Luận văn Hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
------------------  
NGUYỄN TUẤN NAM  
HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ  
HỌC NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN  
TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TỪ THIỆN QUỲNH HOA,  
HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI  
HÀ NỘI - 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,  
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hà Thị Thư.  
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này  
hoàn toàn trung thực, được trích dẫn nguồn và trích dẫn đầy đủ.  
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình.  
Tác giả  
Nguyễn Tuấn Nam  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các  
thầy giáo, cô giáo, bạn bè và gia đình.  
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Hà Thị Thư, người đã tận  
tình hướng dẫn và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kỹ năng và những bài học  
kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.  
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy cô Khoa  
sau Đại học và tất cả các thầy giáo, cô giáo Khoa Công tác xã hội, Trường Đại học  
Lao động - Xã hội đã trang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong  
thời gian học tập, rèn luyện và trau dồi các kiến thức, kỹ năng.  
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt thành của Ban giám đốc, các cán  
bộ, nhân viên xã hội tại Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì,  
thành phố Hà Nội trong thời gian qua đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể  
hoàn thành tốt việc nghiên cứu, thu thập số liệu phục vụ cho luận văn này.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
MỤC LỤC  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
MỞ ĐẦU  
V
VI  
1
1. Lý do chọn đề tài  
1
2.  
Tình  
hình  
nghiên  
cứu  
liên  
quan  
đến  
đề  
tài  
2
3.  
Mục  
đích,  
nhiệm  
phạm  
pháp  
vụ  
nghiên  
nghiên  
cứu  
cứu  
cứu  
văn  
tài  
10  
4.  
Đối  
tượng,  
vi  
10  
5.  
Phương  
nghiên  
11  
6.  
Những  
đóng  
góp  
mới  
của  
luận  
13  
7.  
Kết  
cấu  
của  
đề  
14  
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRONG HỖ TRỢ HỌC NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT  
15  
1.1. Khái niệm người khuyết tật và học nghề đối với người khuyết tật  
15  
1.1.1. Một số khái niệm  
15  
20  
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của người khuyết tật  
1.2. Lý luận về hoạt động Công tác xã hội đối với người khuyết tật trong hoạt  
động  
học  
nghề  
24  
1.2.1. Khái niệm cơ bản  
24  
27  
32  
1.2.2. Các hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật  
1.2.3. Một số lý thuyết cơ bản ứng dụng  
1.3. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện hoạt động công tác xã hội đối với  
người  
khuyết  
tật  
trong  
hoạt  
động  
nghề  
38  
1.3.1. Cơ chế chính sách  
1.3.2. Cơ sở vật chất  
38  
39  
40  
41  
1.3.3. Công tác xã hội viên  
1.3.4. Người khuyết tật và gia đình người khuyết tật  
1.4. Quan điểm của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước trong việc thực  
hiện  
hoạt  
động  
nghề  
cho  
người  
khuyết  
tật  
42  
1.4.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện hoạt động nghề cho người  
khuyết tật  
42  
44  
1
1.4.2. Chính sách pháp luật của Nhà nước đối với người khuyết tật  
Tiểu  
kết  
chương  
47  
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ  
TRỢ HỌC NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TẠI  
TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TỪ THIỆN QUỲNH HOA, HUYỆN THANH  
TRÌ,  
48  
THÀNH  
PHỐ  
HÀ  
NỘI  
2.1.  
