Giải pháp nâng cao vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế ở Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN  
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM  
Nguyễn Ngọc Hùng1  
TÓM TẮT  
Trên cơ sở khái quát về kinh tế tư nhân ở các nước đang phát triển và phân tích  
thực trạng, môi trường chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời  
gian qua, bài viết tập trung đánh giá vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh  
tế Việt Nam. Từ đó tìm ra những tồn tại và rào cản phát triển kinh tế tư nhân ở nước  
ta. Cuối cùng, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của kinh tế tư  
nhân trong phát triển kinh tế ở Việt Nam thời gian tới.  
Từ khóa: Giải pháp, nâng cao, vai trò, kinh tế tư nhân, Việt Nam  
1. Đặt vấn đề  
kinh tế tư nhân tại các nước phát triển là  
nơi có sức mạnh khổng lồ và ưu thế  
tuyệt đối, nó có đủ sức để thoát khỏi sự  
trói buộc của chính trị. Khu vực kinh tế  
tư nhân tại các nước đang phát triển nói  
chung còn ở quy mô thấp và sức mạnh  
hạn chế, chính do đặc điểm này nó bị  
các thế lực chính trị chi phối và kiểm  
soát chặt chẽ. Kết quả là các hoạt động  
kinh tế thường có nguy cơ bị bóp méo,  
tạo ra tình trạng phát triển lệch lạc, phi  
tự nhiên của nền kinh tế. Đó chính là  
những nguy cơ cần được lưu ý khi phát  
triển nền kinh tế của quốc gia tránh  
được những trở ngại, rủi ro không đáng  
có. Cụ thể là:  
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh  
tế được hình thành và phát triển dựa  
trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất  
và lợi ích cá nhân. Kinh tế tư nhân gồm  
kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản  
tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ  
kinh doanh cá thể và các loại hình  
doanh nghiệp tư nhân.  
Khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam  
đã đóng góp phần lớn vào phát triển  
kinh tế - xã hội của nước ta. Doanh  
nghiệp tư nhân đóng góp 43,22% GDP  
và 39% vốn đầu tư toàn xã hội, tạo ra  
nhiều việc làm trong nền kinh tế [1].  
Tuy nhiên hiện nay còn nhiều yếu tố  
gây khó khăn, hạn chế vai trò động lực  
của kinh tế tư nhân, do đó cần thực hiện  
một số giải pháp để khu vực kinh tế tư  
nhân thực sự trở thành nền tảng của mô  
hình phát triển kinh tế Việt Nam trong  
giai đoạn tới.  
+ Tính phi kinh tế của các hoạt  
động kinh tế.  
Nền kinh tế chuyên nghiệp đòi hỏi  
các hoạt động kinh tế phải tạo ra được  
sự gia tăng giá trị. Không nhận thức  
được tính hiệu quả trọn vẹn tổng thể thì  
không có phát triển, tức là không có nền  
kinh tế chuyên nghiệp. Nhiều nước  
đang phát triển đều có một nền kinh tế  
gọi là nền kinh tế thành tích chính trị.  
2. Khái quát về kinh tế tư nhân  
tại các nước đang phát triển  
Khác các nước đang phát triển và  
các nước có nền kinh tế chuyển đổi,  
1Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh  
47  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
Các nhà chính trị nhìn nhận nền kinh tế  
như những thành tích chính trị chứ  
không phải lợi ích, không phải theo  
quan điểm gia tăng các giá trị. Kết quả  
là không có phát triển kinh tế, thậm chí  
phải đối mặt với những cuộc khủng  
hoảng kinh tế cực kỳ nghiêm trọng mà  
bài học ở Hàn Quốc, Thái Lan,  
Indonesia và gần đây là Argentina đã  
chỉ rõ.  
mất. Công ty ấy chỉ thay đổi chủ sở hữu  
mà thôi, nhưng công ty có thể biến mất  
trong một chế độ mà đảng cầm quyền  
có thái độ không thiện chí đối với họ.  
Chừng nào các phương tiện thông tin  
đại chúng còn thể hiện thái độ phân  
biệt, kỳ thị đối với kinh tế tư nhân thì sẽ  
không có kinh tế tư nhân lành mạnh,  
không có khu vực kinh tế tư nhân  
chuyên nghiệp. Nguy hiểm hơn, khu  
vực kinh tế tư nhân sẽ có nguy cơ bị  
đẩy vào những hoạt động kinh doanh  
không minh bạch, làm bóp méo các  
hoạt động kinh tế và lực lượng kinh tế  
tư nhân sẽ không phát triển lên quy mô  
lớn, nó sẽ biến dạng và tiến hành những  
hoạt động kinh doanh theo kiểu du kích  
để tồn tại và để chống lại mọi rủi ro  
chính trị có thể được dự báo thông qua  
quan sát thái độ chính trị của những  
người lãnh đạo đối với khu vực kinh tế  
tư nhân.  
+ Sự phát triển của nền kinh tế thường  
gắn liền với những rủi ro chính trị.  
