Kiều Thanh Quế vớ ba mươi năm Văn học

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258)2020  
95  
KIỀU THANH QUẾ VỚ              
BA MƯƠI NĂM VĂN HỌC  
ĐỖ THỊ THU HUYỀN*  
Trong tiến trình phát triển và hiện đại hóa văn học Nam Bộ những năm đầu thế  
kỷ XX, Kiều Thanh Quế là một trường hợp đặc biệt với vị trí đáng kể. Bài viết chỉ  
ra một số đặc điểm của công trình Ba mươi năm văn học để thấy được đóng  
góp của ông trong việc “tính sổ văn học”, thấy được phong cách phê bình cũng  
như vai trò của công trình trong diện mạo văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX.  
Từ khóa: Kiều Thanh Quế, Ba mươi năm văn học, văn học Nam Bộ  
Nhận bài ngày: 9/10/2019; đưa vào biên tập: 13/10/2019; phản biện: 20/11/2019;  
duyệt đăng: 12/2/2020  
Kiều Thanh Quế (1914 - 1948), còn có trình của Kiều Thanh Quế có thể kể  
các bút danh Mộc Khuê, Quế Lang,  
đến: Hai mươi tuổi (tiểu thuyết, 1940),  
Tô Kiều Phương, Nguyễn Văn Hai. Đứa con của tội ác (truyện ngắn,  
Ông là một trong những nhà văn, dịch  
giả, nhà phê bình có công đầu gây  
dựng nền văn học hiện đại Việt Nam  
giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX với chủ  
trương và phương pháp rõ ràng.  
1941), Ba mươi năm văn học (phê  
bình, 1941), Phê bình văn học (1942),  
Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam  
(1943), Đàn bà và nhà văn (1943),  
Học thuyết Frued (khảo luận, 1943),  
Thi hào Tagore (khảo luận, 1943), Một  
ngày của Tolstoi (khảo luận), Vũ  
Trọng Phụng và chủ nghĩa tả thiệt xã  
hội (1945)…  
Kiều Thanh Quế được ghi nhận là  
“Nhà phê bình văn học hiếm có của  
Nam Bộ” (Hoài Anh, 2001: 923-939),  
“Kiều Thanh Quế có thể coi như nhà  
phê bình văn học chuyên nghiệp duy  
nhất của văn học Nam Bộ” (Đoàn Lê  
Giang, 2006: 3-15)... Với kiến văn  
phong phú về văn học sử, bút lực dồi  
dào, Kiều Thanh Quế đã để lại một  
lượng tác phẩm đồ sộ và phong phú  
các thể loại như tiểu thuyết, truyện  
ngắn, truyện ký; viết nghiên cứu, phê  
bình, biên khảo, trao đổi, đọc sách,  
điểm sách, dịch thuật… Các công  
Ba mươi năm văn học (1941) là cuốn  
sách thể hiện được sự bao quát nhiều  
thể loại văn học, kiểm kê tính sổ văn  
học với lối phê bình hiện đại, đưa đến  
một cái nhìn hệ thống về các vấn đề  
văn học sử trong một khoảng thời  
gian dài.  
Qua Ba mươi năm văn học cho thấy  
sự đóng góp to lớn của Kiều Thanh  
Quế, trong việc “tính sổ văn học” -  
thống kê văn học quốc ngữ trong vòng  
ba mươi năm (1914 - 1941), qua đó  
* Viện Văn học.  
ĐỖ THỊ THU HUYỀN – KIỀU THANH QUẾ VỚI CHUYÊN KHẢO…  
96  
cho thấy diện mạo văn học Nam Bộ Mặc Tử... Và ông cũng không quên  
đầu thế kỷ XX.  
gọi tên nhiều thi sĩ tuy chưa có tác  
phẩm ra đời, nhưng tài năng đã phát  
huy rõ rệt trên báo chí: J-Leiba Thanh  
Tùng Tử, Tchya, Thái Can, Thâm Tâm,  
Trần Huyền Trân...  
