Tổng quan về thực hành quản lý và ứng dụng ở Việt Nam
ISSN: 1859-2171
e-ISSN: 2615-9562
TNU Journal of Science and Technology
225(07): 66 - 73
TỔNG QUAN VỀ THỰC HÀNH QUẢN LÝ VÀ ỨNG DỤNG Ở VIỆT NAM
Trịnh Công Đức1*, Nguyễn Tuấn Kiệt2
1Phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
2Trường Đại học Cần Thơ
TÓM TẮT
Doanh nghiệp có vai trò đặc biệt trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia vì vậy hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp luôn được sự chú ý. Vì vậy, mục tiêu chính của bài viết là hệ thống khung lý thuyết
thực hành quản lý và rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng trong trường hợp của doanh nghiệp ở Việt
Nam. Bài viết tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu lý thuyết được đề xuất bởi Baumeister và Leary
(1997). Kết quả nghiên cứu đã cung cấp một hệ thống cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm ở
nhiều nước về lợi ích của thực hành quản lý đối với doanh nghiệp. Đồng thời, bài viết cung cấp bài
học thực tiễn cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong nước áp dụng thực hành quản lý vào hoạt động
quản lý thực tiễn hàng ngày để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt
quan trọng với doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Bài viết có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong
việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: Quản trị doanh nghiệp; doanh nghiệp Việt Nam; thực hành quản lý; tổ chức;
năng suất.
Ngày nhận bài: 20/10/2019; Ngày hoàn thiện: 16/3/2020; Ngày đăng: 22/5/2020
LITERATURE REVIEW OF MANAGEMENT PRACTICES
AND APPLICATION IN VIETNAM
Trinh Cong Duc1*, Nguyen Tuan Kiet2
1Bui Huu Nghia Ward, Binh Thuy District, Can Tho City
2Can Tho University
ABSTRACT
Enterprises play a vital role in the economic development for each country, their perfomances have
thus been attracted much attention. The main objective of the paper is to systematize management
practice theory framework, and then to draw lessons to apply in the case of enterprises in Vietnam.
The paper employs the theoretical research method proposed by Baumeister and Leary (1997). The
study result has provided a system of the theoretical basis and empirical evidence in many
countries about the benefits of management practices for enterprises. Simultaneously, the paper
provides practical lessons for domestic enterprise managers to apply management practices into
daily practice management to improve performance and competitiveness in the market, especially
important for medium and small-sized enterprises. The paper is the first to give theoretical and
practical significance in improving the competitiveness of Vietnamese firms.
Keywords: Management enterprises; Vietnam enterprises; management practices; organization;
productivity.
Received: 20/10/2019; Revised: 16/3/2020; Published: 22/5/2020
66
Trịnh Công Đức và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(07): 66 - 73
doanh nghiệp. Thứ hai, cung cấp bài học thực
tiễn cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong
nước áp dụng thực hành quản lý vào hoạt
động quản lý thực tiễn hàng ngày để mang lại
hiệu suất cao và khả năng cạnh tranh tốt hơn.
Thứ ba, cung cấp cơ sở lý luận để chính phủ
có thể có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp
trong nước nâng cao chất lượng hoạt động
quản trị thông qua các đề án đào tạo chuyển
giao thực hành quản lý cho doanh nghiệp, đặc
biệt là doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.
Điều này có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn
trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh
tế hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt.