Những rủi ro chính trị phụ thuộc  
chủ yếu vào nhận thức chính trị và thái  
độ chính trị của đảng cầm quyền. Do  
vậy thái độ chính trị của đảng cầm  
quyền đối với khu vực kinh tế tư nhân ở  
các nước đang phát triển cũng như các  
nước đang trong giai đoạn nền kinh tế  
chuyển đổi là vô cùng quan trọng. Nếu  
đảng cầm quyền không có thái độ đúng,  
không có nhận thức đúng về kinh tế tư  
nhân thì cho dù có tạo ra một khối  
lượng đồ sộ các chính sách hay quy chế  
thì cũng vô ích. Nhà kinh doanh nhìn  
chính quyền không phải thông qua văn  
bản chính sách mà chủ yếu qua thái độ  
chính trị. Bản năng của nhà kinh doanh  
giúp họ luôn nhận thức về sự xuất hiện  
của những rủi ro và phải thừa nhận rằng  
trong xã hội hiện đại rủi ro chính trị là  
rủi ro cơ bản. Vì nếu một chủ kinh  
doanh phá sản thì sở hữu công ty đó  
không mất đi, nó sẽ được chuyển sang  
một chủ kinh doanh khác. Cho nên  
chúng ta không nên xem sự sụp đổ của  
một công ty có nghĩa là công ty ấy biến  
+ Tạo cơ hội dẫn đến tình trạng  
tham nhũng.  
Khác với động cơ kinh doanh của  
kinh tế nhà nước có màu sắc lý tưởng  
hóa, với mục đích phục vụ phúc lợi xã  
hội, động cơ kinh doanh của kinh tế tư  
nhân mang tính bản năng và vụ lợi cá  
nhân. Kinh doanh kiếm lợi hay là nhận  
thức về sự gia tăng giá trị từng bộ phận  
của từng hộ kinh doanh hay từng cá  
nhân là bản năng của con người. Nhiệm  
vụ của người quản lý xã hội, của nhà  
chính trị chính là phối hợp một cách tự  
nhiên cái bản năng ấy để biến thành lý  
tưởng phát triển kinh tế của xã hội. Lý  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
tưởng phát triển kinh tế, lý tưởng trị giá  
gia tăng của một nền kinh tế phải được  
nhận thức, được kiến thiết trên nền tảng  
sự tự giác của người điều hành, người  
lãnh đạo trước bản năng kiếm lời của  
các cá nhân. Xã hội đưa ra những quy  
định càng nghiêm khắc, càng có những  
tiêu chuẩn rành mạch bao nhiêu thì bản  
năng ấy càng được gọt giũa và có giá trị  
văn hóa bấy nhiêu. Khi hoạt động kinh  
doanh không chứa đựng trong đó những  
yếu tố văn hóa thì chúng sẽ cấu tạo  
thành một nền kinh tế không lành mạnh.  
Tại những nước đang phát triển tình  
trạng lạm dụng quyền lực chính trị cho  
những quyền lợi cá nhân, sự móc ngoặc  
giữa các nhà chính trị và các nhà kinh  
doanh dẫn đến tình trạng tham nhũng  
trên quy mô quốc gia, nguy cơ dẫn nền  
kinh tế đến suy thoái.  
điểm đó sở hữu tư nhân là nguồn gốc  
của chủ nghĩa tư bản.  
Giai đoạn sau đổi mới, Đại hội  
Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991,  
Đảng đã xác định: “Kinh tế nhà nước,  
kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh  
tế quốc dân”. Đến năm 2000, nhiều văn  
bản pháp lý đã được thông qua như  
Luật Đất đai (1988), Luật Công ty, Luật  
Doanh nghiệp tư nhân (1990), Luật Phá  
sản doanh nghiệp (1993), Luật sửa đổi,  
bổ sung một số điều của Luật Công ty,  
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của  
Luật Doanh nghiệp tư nhân (1994), thiết  
lập một khuôn khổ pháp lý cho việc vận  
hành của khu vực tư nhân. Tuy nhiên sự  
phát triển của khu vực tư nhân vẫn rất  
chậm [2].  
Kể từ năm 2000, khi Luật Doanh  
nghiệp (1999) ra đời, đã quy định rõ  
quyền của nhà nước, cán bộ, các nhà  
đầu tư cũng như doanh nghiệp. Một  
điểm rất đáng lưu ý khác là quyền tự do  
kinh doanh được công nhận. Những  
chuyển biến tư duy quan trọng này đã  
góp phần làm tăng mạnh số doanh  
nghiệp đăng ký mới.  
3. Thực trạng và môi trường  
chính sách phát triển kinh tế tư nhân  
ở nước ta trong thời gian qua  
Kể từ khi đổi mới đến nay, thể chế  
đối với kinh tế tư nhân của nước ta đã  
có những bước phát triển rõ rệt. Đáng  
chú ý nhất là sự thay đổi quan điểm về  
vai trò kinh tế tư nhân trong văn kiện  
Đảng. Giai đoạn trước đổi mới, Việt  
Nam thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa  
tập trung. Nhà nước quyết định tất cả  
các hoạt động kinh tế, phân bổ đầu vào  
và phân bố đầu ra. Doanh nghiệp nhà  
nước và tập thể vẫn là hai loại hình sở  
hữu chính trong nền kinh tế. Sự tồn tại  
của sở hữu tư nhân và cá thể vì thế bị  
kìm hãm phát triển do quan điểm thời  
Tuy vậy phải đến Luật Doanh  
nghiệp mới (2005) điều chỉnh tất cả các  
doanh nghiệp không kể loại hình sở  
hữu, tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn  
giữa doanh nghiệp nhà nước (trước đó  
vẫn được điều chỉnh bởi Luật Doanh  
nghiệp nhà nước), doanh nghiệp nước  
ngoài (trước đó do Luật Đầu tư nước  
ngoài điều chỉnh) và các loại hình  
doanh nghiệp khác như công ty trách  
49  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công  
ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân  
trong nước, công ty trách nhiệm hữu  
hạn, công ty cổ phần từ doanh nghiệp  
nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức  
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội  
chuyển đổi thành.  
