Tổng quan về thực hành quản lý và ứng dụng ở Việt Nam

ISSN: 1859-2171  
e-ISSN: 2615-9562  
TNU Journal of Science and Technology  
225(07): 66 - 73  
TỔNG QUAN VỀ THỰC HÀNH QUẢN LÝ VÀ ỨNG DỤNG Ở VIỆT NAM  
Trịnh Công Đức1*, Nguyễn Tuấn Kiệt2  
1Phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ  
2Trường Đại học Cần Thơ  
TÓM TẮT  
Doanh nghiệp có vai trò đặc biệt trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia vì vậy hiệu quả hoạt động  
của doanh nghiệp luôn được sự chú ý. Vì vậy, mục tiêu chính của bài viết là hệ thống khung lý thuyết  
thực hành quản lý và rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng trong trường hợp của doanh nghiệp ở Việt  
Nam. Bài viết tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu lý thuyết được đề xuất bởi Baumeister và Leary  
(1997). Kết quả nghiên cứu đã cung cấp một hệ thống cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm ở  
nhiều nước về lợi ích của thực hành quản lý đối với doanh nghiệp. Đồng thời, bài viết cung cấp bài  
học thực tiễn cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong nước áp dụng thực hành quản lý vào hoạt động  
quản lý thực tiễn hàng ngày để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt  
quan trọng với doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Bài viết có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong  
việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.  
Từ khóa: Quản trị doanh nghiệp; doanh nghiệp Việt Nam; thực hành quản lý; tổ chức;  
năng suất.  
Ngày nhận bài: 20/10/2019; Ngày hoàn thiện: 16/3/2020; Ngày đăng: 22/5/2020  
LITERATURE REVIEW OF MANAGEMENT PRACTICES  
AND APPLICATION IN VIETNAM  
Trinh Cong Duc1*, Nguyen Tuan Kiet2  
1Bui Huu Nghia Ward, Binh Thuy District, Can Tho City  
2Can Tho University  
ABSTRACT  
Enterprises play a vital role in the economic development for each country, their perfomances have  
thus been attracted much attention. The main objective of the paper is to systematize management  
practice theory framework, and then to draw lessons to apply in the case of enterprises in Vietnam.  
The paper employs the theoretical research method proposed by Baumeister and Leary (1997). The  
study result has provided a system of the theoretical basis and empirical evidence in many  
countries about the benefits of management practices for enterprises. Simultaneously, the paper  
provides practical lessons for domestic enterprise managers to apply management practices into  
daily practice management to improve performance and competitiveness in the market, especially  
important for medium and small-sized enterprises. The paper is the first to give theoretical and  
practical significance in improving the competitiveness of Vietnamese firms.  
Keywords: Management enterprises; Vietnam enterprises; management practices; organization;  
productivity.  
Received: 20/10/2019; Revised: 16/3/2020; Published: 22/5/2020  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
66  
Trịnh Công Đức và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 66 - 73  
doanh nghiệp. Thứ hai, cung cấp bài học thực  
tiễn cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong  
nước áp dụng thực hành quản lý vào hoạt  
động quản lý thực tiễn hàng ngày để mang lại  
hiệu suất cao và khả năng cạnh tranh tốt hơn.  
Thứ ba, cung cấp cơ sở lý luận để chính phủ  
có thể có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp  
trong nước nâng cao chất lượng hoạt động  
quản trị thông qua các đề án đào tạo chuyển  
giao thực hành quản lý cho doanh nghiệp, đặc  
biệt là doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.  
Điều này có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn  
trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của  
doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh  
tế hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt.  
1. Đặt vấn đề  
Sự khác biệt về năng suất ở cấp độ doanh  
nghiệp và quốc gia luôn được sự quan tâm  
của các nhà nghiên cứu kinh tế trong nhiều  
thập niên qua. Do đó đã có nhiều cách tiếp  
cận để giải thích cho sự khác biệt trên như:  
cách tiếp cận dựa vào kỹ năng lao động [1]-  
[3]; trình độ kỹ thuật công nghệ và thông tin  
[4]-[7]; nghiên cứu và phát triển và phân bổ  
lại nguồn lực tài chính [8]. Trong ba cách tiếp  
cận trên đã cung cấp những bằng chứng rất  
tích cực về sự khác biệt năng suất là do khác  
biệt về kỹ năng lao động, trình độ kỹ thuật  
công nghệ - thông tin, nghiên cứu phát triển  
và phân bổ nguồn lực tài chính hợp lý. Nhưng  
các cách tiếp cận trên đều bỏ qua ảnh hưởng  
của hoạt động quản lý. Mặc dù tầm quan  
trọng của hoạt động quản lý luôn được nhấn  
mạnh trong các lý thuyết quản trị [8]-[11].  
