Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch tỉnh Quảng Ngãi

Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển; ISSN 2588–1205  
Tập 126, Số 5D, 2017, Tr. 125–137; DOI: 10.26459/hueuni-jed.v126i5D.4504  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC  
CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH  
TỈNH QUẢNG NGÃI  
1
2
3
Phạm Việt Hùng *, Lại Xuân Thủy , Trần Hữu Tuấn  
1 Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, 99 Hồ Đắc Di, Huế, Việt Nam  
2 Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Dịch Vọng Hậu, Hà Nội  
3 Khoa Du lịch, Đại học Huế, 22 Lâm Hoằng, Huế, Việt Nam  
Tóm tắt: Nghiên cứu này xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du  
lịch tỉnh Quảng Ngãi. Từ lý thuyết về năng lực cạnh tranh và nghiên cứu định tính đã xác định các yếu tố  
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch bao gồm Năng lực Marketing du lịch,  
Thương hiệu, Năng lực ứng dụng công nghệ, Năng lực quản trị, tổ chức liên kết hoạt động, Trách nhiệm  
xã hội, Sản phẩm và dịch vụ du lịch, Nguồn nhân lực, Năng lực tài chính; Hạ tầng – cơ sở vật chất, Chiến  
lược về giá và Chiến lược doanh nghiệp. Nghiên cứu chính thức được thực hiện với 300 cá nhân giữ chức  
vụ quản lý từ giám đốc, phó giám đốc, trưởng phó phòng–ban, trưởng bộ phận trở lên tại các doanh  
nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả cho thấy các yếu tố trên đều tác động  
tích cực đến năng lực cạnh tranh, trong đó các yếu tố Nguồn nhân lực, Thương hiệu và Sản phẩm và dịch  
vụ đóng vai trò quan trọng.  
Từ khóa: năng lực cạnh tranh, du lịch, Quảng Ngãi  
1
Đặt vấn đề  
Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam đến năm 2020, du lịch được xác  
định là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, tăng thu  
ngoại tệ, tạo nhiều việc làm, nâng cao mức sống của người dân. Cùng với sự phát triển kinh tế –  
xã hội, du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong  
nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Cùng với sự phát triển đó, du  
lịch Quảng Ngãi cũng được nhiều người biết đến với các điểm du lịch nổi tiếng như di tích lịch  
sử văn hóa Sa Huỳnh, Chăm Pa, di tích thành Lũy, di tích lịch sử cách mạng như Ba Tơ, Vạn  
Tường, Sơn Mỹ hoặc nhóm các di tích kiến trúc – nghệ thuật như chùa Thiên Ấn, chùa Ông hay  
các lễ hội như Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (Lý Sơn), Lễ hội Điện Trường Bà (Trà Bồng)... Đặc  
biệt, bãi biển tự nhiên trải dài hàng chục ki lô mét được du khách ưu chuộng bởi vẻ đẹp hoang  
sơ.  
Tổng thu du lịch năm 2015 là 560 tỷ đồng, tăng 160 % so với năm 2010. Tốc độ tăng  
trưởng bình quân giai đoạn 2011–2015 là 21,1 %. Năm 2016 lượng khách thăm quan đến  
Nhận bài: 19–09–2017; Hoàn thành phản biện: 02–10–2017; Ngày nhận đăng: 30–10–2017  
Phạm Việt Hùng và CS.  
Tập 126, Số 5D, 2017  
Quảng Ngãi là hơn 725.000 lượt người, tăng 12 % so với năm 2015; tổng doanh thu đạt hơn  
640 tỷ đồng. Ngày 13 tháng 2 năm 2017, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số  
197/KH–UBND về phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết  
04–NQ/TU ngày 19 tháng 10 năm 2016 của Tỉnh ủy về phát triển dịch vụ, du lịch tỉnh  
Quảng Ngãi giai đoạn 2016–2020; chỉ tiêu đến năm 2020, tổng số khách du lịch đạt trên 1,1  
triệu lượt, trong đó 80 ngàn lượt khách quốc tế; tốc độ tăng trưởng khách du lịch nội địa  
giai đoạn 2016–2020 đạt 11,4 %/năm; tốc độ tăng trưởng khách quốc tế giai đoạn 2016–2020  
đạt 7,8 %/năm; tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 1.200 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng tổng  
thu du lịch giai đoạn 2016–2020 đạt 16,5 %/năm; số lượng cơ sở lưu trú: đến năm 2020 có  
4.500 buồng, trong đó tỷ lệ buồng đạt chất lượng 3 sao trở lên chiếm 15–25 % [25].  