Môi trường kinh doanh năm 2016 (Việt  
Nam đứng thứ 91). Tuy nhiên thứ hạng  
đối với một số chỉ số của Việt Nam còn  
khá thấp, như khởi sự kinh doanh (đứng  
thứ 121), trả thuế (đứng thứ 167) và phá  
sản (đứng thứ 125).  
4. Vai trò của kinh tế tư nhân  
trong phát triển kinh tế ở Việt Nam  
Từ chỗ bị kìm hãm, không cho phát  
triển, đến nay, kinh tế tư nhân đã được  
thừa nhận vai trò quan trọng trong phát  
triển kinh tế và được xác định là một  
động lực quan trọng của nền kinh tế.  
Những thay đổi về tư duy và nhận thức  
quan trọng đó đã tạo điều kiện giúp khu  
vực kinh tế tư nhân ở nước ta từng bước  
phát triển cả về lượng và chất. Từ chỗ  
chủ yếu chỉ có các hộ kinh doanh cá  
thể, nước ta đã có những tập đoàn kinh  
tế lớn. Từ chỗ chủ yếu hoạt động trong  
khu vực phi chính thức, khu vực kinh tế  
tư nhân đã chuyển đổi mạnh mẽ sang  
hoạt động trong khu vực chính thức của  
nền kinh tế, phạm vi kinh doanh đã  
rộng khắp ở những ngành mà pháp luật  
không cấm. Đặc biệt, trong những năm  
qua, một làn sóng khởi nghiệp đã và đang  
diễn ra, đem lại một sức sống mới cho nền  
kinh tế. Có thể thấy khu vực kinh tế tư  
nhân đang đóng vai trò ngày càng quan  
trọng hơn trong nền kinh tế Việt Nam, góp  
phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội  
của đất nước. Cụ thể là:  
Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 5  
(khóa XII) về hoàn thiện thể chế kinh tế  
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa  
đã khẳng định: “Kinh tế nhà nước, kinh  
tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là  
nòng cốt để phát triển một nền kinh tế  
độc lập, tự chủ” [3]. Vai trò của kinh tế  
tư nhân được nâng lên, là nòng cốt của  
nền kinh tế, bên cạnh kinh tế nhà nước  
và kinh tế tập thể, thay vì chỉ là một  
trong những động lực của nền kinh tế  
như trước đây.  
Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm  
đổi mới, từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào  
Nhà nước và tập thể, tất cả các tầng lớp  
nhân dân đã chuyển sang ý thức chủ  
động và tích cực trong phát triển kinh tế -  
xã hội.  
Trong những năm qua, môi trường  
kinh doanh ở nước ta đã được cải thiện  
nhiều, song vẫn chưa thực sự tạo điều  
kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư  
nhân phát triển mạnh. Báo cáo Môi  
trường kinh doanh năm 2017 của Ngân  
hàng Thế giới (WB) xếp Việt Nam  
đứng thứ 82 trong tổng số 190 nền kinh  
tế (về môi trường kinh doanh), tốt hơn  
một số nước trong khu vực châu   (như  
Indonesia, Philippines, Ấn Độ) và cải  
thiện so với thứ hạng trong Báo cáo  
4.1. Kinh tế tư nhân góp phần lớn  
vào sự phát triển kinh tế - xã hội  
Kinh tế tư nhân có vai trò ngày  
càng quan trọng trong việc đạt được các  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước,  
nhất là trong bối cảnh tái cấu trúc, điều  
chỉnh phạm vi hoạt động của doanh  
nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp tư nhân  
đóng góp 43,22% GDP và 39% vốn đầu  
tư cho toàn bộ nền kinh tế [1].  
của người lao động từ các vùng nông  
thôn ra thành thị. Nếu như trước đây  
khu vực kinh tế nhà nước tạo ra nhiều  
việc làm nhất thì đến năm 2016, vị trí  
này thuộc về khu vực kinh tế tư nhân  
(chưa tính tới hộ cá thể, tập thể). Trong  
toàn bộ khu vực doanh nghiệp, kinh tế  
tư nhân tạo ra khoảng 62% việc làm [4].  
Tính riêng trong 11 tháng đầu năm  
2017, số doanh nghiệp đăng ký mới  
đăng ký thêm 1.065.015 lao động [1].  
4.4. Kinh tế tư nhân dẫn đầu về  
đóng góp cho ngân sách nhà nước  
Theo số liệu của Tổng cục Thống  
kê, mức đóng góp vào ngân sách nhà  
nước của các doanh nghiệp tư nhân  
chiếm tỷ trọng cao nhất với 46%, tiếp  
đến là các doanh nghiệp nhà nước 29%  
và doanh nghiệp FDI 25%.  
Bên cạnh đó, kinh tế tư nhân còn  
chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu  
tư phát triển toàn xã hội. Kinh tế tư  
nhân có xu hướng vượt khu vực kinh tế  
nhà nước để trở thành thành phần kinh  
tế thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội lớn  
nhất. Vốn đầu tư toàn xã hội của khu  
vực kinh tế tư nhân tăng đều đặn xấp xỉ  
10% hằng năm [1].  
4.2. Kinh tế tư nhân góp phần làm  
gia tăng số lượng doanh nghiệp thành  
lập mới  
Kể từ khi Luật Doanh nghiệp 1999  
ra đời tháo gỡ những vướng mắc cho  
doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp tư  
nhân đăng ký thành lập mới đã tăng  
mạnh. Năm 2017, đánh dấu sự tăng  
trưởng nhanh về số lượng doanh nghiệp  
thành lập mới với khoảng 126.859  
doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn đăng ký  
bình quân tăng 9,8 tỷ đồng (tăng 24,3%  
so với cùng kỳ 2016). Lũy kế hiện nay  
có khoảng 688 nghìn doanh nghiệp  
đang hoạt động [1].  