Tuy nhiên, để đo lường tác động của hoạt  
động quản lý đến kết quả đầu ra của doanh  
nghiệp là khó thực hiện. Nên các nhà nghiên  
cứu thường suy luận một cách gián tiếp hoặc  
bỏ qua “biến số hoạt động quản lý trong mô  
hình nghiên cứu của họ”. Gần đây, cách tiếp  
cận “Thực hành quản lý” cho thấy, thực hành  
quản lý có mối tương quan cùng chiều với  
năng suất, lợi nhuận, khả năng cạnh tranh, và  
tuổi thọ của doanh nghiệp [12], [13]. Quan  
điểm thực hành quản lý cũng được mở rộng  
nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều quốc gia  
[14]-[20] nhưng chưa giải thích ở cấp độ  
doanh nghiệp của Việt Nam.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Bài viết sử dụng dữ liệu được tập hợp từ nhiều  
công trình nghiên cứu về thực hành quản lý đã  
được công bố trên nhiều tạp chí khoa học quốc  
tế, các nguồn tài liệu sử dụng đều được trình  
bày ở phần danh mục tài liệu tham khảo. Hiện  
nay, phương pháp nghiên cứu lý thuyết đều  
được thực hiện theo quy trình: tổng hợp – phân  
tích – đánh giá – kết luận. Theo tài liệu [21] và  
[22] quy trình nghiên cứu gồm các bước: xác  
định phạm vi nghiên cứu, lập kế hoạch thực  
hiện, tìm kiếm tài liệu, chọn lọc, và viết báo  
cáo. Do đó, các bước thực hiện nghiên cứu của  
bài viết như sau:  
(i) Xác định phạm vi (vấn đề): vấn đề nghiên  
cứu là gì? Phạm vi nghiên cứu của bài viết:  
“Thực hành quản lý - Một quan điểm lý  
thuyết mới trong quản lý doanh nghiệp”.  
Vì vậy, mục tiêu chính của bài viết là hệ  
thống khung lý thuyết thực hành quản lý và  
rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng trong  
trường hợp của doanh nghiệp ở Việt Nam.  
Đóng góp mới của bài viết là: thứ nhất, cung  
cấp một hệ thống cơ sở lý luận và bằng chứng  
thực nghiệm ở nhiều nước về lợi ích của thực  
hành quản lý đối với doanh nghiệp. Do đó,  
những nghiên cứu ứng dụng có thể sử dụng  
khung lý thuyết này để giải thích trong những  
trường hợp cụ thể, đặc biệt thực hiện các thí  
nghiệm phương pháp quản lý mới trong  
(ii) Lập kế hoạch: vấn đề nghiên cứu được  
chia nhỏ thành những khái niệm để hình  
thành những từ khóa quan trọng liên quan đến  
vấn đề nghiên cứu. Đồng thời, liệt kê danh  
sách những tạp chí trong danh mục ISI (có  
chuyên mục quản trị doanh nghiệp) được xếp  
hạng trích dẫn cao.  
(iii) Tìm kiếm: bước này tiến hành truy cập  
trực tiếp vào website tạp chí khoa học đã  
được xác định ở bước (ii) và truy cập vào  
kho  
dữ  
liệu  
Google  
Scholar  
67  
Trịnh Công Đức và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 66 - 73  
(iv) Chọn lọc: bước này tiến hành đọc và sàng  
lọc những bài viết quan trọng có liên quan đến  
chủ đề nghiên cứu. Các bài báo được thống kê  
phân loại theo tên tác giả, năm công bố công  
trình, chủ đề, phương pháp tiếp cận và đo  
lường, và kết quả nghiên cứu chính đạt được.  
nhất). Phương pháp đo lường và hướng dẫn  
tính điểm thực hành quản lý được thể hiện chi  
tiết trong tài liệu [12].  
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành  
quản lý tốt hoặc kém  
Yếu tố cạnh tranh  
(v) Viết báo cáo: bước này, trình bày tóm tắt  
và diễn đạt kết quả nghiên cứu bằng lời văn,  
các nghiên cứu không chỉ được tổng kết tóm  
tắt kết quả mà còn phân tích đánh giá để đúc  
kết được những gì đã được làm và những gì  
cần được tiếp tục phát triển nghiên cứu, đặc  
biệt là vận dụng vào thực tiễn và học thuật ở  
Việt Nam.  