48  
Vài  
nét  
về  
địa  
bàn  
và  
khách  
thể  
nghiên  
cứu  
2.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu  
2.1.2. Đặc điểm khách thể nghiên cứu  
48  
51  
2.2. Kết quả thực hiện hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với  
người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh  
Trì,  
thành  
phố  
Hà  
Nội  
56  
2.2.1. Hoạt động tư vấn tâm lý trước các khó khăn liên quan đến học nghề  
2.2.2. Hoạt động nâng cao nhận thức về học nghề và việc làm  
56  
60  
64  
67  
2.2.3. Hoạt động kết nối các nguồn lực hỗ trợ cho NKT học nghề  
2.2.4. Hoạt động liên kết các mô hình nghề phù hợp đối với người khuyết tật  
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ  
trợ học nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh  
Hoa,  
thành  
phố  
Hà  
Nội  
69  
2.3.1. Cơ chế chính sách  
2.3.2. Cơ sở vật chất  
69  
71  
73  
75  
2
2.3.3. Đội ngũ công tác xã hội viên trong thực hiện hoạt động nghề tại Trung tâm  
2.3.4. Người khuyết tật  
Tiểu  
kết  
chương  
77  
Chương 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC  
XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HỌC NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT  
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM DẠY NGHỀ TỪ THIỆN QUỲNH HOA,  
HUYỆN  
THANH  
TRÌ,  
THÀNH  
PHỐ  
HÀ  
NỘI  
79  
3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp nâng cao hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ  
học nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại trung tâm  
79  
3.2.  
Đề  
xuất  
biện  
pháp  
81  
3.2.1. Biện pháp nâng cao chính sách hỗ trợ học nghề cho người khuyết tật  
3.2.2. Biện pháp nâng cao nhận thức của NKT đối với học nghề và việc làm  
81  
83  
3.2.3.Biện pháp tuyên truyền và nâng cao chất lượng học nghề và việc làm cho NKT 85  
3.2.4. Biện pháp phổ biến sự bình đẳng về vấn đề học nghề và việc làm đối với NKT cho  
toàn xã hội  
87  
Tiểu  
89  
kết  
chương  
3
KẾT  
90  
LUẬN  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHỤ LỤC  
V
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
STT  
Chữ viết tắt  
Nội dung  
1
2
3
4
5
6
CTXH  
NVCTXH  
NKT  
Công tác xã hội  
Nhân viên công tác xã hội  
Người khuyết tật  
OSEDC  
UBND  
TYT  
Tổ chức Hỗ trợ - Giáo dục trẻ em thiệt thòi  
Ủy ban nhân dân  
Trạm y tế  
VI  
DANH MỤC BẢNG/BIỂU  
1 Biểu đồ 1.1  
2 Biểu đồ 1.2  
3 Biểu đồ 2.1  
Tỷ lệ giới tính tại Trung tâm  
Trang 50  
Trang 52  
Các dạng tật của NKT tại Trung tâm  
Mức độ hài lòng về hoạt động hỗ trợ tâm lý Trang 56  
trước những khó khăn liên quan đến học nghề  
tại Trung tâm  
4 Biểu đố 2.2  
5 Biểu đồ 2.3  
6 Biểu đồ 2.4  
7 Biểu đồ 2.5  
8 Biểu đồ 2.6  
Hoạt động nâng cao nhận thức về học nghề và Trang 58  
việc làm  
Hoạt động kết nối các nguồn lực hỗ trợ cho  
NKT học nghề  
Trang 61  
Trang 63  
Trang 66  
Đánh giá của học viên về sự phù hợp của các  
mô hình nghề trong hoạt động liên kết  
Sự ảnh hưởng của cơ chế chính sách đến việc  
thực hiện hoạt động học nghề tại Trung tâm  
Sự ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến việc thực Trang 68  
hiện hoạt động CTXH trong hỗ trợ học nghề  
tại Trung tâm  
9 Biểu đồ 2.7  
10 Biểu đồ 2.8  
Sự ảnh hưởng của đội ngũ cán bộ NVCTXH Trang 70  
đến việc thực hiện hoạt động tại Trung tâm  
Sự ảnh hưởng của người khuyết tật đến việc  
thực hiện hoạt động tại Trung tâm  
Trang 71  
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Sau hơn 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã bước vào nhóm những  
nước đang phát triển có thu nhập trung bình và đang tiếp tục đẩy mạnh công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Trong hơn 30 năm  
qua, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu cơ bản về tăng trưởng kinh tế và  
công bằng xã hội. Mức tăng trung bình này phù hợp với xu thế, bối cảnh của  
nền kinh tế thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ - một trong số  
các nước có sự tăng trưởng khá cao trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên,  
với sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực, giữa nông thôn và thành  
thị, giữa nhóm người có thu nhập cao với nhóm người có thu nhập thấp dẫn  
đến những bất công thiệt thòi đối với những nhóm đối tượng yếu thế trong xã  
hội hiện nay: người nghèo, người khuyết tật, …. Trong văn kiện Đại hội Đảng  
XI nêu rõ: Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng thời “thực hiện có hiệu quả  
tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng  
chính sách phát triển” [22]. Bởi vậy, an sinh xã hội đã trở thành vấn đề trọng  
tâm trong các chiến lược phát triển của đất nước ta.  