Tuy nhiên, hiện nay du lịch của tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn rất nhiều khó khăn, hạn chế  
như chưa đóng góp nhiều cho sự tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm; quy mô hoạt động  
nhỏ; phát triển chưa đồng đều; thiếu tính chuyên nghiệp; hiệu quả và chất lượng chưa cao; mức  
độ xã hội hóa chưa mạnh mẽ; hạ tầng kỹ thuật chưa được đầu tư đồng bộ; công tác quy hoạch,  
thực hiện quy hoạch, quản lý nhà nước còn hạn chế; chưa hình thành các chuỗi giá trị, chưa tạo  
ra các sản phẩm, điểm đến hấp dẫn, nổi trội, khác biệt có tính cạnh tranh cao; nguồn nhân lực  
du lịch hạn chế về số lượng và chất lượng; thiếu những dự án chiến lược để tạo sự phát triển  
đột phá cho du lịch của tỉnh… [25]. Điều đó làm ảnh hưởng năng lực cạnh tranh (NLCT) của  
ngành du lịch nói chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng. Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu  
tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch tỉnh Quảng Ngãi là việc  
làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.  
2
Cơ sở lý thuyết  
2.1  
Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp  
Năng lực cạnh tranh (NLCT) là một chủ đề có tầm quan trọng lớn, không chỉ đối với các  
nhà hoạch định chính sách mà còn đối với doanh nghiệp. Mặc dù nó có tầm quan trọng trên  
nhiều khía cạnh, nhưng NLCT vẫn còn thiếu một định nghĩa thống nhất, tất cả cách tiếp cận về  
kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô đều có định nghĩa NLCT khác nhau [20].  
Theo Porter, năng suất lao động là thước đo duy nhất về NLCT; năng lực cạnh tranh là  
khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp  
để tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và  
phát triển bền vững. Ông cũng cho rằng, nếu một công ty chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng  
trưởng và đa dạng hóa sản phẩm thì không đảm bảo cho sự thành công lâu dài. Điều quan  
trọng nhất đối với bất kỳ công ty nào đó là phải xây dựng được một lợi thế cạnh tranh bền  
vững. Tâm điểm trong lý thuyết cạnh tranh của Porter là việc đề xuất mô hình 5 áp lực. Ông  
126  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5D, 2017  
cho rằng trong bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào cũng có 5 yếu tố tác động: (1) Sự cạnh tranh  
giữa các công ty đang tồn tại; (2) Mối đe dọa về việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường;  
(3) Nguy cơ có các sản phẩm thay thế xuất hiện; (4) Vai trò của các công ty bán lẻ; (5) Nhà cung  
cấp đầy quyền lực [14].  
Theo Report [21], doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất  
sản phẩm, dịch vụ với chất lượng vượt trội, giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh trong và ngoài  
nước. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp, khả  
năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp.  
Theo D’Cruz và Rugman [6], NLCT có thể được định nghĩa là khả năng thiết kế, sản xuất  
và tiếp thị sản phẩm vượt trội hơn so với thủ cạnh tranh, xem xét đến chất lượng về giá và phi  
giá cả. Còn theo Dunning [7], NLCT là khả năng cung ứng sản phẩm của chính doanh nghiệp  
trên các thị trường khác nhau mà không phân biệt nơi bố trí của doanh nghiệp đó. Hay NLCT  
của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi  
trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản  
xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi  
phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao [10].  
Theo quan điểm của Nguyễn Bách Khoa [15], NLCT của doanh nghiệp được hiểu là tích  
hợp các khả năng, nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những  
ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối  
thủ tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định.  
Tóm lại, NLCT không phải là một khái niệm một chiều, thay vào đó phải có nhiều yếu tố  
được xem xét. Theo Barclay [1] và Williams [27], việc xác định được những yếu tố này là rất  
quan trọng và thông qua các yếu tố này các doanh nghiệp có thể cải thiện khả năng cạnh tranh  
của mình. Các tác giả này cho rằng những yếu tố tạo ra sự cải thiện NLCT của doanh nghiệp  
bao gồm: sự đổi mới, các tiêu chuẩn quốc tế, khả năng lãnh đạo, tập trung chất lượng, đáp ứng  
cạnh tranh.  
2.2  
Các nghiên cứu có liên quan  
Craigwell [4] đã đưa ra mô hình gồm có 7 ảnh hưởng đến NLCT cho các đảo du lịch nhỏ  
đang phát triển tại Mỹ: (1) Nhân lực du lịch; (2) Cạnh tranh về giá; (3) Cơ sở hạ tầng;  
(4) Môi trường; (5) Công nghệ; (6) Sự cởi mở; (7) Các khía cạnh xã hội. Tuy nhiên, nghiên cứu  
cũng chưa tập trung đi sâu vào những yếu tố đặc thù của từng hòn đảo như: sản phẩm –dịch  
vụ, chất lượng dịch vụ, năng lực quản lý.  
Nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của điểm đến và khách sạn” [24] đã chỉ ra các yếu tố  
ảnh hưởng đến NLCT điểm đến du lịch trong mối quan hệ với NLCT của khách sạn:  
(1) Nguồn nhân lực, trình độ giáo dục, đào tạo; (2) Kỹ thuật; (3) Chiến lược; (4) Năng suất; (5)  
127  
Phạm Việt Hùng và CS.  