Mức độ cạnh tranh của thị trường là động lực  
cho các doanh nghiệp cải thiện hoạt động quản  
lý được tốt hơn. Bloom and Van Reenen [12]  
đã cho rằng mức độ cạnh tranh của thị trường  
sản phẩm là yếu tố thể hiện sự phân phối về  
thực hành quản lý giữa các doanh nghiệp và  
các quốc gia. Về mặt lý thuyết, sự ảnh hưởng  
của cạnh tranh đến hoạt động quản lý có thể  
giải thích theo hai quan điểm như sau:  
3. Thực hành quản lý- Một quan điểm mới  
về quản lý  
Thứ nhất là sự lựa chọn quản lý tốt. Tác động  
rõ nhất của cạnh tranh đối với hoạt động quản  
lý là thông qua một quá trình chọn lọc tự  
nhiên. Cạnh tranh của thị trường sản phẩm cao  
hơn sẽ đẩy các doanh nghiệp không hiệu quả  
rời khỏi thị trường và phân bổ thị phần lớn hơn  
cho các doanh nghiệp có hiệu quả hơn. Mức độ  
cạnh tranh có mối liên hệ cùng chiều với năng  
suất trung bình và sự phân tán về năng suất  
thấp hơn vì các doanh nghiệp kém hiệu quả đã  
bị loại ra khỏi thị trường [23]. Do đó, trong  
một môi trường có tính cạnh tranh hơn chúng  
ta có thể mong đợi các hoạt động quản lý sẽ  
đạt mức trung bình tốt hơn [12].  
3.1. Khái niệm và phương pháp đo lường  
hoạt động quản lý  
Khái niệm: Thực hành quản lý là mức độ  
doanh nghiệp áp dụng những phương pháp  
quản lý tinh gọn vào quy trình hoạt động,  
giám sát công việc thực hiện, thiết lập và theo  
dõi các mục tiêu, và công tác khuyến khích  
nguồn nhân lực của doanh nghiệp nhằm đạt  
được kết quả đầu ra có hiệu quả cao nhất [12].  
Phương pháp đo lường: Thực hành quản lý  
được định lượng bằng bộ tiêu chí gồm 18 câu  
hỏi mở. Hoạt động giám sát (7 tiêu chí): giới  
thiệu áp dụng các kỹ thuật quản lý mới/tinh  
gọn, lý do giới thiệu áp dụng kỹ thuật quản lý  
mới/ tinh gọn, tài liệu hướng dẫn và cải tiến  
liên tục, theo dõi hiệu suất, đánh giá hiệu suất,  
đối thoại về hiệu quả công việc, quản lý hậu  
quả. Hoạt động thiết lập và theo dõi mục tiêu  
(5 tiêu chí): các loại mục tiêu, sự kết nối giữa  
các mục tiêu, giới hạn thời gian hoàn thành  
mục tiêu, độ khó của mục tiêu, sự rõ ràng và  
có thể so sánh. Hoạt động khuyến khích nhân  
lực (6 tiêu chí): phát triển nhân tài, xây dựng  
văn hóa làm việc hiệu quả cao, cải thiện các  
cá nhân làm việc kém hiệu quả, thăng tiến cá  
nhân làm việc hiệu quả cao, thu hút nguồn  
nhân lực, duy trì nguồn nhân lực. Các tiêu chí  
được định lượng điểm số theo thang đo 5 mức  
độ, (1 điểm là thực hành kém và 5 điểm là tốt  
Thứ hai là chi phí đại diện. Cạnh tranh cũng  
ảnh hưởng đến sự nỗ lực của các nhà quản lý  
theo mô hình chi phí đại diện [12]. Trước đó,  
Schmidt [24] cũng nhận thấy rằng, mức độ  
cạnh tranh cao có thể làm tăng sự nỗ lực của  
các nhà quản lý vì họ phải đối mặt với nguy cơ  
bị phá sản cao hơn. Thêm vào đó, lý thuyết  
cạnh tranh độc quyền cũng đã chỉ ra rằng, do  
có sự khác biệt lớn về chi phí biên của các  
doanh nghiệp trong ngành đã làm tăng cao  
mức độ cạnh tranh (vì giá lớn hơn chi phí biên)  
nên các nhà quản lý luôn có động lực để tăng  
lợi nhuận biên. Tuy nhiên, sự cạnh tranh cũng  
tác động theo chiều ngược lại. Bởi vì mức độ  
cạnh tranh trở nên gay gắt thì lợi nhuận đạt  
được của các doanh nghiệp sẽ thấp hơn hoặc bị  
68  
Trịnh Công Đức và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 66 - 73  
giảm đi, khi đó các khoản gắn với lợi nhuận  
cũng giảm theo (Ví dụ: chia cổ tức thấp hơn,  
thưởng giảm đi, phụ cấp khác cắt giảm).  
nhau. Doanh nghiệp sở hữu nhà nước và sở  
hữu gia đình (có CEO là người trong gia đình  
chưa qua đào tạo về quản trị hoặc kế thừa là  
người con trưởng) thì thực hành quản lý kém  
hơn doanh nghiệp sở hữu tư nhân theo hình  
thức cổ phần hay sở hữu gia đình nhưng có  
CEO không phải là thành viên trong gia đình  
[12]. Các hình thức sở hữu doanh nghiệp ảnh  
hưởng đến thực hành quản lý cũng đúng khi  
được kiểm chứng trong những ngành và quốc  
gia khác nhau. Chẳng hạn, [14], [26] cho thấy  
sự thay đổi đáng kể trong thực hành quản lý  
của các tổ chức trong mỗi lĩnh vực (như sản  
xuất, bán lẻ, giáo dục, y tế) và mỗi quốc gia  
(như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ,...).  