Ở nước ta hiện nay có khoảng 8 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân  
số do nhiều nguyên nhân như chiến tranh (nổ bom mìn còn sót lại), do điều  
kiện y tế và kiến thức về chăm sóc sức khỏe bà mẹ lúc mang thai còn nhiều hạn  
chế, do sử dụng các loại thực phẩm có chứa hóa chất bảo vệ thực vật, .… [1].  
Đa số NKT sống ở những khu vực này thuộc diện nghèo và cận nghèo, số NKT  
còn trong độ tuổi lao động là 61% trong khả năng còn tham gia lao động chiếm  
40%. Tuy nhiên trong số này chỉ có 30% đang tham gia lao động có thu nhập  
cho bản thân và gia đình. Họ chủ yếu làm nghề nông – lâm – ngư nghiệp và có  
thu nhập rất thấp so với các công việc khác [4, tr.5-6].  
2
NKT có lẽ là những người luôn “phải” trải nghiệm những trạng thái,  
cảm xúc không mong muốn trong cuộc sống khi bị loại trừ khỏi các hoạt động  
trong đời sống hàng ngày. Mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều nỗ lực để giúp  
NKT được bình đẳng hơn trong việc tiếp cận các cơ hội y tế, giáo dục và dịch  
vụ liên quan, cũng như hỗ trợ NKT tìm kiếm việc làm phù hợp mà họ mong  
muốn. Nhưng chúng ta vẫn luôn thấy rằng NKT tại mọi hoàn cảnh xã hội vẫn  
luôn là nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương và nhận được ít thành quả kinh  
tế xã hội hơn nhóm không bị khuyết tật.  
Công tác xã hội (CTXH) là một ngành khoa học xã hội ứng dụng, một  
nghề nghiệp chuyên môn được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX.  
Cùng với sự vận động và phát triển của xã hội loài người, CTXH không ngừng  
được bổ sung, hoàn thiện trên cả phương diện lý thuyết và thực hành nhằm đáp  
ứng những nhu cầu của cuộc sống. CTXH có những đóng góp tích cực, to lớn  
đối với việc hướng tới xây dựng xã hội tiến bộ, bình đẳng, công bằng, văn  
minh ở đó mỗi thành viên có được một đời sống an toàn, đảm bảo nhu cầu thiết  
yếu về vật chất, tinh thần, được tôn trọng và tạo điều kiện phát triển toàn diện.  
Các công trình nghiên cứu về CTXH với NKT hay những công trình  
nghiên cứu về hỗ trợ học nghề cho NKT đã có khá nhiều, nhưng những công  
trình nghiên cứu về hoạt động của CTXH trong hỗ trợ học nghề thì còn khá  
mới mẻ.  
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Hoạt động Công tác xã hội trong  
hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại Trung tâm dạy nghề  
từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội”.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
2.1. Nghiên cứu về chính sách, pháp luật đối với người khuyết tật  
Sau những năm 1980, Liên hợp quốc đã xây dụng các chương trình về  
người khuyết tật và lấy năm 1981 là năm của những người khuyết tật. Trong  
3
khoảng thời gian này, nhiều nghiên cứu, nhiều dự án, chương trình hành động  
đã hướng tới các vấn đề của người khuyết tật.  