1. Đặt vấn đề
Sự khác biệt về năng suất ở cấp độ doanh
nghiệp và quốc gia luôn được sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu kinh tế trong nhiều
thập niên qua. Do đó đã có nhiều cách tiếp
cận để giải thích cho sự khác biệt trên như:
cách tiếp cận dựa vào kỹ năng lao động [1]-
cận trên đã cung cấp những bằng chứng rất
tích cực về sự khác biệt năng suất là do khác
biệt về kỹ năng lao động, trình độ kỹ thuật
công nghệ - thông tin, nghiên cứu phát triển
và phân bổ nguồn lực tài chính hợp lý. Nhưng
các cách tiếp cận trên đều bỏ qua ảnh hưởng
của hoạt động quản lý. Mặc dù tầm quan
trọng của hoạt động quản lý luôn được nhấn
Tuy nhiên, để đo lường tác động của hoạt
động quản lý đến kết quả đầu ra của doanh
nghiệp là khó thực hiện. Nên các nhà nghiên
cứu thường suy luận một cách gián tiếp hoặc
bỏ qua “biến số hoạt động quản lý trong mô
hình nghiên cứu của họ”. Gần đây, cách tiếp
cận “Thực hành quản lý” cho thấy, thực hành
quản lý có mối tương quan cùng chiều với
năng suất, lợi nhuận, khả năng cạnh tranh, và
điểm thực hành quản lý cũng được mở rộng
nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều quốc gia
doanh nghiệp của Việt Nam.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng dữ liệu được tập hợp từ nhiều
công trình nghiên cứu về thực hành quản lý đã
được công bố trên nhiều tạp chí khoa học quốc
tế, các nguồn tài liệu sử dụng đều được trình
bày ở phần danh mục tài liệu tham khảo. Hiện
nay, phương pháp nghiên cứu lý thuyết đều
được thực hiện theo quy trình: tổng hợp – phân
[22] quy trình nghiên cứu gồm các bước: xác
định phạm vi nghiên cứu, lập kế hoạch thực
hiện, tìm kiếm tài liệu, chọn lọc, và viết báo
cáo. Do đó, các bước thực hiện nghiên cứu của
bài viết như sau:
(i) Xác định phạm vi (vấn đề): vấn đề nghiên
cứu là gì? Phạm vi nghiên cứu của bài viết:
“Thực hành quản lý - Một quan điểm lý
thuyết mới trong quản lý doanh nghiệp”.
Vì vậy, mục tiêu chính của bài viết là hệ
thống khung lý thuyết thực hành quản lý và
rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng trong
trường hợp của doanh nghiệp ở Việt Nam.
Đóng góp mới của bài viết là: thứ nhất, cung
cấp một hệ thống cơ sở lý luận và bằng chứng
thực nghiệm ở nhiều nước về lợi ích của thực
hành quản lý đối với doanh nghiệp. Do đó,
những nghiên cứu ứng dụng có thể sử dụng
khung lý thuyết này để giải thích trong những
trường hợp cụ thể, đặc biệt thực hiện các thí
nghiệm phương pháp quản lý mới trong
(ii) Lập kế hoạch: vấn đề nghiên cứu được
chia nhỏ thành những khái niệm để hình
thành những từ khóa quan trọng liên quan đến
vấn đề nghiên cứu. Đồng thời, liệt kê danh
sách những tạp chí trong danh mục ISI (có
chuyên mục quản trị doanh nghiệp) được xếp
hạng trích dẫn cao.
(iii) Tìm kiếm: bước này tiến hành truy cập
trực tiếp vào website tạp chí khoa học đã
được xác định ở bước (ii) và truy cập vào
kho
dữ
liệu
Google
Scholar
67
Trịnh Công Đức và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(07): 66 - 73
(iv) Chọn lọc: bước này tiến hành đọc và sàng
lọc những bài viết quan trọng có liên quan đến
chủ đề nghiên cứu. Các bài báo được thống kê
phân loại theo tên tác giả, năm công bố công
trình, chủ đề, phương pháp tiếp cận và đo
lường, và kết quả nghiên cứu chính đạt được.
nhất). Phương pháp đo lường và hướng dẫn
tính điểm thực hành quản lý được thể hiện chi
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành
quản lý tốt hoặc kém
Yếu tố cạnh tranh
(v) Viết báo cáo: bước này, trình bày tóm tắt
và diễn đạt kết quả nghiên cứu bằng lời văn,
các nghiên cứu không chỉ được tổng kết tóm
tắt kết quả mà còn phân tích đánh giá để đúc
kết được những gì đã được làm và những gì
cần được tiếp tục phát triển nghiên cứu, đặc
biệt là vận dụng vào thực tiễn và học thuật ở
Việt Nam.