Công việc kiểm kê để tính sổ văn  
học  
Trong “Lời nói đầu”, Kiều Thanh Quế  
định danh công việc được thực hiện  
trong sách: “Công việc chúng tôi hôm  
nay ở đây chỉ là công việc „tính sổ văn  
học‟ – một công việc mà Trương Tửu  
đã có lần thi hành trong Mùa gặt mới  
số 2 ra năm 1941 và cũng là công việc  
chúng tôi đã thử phác qua trên Đông  
Dương tuần báo ở Sài Gòn hồi tháng  
Avril 1940.  
Với báo chí, ông cụ thể hóa bằng  
cách phân chia khu vực: “Ở Bắc Hà,  
sau khi hai tờ Ngày nay và Chủ Nhật  
nối gót Phong Hóa từ trần, bên cạnh  
Tiểu thuyết thứ Bảy, có lẽ Trung Bắc  
Chủ nhật là tờ báo chạy nhứt. Người  
ta đồn, Đào Trinh Nhất là nhà viết báo  
đi đến đâu gây dựng đến đó, gẫm thật  
không sai!; Ở Nam Kỳ, khi tờ Mai của  
Đào Quân lịm rồi, tờ Văn Lang, cơ  
quan của một nhóm bác sĩ cũng chết  
theo...; Ở Trung Kỳ, ngoài tờ Tiếng  
Dân danh tiếng, còn đếm được: Tràng  
An, Sông Hương, Đất Việt, Bạn đường,  
hiện chết hầu hết. Thật là buồn!” (Kiều  
Thanh Quế, 2009: 177).  
Tính sổ văn học, đó là công việc của  
những bài báo, lẽ ra không nên cho in  
thành sách. Nhưng thiển nghĩ: sẽ khó  
khăn biết bao nhiêu sau này cho nhà  
văn học sử, nếu ông ta muốn tìm mà  
không ra một bản thống kê văn học  
quốc ngữ trong vòng ba mươi năm  
nay.  
Khi cần thiết, Kiều Thanh Quế không  
chỉ làm công việc kiểm kê, điểm danh  
đội ngũ mà đưa ra những phân tích dù  
gọn ghẽ nhưng cho thấy một cái nhìn  
sắc sảo. Ở phóng sự, ông đánh giá  
cao Vũ Trọng Phụng: “Vũ Trọng  
Phụng khi hãy còn trẻ tuổi đã thành  
danh. Bằng một giọng văn lõi đời, ông  
cho ta biết, các ngón bạc bịp của nghề  
cờ gian bạc lận ở Bắc Kỳ (Cạm bẫy  
người), nghề lấy lính lê dương (Kỹ  
nghệ lấy Tây), nghề làm đĩ (Lục sì ,  
nghề ở mướn (Cơm thầy). Với thiên  
phóng sự sau này, Vũ Trọng Phụng  
đã phải để bộ óc triết nhân, „mặc bộ  
đồ thằng quít‟, „trong khi đi hái tài liệu  
trong cái thế giới con sen, thằng  
Thế nên chúng tôi mạo muội trình bày  
ra đây bản thống kê văn học quốc ngữ  
từ năm 1914 đến 1941” (Kiều Thanh  
Quế, 2009: 174)...  
Và như lời thưa trước của tác giả, ông  
đã “tính sổ” tất cả các thể loại chính  
của ba mươi năm văn học với những  
phân tích, luận bàn, dẫn dụ, điểm  
danh... xác đáng.  