Tập 126, Số 5D, 2017  
Vốn; (6) Hình ảnh thương hiệu; (7) Chiến lược liên minh; (8) Thỏa mãn khách hàng – chất lượng  
dịch vụ; (9) Chi phí hoạt động môi trường; (10) Điều kiện thị trường; (11) Điều kiện nhu cầu;  
(12) Tiếp thị; (13) Giá cả; (14) Đặc tính vật chất; (15) Quản lý quá trình. Nghiên cứu cũng dừng  
lại ở các yếu tố chính quyết định NLCT chung cho điểm đến và khách sạn chứ chưa nói đến đặc  
thù của điểm đến và quy mô của khách sạn.  
Mô hình nghiên cứu về NLCT của các doanh nghiệp du lịch thành phố Hồ Chí Minh [16]  
chỉ ra 9 yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của các doanh nghiệp du lịch ở thành phố này gồm (1) Cơ  
sở vật chất; (2) Tổ chức quản lý; (3) Hệ thống thông tin; (4) Nhân sự; (5) Thị trường; (6)  
Markerting; (7) Vốn; (8) Tình hình cạnh tranh nội bộ ngành; (9) Chủ trương, chính sách. Tuy  
nhiên, nghiên cứu đã không tiến hành khảo sát để xác định nhân tố nào ảnh hưởng mạnh nhất  
và mối quan hệ giữa các nhân tố này với nhau. Tác giả cũng chưa làm rõ đâu là yếu tố tạo ra,  
đâu là yếu tố ảnh hưởng đến NLCT cho các doanh nghiệp du lịch thành phố Hồ Chí Minh.  
Nghiên cứu cũng chưa làm rõ đặc thù về sản phẩm, dịch vụ, quy mô của doanh nghiệp du lịch  
thành phố Hồ Chí Minh khác gì so với các địa phương khác.  
Năng lực cạnh tranh của khách sạn nhỏ tại Jamaica bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: (1) Sự  
đổi mới; (2) Thương hiệu; (3) Khả năng tổ chức quản lý; (4) Yếu tố điều kiện môi trường;  
(5) Chất lượng dịch vụ; (6) Kiến thức ngành; và (7) Khả năng thích ứng với sự cạnh tranh. Tuy  
nhiên, nghiên cứu chưa tổng hợp hết các nguồn lực của khách sạn và chưa đặt những khách  
sạn nhỏ dưới một tổ chức bảo trợ hoặc trong chuỗi hệ thống du lịch và khách sạn. Nghiên cứu  
cũng chưa tiến hành khảo sát, phân tích để xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến  
NLCT của khách sạn nhỏ tại Jamaica [28].  
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của khách sạn bốn sao trên địa bàn tỉnh  
Thừa Thiên Huế, Trần Bảo An và cs. [23] cho thấy có bốn nhân tố tạo nên NLCT của khách sạn:  
(1) Uy tín và hình ảnh; (2) Các phối thức marketing; (3) Cơ sở vật chất kỹ thuật; (4) Trình độ tổ  
chức và phục vụ khách hàng; tuy nhiên, nghiên cứu chỉ mới phát hiện ra yếu tố ảnh hưởng  
đến NLCT chung của khách sạn, vẫn chưa đánh giá được mối quan hệ giữa các nhân tố này  
cũng như đánh giá kết quả đạt được khi nâng cao các nhân tố này tại các khách sạn trên.  
Đối với doanh nghiệp du lịch, Review và cs. [22] cho thấy năng lực cạnh tranh của  
doanh nghiệp lữ hành tại thị trường du lịch châu Âu được tạo ra bởi sáu yếu tố: (1) Chất  
lượng dịch vụ; (2) Giá; (3) Giá trị thu được so với chi phí bỏ ra; (4) Vấn đề môi trường; (5)  
Các vấn đề xã hội; (6) An ninh. Tuy nhiên, nghiên cứu đã sử dụng mẫu quá rộng (500  
doanh nghiệp du lịch tại 20 quốc gia châu Âu) để kết luận về năng lực cạnh tranh cho tất cả  
các doanh nghiệp du lịch tại Châu Âu. Vì vậy, nó bị hạn chế bởi yếu tố địa lý, đặc thù sản  
phẩm dịch vụ, quy mô của doanh nghiệp, năng lực quản lý, marketing, thương hiệu, tài  
chính của các doanh nghiệp này là khác nhau, nhưng nghiên cứu chưa thể đề cập đến.  
128  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5D, 2017  
Nhìn vào các nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy các mô hình nghiên cứu, phương  
pháp, nội dung, kết quả nghiên cứu trong các công trình đã đề cập chỉ xoay quanh năng lực  
cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng với nhiều  
yếu tố ảnh hưởng. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa phát hiện nghiên cứu nào đề cập đến các  
yếu tố tạo ra năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tại một địa  
phương cụ thể. Tỉnh Quảng Ngãi với vị trí chiến lược quan trọng trong vùng kinh tế trọng  
điểm miền Trung, sản phẩm du lịch cũng mang nhiều yếu tố đặc trưng, đa dạng như du  
lịch “biển đảo” (Lý Sơn; Thiên Đàng; Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Mộ Đức); du lịch “về nguồn”  
(Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khu chứng tích Sơn Mỹ, đền thờ anh hùng dân  
tộc Trương Định, bệnh xá nữ Anh hùng – Liệt sĩ – Bác sĩ Đặng Thùy Trâm…); du lịch “văn  
hóa, tâm linh” (Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, lễ hội Điện Trường Bà, chùa Thiên Ấn, chùa  
Ông, chùa Hang); du lịch “sinh thái” (suối nước nóng khoáng Thạch Bích, Thác Trắng,  
Gành Yến…) [25]. Đây chính là hướng để chúng tôi kiểm chứng những yếu tố đặc thù nào  
tạo ra năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Quảng Ngãi.  