Nếu xét theo thành phần kinh tế,  
năm 2016 mặc dù tạo ra lợi nhuận thấp  
nhất trong các thành phần kinh tế nhưng  
các doanh nghiệp tư nhân lại đóng góp  
vào ngân sách nhà nước cao nhất với  
434,7 nghìn tỷ đồng, bình quân tăng  
17,0%/năm giai đoạn 2010- 2016.  
Đóng góp của các doanh nghiệp  
nhà nước cho ngân sách nhà nước năm  
2016 là 277,3 nghìn tỷ đồng, tăng bình  
quân 10,4%/năm giai đoạn 2010-2016.  
Trong khi đó, mặc dù tạo ra lợi  
nhuận lớn nhất nhưng các doanh nghiệp  
FDI lại có tỷ lệ đóng góp vào ngân sách  
nhà nước thấp nhất trong các thành  
phần kinh tế. Con số lợi nhuận mà các  
doanh nghiệp FDI tạo ra cao hơn đáng  
kể so với mức lợi nhuận khiêm tốn của  
4.3. Kinh tế tư nhân góp phần lớn  
vào việc giải quyết vấn đề việc làm cho  
xã hội  
Kinh tế tư nhân góp phần giải quyết  
một trong những thách thức lớn của  
Việt Nam là tình trạng dư thừa lao động  
do quá trình tư nhân hóa và di cư của  
51  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
các doanh nghiệp tư nhân (188,1 nghìn  
tỷ đồng) và 197,4 nghìn tỷ đồng của  
doanh nghiệp nhà nước, nhưng các  
doanh nghiệp FDI lại có tỷ lệ đóng góp  
ít nhất vào ngân sách, chỉ 250,9 nghìn  
tỷ đồng, tăng bình quân 16,9%/năm  
trong giai đoạn 2010 - 2016, thấp hơn  
đáng kể so với 434,7 nghìn tỷ đồng của  
khu vực tư nhân và 277,3 nghìn tỷ đồng  
của khu vực nhà nước.  
xã hội, vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm,  
làm tăng thêm các tiêu cực xã hội, môi  
trường. Ý thức tự giác chấp hành pháp  
luật của Nhà nước còn hạn chế.  
- Năng lực công nghiệp của khu  
vực kinh tế tư nhân trên thực tế là rất  
nhỏ và yếu, mới chỉ đang ở giai đoạn  
đầu của thời kỳ phát triển. Phần lớn sản  
xuất công nghiệp của các doanh nghiệp  
tư nhân là gia công lắp ráp, chủ yếu sử  
dụng máy móc, thiết bị và nguyên liệu  
nhập khẩu. Các công đoạn sản xuất đưa  
lại giá trị gia tăng cao, như thiết kế, tạo  
kiểu dáng, marketing... đều được thực  
hiện bởi đối tác nước ngoài.  
5. Những tồn tại và rào cản phát  
triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam  
5.1. Những tồn tại trong khu vực  
kinh tế tư nhân  
- Đa số các doanh nghiệp tư nhân là  
các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.  
Thậm chí tỷ trọng của các doanh nghiệp  
siêu nhỏ đã tăng mạnh trong những năm  
gần đây. Do quy mô vốn nhỏ, năng lực  
tài chính yếu kém nên năng lực cạnh  
tranh của các doanh nghiệp tư nhân  
thường thấp hơn các doanh nghiệp nhà  
nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư  
trực tiếp nước ngoài (FDI). Nhiều  
doanh nghiệp tư nhân còn kinh doanh  
theo hình thức ngắn hạn, chưa có tầm  
nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn.  
- Đội ngũ doanh nhân của khu vực  
tư nhân chưa thực sự lớn mạnh, còn  
thiếu kinh nghiệm trên thương trường  
quốc tế và chưa được đào tạo sâu về  
quản lý sản xuất, kinh doanh. Một bộ  
phận doanh nhân còn hạn chế về kiến  
thức, sự am hiểu pháp luật và năng lực  
kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, khả  
năng cạnh tranh và hội nhập. Một số  
doanh nhân còn thiếu trách nhiệm với  
- Sự phân tầng trình độ công nghệ  
đang diễn ra trong từng ngành và trong  
nhiều doanh nghiệp; công nghệ lạc  
hậu, trung bình và tiên tiến cùng đan  
xen tồn tại; công nghệ tiên tiến, hiện  
đại chỉ tập trung vào một số ít doanh  
nghiệp tư nhân, ở một số ít lĩnh vực.  
Chênh lệch về trình độ công nghệ bộc  
lộ rõ: các doanh nghiệp tư nhân thấp  
hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước và  
thua xa doanh nghiệp FDI. Do trình độ  
công nghệ thấp, các doanh nghiệp tư  
nhân không có khả năng kết nối cũng  
như tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ  
cho các doanh nghiệp lớn, nhất là  
không thể tận dụng được hiệu ứng lan  
tỏa từ các doanh nghiệp FDI đang tăng  
trưởng nhanh.  
- Các doanh nghiệp tư nhân phần  
lớn vẫn hoạt động ở thị trường trong  
nước, chỉ rất ít doanh nghiệp tư nhân  
lớn vươn được ra thị trường nước ngoài  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
ở một mức độ khiêm tốn. Ngay cả ở thị  
trường trong nước, dưới sức ép cạnh  
tranh gay gắt các doanh nghiệp tư nhân  
lớn cũng bắt đầu có xu hướng rút khỏi  
các ngành sản xuất công nghiệp,  
nhường lại sân chơi cho các doanh  
nghiệp nước ngoài. Sự rút lui này cũng  
diễn ra trong một số lĩnh vực dịch vụ  
như phân phối và bán lẻ được ưu tiên và  
có nhiều tiềm năng của nền kinh tế.  