Nghiên cứu nước ngoài “Disability and social inclusion in Ireland,  
Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011” (Khuyết tật và hòa nhập xã hội ở  
Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011) [24]. Nghiên cứu xem xét  
NKT có hoàn cảnh khó khăn hòa nhập xã hội, trong đó nghiên cứu: thu nhập,  
trình độ học vấn, kinh tế, và tham gia xã hội ... và đồng thời chỉ ra rằng yếu tố  
mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trợ NKT tham gia hòa nhập xã hội  
và 6 cuộc sống hàng ngày. Báo cáo này nêu lên sự khác biệt giữa NKT và  
không khuyết tật trong việc tham gia hòa nhập cộng đồng. Thông qua việc  
thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ đói nghèo, sự tham gia  
giáo dục... của NKT. Đồng thời tìm hiểu thêm mức độ ảnh hưởng của NKT  
đến cuộc sống hàng ngày và tới những người khác. Báo cáo cũng nhấn mạnh  
đến yếu tố khuyết tật có ảnh hưởng lớn đến đời sống của NKT, thiết kế nơi làm  
việc không phù hợp với các dạng tật, sự kỳ thị của cộng đồng và việc tiếp cận  
giao thông đi lại còn khó khăn.  
Cuốn sách “Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020”  
(2013) của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và  
Xã hội phối hợp với Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ). Cuốn sách đưa ra  
những vấn đề chung về an sinh xã hội, nội dung cơ bản của Nghị quyết số 15-  
NQ/TW, các kết quả đã đạt được, những tồn tại của chính sách an sinh xã hội  
hiện hành và các định hướng chính sách cho giai đoạn từ nay đến năm 2020.  
Cuốn sách gồm hai phần là những vấn đề chung về an sinh xã hội và an sinh xã  
hội Việt Nam giai đoạn 2012-2020. Khẳng định đến năm 2020 cơ bản hình  
thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu bảo đảm để  
người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm  
hỗ trợ người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bảo đảm người dân tiếp cận được  
4
với các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu, góp phần từng bước nâng cao  
thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân  
[23].  
Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế  
kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II. Báo cáo này được soạn thảo theo  
hướng dẫn tại Nghị quyết số 60/251 ngày 15/03/2006 của Đại hội đồng Liên  
hợp quốc, Nghị quyết số 5/1 ngày 18/06/2007 và Quyết định số 17/119 ngày  
19/06/2011 của Hội đồng Nhân quyền nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện các  
quyền con người trên lãnh thổ Việt Nam. Tại mục Người khuyết tật số thứ tự  
66 ghi Việt Nam đã ký Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2008 và  
dự kiến hoàn thành thủ tục phê chuẩn trong năm 2014, cũng như đang nỗ lực  
xây dựng và hoàn thiện luật pháp, chính sách nhằm thúc đẩy quyền của người  
khuyết tật. Trong lộ trình phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tật,  
Việt Nam đã ban hành Luật về người khuyết tật năm 2010 và xây dựng các văn  
bản thi hành. Trong giai đoạn 2010-2013, đã có 13 văn bản dưới Luật được ban  
hành có liên quan tới người khuyết tật trong các lĩnh vực truyền thông, thể  
thao, du lịch, tiếp cận An sinh xã hội và thúc đẩy thực hiện Mục tiêu Thiên  
niên kỷ. Số 67 ghi chính sách chung của Nhà nước là khuyến khích, tạo điều  
kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng về các quyền về 8  
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của họ để ổn định đời  
sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội. Người khuyết tật  
được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo  
việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật.  