3
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu  
3.1  
Mô hình nghiên cứu  
Dựa vào các kết quả nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và  
doanh nghiệp du lịch nói riêng của các nghiên cứu trong và ngoài nước, nhóm tác giả đưa ra  
mô hình nghiên cứu lý thuyết như sau:  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
3.2  
Các giả thuyết nghiên cứu  
H1: Năng lực Marketing du lịch; H2: Thương hiệu; H3: Năng lực ứng dụng công nghệ  
trong các nghiệp vụ du lịch; H4: Năng lực quản trị, tổ chức liên kết hoạt động; H5: Trách nhiệm  
xã hội; H6: Sản phẩm, dịch vụ du lịch; H7: Nguồn nhân lực; H8: Năng lực tài chính, hạ tầng – cơ  
129  
Phạm Việt Hùng và CS.  
Tập 126, Số 5D, 2017  
sở vật chất; H9: Chiến lược về giá; H10: Chiến lược doanh nghiệp là các thành phần có ảnh  
hưởng tích cực đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch tỉnh Quảng Ngãi.  
4
Phương pháp và kết quả nghiên cứu  
4.1 Mẫu và thang đo sử dụng trong nghiên cứu  
Chúng tôi tiến hành khảo sát 300 cá nhân giữ chức vụ quản lý từ giám đốc, phó giám  
đốc, trưởng phó phòng – ban, trưởng bộ phận trở lên tại các doanh nghiệp kinh doanh du lịch  
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Nghiên cứu sử dụng các thang đo đã được kiểm định nhiều lần  
trong các nghiên cứu trước (Bảng 1). Có 287 bảng trả lời hợp lệ đã được sử dụng. Để kết quả  
nghiên cứu có tính đại diện cao, trong số 287 mẫu được phân bố theo thời gian làm việc, chức  
vụ quản lý trong doanh nghiệp.  
Bảng 1. Thang đo sử dụng trong nghiên cứu  
Biến  
Thang đo  
Nguồn  
M1. Khả năng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu khách hàng của doanh nghiệp luôn đảm  
bảo  
M2. Doanh nghiệp luôn phản ứng tốt với đối thủ cạnh tranh  
M3. Doanh nghiệp có khả năng thích ứng tốt với biến động của môi trường  
M4. Chiến lược phát triển các hoạt động marketing du lịch của DN luôn phát huy  
hiệu quả.  
[24]  
Năng lực  
marketing  
du lịch  
(M)  
[24]  
[24]  
[19]  
M5. Chất lượng mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng luôn đảm bảo.  
TH1. Thương hiệu của doanh nghiệp được nhiều người biết đến  
TH2. Thương hiệu của doanh nghiệp được xây dựng và quản lý bài bản  
TH3. Thương hiệu của doanh nghiệp đảm bảo niềm tin và cảm xúc với khách hàng  
TH4. Các thành phần chính trong thương hiệu của doanh nghiệp (tên; biểu trưng,  
biểu tượng; đặc tính; khẩu hiệu; nhạc hiệu) rất thu hút và dễ hiểu  
TH5. Thương hiệu doanh nghiệp thân thiện với môi trường.  
CN1. Năng lực ứng dụng công nghệ vào các nghiệp vụ du lịch  
CN2. Sự đổi mới và phát triển công nghệ thông tin trong hoạt động du lịch  
CN3. Các phần mềm quản lý các hoạt động du lịch thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. [4]  
CN4. Công nghệ áp dụng thân thiện môi trường  
CN5. Chuỗi công nghệ ứng dụng trong nghiệp vụ du đổi mới thường xuyên và  
theo xu hướng thời đại.  
[24]  
[18]  
[20]  
[18]  
Thương  
hiệu  
(TH)  
[20]  
[20]  
[4]  
[4]  
Năng lực  
ứng dụng  
công nghệ  
(CN)  
[4]  
[4]  
QT1. Doanh nghiệp có bộ máy tổ chức hoạt động hiệu quả  
QT2. Việc bố trí sắp xếp và thay thế nhân sự luôn đảm bảo tốt cho các hoạt động  
dịch vụ  
QT3. Doanh nghiệp tổ chức được các liên minh, hợp tác tốt với các đối tác trong và  
ngoài tỉnh  
QT4. Doanh nghiệp không thể phát triển nếu thiếu các liên minh, liên kết  
QT5. Các liên minh, liên kết luôn mang đến lợi ích cho doanh nghiệp về khách  
hàng và bổ sung các nguồn lực còn thiếu.  