2012 - 2015 [1].  
5.2. Những rào cản phát triển khu  
Trong hơn ba thập kỷ qua, khu vực  
kinh tế tư nhân Việt Nam đã có bước  
phát triển cả về lượng và chất, góp phần  
tích cực vào giải quyết các vấn đề kinh  
tế - xã hội cơ bản của đất nước. Tuy  
nhiên sự phát triển của khu vực kinh tế  
tư nhân ở Việt Nam vẫn đang phải đối  
mặt với nhiều rào cản. Cụ thể:  
- Số lượng doanh nghiệp tư nhân  
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp  
còn rất ít. Trong khi đó, nhiều chính  
sách “cởi trói” giúp nông nghiệp, nông  
thôn phát triển trong thời kỳ sau đổi  
mới đã tới giới hạn. Mô hình kinh tế hộ  
truyền thống tồn tại lâu nay ở nông thôn  
không còn phù hợp với điều kiện mới;  
yêu cầu tích tụ, tập trung ruộng đất  
đang được đặt ra cho việc triển khai  
những mô hình hiện đại như kinh tế  
trang trại quy mô lớn. Việc giải quyết  
lao động trong ngành nông nghiệp chưa  
đạt hiệu quả mong muốn có nguyên  
nhân chủ yếu là sự phát triển của lực  
lượng doanh nghiệp ở nông thôn không  
đủ mạnh nên chưa thúc đẩy chuyển dịch  
nhanh lao động nông nghiệp sang lao  
động phi nông nghiệp.  
Thứ nhất, các rào cản có liên quan  
đến tư duy lý luận và nhận thức vai trò  
của kinh tế tư nhân. Sau hơn 30 năm  
đổi mới, đến nay, đường lối và quan  
điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư  
nhân luôn nhất quán, liên tục được hoàn  
thiện, đổi mới, tuy nhiên vẫn còn một  
số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu hoàn  
thiện nhằm đạt được sự thống nhất cao  
về tư tưởng để chỉ đạo thực hiện. Cụ thể  
là việc xác định rõ nội hàm xã hội chủ  
nghĩa của nền kinh tế thị trường, vai trò  
của kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước…  
Thứ hai, các rào cản liên quan đến  
khung khổ pháp luật cho sự phát triển  
khu vực kinh tế tư nhân. Việt Nam đã  
sửa đổi Hiến pháp, ban hành nhiều đạo  
luật từ Bộ Luật dân sự, đến các Luật  
như: Thương mại, Ngân hàng, Đầu tư,  
doanh nghiệp… Tuy nhiên đến nay, hệ  
thống thể chế và pháp luật của Việt  
Nam theo yêu cầu phát triển kinh tế thị  
trường và hội nhập quốc tế vẫn còn  
chưa hoàn thiện và đầy đủ. Trong  
những năm qua, số lượng văn bản pháp  
luật tăng nhanh, trong khi chất lượng  
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của  
khu vực tư nhân vẫn còn hạn chế, một  
phần nguyên nhân đến từ khối doanh  
nghiệp tư nhân. Tỷ suất lợi nhuận của  
các doanh nghiệp tư nhân khá thấp. Tốc  
độ tăng doanh thu của doanh nghiệp tư  
nhân cũng giảm mạnh từ 34% giai đoạn  
2007 - 2011 xuống còn 10% giai đoạn  
53  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
của nhiều văn bản chưa đảm bảo; việc  
lấy ý kiến công chúng tuy đã được cải  
thiện nhưng chưa thực sự thay đổi về  
chất… Còn nhiều quy định chưa rõ  
ràng, thiếu nhất quán, phức tạp và  
chồng chéo, dẫn tới tình trạng các cơ  
quan thừa hành và các doanh nghiệp  
lúng túng trong việc chấp hành luật.  
Thứ ba, các rào cản liên quan đến  
môi trường đầu tư và kinh doanh.  
quan, bảo hiểm xã hội... nhưng thực tế  
cho thấy vẫn còn khoảng cách lớn giữa  
quy định và thực thi các luật này.  
Thứ năm, các rào cản liên quan đến  
chi phí kinh doanh.  
Việc phải trả các khoản chi phí  
không chính thức là một gánh nặng lớn  
mà các doanh nghiệp tư nhân. Giá trị  
của các khoản chi phí không chính  
thức so với doanh thu của của doanh  
nghiệp tư nhân tương đối lớn. Chi phí  
kinh doanh, chi phí vận tải (logistics,  
tiền lương, bảo hiểm…) cao. Lãi suất  
vay cao khoảng 7-9% trong khi Trung  
Quốc là 4,3%, Malaysia 4,6%, Hàn  
Quốc 2-3%.  
Rào cản về gia nhập thị trường  
quyền tự do kinh doanh chưa được tôn  
trọng đầy đủ; môi trường kinh doanh  
chưa thực sự bảo đảm cạnh tranh công  
bằng, lành mạnh; việc gia nhập, hoạt  
động và rút khỏi thị trường còn nhiều  
rào cản.  