Với thơ ca, Kiều Thanh Quế kiểm kê  
32 tác giả gây chú ý với những tác  
phẩm tiêu biểu, mà trong số đó, hầu  
hết đều là những nhân vật lẫy lừng  
trên văn đàn như Thế Lữ, Lưu Trọng  
Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Anh Thơ, Vũ  
Hoàng Chương, Chế Lan Viên, Hàn  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258)2020  
97  
quít‟... và rằng, „lối phóng sự‟ của tác thuyết cần nhứt là cái duyên kể  
giả Hà Nội lầm than, Đêm sông chuyện: còn nhà soạn kịch lại phải có  
Hương là lối „phóng sự ghi chép‟ khác cái khiếu về lối văn nói chuyện”(1).  
hẳn lối „phóng sự làm vui độc giả‟ của  
Ở thể loại phóng sự, ông dẫn lời một  
Vũ Trọng Phụng” (Kiều Thanh Quế,  
nhà viết báo Pháp trứ danh: “Nếu  
2009: 192)…  
chưa biết bút chiến, chưa phải là nhà  
Cấu trúc phê bình trong Ba mươi  
năm văn học  
viết báo”. Bút chiến tuy có nhiều lối  
nhưng có thể tóm tắt lại hai lối là: bút  
chiến về người là một lối bút chiến dễ  
dàng, còn bút chiến về việc là một lối  
bút chiến mà đến những tay sành sỏi  
về nghề viết báo cũng đều nhận là  
khó” (Kiều Thanh Quế, 2009: 192).  
Xuất phát từ tâm thế hướng tới đáp  
ứng nhu cầu thị hiếu của bạn đọc  
đương thời, tiếp cận những phong  
cách hiện đại thông qua kinh nghiệm  
của văn học phương Tây, những sáng  
tác cũng như dịch, phê bình của Kiều  
Thanh Quế có được vị trí riêng biệt.  
Điểm nổi bật của những bài phê bình  
trong Ba mươi năm văn học chính là ở  
lối kết cấu.  
Kiều Thanh Quế lựa chọn những ý  
kiến, bình luận để làm “đòn bẩy” cho  
những lập luận và dẫn chứng của  
mình khi triển khai bài phê bình. Khi  
viết về thơ ca, ông dẫn ra ý kiến của  
Lưu Trọng Lư trong báo Phụ nữ Tân  
văn năm 1932, và cho đó là sự rụt rè  
dưới một thư danh, viết cổ động cho  
thơ mới: “Cái lối thơ mới của chúng ta  
là đương ở vào cái thời kỳ phôi thai,  
thời kỳ tập luyện và nghiên cứu.  
Không biết rồi đây, nó có đến chỗ  
thành công hay là nửa đường bị đánh  
đổ. Đó là sự bí mật của lịch sử văn  
học mai sau! Dẫu thế nào, nó cũng có  
cái giá trị là giúp cho tự do phát triển  
của thi ca, đưa thi ca đến một chỗ  
cao xa, rộng lớn, nó như thúc giục,  
như khêu gợi, như kêu gọi nhà thi  
nhân ra làm một cuộc canh tân, dầu  
có thất bại, thất bại vì lòng mong ước  
quá cao, thì nó cũng đã hiến cho ta  
một cái công lớn: nó chính là một  
tiếng chuông cảnh tỉnh làng thơ giữa  
lúc đương triền miên trong cõi chết…”  
Nhiều bài viết trong Ba mươi năm văn  
học có cùng một kiểu cấu trúc bài viết,  
ông thường đưa khái niệm, sau đó  
trích những ý kiến kinh điển rồi triển  
khai bằng những minh chứng thuyết  
phục, những tác phẩm có tính đại diện  
và bao quát... Trong bài phê bình về  
kịch bản, ông mở đầu bằng câu hỏi  
“Thế nào gọi là kịch?”, rồi dẫn giải:  
“Kịch, ta có thể coi như là tinh túy của  
văn chương. Tôi thường ví tiểu thuyết  
như một chiếc bánh mà người ta cứ  
dọn nguyên để đãi khách, cả trong lẫn  
ngoài, cả ruột lẫn vỏ. Trái lại, kịch chỉ  
là một lát bánh thôi, nhưng phải chọn  
lựa kỹ lưỡng, phải biết cắt thế nào cho  
khéo léo, để người ta ăn ít mà thấy dư  
vị đậm đà, rồi lại suy nghĩ ra mà hiểu  
rõ sự ngon lành của cả chiếc bánh.  