[21]  
[21]  
Năng lực  
quản trị,  
tổ chức  
liên kết  
hoạt động  
(QT)  
[27]  
[14]  
[14]  
XH1. Doanh nghiệp nộp thuế đầy đủ  
[6]  
[6]  
[6]  
[6]  
Trách  
nhiệm  
xã hội  
(XH)  
XH2. Doanh nghiệp đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho người lao động  
XH3. Doanh nghiệp đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm  
XH4. Doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của khách hang  
130  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5D, 2017  
Biến  
Thang đo  
Nguồn  
XH5. Doanh nghiệp có ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên tốt.  
SP1. Thời gian cung cấp các sản phẩm, dịch vụ nhanh  
SP2. Sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cung cấp rất phong phú, đa dạng  
SP3. Các sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cung cấp luôn đảm bảo chất lượng và uy  
tín  
[6]  
[7]  
[7]  
Chất  
lượng sản  
phẩm,  
dịch vụ  
du lịch  
(SP)  
[24]  
[24]  
SP4. Các sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cung cấp mang nét đặc trưng riêng của  
du lịch sinh thái  
SP5. Các sản sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cung cấp luôn đổi mới.  
NNL1. Nguồn nhân lực đã qua đào tạo về kỹ thuật và chuyên môn  
NNL2. Nguồn nhân lực đảm bảo các kỹ năng cho hoạt động du lịch  
NNL3. Chiến lược sử dụng và quản lý nhân viên hiệu quả  
NNL4. Nguồn nhân lực luôn được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng và kiến thức.  
CSVC1. Khả năng tài chính vững mạnh trong ngắn hạn và dài hạn  
CSVC2. Chi phí đầu tư cho hạ tầng kiến trúc, cơ sở vật chất của doanh nghiệp luôn  
đảm bảo  
CSVC3. Hạ tầng kiến trúc của doanh nghiệp tốt (Mặt bằng, nhà hàng, khách sạn,  
văn phòng, vị trí)  
CSVC4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của doanh nghiệp tốt  
CSVC5. Các ký hiệu, biểu tượng, tạo tác về kiến trúc của doanh nghiệp hấp dẫn và  
thu hút.  
[24]  
[21]  
[21]  
[9]  
[9]  
[6][23]  
Nguồn  
nhân lực  
(NNL)  
Năng lực  
tài chính,  
hạ tầng–  
cơ sở vật  
chất  
[6] [23]  
[6] [23]  
[6] [23]  
[6] [23]  
(CSVC)  
CLG1. Giá tương xứng với chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp  
CLG2. Giá các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn cạnh tranh so với đối thủ  
CLG3. Giá cả sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn có mức chiết khấu theo đối  
tượng, số lượng khách du lịch  
CLG4. Giá các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp rất linh hoạt phù hợp với nhu  
cầu và thu nhập của từng khách hàng.  
CLDN1. Nghiên cứu môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của  
doanh nghiệp  
CLDN2. Nghiên cứu môi trường vi mô ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của  
doanh nghiệp  
[12]  
[12]  
[12]  
Chiến  
lược giá  
(CLG)  
[12]  
[26]  
[26]  
Chiến  
lược  
doanh  
nghiệp  
(CLDN)  
CLDN3. Nghiên cứu môi trường nội bộ của doanh nghiệp  
CLDN4. Đưa ra tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu chiến lược  
CLDN5. Đề ra giải pháp chiến lược và các chính sách kinh doanh  
[26]  
[26]  
[26]  
Nguồn: tổng hợp của nhóm tác giả  
4.2  
Đánh giá và gạn lọc thang đo  
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha lần 1 có 4 biến M4, CN5, QT4, SP4 cần phải loại  
khỏi mô hình vì hệ số tương quan biến tổng < 0,6; kết quả lần 2 đều đạt yêu cầu (> 0,60)  
(Bảng 2).  
Bảng 2. Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha  
Khái niệm  
Năng lực marketing  
Thương hiệu  
Ứng dụng công nghệ  
Năng lực quản trị  
Trách nhiệm xã hội  
Sản phẩm, dịch vụ  
Nguồn nhân lực  
Số biến  
Cronbach’s alpha  
0,871  
Hệ số tải  
0,683–0,781  
0,740–0,825  
0,692–0,757  
0,664–0,771  
0,611–0,756  
0,595–0,719  
0,637–0,781  
4
5
4
4
4
4
4
0,908  
0,871  
0,865  
0,839  
0,830  
0,850  
131  
Phạm Việt Hùng và CS.  
Tập 126, Số 5D, 2017  
Khái niệm  
Cơ sở vật chất  
Cạnh tranh giá  
Chiến lược doanh nghiệp  
Năng lực cạnh tranh  
Số biến  
Cronbach’s alpha  
Hệ số tải  
0,710–0,787  
0,632–0,694  
0,750–0,822  
0,756–0,853  
5
4
5
4
0,900  
0,821  
0,914  
0,915  
Nguồn: xử lý số liệu của nhóm tác giả  
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) lần 1 loại biến XH2 khỏi mô hình vì trọng số tải <  
0,5; EFA lần 2 cho thấy các trọng số tải nhân tố đều thỏa mãn (Bảng 3). Các giá trị KMO  
(0,850) và Bartlett ( = 0,000) đạt yêu cầu. Thang đo đạt phương sai trích (63,186).  
p
Bảng 3. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA  
Khái niệm  
KMO  
0,850  
Sig.  