Thứ sáu, các rào cản liên quan đến  
sự bất bình đẳng trong cơ chế chính  
sách đối với khu vực kinh tế tư nhân  
trong tương quan so sánh với khu vực  
kinh tế nhà nước và khu vực đầu tư trực  
tiếp nước ngoài (FDI). Các doanh nghiệp  
nhà nước vẫn được hưởng nhiều ưu ái  
từ Nhà nước. Những ưu ái này gây méo  
mó thị trường, hậu quả là nguồn lực  
chưa được bố trí vào nơi sử dụng hiệu  
quả nhất. Doanh nghiệp nhà nước ngoài  
ưu thế được cấp vốn từ ngân sách nhà  
nước vẫn được tạo điều kiện thuận lợi  
hơn nhiều so với doanh nghiệp tư nhân  
trong việc tiếp nhận các nguồn vốn vay  
từ tổ chức tín dụng, ngân hàng; có ưu  
thế lớn hơn nhiều trong tiếp cận đất đai  
và mặt bằng sản xuất kinh doanh.  
Doanh nghiệp nhà nước ở các lĩnh vực  
độc quyền nhà nước như điện, nước,  
xăng dầu, dịch vụ công ích thiết yếu, cơ  
Rào cản đối với tiếp cận thông tin  
và nguồn lực (vốn, đất đai). Doanh  
nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ thường  
gặp khó khăn hơn trong tiếp cận thông  
tin so với các doanh nghiệp ngoài nhà  
nước với quy mô lớn. Các doanh nghiệp  
tư nhân cũng luôn gặp phải những vấn  
đề khó khăn trong tiếp cận đất đai và  
mặt bằng cho sản xuất kinh doanh. Điều  
kiện thủ tục hành chính, thủ tục tiếp cận  
đất đai, thị trường tin dụng, cơ hội đầu  
tư rườm rà, cản trở khu vực kinh tế tư  
nhân phát triển.  
Thứ tư, các rào cản có liên quan  
đến việc thực thi các quy định đối với  
hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân.  
Mặc dù thời gian qua, một số bộ, ngành  
đã có những cải cách tích cực về các  
quy định liên quan như thành lập doanh  
nghiệp, tiếp cận điện năng, thuế, hải  
54  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
chế định giá chưa theo cơ chế thị trường  
và tính minh bạch trong cơ chế giá còn  
thấp. Trong khi đó, khu vực kinh tế tư  
nhân trong nước lại chịu áp lực cạnh  
tranh gay gắt từ phía các doanh nghiệp  
nước ngoài trong bối cảnh hội nhập  
đang diễn ra mạnh mẽ.  
về vai trò của kinh tế tư nhân  
Kinh tế nhà nước hay kinh tế tư  
nhân không bao giờ là mục đích của  
nhân loại, nó chỉ là phương tiện để con  
người phát triển kinh tế, phát triển xã  
hội. Trong quá trình phát triển của  
mình, kinh tế tư nhân ngày nay đã trở  
thành một phương tiện cực kỳ hiệu quả  
để phát triển kinh tế, xã hội. Kinh tế tư  
nhân có sự tương thích rất cao với kinh  
tế thị trường, đặc biệt là khi tính chất  
mở của thị trường ngày càng tăng, sự  
hợp tác và cạnh tranh quốc tế đòi hỏi  
các thực thể kinh tế phải rất linh hoạt và  
tự chủ trong hoạt động kinh doanh, điều  
này vốn là nhược điểm của kinh tế nhà  
nước. Tính cạnh tranh cao của kinh tế  
tư nhân không phải ngẫu nhiên mà có,  
nó được hình thành thông qua hàng  
chuỗi các vụ phá sản của các công ty,  
đó chính là sự chọn lọc tự nhiên trong  
quá trình phát triển. Về phương diện  
tình cảm xã hội, người ta thấy ái ngại và  
thương xót mỗi khi có một vụ phá sản  
nào đó nhưng kinh tế có quy luật riêng  
của nó, không phụ thuộc vào tình cảm  
của chúng ta. Kinh tế tư nhân đối mặt  
với những thử thách khắc nghiệt như  
vậy để phát triển cũng như mỗi cá nhân  
chúng ta cần trải qua những gian lao,  
thậm chí vấp ngã để trở nên vững vàng  
hơn trong cuộc sống.  
Thứ bảy, các rào cản liên quan đến  
hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước.  
Bộ máy quản lý nhà nước đối với  
hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân  
còn nhiều bất cập, chưa thực sự hiệu  
quả và nặng về cơ chế xin - cho. Theo  
Bộ Chỉ số xếp hạng quản trị quốc gia  
của Ngân hàng Thế giới, chỉ số hiệu quả  
chính quyền của Việt Nam mặc dù có  
sự cải thiện nhưng vẫn luôn nằm dưới  
điểm trung bình của thế giới. Xét về  
tổng thể, Việt Nam vẫn xếp hạng dưới  
mức trung bình của thế giới về năng lực  
quản trị quốc gia.  
6. Giải pháp nâng cao vai trò của  
khu vực kinh tế tư nhân trong phát  
triển kinh tế Việt Nam  
Có thể khẳng định đến năm 2020,  
tầm nhìn 2030 - 2035, kinh tế tư nhân sẽ  
đóng vai trò nòng cốt cho nền kinh tế.  