Mức độ cạnh tranh của thị trường là động lực
cho các doanh nghiệp cải thiện hoạt động quản
lý được tốt hơn. Bloom and Van Reenen [12]
đã cho rằng mức độ cạnh tranh của thị trường
sản phẩm là yếu tố thể hiện sự phân phối về
thực hành quản lý giữa các doanh nghiệp và
các quốc gia. Về mặt lý thuyết, sự ảnh hưởng
của cạnh tranh đến hoạt động quản lý có thể
giải thích theo hai quan điểm như sau:
3. Thực hành quản lý- Một quan điểm mới
về quản lý
Thứ nhất là sự lựa chọn quản lý tốt. Tác động
rõ nhất của cạnh tranh đối với hoạt động quản
lý là thông qua một quá trình chọn lọc tự
nhiên. Cạnh tranh của thị trường sản phẩm cao
hơn sẽ đẩy các doanh nghiệp không hiệu quả
rời khỏi thị trường và phân bổ thị phần lớn hơn
cho các doanh nghiệp có hiệu quả hơn. Mức độ
cạnh tranh có mối liên hệ cùng chiều với năng
suất trung bình và sự phân tán về năng suất
thấp hơn vì các doanh nghiệp kém hiệu quả đã
một môi trường có tính cạnh tranh hơn chúng
ta có thể mong đợi các hoạt động quản lý sẽ
đạt mức trung bình tốt hơn [12].
3.1. Khái niệm và phương pháp đo lường
hoạt động quản lý
Khái niệm: Thực hành quản lý là mức độ
doanh nghiệp áp dụng những phương pháp
quản lý tinh gọn vào quy trình hoạt động,
giám sát công việc thực hiện, thiết lập và theo
dõi các mục tiêu, và công tác khuyến khích
nguồn nhân lực của doanh nghiệp nhằm đạt
được kết quả đầu ra có hiệu quả cao nhất [12].
Phương pháp đo lường: Thực hành quản lý
được định lượng bằng bộ tiêu chí gồm 18 câu
hỏi mở. Hoạt động giám sát (7 tiêu chí): giới
thiệu áp dụng các kỹ thuật quản lý mới/tinh
gọn, lý do giới thiệu áp dụng kỹ thuật quản lý
mới/ tinh gọn, tài liệu hướng dẫn và cải tiến
liên tục, theo dõi hiệu suất, đánh giá hiệu suất,
đối thoại về hiệu quả công việc, quản lý hậu
quả. Hoạt động thiết lập và theo dõi mục tiêu
(5 tiêu chí): các loại mục tiêu, sự kết nối giữa
các mục tiêu, giới hạn thời gian hoàn thành
mục tiêu, độ khó của mục tiêu, sự rõ ràng và
có thể so sánh. Hoạt động khuyến khích nhân
lực (6 tiêu chí): phát triển nhân tài, xây dựng
văn hóa làm việc hiệu quả cao, cải thiện các
cá nhân làm việc kém hiệu quả, thăng tiến cá
nhân làm việc hiệu quả cao, thu hút nguồn
nhân lực, duy trì nguồn nhân lực. Các tiêu chí
được định lượng điểm số theo thang đo 5 mức
độ, (1 điểm là thực hành kém và 5 điểm là tốt
Thứ hai là chi phí đại diện. Cạnh tranh cũng
ảnh hưởng đến sự nỗ lực của các nhà quản lý
cạnh tranh cao có thể làm tăng sự nỗ lực của
các nhà quản lý vì họ phải đối mặt với nguy cơ
bị phá sản cao hơn. Thêm vào đó, lý thuyết
cạnh tranh độc quyền cũng đã chỉ ra rằng, do
có sự khác biệt lớn về chi phí biên của các
doanh nghiệp trong ngành đã làm tăng cao
mức độ cạnh tranh (vì giá lớn hơn chi phí biên)
nên các nhà quản lý luôn có động lực để tăng
lợi nhuận biên. Tuy nhiên, sự cạnh tranh cũng
tác động theo chiều ngược lại. Bởi vì mức độ
cạnh tranh trở nên gay gắt thì lợi nhuận đạt
được của các doanh nghiệp sẽ thấp hơn hoặc bị
68
Trịnh Công Đức và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(07): 66 - 73
giảm đi, khi đó các khoản gắn với lợi nhuận
cũng giảm theo (Ví dụ: chia cổ tức thấp hơn,
thưởng giảm đi, phụ cấp khác cắt giảm).
nhau. Doanh nghiệp sở hữu nhà nước và sở
hữu gia đình (có CEO là người trong gia đình
chưa qua đào tạo về quản trị hoặc kế thừa là
người con trưởng) thì thực hành quản lý kém
hơn doanh nghiệp sở hữu tư nhân theo hình
thức cổ phần hay sở hữu gia đình nhưng có
CEO không phải là thành viên trong gia đình
hưởng đến thực hành quản lý cũng đúng khi
được kiểm chứng trong những ngành và quốc
sự thay đổi đáng kể trong thực hành quản lý
của các tổ chức trong mỗi lĩnh vực (như sản
xuất, bán lẻ, giáo dục, y tế) và mỗi quốc gia
(như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ,...).
