Những thách thức và cơ hội mới của ngành nông nghiệp Việt Nam

NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI MỚI CỦA  
NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
TS. Đặng Kim Sơn  
Thời gian qua, nông nghiệp Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn,  
đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc  
gia, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cân đối cán cân thương mại,  
giảm lạm phát, bảo vệ lãnh thổ và góp phần ổn định chính trị - xã hội.  
Mặc dù Việt Nam đã có những thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế, lao  
động, nhưng đến nay vẫn còn trên 70% dân số Việt Nam sống ở nông  
thôn. Kinh nghiệm phát triển 25 năm đổi mới cho thấy nếu được quan  
tâm, đầu tư đúng mức, nông nghiệp sẽ là động lực nâng cao năng lực  
cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những thách  
thức của thế giới như dân số tăng nhanh, biến đổi khí hậu và thiên tai,  
dịch bệnh,v.v… càng cho thấy nông nghiệp sẽ tiếp tục đóng vai trò quan  
trọngtrong tương lai.  
1. Những thành tựu nổi bật trong nông nghiệp Việt Nam thời  
gian qua  
Sau 27 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu  
đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã  
hội của đất nước, trở thành lĩnh vực phát triển thành công nhất của nền  
kinh tế. Bất chấp những khó khăn về thị trường, thiên tai và dịch bệnh,  
nông nghiệp duy trì tăng trưởng ở mức tương đối khá. Sản xuất nông  
nghiệp đã tạo ra nguồn cung lương thực thực phẩm dồi dào, đảm bảo an  
ninh lương thực quốc gia. Nhờ vậy, giá nông sản tại Việt Nam, đặc biệt  
là giá lương thực được duy trì ở mức thấp, tạo chi phí lao động thấp, thu  
hút mạnh đầu tư nước ngoài và đóng góp quan trọng cho tăng trưởng  
kinh tế và ổn định xã hội.  
125  
Bên cạnh đó, xuất khẩu nông sản tăng liên tục. Việt Nam đã trở  
thành một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về các mặt  
hàng như: gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sản phẩm gỗ và các sản  
phẩm thủy sản. Trong khi Việt Nam liên tục thâm hụt thương mại, nông  
nghiệp là ngành duy nhất có thặng dư xuất khẩu ròng tăng đều đặn,  
ngay cả trong thời điểm tăng trưởng kinh tế suy giảm. Thặng dư xuất  
khẩu nông nghiệp đã góp phần quan trọng cân bằng cán cân thương mại  
quốc gia.  
Tăng trưởng nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực đã đóng  
vai trò quan trọng nhất trong việc thực hiện thành công xóa đói giảm  
nghèo trong bối cảnh phần lớn dân số vẫn sống ở khu vực nông thôn và  
nông nghiệp là nguồn sinh kế chính của người dân ở những địa bàn khó  
khăn. Tỷ lệ giảm nghèo ở Việt Nam liên tục cải thiện trong suốt thời  
gian dài với mức giảm ấn tượng khoảng 2%/năm. Đây là nền tảng quan  
trọng của ổn định xã hội, an ninh chính trị, đồng thời cũng là đóng góp  
quan trọng cho công tác bảo vệ môi trường.  
Kể từ năm 2008 đến nay, Việt Nam chứng kiến tình trạng suy thoái  
của nền kinh tế do những yếu kém trong quản lý chính sách vĩ mô trong  
nước và ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới. Trong  
khó khăn, sản xuất nông nghiệp nổi lên như một mảng sáng đáng khích  
lệ nhất của nền kinh tế. Trước những ảnh hưởng bất lợi tới sản xuất kinh  
doanh, ngànhnôngnghiệp (bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp  
và thủy sản) vẫn duy trì mức tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn  
2011-2012 là 3,4%/năm, vượt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm Đại hội Đảng XI  
đề ra cho ngành là 2,6-3,0%.  