0,000  
Phương sai trích (%)  
63,186  
Hệ số tải  
1. Các biến độc lập  
Năng lực marketing  
Thương hiệu  
Ứng dụng công nghệ  
Năng lực quản trị  
Trách nhiệm xã hội  
Sản phẩm, dịch vụ  
Nguồn nhân lực  
Cơ sở vật chất  
Cạnh tranh giá  
Chiến lược doanh nghiệp  
2. Biến phụ thuộc  
Năng lực cạnh tranh  
0,723–0,896  
0,731–0,900  
0,734–0,853  
0,705–0,837  
0,687–0,861  
0,679–0,832  
0,663–0,884  
0,718–0,875  
0,647–0,786  
0,769–0,876  
0,846  
0,000  
73,267  
0,793–0,911  
Nguồn: xử lý số liệu của nhóm tác giả  
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) cho từng khái niệm trong thang đo cho  
2
thấy, tất cả có giá trị giá trị p > 5 %; các giá trị Cmin/Bậc tự do ≤ 2, GFI > 0,8, TLI và CFI ≥ 0,9.  
Như vậy, CFA cho các khái niệm đều đạt tính đơn hướng, đảm bảo giá trị hội tụ, đảm bảo độ  
tin cậy và giá trị phân biệt [18].  
4.3  
Kiểm định SEM mô hình chính thức  
Kết quả ước lượng (chuẩn hóa) mô hình nghiên cứu cho mô hình có 979 bậc tự do, giá trị  
kiểm định 2 = 1232,560 với giá trị p = 0,000, 2/Bậc tự do = 1,259 đạt yêu cầu < 2 và các chỉ số chỉ  
ra mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường (GFI = 0,852, CFI = 0,967, TLI = 0,963, và RMSEA <  
0,030) cho thấy mô hình phù hợp với dữ liệu nghiên cứu.  
Kết quả ước lượng với N = 500 được tính trung bình kèm theo, cho thấy độ chệch có xuất  
hiện nhưng rất nhỏ (Bảng 4). Vì vậy, có thể kết luận các ước lượng trong mô hình có thể tin cậy  
được.  
132  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5D, 2017  
Bảng 4. Kết quả ước lượng mô hình bằng bootstrap với N = 500  
Ước lượng ML  
Ước lượng Bootstrap  
Mối quan hệ  
Trung  
bình  
0,215  
0,034  
0,129  
0,276  
0,131  
0,081  
0,152  
0,171  
0,072  
0,12  
Ước lượng  
SE  
SE–SE  
0,002  
0,002  
0,002  
0,002  
0,002  
0,002  
0,003  
0,002  
0,002  
0,002  
Độ lệch  
–0,005  
–0,001  
0,002  
0,008  
–0,002  
0,004  
SE–Độ lệch  
0,003  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
TH  
0,22  
0,07  
0,05  
0,07  
0,07  
0,05  
0,06  
0,08  
0,06  
0,05  
0,08  
←
←
←
←
←
←
←
←
←
←
CLDN  
CSVC  
NNL  
CN  
0,035  
0,127  
0,268  
0,133  
0,077  
0,151  
0,173  
0,074  
0,127  
0,002  
0,003  
0,003  
0,002  
0,003  
0,004  
0,003  
0,002  
QT  
M
SP  
0,001  
–0,002  
–0,002  
–0,007  
XH  
CLG  
0,003  
Nguồn: xử lý số liệu của nhóm tác giả  
Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu trong mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Hình 2)  
cho thấy các mối quan hệ được giả thuyết trong mô hình nghiên cứu chính thức có giá trị thống  
kê vì có p có giá trị cao nhất là nhỏ hơn 0,05, đạt ý nghĩa cần thiết (ở độ tin cậy 95 %). Nói cách  
khác, các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu chính thức đều được chấp nhận (Bảng 5).  
Bảng 5. Hệ số hồi quy của mô hình nghiên cứu chính thức  
Hệ số  
(chuẩn hóa)  
Mối quan hệ  
Hệ số  
SE  
CR  
Giá trị p  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
TH  
0,212  
0,038  
0,141  
0,295  
0,139  
0,078  
0,22  
0,035  
0,127  
0,268  
0,133  
0,077  
0,0578  
0,0592  
0,0588  
0,0571  
0,0587  
0,0591  
13,499  
16,301  
14,858  
12,827  
14,768  
15,628  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
←
←
←
←
←
←
CLDN  
CSVC  
NNL  
CN  
QT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
NLCT  
M
SP  
XH  
CLG  
0,165  
0,224  
0,07  
0,151  
0,173  
0,074  
0,127  
0,0586  
0,0583  
0,0591  
0,0588  
14,499  
14,175  
15,676  
14,858  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
←
←
←
0,14  
←
Nguồn: xử lý số liệu của nhóm tác giả  
133  
Phạm Việt Hùng và CS.  