Đó là hai thể cách khác nhau như thế.  
Đến như về văn chương, nhà tiểu (Kiều Thanh Quế, 2009: 183). Đặc  
ĐỖ THỊ THU HUYỀN – KIỀU THANH QUẾ VỚI CHUYÊN KHẢO…  
98  
biệt, ông thường kết thúc bài viết không thế thì không đem được cả  
bằng những gợi mở với lối diễn đạt tự toàn thần của nguyên văn do thứ tiếng  
nhiên.  
nọ sang thứ tiếng kia cho linh hoạt  
như một được” (Kiều Thanh Quế,  
2009: 205)… Đến phần cuối bài viết,  
ông nhấn mạnh: “Trên kia, đã viết:  
„nước ta sau này hay dở thế nào đều  
nhờ ở sách dịch‟, ở đây, tưởng nên  
chép lại và thêm cho đầy đủ như vầy:  
„Nước ta sau này hay dở thế nào đều  
nhờ ở sách dịch, và sự phiên dịch nó  
là nòng cốt khả dĩ đưa văn học quốc  
ngữ đến cõi hoàn mỹ‟.  
Trong bài Lịch sử, địa chí sau khi ông  
liệt kê: về sách địa chí, không kể các  
sách chữ Hán(2), riêng về sách quốc  
ngữ, chúng tôi được biết mấy bộ  
Sadec nhân vật chí, Vĩnh Long nhân  
vật chí ở Nam Kỳ, nhưng theo thiển ý,  
chưa bộ nào làm đúng phương pháp  
có địa đồ đàng hoàng như hai bộ  
Hưng Yên địa chí, Bắc Giang địa chí  
của ông Nhật Nham Trịnh Như Tấu”  
và: “Nghe đâu hiện Nhật Nham tiên Sách dịch muôn năm!  
sanh còn đang lo viết thêm cuốn Bắc Sự phiên dịch muôn năm!  
Ninh địa chí nữa để làm giàu văn học Văn học quốc ngữ muôn năm” (Kiều  
Thanh Quế, 2009: 207).  
quốc ngữ về kho sách địa chí” (Kiều  
Thanh Quế, 2009: 199)…  
Không chỉ có đặc trưng về cấu trúc,  
phong cách ngôn ngữ trong phê bình  
của ông cũng gây chú ý bởi sự linh  
hoạt, lối viết gọn ghẽ và mạch lạc.  
Bên cạnh lối diễn đạt thẳng, gọn và  
trực diện đề cập đến vấn đề như  
“Làng thơ mới (mới lẫn cũ) của văn  
học quốc ngữ trong vòng mười năm  
nay đếm được...” là những lựa chọn  
lời bình của những nhà nghiên cứu  
phương Tây mà ông lĩnh hội được,  
hầu hết đều rất dễ tiếp nhận. Trong  
thơ ca, “Thơ cũng như mọi sự vật  
khác trong vũ trụ cũng có sanh mạng,  
cũng có lịch sử dinh hư tiêu trưởng  
của nó, cũng phải hiện lịch trình biện  
chứng (processus dialectique) thì có  
lạ gì sự mới cũ phân tranh. Trái trở  
lại, lại còn phải nhận rằng đến một cái  
quá trình kia, thì thơ mới bây giờ sẽ  
già cỗi mà bị mời vào trong viện cổ  
vật học”(3). Trong tiểu thuyết: “Muốn  
Vì là một nhà nghiên cứu tiếp cận  
được với văn học phương Tây, ông  
thể hiện rõ quan điểm về dịch thuật.  