Đây sẽ là khu vực tiếp nhận ảnh hưởng  
trực tiếp từ những thay đổi trong thể chế,  
chính sách, và là nơi biểu hiện rõ nhất  
những sự phát triển của nền kinh tế. Để  
kinh tế tư nhân phát triển đúng với tiềm  
năng và mục tiêu đề ra, phát huy tối đa  
vai trò của kinh tế tư nhân trong phát  
triển kinh tế Việt Nam, cần tập trung  
thực hiện các giải pháp sau:  
Nửa cuối thế kỷ XX, đặc biệt là một  
phần ba cuối cùng của thế kỷ XX chúng  
ta đã chứng kiến một đặc điểm rất quan  
trọng của đời sống nhân loại, đó chính  
là kinh tế phát triển không còn cùng  
6.1. Cần nhận thức đúng đắn hơn  
55  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
nhịp độ với sự phát triển chính trị mà  
kinh tế bứt khỏi chính trị để tạo thành  
một vũ hội riêng của đời sống phát  
triển. Thời đại kinh tế phát triển nhanh  
hơn so với chính trị. Vào thập kỷ cuối  
cùng của thế kỷ XX và những năm đầu  
của thế kỷ XXI, nếu không giải phóng  
đời sống kinh tế ra khỏi những định  
kiến và ràng buộc chính trị sẽ cản trở sự  
phát triển kinh tế. Ngoài ra cần nhận  
thức rằng việc trói buộc kinh tế vào đời  
sống chính trị, nhịp điệu chính trị không  
chỉ làm giảm sự phát triển kinh tế mà  
còn làm giảm năng lực cạnh tranh của  
cộng đồng dân tộc mình trước các cộng  
đồng dân tộc khác, đẩy dân tộc đó vào  
tình trạng suy thoái và nguy cơ bị đào  
thải. Đây chính là khía cạnh nguy hiểm  
nhất của việc trói buộc kinh tế vào  
chính trị. Do vậy mở rộng không gian  
tự do cho kinh tế tư nhân là giải pháp  
hữu hiệu giúp cho mỗi quốc gia không  
bị tụt hậu trên đường đua phát triển.  
Tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng  
và công bằng cho các thành phần kinh  
tế cùng phát triển.  
triển kinh tế tư nhân thành chính sách  
bao cấp, phục vụ “lợi ích nhóm” dưới  
mọi hình thức. Tạo điều kiện để kinh tế  
tư nhân đầu tư, phát triển sản xuất kinh  
doanh trong những ngành, lĩnh vực mà  
pháp luật không cấm, phù hợp với chiến  
lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia.  
Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện cho  
kinh tế tư nhân tham gia cung cấp dịch  
vụ công, tham gia vào quá trình hội  
nhập kinh tế quốc tế. Hỗ trợ kinh tế tư  
nhân tiếp cận, khai thác các cơ hội trong  
hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường,  
đẩy mạnh đầu tư và thương mại quốc tế.  
Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát  
triển, nâng cao năng lực từng bước  
tham gia sâu, vững chắc vào chuỗi giá  
trị khu vực và toàn cầu.  
6.3. Hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới  
sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và  
phát triển nguồn nhân lực, nâng cao  
năng suất lao động  
Khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư  
nhân đầu tư vào các hoạt động nghiên  
cứu và phát triển, chuyển giao công  
nghệ tiên tiến. Bảo đảm thực thi hiệu  
quả pháp luật về sở hữu trí tuệ. Phát  
triển các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và  
ứng dụng công nghệ.  p dụng chính  
sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các  
nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt  
động nghiên cứu, đổi mới, hiện đại hóa  
công nghệ. Đơn giản hóa thủ tục, nâng  
cao khả năng tiếp cận tín dụng của khu  
vực kinh tế tư nhân. Cần xây dựng các  
chương trình, gói tín dụng với lãi suất  
hợp lý. Song hành cùng với đó, cần đẩy  
6.2. Tạo lập môi trường đầu tư,  
kinh doanh thuận lợi cho phát triển  
kinh tế tư nhân  
Nhà nước cần đảm bảo ổn định  
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đẩy  
nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế  
gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.  
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách  
thu hút đầu tư tư nhân vào hoạt động  
kinh tế tư nhân theo cơ chế thị trường.  
Không biến các chính sách hỗ trợ phát  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
mạnh hơn nữa hoạt động của Quỹ Phát  
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ  
Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp  
nhỏ và vừa, các quỹ đầu tư khởi nghiệp  
sáng tạo… để mở rộng kênh hỗ trợ vốn  
cho doanh nghiệp.  
minh các hành vi vi phạm pháp luật,  
không làm ảnh hưởng đến hoạt động  
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  
Đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý  
các thủ tục hành chính thành lập doanh  
nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép,  
thuế, giải quyết tranh chấp… Tăng  
cường cơ chế đối thoại có hiệu quả giữa  
cơ quan quản lý nhà nước với doanh  
nghiệp nhằm nắm bắt và xử lý kịp thời  
các vướng mắc liên quan đến phát triển  
kinh tế tư nhân.  
Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc  
gia về phát triển nguồn nhân lực. Nâng  
cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đặc  
biệt là đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân  
lực chất lượng cao để đáp ứng đủ nhu  
cầu số lượng và chất lượng nhân lực cho  
phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường  
hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh  
nghiệp và cơ sở đào tạo. Phát triển đào  
tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh  
nghiệp và thị trường. Chú trọng đào tạo,  
bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh  
nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ  
năng quản lý hiện đại, đạo đức kinh  
doanh và tinh thần trách nhiệm cao.  
6.5. Tăng cường sự lãnh đạo của  
Đảng, Nhà nước, nâng cao vai trò của  
các tổ chức chính trị - xã hội  
Nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể  
chế, chính sách đối với doanh nghiệp  
tư nhân, khuyến khích và tạo điều kiện  
thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân  
phát triển. Mạnh dạn giao cho các  
doanh nghiệp tư nhân có đầy đủ điều  
kiện đảm nhiệm các lĩnh vực quan  
trọng của Nhà nước, chỉ nên giữ lại  
các doanh nghiệp nhà nước mang tính  
chủ đạo, kinh tế tư nhân không chỉ là  
quan trọng mà là đầu kéo quan trọng  
để phát triển kinh tế. Phát huy vai trò  
của các tổ chức chính trị - xã hội trong  
phát triển kinh tế tư nhân. Nâng cao  
hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã  
hội - nghề nghiệp, tích cực phối hợp  
với các cơ quan quản lý nhà nước để  
cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết,  
hợp tác kinh doanh, đào tạo kỹ thuật  
và tư vấn cho doanh nghiệp tư nhân.  