Tập 126, Số 5D, 2017  
Hình 2. Kết quả SEM (chuẩn hóa) của mô hình nghiên cứu  
5
Kết luận  
Nghiên cứu làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp  
du lịch tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 10 yếu tố ảnh hưởng đến năng lực  
cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch Quảng Ngãi. Trong đó, một số yếu tố có mức ảnh hưởng  
mạnh đến năng lực cạnh tranh như nguồn nhân lực (0,268); Thương hiệu (0,22) hay sản phẩm,  
dịch vụ du lịch (0,173). Bên cạnh đó cũng có những yếu tố ảnh hưởng nhưng yếu như: trách  
nhiệm xã hội (0,074); Chiến lược doanh nghiệp (0,035). Từ các kết quả trên gợi mở những hàm  
ý quản trị cho các doanh nghiệp du lịch nhằm đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh  
tranh trong thời gian tới. Trước hết, các nhà quản lý doanh nghiệp du lịch cần nhận thấy rõ  
tầm quan trọng của nguồn nhân lực; Thương hiệu hay sản phẩm, dịch vụ du lịch… ảnh hưởng  
đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ đó, các doanh nghiệp có kế hoạch đào tạo (đào  
tạo tại chỗ, đào tạo theo nhu cầu phát triển của địa phương…), bồi dưỡng nguồn nhân lực  
trong ngắn hạn và dài hạn. Song song đó, các doanh nghiệp du lịch tỉnh Quảng Ngãi cần quan  
tâm hơn trong việc xây dựng thương hiệu, bảo vệ thương hiệu nhằm tạo lợi thế cạnh tranh.  
Mặt khác, với tiềm năng phát triển du lịch hiện có của tỉnh Quảng Ngãi, các doanh nghiệp du  
lịch cần đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ du lịch như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, biển  
đảo… Đồng thời, tập trung xây dựng hình ảnh điểm đến du lịch để thu hút du khách. Thứ hai,  
du lịch là loại sản phẩm đặc biệt, để du khách hài lòng và trung thành với điểm đến du lịch  
tỉnh Quảng Ngãi thì các nhà quản lý doanh nghiệp du lịch cần có các chiến lược như  
marketing; ứng dụng công nghệ trong quản lý và tiếp nhận thông tin của khách hàng; đầu tư  
cơ sở vật chất, tiện nghi cơ sở lưu trú, phương tiện lưu thông; tổ chức liên kết các hoạt động để  
tạo thành chuỗi các sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm để du khách có thêm nhiều lựa chọn khi  
đi du lịch, từ đó tạo năng lực cạnh tranh nhằm thu hút khách du lịch quay trở lại. Cuối cùng,  
134  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5D, 2017  
để phát triển du lịch bền vững và tạo ra năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp cần phải đặt ra  
giá trị cốt lõi mà doanh nghiệp muốn hướng đến. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp cần có tầm  
nhìn, mục tiêu, chiến lược rõ ràng, gắn trách nhiệm xã hội với sự phát triển bền vững.  
Tuy nghiên cứu đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế.  
Trước hết, nghiên cứu chỉ thực hiện với doanh nghiệp du lịch tại Quảng Ngãi, do đó cần mở  
rộng nghiên cứu sang các lĩnh vực kinh doanh khác, địa phương khác. Thứ hai, nghiên cứu  
chỉ mới xem xét ở góc nhìn của các nhà quản lý doanh nghiệp du lịch mà chưa tìm hiểu,  
nghiên cứu từ phía khách du lịch (nội địa và quốc tế). Những hạn chế này là cơ sở mở ra  
những hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.  
Tài liệu tham khảo  
1. Barclay, L. A. (2005), The Competitiveness of Trinidad and Tobago and Manufacturing  
Firms in an Increasingly Liberalised Trading Environment, Journal of Eastern Caribbean  
Studies, 30, (2): 41–74.  
2. Carroll, A. B. & Shabana, K. M. (2010), The Business Case for Corporate Social  
Responsibility: A Review of Concepts, Research and Practice, International Journal of  
Management Reviews.  
3. Choi, T. Y., & Chu, R. K. S. (1999), Consumer perceptions of the quality of services in three  
hotel categories in Hong Kong. Journal of Vacation Marketing, 5(2), 176–189.  
4. Craigwell, R. (2007), Tourism Competitiveness in Small Island Developing States. South Asia:  
Research Paper No. 2007/19.  
5. David, F. (2001), Strategic Management, Concepts (8th edn). Upper Saddle River, NJ:  
Prentice Hall.  
6. D’Cruz, J. & Rugman, A. (1992), New Concepts for Canadian Competitiveness, Canada:  
Kodak.  
7. Dunning, J. H., (1993), Multinational Enterprises and the Global Economy, Wokingham,  
England: Addison – Wesley Publishing Company.  