Mở đầu bài viết về dịch thuật là những  
khẳng định về sức mạnh của một nền  
văn học khi có sự tiếp sức của dịch  
thuật: “Nhưng ngày nay, văn học quốc  
ngữ đã phát thạnh, thiết tưởng cần  
phải nói: „nước ta sau này hay dở thế  
nào đều nhờ ở sách dịch‟. Dịch giả tuy  
ý tưởng không bằng tác giả, nhưng  
phải thẩm thấu được chỗ tinh thần  
của nguyên văn, lại phải có văn tài  
tương đương với tác giả mới không  
sai lầm và không đổ mất nguyên văn.  
Dịch sách cũng như vẽ truyền thần,  
bức tranh truyền thần không phải là  
bức ảnh chụp, nhưng hai cái vẫn là  
một. Không những đúng nhau từng  
từng nét mà lại phải đúng nhau cả tinh  
thần dáng điệu nữa, dịch sách mà  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258)2020  
99  
làm mới dân một nước, cần phải văn học sử Việt Nam từ dân gian tới  
hẵng làm mới tiểu thuyết nước ấy. trung đại và đặc biệt quan tâm giai  
đoạn văn chương đầu thế kỷ XX; mở  
rộng khảo sát văn học Việt Nam trong  
mối liên hệ tiếp nhận, ảnh hưởng và  
so sánh với một số hiện tượng văn  
học tiêu biểu thuộc các nước Ấn Độ,  
Nga Xô viết, Pháp, Trung Quốc...  
Cho nên:  
- Muốn mới đạo đức, trước phải mới  
tiểu thuyết.  
- Muốn mới tôn giáo, trước phải mới  
tiểu thuyết.  
- Muốn mới chánh trị, trước phải mới  
tiểu thuyết.  
Ở giai đoạn đó, Kiều Thanh Quế cộng  
tác với báo Mai do Đào Trinh Nhất  
làm chủ bút, đã có những bài phê bình  
thẳng thắn, sắc sảo nhờ kiến văn  
rộng, lối viết linh hoạt, súc tích. Những  
công trình như Phê bình văn học  
(1942), Ba mươi năm văn học (1942),  
Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam  
(1943), Thi hào Tagore (1943)... đã  
- Muốn mới học thuật, trước phải mới  
tiểu thuyết.  
- Cho đến muốn mới dân tâm, trước  
phải mới tiểu thuyết.  
- Muốn mới nhân cách, trước phải  
mới tiểu thuyết.  
Vì sao vậy?  
Vì tiểu thuyết có một sức mạnh chi làm cho Kiều Thanh Quế xứng đáng  
phối người ta”(4).  
có được một vị trí quan trọng trong tư  
cách một nhà phê bình. Ba mươi năm  
Vai trò của Ba mươi năm văn học  
văn học (ký tên Mộc Khuê, 128 trang)  
trong sự nghiệp của Kiều Thanh  
đã phác thảo một diện mạo khá đầy  
đủ sự tiến hóa văn học của nước ta từ  
1914 đến 1941, với 9 mục tương ứng  
với thể loại, thể tài, đề tài: Báo chí -  
Thơ ca - Tiểu thuyết - Phóng sự - Kịch  
bản - Lịch sử, địa chí - Khảo cứu, nghị  
luận - Phê bình - Dịch thuật - và cuối  
cùng là phần Phụ lục (Chuyện buồn  
cười ở làng báo Nam Kỳ ngày xưa).  