Về mặt thực tiễn, các bằng chứng thực
nghiệm của Bloom và cộng sự cho thấy có sự
tác động tích cực của yếu tố cạnh tranh của
thị trường sản phẩm đến sự cải thiện hoạt
động quản lý của các doanh nghiệp. Các nhà
quản lý sẽ cải thiện hoạt động quản lý doanh
nghiệp họ được tốt hơn nếu biết doanh nghiệp
mình có nhiều hơn một đối thủ cạnh tranh
trên thị trường. Kết quả phân tích hồi quy
cũng có ý nghĩa rất tích cực giữa chỉ số
Lerner và sự cải tiến trong hoạt động quản lý
thấy mức độ cạnh tranh có mối quan hệ cùng
chiều với thực hành quản lý của doanh nghiệp
buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực nhiều hơn
hoặc lựa chọn mô hình phù hợp cho sự phát
tranh không thật sự làm nâng cao năng suất
nhưng cạnh tranh là động cơ chính để nâng
cao chất lượng trong hoạt động quản lý và
năng suất tăng là do sự cải thiện cơ chế quản
lý qua áp dụng thực hành quản lý tốt.
Cấu trúc sở hữu doanh nghiệp có ảnh hưởng
tích cực đến chất lượng của thực hành quản lý
thức sở hữu gia đình, quốc doanh, chưa niêm
yết có điểm thực hành quản lý kém hơn các
chưa niêm yết có điểm số thực hành quản lý tốt
hơn doanh nghiệp sở hữu nhà nước/gia đình
nhưng lại thấp hơn nhóm doanh nghiệp cổ
hành có điểm quản lý thấp hơn các nhà quản lý
thuộc hình thức sở hữu Nhà nước, cổ phần, gia
biệt về hiệu suất của các doanh nghiệp.
Yếu tố nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố thứ hai
ảnh hưởng đến thực hành quản lý của doanh
nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực không
đồng nhất là nguyên nhân dẫn đến thực hành
quản lý tốt hay kém ở các doanh nghiệp và
các quốc gia. Các doanh nghiệp sở hữu được
đội ngũ nhân lực (quản lý, nhân viên, công
nhân) có trình độ giáo dục cao (tỷ lệ có bằng
cử nhân trở lên), kỹ năng chuyên môn tốt (tỷ
lệ được đào tạo nghề, tập huấn) thì có kết quả
thực hành quản lý tốt (điểm số thực hành trên
mức trung bình). Do đó doanh nghiệp đạt
Ngoài ra, các yếu tố như xuất xứ (ở Mỹ hay
quốc gia khác), quy mô (lớn, nhỏ), mục đích
(lợi nhuận, phi lợi nhuận), thị trường (trong
nước, xuất khẩu, đa quốc gia) cũng ảnh
hưởng đến chất lượng thực hành quản lý tốt
hay kém. Chẳng hạn, công ty đa quốc gia của
Mỹ hoạt động hiệu quả hơn của Thụy Điển
quản lý tốt hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ
quản lý tốt hơn doanh nghiệp phi lợi nhuận
thực hành quản lý tốt hơn doanh nghiệp hoạt
doanh nghiệp có sự phân quyền cao sẽ thực
Yếu tố sở hữu
Doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác
nhau thì áp dụng thực hành quản lý cũng khác
69
Trịnh Công Đức và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(07): 66 - 73
Qua tổng hợp các bằng chứng trên cho thấy có
ba yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
quản lý của một doanh nghiệp “tốt” hoặc
“kém” là phụ thuộc mức độ cạnh tranh của thị
trường, nguồn vốn nhân lực, và quyền sở hữu.
Do đó, bài học kinh nghiệm rút ra ở đây là:
doanh nghiệp có thể chủ động cải tiến hoạt
động quản lý thông qua cải thiện chất lượng
nguồn vốn nhân lực và mỗi doanh nghiệp cần
xây dựng cho mình một kế hoạch phát triển
nguồn nhân lực trong dài hạn. Điều này sẽ
mang lại hiệu quả cao hơn trong kinh doanh.
Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ và khuyến
khích các doanh nghiệp sở hữu gia đình và sở
hữu cá nhân tiếp cận những phương pháp quản
lý mới vận dụng vào doanh nghiệp. Còn đối
với doanh nghiệp sở hữu nhà nước có thể nâng
cao hiệu quả thông qua áp dụng thực hành
quản lý nhiều hơn vào trong hoạt động hàng
ngày của doanh nghiệp. Ngoài ra, các yếu tố
này cũng đặt ra một câu hỏi: “Chất lượng quản
lý của doanh nghiệp ở Việt Nam có chịu ảnh
hưởng bởi yếu tố cạnh tranh, vốn nhân lực,
quyền sở hữu không?”. Câu hỏi cần được giải
đáp bởi các nghiên cứu trong tương lai. Điều
này không chỉ cung cấp thêm luận cứ khoa học
giúp các nhà quản lý có thêm động lực áp dụng
thực hành quản lý vào hoạt động của doanh
nghiệp mà còn suy rộng khả năng giải thích
của lý thuyết trong thực tiễn.
Ấn Độ. Bloom et al. đã tư vấn miễn phí cho
nhóm doanh nghiệp tham gia thực hành Lean.
Sau một năm, kết quả cho thấy thực hành Lean
mang lại hiệu quả tích cực cho doanh nghiệp
(năng suất của nhóm can thiệp đã tăng lên
17%). Kết quả này đã khẳng định lợi ích thực
nghiệm “Làm việc tại nhà –WFH” thực hiện ở
Trung Quốc, dưới sự hợp tác của công ty
Ctrip. Kết quả cho thấy, hiệu suất làm việc của
nhóm WFH tăng 13%, nhân viên hài lòng cao
hơn trong công việc, đạt thái độ tâm lý tốt hơn
và tỷ lệ mất khách của họ đã giảm hơn 50%.
Điều này dẫn đến hiệu quả tăng gần gấp đôi
trong hoạt động bán vé máy bay và đặt phòng
khách sạn của Ctrip.
Từ sự thành công của hai thí nghiệm trên đã
nhấn mạnh lợi ích của sự hiểu biết và lựa
chọn áp dụng các mô hình thực hành quản lý
như WFH, Lean, 5S,… là cần thiết cho các
doanh nghiệp. Tuy nhiên, để thí nghiệm được
mở rộng quy mô và lan tỏa hiệu ứng của nó
thì rất cần sự hợp tác giữa doanh nghiệp và
các nhà nghiên cứu kinh tế. Thí nghiệm thực
địa là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới trong
bối cảnh của doanh nghiệp Việt Nam nếu điều
này được mở rộng phát triển sẽ đóng góp
nhiều giải pháp hiệu quả giúp cho hoạt động
doanh nghiệp ở Việt Nam phát triển tốt hơn.
4. Kết luận và đề xuất
3.3. Thí nghiệm hiện trường về thực hành
quản lý
Bài viết đã hệ thống khung lý thuyết về thực
hành quản lý. Kết quả rút ra từ thực nghiệm
đã cho thấy, doanh nghiệp thực hành quản lý
tốt sẽ đạt được hiệu suất cao, suy rộng phạm
vi quốc gia thì thực hành quản lý tốt có tác
động tích cực đến sự phát triển nền công
nghiệp. Cùng với những quan điểm trước,
thực hành quản lý đã giải thích rõ ràng hơn về
sự ảnh hưởng của chất lượng hoạt động quản
lý đến hiệu suất kinh doanh của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, thực hành quản lý “tốt”
hoặc “kém” phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
mức độ cạnh tranh, loại hình sở hữu, quy mô,
nguồn vốn nhân lực, phân quyền, lĩnh vực
hoạt động, và trình độ phát triển của quốc gia.