Về mặt thực tiễn, các bằng chứng thực  
nghiệm của Bloom và cộng sự cho thấy có sự  
tác động tích cực của yếu tố cạnh tranh của  
thị trường sản phẩm đến sự cải thiện hoạt  
động quản lý của các doanh nghiệp. Các nhà  
quản lý sẽ cải thiện hoạt động quản lý doanh  
nghiệp họ được tốt hơn nếu biết doanh nghiệp  
mình có nhiều hơn một đối thủ cạnh tranh  
trên thị trường. Kết quả phân tích hồi quy  
cũng có ý nghĩa rất tích cực giữa chỉ số  
Lerner và sự cải tiến trong hoạt động quản lý  
[12]. Trong một số nghiên cứu khác cũng cho  
thấy mức độ cạnh tranh có mối quan hệ cùng  
chiều với thực hành quản lý của doanh nghiệp  
[14], [19], [25], [26]. Dưới áp lực cạnh tranh  
buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực nhiều hơn  
hoặc lựa chọn mô hình phù hợp cho sự phát  
triển. Van Reenen [27] cũng cho rằng cạnh  
tranh không thật sự làm nâng cao năng suất  
nhưng cạnh tranh là động cơ chính để nâng  
cao chất lượng trong hoạt động quản lý và  
năng suất tăng là do sự cải thiện cơ chế quản  
lý qua áp dụng thực hành quản lý tốt.  
Cấu trúc sở hữu doanh nghiệp có ảnh hưởng  
tích cực đến chất lượng của thực hành quản lý  
[19]. Các doanh nghiệp ở Australia có hình  
thức sở hữu gia đình, quốc doanh, chưa niêm  
yết có điểm thực hành quản lý kém hơn các  
loại hình khác [15], doanh nghiệp cổ phần  
chưa niêm yết có điểm số thực hành quản lý tốt  
hơn doanh nghiệp sở hữu nhà nước/gia đình  
nhưng lại thấp hơn nhóm doanh nghiệp cổ  
phần niêm yết [28], các nhà sáng lập kiêm điều  
hành có điểm quản lý thấp hơn các nhà quản lý  
thuộc hình thức sở hữu Nhà nước, cổ phần, gia  
đình [29]. Sự ảnh hưởng này tạo nên sự khác  
biệt về hiệu suất của các doanh nghiệp.  
Yếu tố nguồn nhân lực  
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố thứ hai  
ảnh hưởng đến thực hành quản lý của doanh  
nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực không  
đồng nhất là nguyên nhân dẫn đến thực hành  
quản lý tốt hay kém ở các doanh nghiệp và  
các quốc gia. Các doanh nghiệp sở hữu được  
đội ngũ nhân lực (quản lý, nhân viên, công  
nhân) có trình độ giáo dục cao (tỷ lệ có bằng  
cử nhân trở lên), kỹ năng chuyên môn tốt (tỷ  
lệ được đào tạo nghề, tập huấn) thì có kết quả  
thực hành quản lý tốt (điểm số thực hành trên  
mức trung bình). Do đó doanh nghiệp đạt  
được mức năng suất trung bình tốt hơn [12],  
Ngoài ra, các yếu tố như xuất xứ (ở Mỹ hay  
quốc gia khác), quy mô (lớn, nhỏ), mục đích  
(lợi nhuận, phi lợi nhuận), thị trường (trong  
nước, xuất khẩu, đa quốc gia) cũng ảnh  
hưởng đến chất lượng thực hành quản lý tốt  
hay kém. Chẳng hạn, công ty đa quốc gia của  
Mỹ hoạt động hiệu quả hơn của Thụy Điển  
[30]; doanh nghiệp có quy mô lớn thực hành  
quản lý tốt hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ  
[15], doanh nghiệp vì lợi nhuận thực hành  
quản lý tốt hơn doanh nghiệp phi lợi nhuận  
[18]; doanh nghiệp đa quốc gia và xuất khẩu  
thực hành quản lý tốt hơn doanh nghiệp hoạt  
động thị trường nội địa [15], [26], [30]; và  
doanh nghiệp có sự phân quyền cao sẽ thực  
hành quản lý tốt hơn [25].  