8. Dwyer, L., & Kim, C. (2003), Destination competitiveness: Determinants and indicators by  
current issues. Current Issues in Tourism, 6(5), 369–414.  
9. Erkus¸ H. (2009), The role of cluster types and firm size in designing the level of network  
relations: the experience of the Antalya tourism region, Tourism Management, 30(4), 589–  
597.  
10. Fafchamps, M. (1999), Ethnicity and Credit in African Manufacturing, Mimeo, Stanford  
University.  
11. Hosany, S., Ekinci, Y., & Uysal, M. (2006), Destination image and destination personality:  
an application of branding theories to tourism places, Journal of Business Research, Vol. 59,  
638–642.  
135  
Phạm Việt Hùng và CS.  
Tập 126, Số 5D, 2017  
12. Keh H. T., Nguyen Thi Tuyet Mai & Nguyen H. P. (2007), The effect of entrepreneurial  
orientation and marketing information on the performance of SMEs, Journal of Business  
Venturing, 22: 592–611.  
13. Kim, H. & Kim, W. G. (2005), “The relationship between brand equity and firms”  
performance in luxury hotels and chain restaurants,Tourism Management, 26(4), 549–560.  
14. Porter M. (1980), Chiến lược cạnh tranh, Nxb. Trẻ, TP. HCM.  
15. Nguyễn Bách Khoa (2004), Phương pháp xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế  
quốc tế của doanh nghiệp, Tạp chí khoa học thương mại, số 4, 5 Hà Nội.  
16. Nguyễn Cao Trí (2011), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch TP. HCM  
đến năm 2020, Luận án tiến sĩ kinh tế – Đại học Kinh tế TP. HCM.  
17. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008), Năng lực động của doanh nghiệp Việt  
Nam trong thời kỳ hội nhập, Tạp chí phát triển kinh tế, số 17, 2–6.  
18. Nguyễn Đình Thọ (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Nxb. Lao động  
Xã hội, Hà Nội.  
19. Pine, R., & Phillips, P. (2005), Performance compar isons of hotels in China, International  
Journal of Hospitality Management, 24(1), 57–73.  
20. Porter, M. E. & Ketels, H. M. C. (2003), UK competitiveness: Moving to the next stage, s.l.:DTI  
economics Paper 3. London: Department of Trade and Industry.  
21. Report, A., (1985), Report from the Select Committee of the House of Lords on Overseas Trade,  
London: HMSO.  
22. Review, C. B., Assistant, S., & Dubrovnik, B. E. (2013), Competitiveness of Travel Agencies  
in the European, Tourism Market, 12(4), 278–286.  
23. Trần Bảo An và cộng sự (2012), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh  
tranh của các khách sạn 4 sao trên địa bàn Thừa Thiên Huế, Tạp chí khoa học – Đại học Huế,  
72B(3), 9-18.  
24. Tsai, H., Song, H., & Wong, K. K. F., (2009), Tourism and Hotel Competitiveness Research,  
Journal of Travel & Tourism Marketing, 26(5–6), 522–546  
25. UBND tỉnh Quảng Ngãi. (2017), Đề án Phát triển dịch vụ, du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến  
năm 2020.  
26. Van, Đ. T. H. & Đat, K. N., (2011), Quản trị chiến lược, Nxb. Tổng hợp, Hà Nội.  
27. Williams, D. A., (2007), Competitiveness of Small Enterprises: Insights from a Developing  
Economy, The Round Table, 96(390), 347–363.  
28. Williams, D., & Hare, L., (2012), Competitiveness of Small Hotels in Jamaica: An  
Exploratory Analysis: EBSCO host, Journal of Eastern Caribbean Studies, 37(December), 71–  
96.  
136  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 126, Số 5D, 2017  
FACTORS AFFECTING THE COMPETITIVENESS OF  
TOURISM ENTERPRISES IN QUANG NGAI PROVINCE  
1
2
3
Pham Viet Hung *; Lai Xuan Thuy ; Tran Huu Tuan  
1 HU – University of Economics, 99 Ho Dac Di St., Hue, Vietnam  
2 Vietnam National University, 144 Xuan Thuy St., Dich Vong Hau, Hanoi, Vietnam  
3 HU – School of Hospitality and Tourism, 22 Lam Hoang St., Hue, Vietnam  
Abstract: In this research, the factors that influence the competitiveness of tourism enterprises  
in Quang Ngai province were studied. Theories of both the competitiveness and qualitative  
research have confirmed that the competitiveness of a tourism enterprise depends on  
marketing, brand, information technology, management, social responsibility, products and  
services, human resources, financial ability, infrastructures, pricing strategy and organizational  
strategy. The authors interviewed 300 high profile candidates who are directors, vice directors,  
heads of department in various tourism enterprises in Quang Ngai province. The results reveal  
that all the factors above positively influence the competitiveness, and the following factors:  
human resource, brand, and products and service play a significant role.  
Keywords: Competitiveness, tourism, Quang Ngai  
137  
pdf 13 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 21080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_nang_luc_canh_tranh_cua_cac_doanh_n.pdf