6.6. Phát triển lực lượng doanh  
nghiệp tư nhân trong nông nghiệp và  
6.4. Nâng cao hiệu quả quản lý  
nhà nước  
Cần xây dựng khung pháp lý tạo  
điều kiện thuận lợi hơn, bình đẳng hơn  
cho các doanh nghiệp tư nhân phát  
triển. Nâng cao năng lực xây dựng và tổ  
chức thực hiện có hiệu quả pháp luật,  
chính sách, tạo môi trường đầu tư kinh  
doanh thuận lợi, an toàn cho kinh tế tư  
nhân phát triển lành mạnh, đúng định  
hướng. Tăng cường hiệu quả công tác  
giám sát, kiểm tra, trách nhiệm giải  
trình của chính quyền địa phương các  
cấp đối với việc chấp hành chủ trương  
của Đảng, pháp luật của Nhà nước về  
phát triển kinh tế tư nhân. Xử lý nghiêm  
57  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
ở nông thôn  
Tầm quan trọng và tính nhạy cảm  
gia tích cực của Nhà nước, đặc biệt là  
chính quyền địa phương, với vai trò  
điều phối, bảo lãnh trong mối quan hệ  
giữa doanh nghiệp với người nông dân  
để giúp tháo gỡ, xử lý những khó khăn  
mà cả hai bên khó vượt qua được.  
của khu vực nông nghiệp, nông thôn  
khiến vấn đề này tiếp tục chiếm vị trí  
trung tâm trong phát triển kinh tế - xã  
hội của Việt Nam giai đoạn tới. Muốn  
tạo đột phá phát triển phải thoát ra khỏi  
tư duy của nền kinh tế nông nghiệp  
truyền thống, chuyển mạnh từ chỗ sản  
xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang chú  
trọng chất lượng, giá trị và hiệu quả,  
chuyển từ mô hình sản xuất nông  
nghiệp khép kín, nhỏ lẻ, thiếu liên kết,  
chủ yếu ở quy mô hộ gia đình sang mô  
hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn,  
dựa vào doanh nghiệp và trang trại, hoạt  
động theo cơ chế thị trường và đủ sức  
cạnh tranh trong hội nhập quốc tế. Đặc  
biệt, cần chú trọng vai trò của công  
nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công  
nghệ xanh và công nghệ sạch trong việc  
nâng cao chất lượng và giá trị của các  
sản phẩm nông nghiệp. Cần giải quyết  
một số “điểm nghẽn”, như các vấn đề  
về kết cấu hạ tầng, tích tụ, tập trung đất  
đai, phát triển nguồn nhân lực, hợp  
đồng sản xuất... thông qua những thay  
đổi chính sách để thu hút được nhiều  
đầu tư hơn từ khu vực kinh tế tư nhân  
vào khu vực nông nghiệp và nông thôn.  
Để làm được điều này, cần có sự tham  
Tóm lại, trong nền kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa,  
việc phát triển kinh tế tư nhân là một  
nhân tố không chỉ bảo đảm cho việc  
duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, tạo  
nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà  
còn tham gia vào giải quyết hàng loạt  
những vấn đề xã hội như: tạo việc làm,  
xóa đói, giảm nghèo, phát triển nguồn  
nhân lực… Trong bối cảnh ngân sách  
nhà nước gặp khó khăn, cùng với đó là  
xu hướng suy giảm của dòng vốn  
ngoại... thì những chính sách khuyến  
khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư  
là rất cần thiết. Một nền kinh tế muốn  
chuyển sang sáng tạo thì buộc phải đạt  
hiệu quả cao với nhiều giá trị gia tăng,  
trong đó vai trò của kinh tế tư nhân  
thậm chí còn mang tính quyết định. Việt  
Nam nằm trong khu vực kinh tế năng  
động ở Đông  . Nếu biết phát huy đầy  
đủ sức mạnh và khả năng sáng tạo của  
khu vực tư nhân thì kinh tế Việt Nam sẽ  
có nhiều cơ hội phát triển.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Cục Phát triển Doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), “Định hướng  
chính sách hỗ trợ và phát triển Doanh nghiệp”  
2. Hakkala, K. & Kokko, A. (2007), The state and the private sector in Vietnam,  
Stockholm, Sweden: The European Institute of Japanese Studies  
3. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khóa XII) về phát triển kinh tế tư nhân,  
58  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 10 - 2018  
ISSN 2354-1482  
6327... (24/04/2018)  
4. Vu, L. T. (2016), “The private sector to be driver of Vietnam’s economy”,  
(27/04/2018)  
REINFORCING THE ROLE OF THE PRIVATE SECTOR IN  
VIETNAM’S ECONOMIC DEVELOPMENT  
ABSTRACT  
This paper presents the overview of private economy in the developing countries  
and analysis of the current situations and the policy of private economic  
development in Vietnam in the past. The paper focuses on assessing the role of the  
private sector in Vietnam's economic development. We find out the problems and  
obstacles to the development of the private economic in Vietnam. Finally, the paper  
proposes solutions to enhance the role of the private sector in Vietnam's economic  
development in the future.  
Keywords: Reinforcing, role, private sector, Vietnam  
(Received: 23/7/2018, Revised: 17/8/2018, Accepted for publication: 18/9/2018)  
59  
pdf 13 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 22300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_nang_cao_vai_tro_cua_kinh_te_tu_nhan_trong_phat_tr.pdf