Quế và trong phê bình văn học đầu  
thế kỷ XX ở Nam Bộ  
Trong bài viết Kiều Thanh Quế - nhà  
nghiên cứu, phê bình văn học (Kiều  
Thanh Quế, 2009), các tác giả biên  
soạn đã dành sự đánh giá ghi nhận  
vai trò của Kiều Thanh Quế trong tiến  
trình phát triển và hiện đại hóa văn  
học Nam Bộ những năm đầu thế kỷ  
XX. Theo đó: sự nghiệp văn học của  
Kiều Thanh Quế khá phong phú, bao  
gồm nhiều kiểu loại văn thể khác  
nhau, như sáng tác tiểu thuyết, truyện  
ngắn, truyện ký; viết nghiên cứu, phê  
bình, biên khảo, trao đổi, đọc sách,  
điểm sách, dịch thuật; nghiên cứu  
theo đối tượng tác gia, tác phẩm, thể  
loại, giai đoạn và trào lưu; khảo cứu  
Diện mạo văn học trong suốt 30 năm  
được khái quát sơ lược mà đủ đầy,  
không thiếu những điểm nhấn đáng  
kể. Tuy nhiên, ý nghĩa của cuốn sách  
không dừng ở đó. Thực chất công  
việc tính sổ văn học của ông đã “đi xa  
hơn trong dự định muốn phác thảo  
một lịch trình diễn tiến văn học dân  
tộc. Ông không làm công việc như Lê  
ĐỖ THỊ THU HUYỀN – KIỀU THANH QUẾ VỚI CHUYÊN KHẢO…  
100  
Thanh là phỏng vấn trực tiếp các nhà văn học (1914 - 1941) của Kiều Thanh  
văn, mà ngược lại, đặt các nhà văn Quế như ngầm khẳng định một dấu  
mốc có ý nghĩa bản lề trong tiến trình  
hiện đại hóa văn học Nam Bộ. Bởi  
nếu trước năm 1913, văn học Nam Bộ  
gần như là một bộ phận độc lập, bởi  
tính chất “đi trước” của mình, thì từ  
1913 trở đi, bộ phận văn học này đã  
liên thông hòa nhập vào đời sống  
chung của văn học Việt Nam. Trong  
hoàn cảnh ấy, có thể nảy sinh câu hỏi  
hoài nghi “liệu có chăng cái gọi là  
nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học  
ở Nam Bộ” (Nguyễn Thị Thanh Xuân,  
vào từng khuynh hướng, từng thời kỳ  
văn học và tìm hiểu nhà văn trong  
mối quan hệ với toàn cảnh của đời  
sống văn học” (Kiều Thanh Quế,  
2009: 24).  
Có thể thấy, nếu dòng văn học yêu  
nước được tiến hành bởi các nhà nho  
Nam Bộ, là sự kế thừa truyền thống  
vốn có lâu đời trong văn học dân tộc,  
thì dòng văn học hiện đại chữ quốc  
ngữ latinh, được khai phá bởi các trí  
thức Tây học, là sự bứt phá truyền  
thống về cơ bản, vượt lên không gian  
mang tính chất vùng Đông Nam Á để  
bước dần vào đời sống văn hóa hiện  
đại phương Tây (Nguyễn Thị Thanh  
Xuân, 2018: 10), mà Kiều Thanh Quế  
là một trong những nhân vật đã đánh  
giá đúng, đề cao vai trò của văn học  
dịch, bởi nó đóng vai trò quan trọng  
đối với sự phát triển nền văn chương  
tiếng Việt và thể loại văn học, và rằng,  
trong đời sống văn học hiện thời cần  
có thêm nhiều tác phẩm văn học dịch  
hơn nữa... Chính bởi tâm thế tiếp cận  
cái mới, đón gió bốn phương nên  
trong phê bình của Kiều Thanh Quế  
có được sự hiện đại, chắc chắn: “Trên  
văn đàn văn học Nam Kỳ, ông đã  
chiếm một địa vị kha khá nhờ hai tai  
rất thính của ông. Chẳng những ông  
đón tiếp phong trào mau lẹ, ông cũng  
là một người khơi nguồn phong trào  
ấy” (Dẫn theo Phan Mạnh Hùng,  
2007: 62).  
2018: 11).  