Yếu tố sở hữu  
Doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác  
nhau thì áp dụng thực hành quản lý cũng khác  
69  
Trịnh Công Đức và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 66 - 73  
Qua tổng hợp các bằng chứng trên cho thấy có  
ba yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động  
quản lý của một doanh nghiệp “tốt” hoặc  
“kém” là phụ thuộc mức độ cạnh tranh của thị  
trường, nguồn vốn nhân lực, và quyền sở hữu.  
Do đó, bài học kinh nghiệm rút ra ở đây là:  
doanh nghiệp có thể chủ động cải tiến hoạt  
động quản lý thông qua cải thiện chất lượng  
nguồn vốn nhân lực và mỗi doanh nghiệp cần  
xây dựng cho mình một kế hoạch phát triển  
nguồn nhân lực trong dài hạn. Điều này sẽ  
mang lại hiệu quả cao hơn trong kinh doanh.  
Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ và khuyến  
khích các doanh nghiệp sở hữu gia đình và sở  
hữu cá nhân tiếp cận những phương pháp quản  
lý mới vận dụng vào doanh nghiệp. Còn đối  
với doanh nghiệp sở hữu nhà nước có thể nâng  
cao hiệu quả thông qua áp dụng thực hành  
quản lý nhiều hơn vào trong hoạt động hàng  
ngày của doanh nghiệp. Ngoài ra, các yếu tố  
này cũng đặt ra một câu hỏi: “Chất lượng quản  
lý của doanh nghiệp ở Việt Nam có chịu ảnh  
hưởng bởi yếu tố cạnh tranh, vốn nhân lực,  
quyền sở hữu không?”. Câu hỏi cần được giải  
đáp bởi các nghiên cứu trong tương lai. Điều  
này không chỉ cung cấp thêm luận cứ khoa học  
giúp các nhà quản lý có thêm động lực áp dụng  
thực hành quản lý vào hoạt động của doanh  
nghiệp mà còn suy rộng khả năng giải thích  
của lý thuyết trong thực tiễn.  
Ấn Độ. Bloom et al. đã tư vấn miễn phí cho  
nhóm doanh nghiệp tham gia thực hành Lean.  
Sau một năm, kết quả cho thấy thực hành Lean  
mang lại hiệu quả tích cực cho doanh nghiệp  
(năng suất của nhóm can thiệp đã tăng lên  
17%). Kết quả này đã khẳng định lợi ích thực  
tiễn của thực hành quản lý. Tương tự, [17] thí  
nghiệm “Làm việc tại nhà –WFH” thực hiện ở  
Trung Quốc, dưới sự hợp tác của công ty  
Ctrip. Kết quả cho thấy, hiệu suất làm việc của  
nhóm WFH tăng 13%, nhân viên hài lòng cao  
hơn trong công việc, đạt thái độ tâm lý tốt hơn  
và tỷ lệ mất khách của họ đã giảm hơn 50%.  
Điều này dẫn đến hiệu quả tăng gần gấp đôi  
trong hoạt động bán vé máy bay và đặt phòng  
khách sạn của Ctrip.  
Từ sự thành công của hai thí nghiệm trên đã  
nhấn mạnh lợi ích của sự hiểu biết và lựa  
chọn áp dụng các mô hình thực hành quản lý  
như WFH, Lean, 5S,… là cần thiết cho các  
doanh nghiệp. Tuy nhiên, để thí nghiệm được  
mở rộng quy mô và lan tỏa hiệu ứng của nó  
thì rất cần sự hợp tác giữa doanh nghiệp và  
các nhà nghiên cứu kinh tế. Thí nghiệm thực  
địa là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới trong  
bối cảnh của doanh nghiệp Việt Nam nếu điều  
này được mở rộng phát triển sẽ đóng góp  
nhiều giải pháp hiệu quả giúp cho hoạt động  
doanh nghiệp ở Việt Nam phát triển tốt hơn.  
4. Kết luận và đề xuất  
3.3. Thí nghiệm hiện trường về thực hành  
quản lý  
Bài viết đã hệ thống khung lý thuyết về thực  
hành quản lý. Kết quả rút ra từ thực nghiệm  
đã cho thấy, doanh nghiệp thực hành quản lý  
tốt sẽ đạt được hiệu suất cao, suy rộng phạm  
vi quốc gia thì thực hành quản lý tốt có tác  
động tích cực đến sự phát triển nền công  
nghiệp. Cùng với những quan điểm trước,  
thực hành quản lý đã giải thích rõ ràng hơn về  
sự ảnh hưởng của chất lượng hoạt động quản  
lý đến hiệu suất kinh doanh của doanh  
nghiệp. Tuy nhiên, thực hành quản lý “tốt”  
hoặc “kém” phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:  
mức độ cạnh tranh, loại hình sở hữu, quy mô,  
nguồn vốn nhân lực, phân quyền, lĩnh vực  
hoạt động, và trình độ phát triển của quốc gia.  