Số 68 ghi Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Trợ giúp người khuyết tật  
giai đoạn 2012 – 2020 nhằm đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp người  
khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, đồng thời thực hiện cam  
kết của Chính phủ Việt Nam về 7 lĩnh vực ưu tiên trong Thập kỷ thứ II Thiên  
5
niên kỷ Biwako về người khuyết tật khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đề  
án chia làm 2 giai đoạn với những chỉ tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy sự hòa nhập  
của người khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, xây dựng, giao  
thông, công nghệ thông tin, văn hóa, thể thao, pháp lý… Bên cạnh đó, Chính  
phủ cũng triển khai một loạt các chính sách trợ giúp người khuyết tật như đề án  
trợ giúp phục hồi chức năng cho người tâm thần; tham gia và thực hiện các  
sáng kiến của quốc tế và khu vực; tăng cường sự tham gia của người khuyết tật  
và bảo vệ quyền của người khuyết tật; hỗ trợ thành lập các tổ chức tự lực của  
người khuyết tật; trợ giúp đào tạo nghề và tạo việc làm; cải thiện khả năng tiếp  
cận và sử dụng các công trình văn hoá, công cộng và các dịch vụ xã hội cơ bản  
khác của người khuyết tật.  
Trong báo cáo này có quy định và luận điểm liên quan đến việc hỗ trợ  
cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng các công trình văn hoá, công cộng và  
các dịch vụ xã hội cơ bản khác của người khuyết tật nói chung, sự hỗ trợ người  
khuyết tật vận động tiếp cận các công trình trụ sở làm việc có nằm trong hạng  
mục người khuyết tật. Nghiên cứu này sẽ cụ thể hơn những cách hỗ trợ NKT  
vận động tiếp cận các công trình công cộng.  
Nghiên cứu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với đề tài: “Vai trò  
của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình  
quốc gia về về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật của bộ thương binh  
lao động và xã hội”. Nghiên cứu này cũng nói đến việc xây dựng và thực hiện  
9 các chính sách cho người khuyết tật để họ được đáp ứng nhu cầu việc làm  
của mình, họ được tư vấn hỗ trợ dạy nghề, qua đây người khuyết tật biết được  
những nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể có một công việc phù hợp  
với bản thân, tuy nhiên hai đề tài nêu trên nội dung chủ yếu là định hướng và  
giải quyết nhu cầu việc làm cho NKT, mà chưa hề đề cập đến nhu cầu tiếp cận  
của NKT vận động với các công trình công cộng [5].  
6
Luật người khuyết tật và khuyến nghị sửa đổi, quyền của trẻ em khuyết  
tật tại Việt Nam bao gồm quyền được bảo vệ không phân biệt đối xử, quyền  
tiến cận, quyền được sống trong cộng đồng, quyền được chăm sóc sức khỏe,  
quyền được giáo dục, quyền về danh tính, khai sinh và năng lực pháp lý [10].  
Như vậy, có thể nói rằng những nghiên cứu về chính sách, pháp luật đối  
với người khuyết tật tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung rất  
phong phú và đa dạng, đáp ứng một phần những nhu cầu thiết yếu trong cuộc  
sống của NKT giúp họ thêm tự tin hơn trong cuộc sống phía trước, thúc đẩy sự  
công bằng bình đẳng trong xã hội.  
2.2. Nghiên cứu về các hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật  
Hiện nay các công trình công cộng ở nước ta mới chỉ đáp ứng một phần  
nào các công cụ để hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, nói chung người khuyết tật  
còn rất nhiều khó khăn rào cản để tiếp cận sử dụng các công trình công cộng  
một cách đầy đủ và đúng nghĩa hòa nhập xã hội.  
Hoạt động hỗ trợ trong công tác xã hội được ví là xương sống trong  
công tác xã hội đối với tất cả mọi hoạt động trợ giúp đối tượng, đối với đối  
tượng người khuyết tật vận động và sự hỗ trợ tiếp cận sử dụng các công trình  
công cộng liên quan lại ít được nghiên cứu và đề cập. Nghiên cứu xin được chỉ  
ra thực trạng các công trình công cộng UBND, TYT tại địa bàn đáp ứng việc  
sử dụng cho NKT, ví dụ như thế nào cũng như thực trạng và nhu cầu tiếp cận  
sử dụng của người khuyết tật vận động tại đây đối với các hạng mục công trình  
công cộng này, các cơ quan tổ chức liên quan đến hỗ trợ vận động chính sách,  
hỗ trợ tư vấn pháp lý để người khuyết tật có cơ hội nói lên nguyện vọng sử  
dụng và được đáp ứng phù hợp với quyền lợi tiếp cận sử dụng ngang bằng với  
những người không khuyết tật. Đề tài cũng nghiên cứu cách hỗ trợ phù hợp,  
đánh giá thực tiễn tại khu vực nghiên cứu và các chính sách pháp luật liên quan  
đến người khuyết tật.  