*
Đến nay, Kiều Thanh Quế cũng như  
những công trình của ông vẫn cần  
được tiếp tục nghiên cứu, đào sâu. Ba  
mươi năm văn học không chỉ có ý  
nghĩa trong sự nghiệp của Kiều Thanh  
Quế mà còn trong phê bình văn học  
đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ. Những  
trường hợp như Kiều Thanh Quế rất  
cần thiết được nghiên cứu nhiều hơn  
nữa, như trong tổng kết của công trình  
Nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học  
ở Nam Bộ thời kỳ 1865 - 1954 cho  
rằng: Một đời sống học thuật thành  
công phải có những tác giả thành  
danh. 27 tác giả có công trình nghiên  
cứu (trong đó có Kiều Thanh Quế), tuy  
chưa phải là tất cả, bởi người cầm bút  
xuất hiện hàng ngày trên trang báo  
trong 90 năm có đến con số hàng  
trăm, nhưng đây là những khuôn mặt  
tiêu biểu. Tính tiêu biểu được xác định  
qua số lượng và chất lượng tác phẩm,  
qua vai trò tác động vào đời sống văn  
học, qua sự thừa nhận của công  
Lựa chọn mốc 1914 là điểm xuất phát  
để “tính sổ”, khảo sát, Ba mươi năm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1+2 (257+258)2020  
101  
chúng. Công trình nghiên cứu này góp của họ, mong mỏi nhìn thấy họ sớm  
phần làm sáng tỏ hơn những khuôn được bổ sung vào văn học sử nước  
mặt còn bị chìm khuất trong lớp bụi nhà (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2018:  
thời gian, ghi nhận công lao văn hóa  
813).  
CHÚ THÍCH  
(1)  
Lời Vi Huyền Đắc nói với Bùi Thế Mỹ trong khi Bùi quân về chơi đất Bắc, ghé lại Hải  
Phòng thăm Vi quân (Xem Dân báo ngày 11/3/1941).  
(2) Năm Thiệu Bình thứ hai (1435) Nguyễn Trãi viết quyển Dư địa chí, biên tập về quốc biện,  
kinh đô nước nhà, cả đến những nghi lễ ấn định việc cống phú ở triều Lê. Trịnh Hoài Đức  
làm sách Gia Định thống chí chia làm 6 mục: Tinh dã chí, Sơn xuyên chí, Cương vực chí,  
Phong tục chí, Sản vật chí, Thành trì chí.  
Dưới triều Tự Đức, Quốc sử quán có soạn bộ Đại Nam nhứt thống chí, biên tập về nhiều  
tỉnh trong xứ như: Bắc Ninh tỉnh, Hưng Yên tỉnh…  
(3) Phan Văn Hùm: Bài tựa quyển Nói chuyện về thi mới thi cũ của Nguyễn Văn Hanh, 1935.  
(4) Của Lương Khải Siêu, do Trúc Khê diễn quốc âm.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Dân báo. 1941, số ra ngày 11 tháng 3.  
2. Đoàn Lê Giang. 2006. “Văn học Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 -  
thành tựu và triển vọng nghiên cứu”. Nghiên cứu Văn học, số 7, tr.3-15.  
3. Hoài Anh. 2001. “Kiều Thanh Quế - nhà phê bình văn học hiếm có của Nam Bộ”,  
trong Chân dung văn học. Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn, tr. 923-939.  
4. Kiều Thanh Quế. 2009. Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (Nguyễn Hữu Sơn - Phan  
Mạnh Hùng biên soạn, giới thiệu). Hà Nội: Nxb. Thanh niên.  
5. Nguyễn Thị Thanh Xuân (chủ biên). 2018. Nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học ở  
Nam Bộ thời kỳ 1865 - 1954. Hà Nội: Nxb. Giáo dục Việt Nam.  
6. Nguyễn Trãi. 1435. Dư địa chí. Phan Duy Tiếp dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính và chú  
thích. TPHCM. Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM. 2019.  
7. Phan Mạnh Hùng. 2007. “Kiều Thanh Quế - Nhà nghiên cứu văn học”. Nghiên cứu  
Văn học, số 3.  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 13820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiều Thanh Quế vớ ba mươi năm Văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkieu_thanh_que_vo_ba_muoi_nam_van_hoc.pdf