Tổ thức thí nghiệm (Field Experiments) cho  
phép tìm ra những mô hình quản lý có hiệu  
quả cao và có thể ứng dụng phù hợp cho từng  
loại hình doanh nghiệp. Đây cũng là một xu  
hướng nghiên cứu mới cần được phát triển  
nghiên cứu. Nhưng vẫn còn khá nhiều rào cản  
để thực hiện các thí nghiệm trong thực tế bởi  
các chủ doanh nghiệp chưa thật sự tin tưởng  
tính hiệu quả của mô hình quản lý, bị giới hạn  
về nhận thức và môi trường cạnh tranh không  
gay gắt [16].  
Gần đây Bloom et al. [16] đã mở đầu cho xu  
hướng này với thí nghiệm thực hành Lean (sản  
xuất tinh gọn) cho doanh nghiệp dệt may tại  
70  
Trịnh Công Đức và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 66 - 73  
chế thưởng phạt (Nudges, Economic  
Incentives). Tuy nhiên, để thực nghiệm thành  
công và lan tỏa hiệu ứng của nó thì rất cần sự  
hợp tác giữa các doanh nghiệp và các nhà  
nghiên cứu kinh tế.  
Dựa vào kết quả tổng kết lý thuyết, bài viết đề  
xuất hướng ứng dụng cho doanh nghiệp trong  
nước như sau: trước hết, cần có những đánh  
giá thực nghiệm xác định mức độ thực hành  
quản lý của doanh nghiệp trong nước yếu  
kém trong khâu nào từ đó đưa ra mô hình vận  
dụng phù hợp với đặc điểm và ngành kinh  
doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ - siêu  
nhỏ khả năng cạnh tranh yếu, dễ bị tổn  
thương trước những thay đổi của thị trường,  
và hiệu quả kinh doanh rất thấp. Do đó,  
những kết quả thực nghiệm về mối quan hệ  
giữa hoạt động quản lý (quy trình hoạt động,  
giám sát hiệu suất, thiết lập-theo dõi mục tiêu,  
chế độ khuyến khích nhân sự) và hiệu suất  
của doanh nghiệp là cần thiết để áp dụng thực  
hành quản lý.  
Bên cạnh đó, để thực hành quản lý được áp  
dụng tốt trong các doanh nghiệp Việt Nam thì  
nhà quản trị doanh nghiệp cần mạnh dạn cải  
tiến cách quản lý trong những hoạt động hàng  
ngày. Trong quy trình hoạt động (sản xuất  
hoặc phi sản xuất) cần được chuẩn hóa và  
thực hành tinh gọn để giảm các loại lãng phí  
và cải tiến liên tục. Trong hoạt động giám sát  
cần xây dựng các chỉ số đo lường hiệu quả  
công việc gắn kết với mục tiêu chung, mục  
tiêu tài chính, năng lực cá nhân trong mỗi tổ  
chức. Điều này sẽ giúp nhà quản lý dễ dàng  
theo dõi hiệu suất làm việc của các cá nhân,  
làm cơ sở trả tiền lương, đãi ngộ, phát triển  
nhân viên. Tuy nhiên, các chỉ số đo lường nên  
thiết kế đơn giản, dễ hiểu và định lượng được.  
Ở góc độ vĩ mô, hiện nay chưa có những tiêu  
chuẩn hay thước đo phù hợp để doanh nghiệp  
có thể thực hiện tự đánh giá chất lượng hoạt  
động quản lý của doanh nghiệp. Vì vậy, chính  
phủ cần hỗ trợ xây dựng bộ tiêu chí đo lường  
thực hành quản lý và chỉ số thực hành quản lý  
cho từng ngành, từng khu vực. Điều này giúp  
cho tổ chức doanh nghiệp có thể tự so sánh  
chất lượng của hoạt động quản lý và có cơ sở  
cải tiến hoạt động quản lý của họ được tốt  
hơn. Đây là xu hướng đang được phát triển  
nghiên cứu ứng dụng cho nhiều nước và nó  
cũng cần thiết cho một quốc gia đang phát  
triển như Việt Nam.  