Tổ thức thí nghiệm (Field Experiments) cho
phép tìm ra những mô hình quản lý có hiệu
quả cao và có thể ứng dụng phù hợp cho từng
loại hình doanh nghiệp. Đây cũng là một xu
hướng nghiên cứu mới cần được phát triển
nghiên cứu. Nhưng vẫn còn khá nhiều rào cản
để thực hiện các thí nghiệm trong thực tế bởi
các chủ doanh nghiệp chưa thật sự tin tưởng
tính hiệu quả của mô hình quản lý, bị giới hạn
về nhận thức và môi trường cạnh tranh không
hướng này với thí nghiệm thực hành Lean (sản
xuất tinh gọn) cho doanh nghiệp dệt may tại
70
Trịnh Công Đức và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(07): 66 - 73
chế thưởng phạt (Nudges, Economic
Incentives). Tuy nhiên, để thực nghiệm thành
công và lan tỏa hiệu ứng của nó thì rất cần sự
hợp tác giữa các doanh nghiệp và các nhà
nghiên cứu kinh tế.
Dựa vào kết quả tổng kết lý thuyết, bài viết đề
xuất hướng ứng dụng cho doanh nghiệp trong
nước như sau: trước hết, cần có những đánh
giá thực nghiệm xác định mức độ thực hành
quản lý của doanh nghiệp trong nước yếu
kém trong khâu nào từ đó đưa ra mô hình vận
dụng phù hợp với đặc điểm và ngành kinh
doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ - siêu
nhỏ khả năng cạnh tranh yếu, dễ bị tổn
thương trước những thay đổi của thị trường,
và hiệu quả kinh doanh rất thấp. Do đó,
những kết quả thực nghiệm về mối quan hệ
giữa hoạt động quản lý (quy trình hoạt động,
giám sát hiệu suất, thiết lập-theo dõi mục tiêu,
chế độ khuyến khích nhân sự) và hiệu suất
của doanh nghiệp là cần thiết để áp dụng thực
hành quản lý.
Bên cạnh đó, để thực hành quản lý được áp
dụng tốt trong các doanh nghiệp Việt Nam thì
nhà quản trị doanh nghiệp cần mạnh dạn cải
tiến cách quản lý trong những hoạt động hàng
ngày. Trong quy trình hoạt động (sản xuất
hoặc phi sản xuất) cần được chuẩn hóa và
thực hành tinh gọn để giảm các loại lãng phí
và cải tiến liên tục. Trong hoạt động giám sát
cần xây dựng các chỉ số đo lường hiệu quả
công việc gắn kết với mục tiêu chung, mục
tiêu tài chính, năng lực cá nhân trong mỗi tổ
chức. Điều này sẽ giúp nhà quản lý dễ dàng
theo dõi hiệu suất làm việc của các cá nhân,
làm cơ sở trả tiền lương, đãi ngộ, phát triển
nhân viên. Tuy nhiên, các chỉ số đo lường nên
thiết kế đơn giản, dễ hiểu và định lượng được.
Ở góc độ vĩ mô, hiện nay chưa có những tiêu
chuẩn hay thước đo phù hợp để doanh nghiệp
có thể thực hiện tự đánh giá chất lượng hoạt
động quản lý của doanh nghiệp. Vì vậy, chính
phủ cần hỗ trợ xây dựng bộ tiêu chí đo lường
thực hành quản lý và chỉ số thực hành quản lý
cho từng ngành, từng khu vực. Điều này giúp
cho tổ chức doanh nghiệp có thể tự so sánh
chất lượng của hoạt động quản lý và có cơ sở
cải tiến hoạt động quản lý của họ được tốt
hơn. Đây là xu hướng đang được phát triển
nghiên cứu ứng dụng cho nhiều nước và nó
cũng cần thiết cho một quốc gia đang phát
triển như Việt Nam.
Nhà quản lý cấp cao nên thiết lập các mục tiêu
(hoạt động, tài chính, phi tài chính, ngắn hạn
và dài hạn) cho doanh nghiệp dựa vào các cơ
sở kinh tế vững chắc. Điều này sẽ giúp nhà
quản lý dễ dàng theo dõi kết quả hoạt động đạt
được trong từng thời điểm hoặc nếu có những
bất lợi thì thực hiện những biện pháp thích ứng
kịp thời. Các nhà quản lý cũng cần có một bản
kế hoạch về nguồn vốn nhân lực trong ngắn
hạn và dài hạn cho doanh nghiệp. Bởi kết quả
và sự tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc rất
lớn vào nguồn lực con người. Các chính sách
khuyến khích, thu hút, duy trì nhân viên rất cần
được quan tâm song song với quy trình hoạt
động của doanh nghiệp. Có như vậy, doanh
nghiệp mới có thể hoạt động hiệu suất cao và
có được lợi thế trong thị trường mà doanh
nghiệp đang cạnh tranh.