7
Đỗ Thị Liên, Luận văn thạc sĩ 2014, “Công tác xã hội đối với người  
khuyết tật từ thực tiễn thành phố Thanh Hóa”, Học viện Khoa học xã hội.  
Luận văn đã đánh giá, khái quát được thực trạng trong công tác hỗ trợ người  
khuyết tật tại Thành phố Thanh Hóa và đưa ra những dịch vụ hỗ trợ cho người  
khuyết tật tại đây, đồng thời tác giả cũng đề xuất những giải pháp phù hợp và  
thiết thực trong quá trình hỗ trợ người khuyết tật [14].  
Giáo trình “Công tác xã hội với người khuyết tật (2014)”, Nhà xuất bản  
Đại học Quốc gia Hà Nội [8]. Giáo trình đã khái quát những vấn đề cơ bản về  
NKT và nêu lên các loại hình chăm sóc trợ giúp NKT. Ngoài ra, giáo trình còn  
đề cập đến những kỹ năng, những nguyên tắc cần thiết của người công tác xã  
hội viên khi thực hành theo các hình thức khác nhau (cá nhân, nhóm), cũng  
như các nguồn lực trong quá trình trợ giúp NKT.  
Dark and Light Blind Care nghiên cứu năm 2008, “Inclusion of disabled  
people Vocational Training and income”. Trong cuốn báo cáo tổng kết chương  
trình CTXH với NKT, nhóm tác giả đã nêu lên chương trình chính sách, quyền  
của NKT, cách thức hỗ trợ NKT, một số chương trình hỗ trợ NKT mô hình ở  
châu Phi cùng các kĩ năng làm việc đối với NKT [25].  
Chính vì vậy, các nghiên cứu về các hoạt động hỗ trợ cho người khuyết  
tật đã và đang phát huy đúng vai trò trong các hoạt động Công tác xã hội.  
Chính những công trình nghiên cứu này ứng dụng vào thực tiễn đời sống xã  
hội đã giúp cho người khuyết tật giảm bớt gánh nặng trong cuộc sống, đáp ứng  
mong mỏi và nguyện vọng của người khuyết tật tại Việt Nam nói riêng và trên  
thế giới nói chung.  
2.3. Nghiên cứu về việc làm, dạy nghề cho người khuyết tật  
Theo báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho NKT [2] tại Việt  
Nam có rất ít người được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như về  
phát triển doanh nghiệp. Chính phủ, nhiều tổ chức phi chính phủ và chính NKT  
8
đều nhận thấy rằng cần có các dịch vụ đào tạo riêng (ít nhất theo học các lớp  
đào tạo riêng dành cho NKT), các dịch vụ bố trí việc làm riêng và các kế hoạch  
cho NKT, Và nhờ các chính sách việc làm đã tạo động lực cho các trung tâm,  
cơ sở xã hội dạy nghề dành riêng cho NKT được thành lập. Tuy nhiên, trên  
thực tế chỉ phục vụ các khu vực thành thị. Tại các khu vực nông thôn, việc tiếp  
cận đào tạo nghề rất bị hạn chế. Các dịch vụ bố trí việc làm thường gắn liền với  
cơ sở đào tạo nghề. Tại Việt Nam, số các doanh nghiệp dành riêng cho NKT  
khá nhiều. Hơn 8000 NKT đã tham gia vào chuỗi sản xuất của các doanh  
nghiệp này. Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở còn nhỏ hẹp, hoạt động lợi nhuận  
thấp như các ngành thủ công mỹ nghệ, mastxa, đan lát mây tre, v.v. Khả năng  
được đào tạo một cách phù hợp và tham gia các dịch vụ phát triển kinh doanh  
tại các doanh nghiệp này rất hạn chế.  
Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 [6, điều 27] được coi  
là công cụ pháp lý cao nhất hiện nay đề cập đến các vấn đề chung của người  
khuyết tật. Ở lĩnh vực việc làm, Công ước có ghi nhận các quyền của người  
khuyết tật ở các khía cạnh về đào tạo nghề, cơ hội làm việc, thúc đẩy mô hình  
tự tạo việc làm, khả năng lựa chọn cơ hội việc làm cũng như những yêu cầu về  
việc tạo dựng môi trường dễ hòa nhập, không rào cản cho người lao động là  
khuyết tật. Đây chính là cách thức chống lại vòng đói nghèo luẩn quẩn của  
người khuyết tật.  
Nguyễn Tiến Dũng (2011), “Phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu trong  
giai đoạn mới” - Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số 4). Bài báo chỉ ra yêu cầu cần  
phải đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay, không chỉ đào tạo nghề đòi hỏi chất  
lượng chất xám mà còn phải đào tạo những nghề đơn giản nhằm đáp ứng xu  
thế hội nhập với khu vực và quốc tế, để tạo ra những sản phẩm tối ưu và tốt  
nhất đáp ứng nhu cầu thị trường [7].  
9
Đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng hoạt động hỗ trợ việc làm cho trẻ  
em khuyết tật – nghiên cứu tại Trung tâm dạy nghề Nhân đạo và Trung tâm  
dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa” của Phạm Thị Kiều Lê (2014), chuyên ngành  
Công tác xã hội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Luận văn nghiên cứu  
cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động hỗ trợ việc làm cho trẻ em khuyết  
tật; kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động hỗ trợ việc làm cho trẻ em khuyết  
tật tại Trung tâm dạy nghề Nhân đạo và Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh  
Hoa để từ đó đưa ra những đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ  
trợ việc làm cho trẻ em khuyết tật [12].  
Nghiên cứu “Vấn đề giới và người khuyết tật Việt Nam” của tác giả Lê  
Thị Quý – được đăng trên trang 7, số 2 Tạp chí “Nghiên cứu gia đình và giới,  
năm 2007” đã chỉ ra rằng: “Bên cạnh vấn đề về giới và người khuyết tật, các  
nghiên cứu dành nhiều sự quan tâm đến vấn đề việc làm, giáo dục, hòa nhập  
cộng đồng cho người khuyết tật. Qua các nghiên cứu cho thấy định kiến của xã  
hội về người khuyết tật cho rằng, người khuyết tật không có khả năng lao  
động, kiếm tiền, điều này tạo ra ràn cản lớn ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập  
cộng đồng, học tập và thích ứng môi trường sống của người khuyết tật” [21, tr.  
8,9].  
Nhìn chung, có rất nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên  
quan đến việc làm, dạy nghề cho người khuyết tật nhưng những nghiên cứu cụ  
thể trên địa bàn, về từng vị trí thực hiện hỗ trợ học nghề của hoạt động Công  
tác xã hội đối với người khuyết tật còn chưa nhiều và phong phú. Kế thừa và  
phát huy những đề tài liên quan đã nghiên cứu trước đó, tác giả lựa chọn đề tài  
“Hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật  
từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì,  
Thành phố Hà Nội” nhằm đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng của NKT để  
10  
từ đó đề ra những biện pháp nâng cao chất lượng học và dạy nghề tại Trung  
tâm ngày càng phù hợp và đa dạng hơn.  
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1 Mục đích nghiên cứu  
Đề tài làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện  
hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật tại  
Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội  
hiện nay. Để từ đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của  
hoạt động nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề từ thiện  
Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.  
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc thực hiện hoạt động Công tác xã hội  
trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật.  
- Phân tích thực trạng thực hiện hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ  
học nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa,  
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.  
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động Công tác  
xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề  
từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.  
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Hoạt động CTXH trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 115 trang baolam 21340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_hoat_dong_cong_tac_xa_hoi_trong_ho_tro_hoc_nghe_doi.pdf