Nhà quản lý cấp cao nên thiết lập các mục tiêu  
(hoạt động, tài chính, phi tài chính, ngắn hạn  
và dài hạn) cho doanh nghiệp dựa vào các cơ  
sở kinh tế vững chắc. Điều này sẽ giúp nhà  
quản lý dễ dàng theo dõi kết quả hoạt động đạt  
được trong từng thời điểm hoặc nếu có những  
bất lợi thì thực hiện những biện pháp thích ứng  
kịp thời. Các nhà quản lý cũng cần có một bản  
kế hoạch về nguồn vốn nhân lực trong ngắn  
hạn và dài hạn cho doanh nghiệp. Bởi kết quả  
và sự tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc rất  
lớn vào nguồn lực con người. Các chính sách  
khuyến khích, thu hút, duy trì nhân viên rất cần  
được quan tâm song song với quy trình hoạt  
động của doanh nghiệp. Có như vậy, doanh  
nghiệp mới có thể hoạt động hiệu suất cao và  
có được lợi thế trong thị trường mà doanh  
nghiệp đang cạnh tranh.  
Đồng thời cần tổ chức thực hiện thí nghiệm  
thực tế tại các doanh nghiệp về những mô  
hình thực hành quản lý, điều này sẽ đóng góp  
nhiều giải pháp hiệu quả cho hoạt động của  
doanh nghiệp ở Việt Nam phát triển bắt kịp  
theo trình độ quản lý của thế giới. Chẳng hạn:  
thực hành tinh gọn (Lean), 5S (cải tiến), Just  
In Time (4 đúng), Chu trình PDCA (Plan –  
Do – Check – Act), làm việc tại nhà (Working  
From Home), cân bằng công việc và cuộc  
sống (Work - Life Balance), môi trường làm  
việc thân thiện (Family - Friendly Workplace  
Practices), thiết kế thời gian làm việc linh  
hoạt (Flexi-Time), chia sẻ công việc (Job  
Sharing), hợp đồng lựa chọn công việc và cơ  
Cuối cùng, lý thuyết thực hành quản lý cần  
được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng doanh  
nghiệp Việt Nam thông qua các kênh phù hợp  
để giới thiệu lý thuyết đến các nhà quản lý có  
thể hiểu, nắm bắt, tin tưởng và áp dụng vào  
thực tiễn. Bởi “quản lý như một công nghệ” vì  
vậy nó cần phải được chuyển giao [31].  
71  
Trịnh Công Đức và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 66 - 73  
[12]. N. Bloom, and J. V. Reenen, “Measuring  
and explaining management practices across  
firms and countries,” Quarterly Journal of  
Economics, vol. 112, no. 4, pp. 1351-1408, 2007.  
[13]. N. Bloom, and J. V. Reenen, “New  
Approaches to Surveying Organizations,”  
American Economic Review: Papers and  
Proceedings, vol. 100w, no. 2, pp. 105-109, 2010.  
[14]. N. Bloom, C. Genakos, R. Sadun, and J.  
V. Reenen, “Management Practices Across  
Firms and Countries,” Academy of Management  
Perspectives, vol. 26, no. 1, pp. 12-33, 2012.  
[15]. R. Green, J. Piper, R. Badham, and R.  
Agarwal, “Management Matters in Australia:  
Just how productive are we?,” 2009.  
survey.org/wpcontent/images/2010/07/Report  
_Management-Matters-in-Australia-just-how-  
productive-are-we.pdf. [Accessed October  
15th, 2016].  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển  
khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED)  
trong đề tài mã số 502.01-2016.15.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1]. M. Baily, C. Hulten, and D. Campbell,  
“Productivity dynamics in manufacturing  
plants,”  
1992.  
[Online].  
Available:  
October 15th, 2016].  
[2]. E. Bartelsman, and P. Dhrymes, “Productivity  
Dynamics: US Manufacturing plants, 1972-  
1986,” Journal of Productivity Analysis, vol.  
9, no. 1, pp. 5-34, 1998.  
[3]. R. Disney, J. Haskel, and Y. Heden,  
“Restructuring and Productivity Growth in  
UK Manufacturing,” The Economic Journal,  
vol. 113, no. 489, pp. 666-694, 2003.  
[4]. E. Bartelsman, S. Scarpetta, and F. Schivardi,  
“Comparative Analysis of firm Demographics  
and Survival: Micro-Level Evidence for the  
OECD countries,” Industrial and Corporate  
Change, vol. 14, no. 3, pp. 365-391, 2005.  
[5]. S. Black, and L. Lynch, “How to compete: the  
impact of workplace practices and  
information technology on productivity,”  
Review of Economics & Statistics, vol. 83, pp.  
434-445, 2001.  
[6]. T. Bresnahan, E. Brynjolfsson, and L. Hitt,  
“Information technology, work organization,  
and the demand for skilled labor: firm-level  
evidence,” Quaterly Journal of Economics,  
vol. 339, no. 1, pp. 339-376, 2002.  
[16]. N. Bloom, B. Eifert, A. Mahajan, Mckenzie,  
and J. Roberts, “Does Management Matter?  