Đồng thời cần tổ chức thực hiện thí nghiệm
thực tế tại các doanh nghiệp về những mô
hình thực hành quản lý, điều này sẽ đóng góp
nhiều giải pháp hiệu quả cho hoạt động của
doanh nghiệp ở Việt Nam phát triển bắt kịp
theo trình độ quản lý của thế giới. Chẳng hạn:
thực hành tinh gọn (Lean), 5S (cải tiến), Just
In Time (4 đúng), Chu trình PDCA (Plan –
Do – Check – Act), làm việc tại nhà (Working
From Home), cân bằng công việc và cuộc
sống (Work - Life Balance), môi trường làm
việc thân thiện (Family - Friendly Workplace
Practices), thiết kế thời gian làm việc linh
hoạt (Flexi-Time), chia sẻ công việc (Job
Sharing), hợp đồng lựa chọn công việc và cơ
Cuối cùng, lý thuyết thực hành quản lý cần
được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam thông qua các kênh phù hợp
để giới thiệu lý thuyết đến các nhà quản lý có
thể hiểu, nắm bắt, tin tưởng và áp dụng vào
thực tiễn. Bởi “quản lý như một công nghệ” vì
vậy nó cần phải được chuyển giao [31].
71
Trịnh Công Đức và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(07): 66 - 73
[12]. N. Bloom, and J. V. Reenen, “Measuring
and explaining management practices across
firms and countries,” Quarterly Journal of
Economics, vol. 112, no. 4, pp. 1351-1408, 2007.
[13]. N. Bloom, and J. V. Reenen, “New
Approaches to Surveying Organizations,”
American Economic Review: Papers and
Proceedings, vol. 100w, no. 2, pp. 105-109, 2010.
[14]. N. Bloom, C. Genakos, R. Sadun, and J.
V. Reenen, “Management Practices Across
Firms and Countries,” Academy of Management
Perspectives, vol. 26, no. 1, pp. 12-33, 2012.
[15]. R. Green, J. Piper, R. Badham, and R.
Agarwal, “Management Matters in Australia:
Just how productive are we?,” 2009.
survey.org/wpcontent/images/2010/07/Report
_Management-Matters-in-Australia-just-how-
productive-are-we.pdf. [Accessed October
15th, 2016].
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển
khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED)
trong đề tài mã số 502.01-2016.15.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. M. Baily, C. Hulten, and D. Campbell,
“Productivity dynamics in manufacturing
plants,”
1992.
[Online].
Available:
/1992/01/1992_bpeamicro_baily.pdf. [Accessed
October 15th, 2016].
[2]. E. Bartelsman, and P. Dhrymes, “Productivity
Dynamics: US Manufacturing plants, 1972-
1986,” Journal of Productivity Analysis, vol.
9, no. 1, pp. 5-34, 1998.
[3]. R. Disney, J. Haskel, and Y. Heden,
“Restructuring and Productivity Growth in
UK Manufacturing,” The Economic Journal,
vol. 113, no. 489, pp. 666-694, 2003.
[4]. E. Bartelsman, S. Scarpetta, and F. Schivardi,
“Comparative Analysis of firm Demographics
and Survival: Micro-Level Evidence for the
OECD countries,” Industrial and Corporate
Change, vol. 14, no. 3, pp. 365-391, 2005.
[5]. S. Black, and L. Lynch, “How to compete: the
impact of workplace practices and
information technology on productivity,”
Review of Economics & Statistics, vol. 83, pp.
434-445, 2001.
[6]. T. Bresnahan, E. Brynjolfsson, and L. Hitt,
“Information technology, work organization,
and the demand for skilled labor: firm-level
evidence,” Quaterly Journal of Economics,
vol. 339, no. 1, pp. 339-376, 2002.
[16]. N. Bloom, B. Eifert, A. Mahajan, Mckenzie,
and J. Roberts, “Does Management Matter?
Evidence from India,” Quarterly Journal of
Economics, vol. 128, no. 1, pp. 1-51, 2013.
[17]. N. Bloom, J. Liang, J. Roberts, and J. Z.
Ying, “Does working from home work?
