  
đang phổ biến tình trạng “tay không bắt giặc”. Việc phối kết hợp giữa các nhà  
trường với các doanh nghiệp về lý thuyết là rất đúng, rất cần thiết nhưng thực  
hiện trên thực tế không hề dễ dàng bởi các cơ sở vật chất kỹ thuật, con người  
của mỗi một doanh nghiệp là của công việc kinh doanh chứ không dễ dàng để  
cho các cơ sở đào tạo “thử” hay “tập”. Thực tế ở Khoa Văn hóa Du lịch, Trường  
Đại học Văn hóa Hà Nội lấy “Đồng hành cùng doanh nghiệp” luôn là một phương  
châm đúng nhưng không dễ thực hiện. Nếu muốn tăng thực tế, thực hành cho  
sinh viên, học viên lại phải giải bài toán tăng học phí, tăng kinh phí đào tạo –  
một bài toán muôn thủa của toàn xã hội… Ngay trong việc đào tạo, do nhu cầu  
xã hội tăng nhanh dẫn đến qui mô đào tạo được mở rộng nhanh chóng đòi hỏi  
tăng nhanh về số lượng đội ngũ giảng viên. Điều này cũng khiến cho chất lượng  
đội ngũ giảng viên cũng không cao, không đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu của  
thực tế. Nhiều sinh viên giỏi đã không muốn làm công tác giảng dạy, đào tạo do  
thu nhập thấp trong nhà trường. Muốn thu nhập cao phải tham gia kinh doanh  
trong khi khả năng và kinh nghiệm kinh doanh của các nhà trường, các thầy các  
cô thật khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp trong ngành. Chất lượng đào  
tạo cũng phụ thuộc vào chất lượng tuyển sinh. Chất lượng tuyển sinh phụ thuộc  
chất lượng đào tạo phổ thông từ các cấp mầm non, cơ sở… Nguyên nhân làm  
nảy sinh kết quả và nguyên nhân khác đồng thời tạo nên hệ quả rộng rãi, tác  
động lâu dài… Ngành du lịch Việt Nam cũng mới thực sự phát triển trong khoảng  
15 năm trở lại đây nên còn thiếu những chuyên gia đầu ngành, thiếu nhiều nhà  
quản lý, nhà khoa học tầm cỡ. Hệ thống giáo trình, giáo án, tài liệu thiếu, nhiều  
cán bộ giáo viên không muốn xuất bản vì nhuận bút thấp, sự bảo hộ quyền và  
lợi ích tác quyền chưa tốt dẫn đến nhiều người phải lo bảo vệ cái “cần câu cơm”  
cho riêng mình. Hầu hết đội ngũ cán bộ được thuyên chuyển từ các ngành kinh  
tế - văn hóa – xã hội khác sang làm việc trong lĩnh vực du lịch. Nhu cầu xã hội  
tăng nhanh, qui mô đào tạo mở rộng dẫn đến tình trạng cạnh tranh đôi khi thiếu  
lành mạnh làm giảm chất lượng đào tạo chung của toàn ngành. Đội ngũ cán bộ  
giảng dạy, đào tạo cũng bị phân tán bởi thời gian, vị thế trong những cơ sở giáo  
dục trong và ngoài công lập. Tổng hợp tất cả các yếu tố đó khiến cho chất lượng  
đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch chưa đáp ứng và tương xứng với yêu cầu  
phát triển của ngành. Thực tế, trong nền kinh tế thị trường, nền giáo dục đào  
tạo theo hướng đáp ứng các nhu cầu xã hội, thực hiện phương châm chung: đào  
tạo cái mà thị trường cần chứ không phải đào tạo cái mà mình có! Dẫn đến việc  
các cơ sở đào tạo đều phát triển theo hướng đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.  
Chính điều đó khiến cho việc đào tạo chuyên sâu, chuyên nghiệp bị tác động,  
ảnh hưởng. Trong dòng thác ồ ạt của kinh tế thị trường đã cuốn chung trong  
một dòng chảy mà ở đó sắc màu bị pha trộn đến khó nhận ra “mình là ai? cái gì?  
ở đâu?”. Đó là thách thức và yêu cầu đối mặt của tính chuyên nghiệp trong đào  
tạo nguồn nhân lực ngành du lịch ở Việt Nam hiện nay! Từ thực tế nguồn nhân  
lực du lịch hiện nay, để nâng cao chất lượng đào tạo có nhiều việc phải tiến  
hành đồng bộ. Việc xã hội hóa giáo dục là tất yếu nhưng phải dưới sự qui hoạch,  
điều tiết của Nhà nước. Cần qui hoạch lại hệ thống các cơ sở đào tạo trong và  
ngoài công lập. Đẩy mạnh và tăng cường việc theo dõi, đánh giá, thẩm định chất  
lượng giáo dục đào tạo của các cơ sở để nâng cao chất lượng, giảm thiểu việc  
đào tạo “rút kinh nghiệm” bởi những thí điểm, thí nghiệm trong giáo dục đào tạo  
sẽ ảnh hưởng liên đới, lâu dài đến không chỉ một vài thế hệ, và rất khó khắc  
phục, sửa chữa. Nhà nước cần can thiệp thông qua hệ thống luật pháp và cơ chế  
chính sách khoa học, hợp lý để thúc đẩy sự liên minh, gắn kết đồng bộ giữa các  
cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp. Chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất  
lượng cao phải có sự can thiệp của nhà nước và các doanh nghiệp bằng tài chính  
và sự cam kết phục vụ sau khi được đào tạo. Nhà nước và các cơ sở đào tạo nên  
có chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” dụng người hiền tài thỏa đáng thông qua việc  
bảo hộ chặt chẽ quyền và lợi ích của các tác giả, nâng cao nhuận bút cho các  
giáo trình, giáo án bài giảng có chất lượng. Có cơ chế và chính sách thuận lợi,  
cởi mở để các nhà giáo ở các nhà trường dễ dàng, thoải mái “ngồi” với nhau  
trong các diễn đàn đa cấp để thảo luận, chia sẻ và hợp tác… Nâng cao chất  
lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch là vấn đề đầu tiên, chiếm nội dung  
và vị thế cực kỳ quan trọng nhưng là “câu chuyện dài hơi” muôn thủa của không  
chỉ các cơ sở đào tạo, của ngành du lịch mà là của toàn xã hội. Bằng những  
bước đi và biện pháp thích hợp với từng thời đoạn, chất lượng đào tạo nguồn  
nhân lực du lịch ở Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện và nâng cao. Mỗi  
cơ sở đào tạo, mỗi doanh nghiệp trong quá trình phát triển luôn cần phải soi lại  
chính mình, “tắm gội, giặt ủi, sắm sanh” đồ hành của mình, xốc lại tâm thế,  
hành trang, tiếp tục lên đường! Cùng với các cơ sở đào tạo khác, Khoa Văn hóa  
Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đang nỗ lực cố gắng hết sức mình trên  
con đường tiến về phía trước. Đường chúng ta đi là con đường còn lắm chông  
gai, đầy khó khăn, thử thách nhưng là con đường “vô tiền khoáng hậu” – Đường  
đó  
là  
ĐƯỜNG  
TỚI  
NGÀY  
VINH  
QUANG!  
DVS  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 17120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đào tạo nhân lực du lịch ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdao_tao_nhan_luc_du_lich_o_viet_nam_nhung_van_de_ly_luan_va.pdf