Evidence from India,” Quarterly Journal of  
Economics, vol. 128, no. 1, pp. 1-51, 2013.  
[17]. N. Bloom, J. Liang, J. Roberts, and J. Z.  
Ying, “Does working from home work?  
Evidence from  
a
Chinese experiment,”  
Quarterly Journal of Economics, vol. 130,  
no.1, pp. 65-218, 2015.  
[18]. G. F. Keller, “Comparing The Affects Of  
Management Practices On Organizational  
Performance Between For-Profit And Not-  
For-Profit  
Corporations  
In  
Southeast  
Wisconsin,” Journal of Business & Economics  
Research, vol. 9, no. 3, pp. 29-38, 2011.  
[19]. R. Lemos, D. Scur, “Could poor  
management be holding back development?  
Describing practices in the public and private  
sectors in India,” International Growth Centre  
(IGC) Working Paper, 2012, pp. 1-53.  
[20]. K. J. McConnell, C. R. Lindrooth, R. D.  
Wholey, M. T. Maddox, and N. Bloom,  
“Management Practices and the Quality of  
Care in Cardiac Units,” 2013. [Online].  
[7]. D. S. Landes, The unbound Prometheus:  
technological  
change  
and  
industrial  
development in Western Europe from 1750 to  
the present. Cambridge University Press, 2003.  
[8]. S. Olley, and A. Pakes, “The Dynamics of  
productivity in the telecommunication  
equipment industry,” Econometrica, vol. 64,  
no. 6, pp. 1263-1297, 1996.  
Available:  
[9]. F. P. Drucker, The Best of Peter Drucker on  
Management. Tre Publisher, Ho Chi Minh  
City, 2008.  
[10]. T. Frederick, The principles of scientific  
management. Harper and Brothers Publisher,  
New York City, 1911.  
org/academic-research/non-profits/. [Accessed  
October 15th, 2016].  
[21]. R. F. Baumeister, and M. R. Leary,  
“Writing narrative literature reviews,” Review  
of general psychology, vol. 1, no. 3, pp. 311-  
320, 1997.  
[22]. D. T. Nguyen, Methods of scientific  
[11]. H. Mintzberg, “The design school:  
reconsidering the premises of stragetic  
management,” Strategic Management Journal,  
vol. 11, no. 3, pp. 171-195, 1990.  
research in business  
-
Designing and  
Application. Labour Publishing House, Ha  
Noi, 2013.  
72  
                                   
Trịnh Công Đức và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 66 - 73  
[23]. C. Syverson, “Market Structure and  
Productivity: A Concrete Example,” Journal  
of Political Economy, vol. 112, no. 6, pp.  
1181-1222, 2004.  
[24]. K. Schmidt, “Managerial Incentives and  
Product Market Competition,” Review of  
Economic Studies, vol. 64, no. 2, pp. 191-  
213, 1997.  
[25]. N. Bloom, R. Sadun, and J. V. Reenen,  
“Does Product Market Competition Lead  
Firms to Decentralize?,” American Economic  
Review: Papers & Proceedings, vol. 100w,  
no. 2, pp. 434-438, 2010.  
[28]. N. Bloom, S. Raffaella, and J. V. Reenen,  
“Do private equity owned firms have better  
management practices?,” American Economic  
Review: Papers & Proceedings, vol. 105, no.  
5, pp. 442-446, 2015.  
[29]. V. M. Bennett, M. Lawrence, and R.  
Sadun,  
Managers?,” In Proc. Measuring Entrepreneurial  
Businesses: Current Knowledge and  
Challenges, 2017, pp. 153-186.  
“Are  
Founder  
CEOs  
Good  
[30]. F. Heyman, J. P. Norbäck, and R.  
Hammarberg, “Foreign Direct Investment,  
Source  
Country  
Heterogeneity  
and  
[26]. N. Bloom, H. Schweiger, and J. V.  
Management Practices,” Research Institute of  
Industrial Economics working paper, vol.  
1041, pp. 1-58, 2014.  
Reenen,  
“The  
land  
that  
lean  
manufacturing forgot? Management practices  
in transition countries,” Economics of  
Transition, vol. 20, no. 4, pp. 593-635, 2012.  
[27]. J. V. Reenen, “Does competition raise  
productivity through improving management  
quality?,” International Journal of Industrial  
Organization, vol. 29, no. 3, pp. 1-35, 2011.  
[31]. N. Bloom, R. Sadun, J. V. Reenen, R.  
Lemos, and D. Scur, “The New Empirical  
Economics of Management,” Journal of the  
European Economic Association, vol. 12, no.  
4, pp. 835-876, 2014.  
73  
                 
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 18360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tổng quan về thực hành quản lý và ứng dụng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftong_quan_ve_thuc_hanh_quan_ly_va_ung_dung_o_viet_nam.pdf