Evidence from
a
Chinese experiment,”
Quarterly Journal of Economics, vol. 130,
no.1, pp. 65-218, 2015.
[18]. G. F. Keller, “Comparing The Affects Of
Management Practices On Organizational
Performance Between For-Profit And Not-
For-Profit
Corporations
In
Southeast
Wisconsin,” Journal of Business & Economics
Research, vol. 9, no. 3, pp. 29-38, 2011.
[19]. R. Lemos, D. Scur, “Could poor
management be holding back development?
Describing practices in the public and private
sectors in India,” International Growth Centre
(IGC) Working Paper, 2012, pp. 1-53.
[20]. K. J. McConnell, C. R. Lindrooth, R. D.
Wholey, M. T. Maddox, and N. Bloom,
“Management Practices and the Quality of
Care in Cardiac Units,” 2013. [Online].
[7]. D. S. Landes, The unbound Prometheus:
technological
change
and
industrial
development in Western Europe from 1750 to
the present. Cambridge University Press, 2003.
[8]. S. Olley, and A. Pakes, “The Dynamics of
productivity in the telecommunication
equipment industry,” Econometrica, vol. 64,
no. 6, pp. 1263-1297, 1996.
Available:
[9]. F. P. Drucker, The Best of Peter Drucker on
Management. Tre Publisher, Ho Chi Minh
City, 2008.
[10]. T. Frederick, The principles of scientific
management. Harper and Brothers Publisher,
New York City, 1911.
org/academic-research/non-profits/. [Accessed
October 15th, 2016].
[21]. R. F. Baumeister, and M. R. Leary,
“Writing narrative literature reviews,” Review
of general psychology, vol. 1, no. 3, pp. 311-
320, 1997.
[22]. D. T. Nguyen, Methods of scientific
[11]. H. Mintzberg, “The design school:
reconsidering the premises of stragetic
management,” Strategic Management Journal,
vol. 11, no. 3, pp. 171-195, 1990.
research in business
-
Designing and
Application. Labour Publishing House, Ha
Noi, 2013.
72
Trịnh Công Đức và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(07): 66 - 73
[23]. C. Syverson, “Market Structure and
Productivity: A Concrete Example,” Journal
of Political Economy, vol. 112, no. 6, pp.
1181-1222, 2004.
[24]. K. Schmidt, “Managerial Incentives and
Product Market Competition,” Review of
Economic Studies, vol. 64, no. 2, pp. 191-
213, 1997.
[25]. N. Bloom, R. Sadun, and J. V. Reenen,
“Does Product Market Competition Lead
Firms to Decentralize?,” American Economic
Review: Papers & Proceedings, vol. 100w,
no. 2, pp. 434-438, 2010.
[28]. N. Bloom, S. Raffaella, and J. V. Reenen,
“Do private equity owned firms have better
management practices?,” American Economic
Review: Papers & Proceedings, vol. 105, no.
5, pp. 442-446, 2015.
[29]. V. M. Bennett, M. Lawrence, and R.
Sadun,
Managers?,” In Proc. Measuring Entrepreneurial
Businesses: Current Knowledge and
Challenges, 2017, pp. 153-186.
“Are
Founder
CEOs
Good
[30]. F. Heyman, J. P. Norbäck, and R.
Hammarberg, “Foreign Direct Investment,
Source
Country
Heterogeneity
and
[26]. N. Bloom, H. Schweiger, and J. V.
Management Practices,” Research Institute of
Industrial Economics working paper, vol.
1041, pp. 1-58, 2014.
Reenen,
“The
land
that
lean
manufacturing forgot? Management practices
in transition countries,” Economics of
Transition, vol. 20, no. 4, pp. 593-635, 2012.
[27]. J. V. Reenen, “Does competition raise
productivity through improving management
quality?,” International Journal of Industrial
Organization, vol. 29, no. 3, pp. 1-35, 2011.
[31]. N. Bloom, R. Sadun, J. V. Reenen, R.
Lemos, and D. Scur, “The New Empirical
Economics of Management,” Journal of the
European Economic Association, vol. 12, no.
4, pp. 835-876, 2014.
73
Bạn đang xem tài liệu "Tổng quan về thực hành quản lý và ứng dụng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tong_quan_ve_thuc_hanh_quan_ly_va_ung_dung_o_viet_nam.pdf