Cũng như các đợt suy thoái kinh tế cuối thập kỷ 1980 và cuối thập  
kỷ 1990, lần này nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò “phao cứu sinh”  
cho đất nước vượt qua khó khăn, nhờ sản xuất cung ứng đủ lương thực  
thực phẩm, giúp duy trì ổn định kinh tế - xã hội. Năm 2011, khi giá  
lương thực tăng cao (22,82%), thực phẩm tăng (29,34%,) thì CPI bình  
quân chung tăng đến 18,58%. Năm 2012, mức tăng CPI của nhóm hàng  
lương thực, thực phẩm chậm lại còn 3,26% và 8,14%, kéo mức tăng  
126  
CPI bình quân chung xuống 9,21%. Những tháng đầu năm 2013, chỉ số  
giá lương thực giảm 24,5% và thực phẩm giảm 35,8%, góp phần kéo  
CPI tiêu dùng chung giảm 5,6% so với tháng 12/2012 góp phần quan  
trọng kiềm chế lạm phát.  
Xuất khẩu đóng góp quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Việt  
Nam. Trung bình trong giai đoạn 2011-2012, tăng trưởng kim ngạch  
xuất khẩu NLTS đạt 18,8%/năm, vượt xa so với chỉ tiêu 6-7% theo kế  
hoạch phát triển giai đoạn 2011-2015 của Bộ NN&PTNT. Trong khi  
thương mại Việt Nam thường xuyên nhập siêu thì nông nghiệp là ngành  
duy nhất luôn luôn xuất siêu, góp phần đáng kể cải thiện cán cân thương  
mại. Năm 2012 là năm đầu tiên sau 20 năm Việt Nam có thặng dư cán  
cân thương mại (284 triệu USD)46 chủ yếu nhờ xuất khẩu nông sản và  
xuất khẩu của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.Xuất khẩu  
nông sản đạt mức kỷ lục 27,5 tỷ USD và đạt thặng dư xuất khẩu ròng  
10,6 tỷ USD trong năm 2012.  
2. Những thách thức đặt ra trong khu vực nông nghiệp  
Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể và có đóng góp tích  
cực cho việc duy trì ổn định kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2010-2012,  
nhưng tăng trưởng nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên việc khai thác tài  
nguyên thiên nhiên (tăng diện tích đất, thâm dụng nước tưới để tăng  
vụ,v.v…) cùng mức sử dụng vật tư đầu vào cao nhưng hàm lượng đổi  
mới công nghệ và thể chế thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp được biểu  
hiện ở mức tổn thất sau thu hoạch cao, chất lượng sản phẩm không đồng  
đều, vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo, khả năng tạo giá trị mới  
thấp. Vì vậy, sau một thời gian dài khởi sắc, tăng trưởng nông nghiệp  
đã bắt đầu chững trong thời gian gần đây, giảm từ 4,5% năm 1995-2000  
xuống còn 3,8% giai đoạn 2000-2005; rồi 3,4% giai đoạn 2006-2011 và  
chỉ còn 2,7% trong năm 2012.  
Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm nông nghiệp diễn ra chậm, chưa thực  
sự phản ánh lợi thế so sánh và chưa đáp ứng triển vọng nhu cầu trong  
tương lai.Trồng trọt vẫn chiếm trên 50% cơ cấu nội ngành nông nghiệp,  
46Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2012 - Tổng cục Thống kê.  
127  
trong đó lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng chính.Tuy chiếm phần lớn diện tích  
cây hàng năm nhưng hiệu quả kinh tế của cây lúa đem lại không cao, vì  
vậy đã xuất hiện tình trạng nông dân không thiết tha với đất lúa, không  
thâm canh tăng vụ, nhất là ở đồng bằng sông Hồng. Ngành thủy sản và  
ngành chăn nuôi phát triển nhanh, song thiếu bền vững.Năng suất vật  
nuôi còn thấp, giá thành chăn nuôi cao, thức ăn chăn nuôi phụ thuộc chủ  
yếu vào nhập khẩu, mô hình chăn nuôi công nghiệp chưa phát triển, khả  
năng kiểm soát dịch bệnh còn yếu, kiểm soát thị trường và tổ chức kinh  
doanh kém….làm nhiều hộ nuôi thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long  
treo ao, nhiều hộ chăn nuôi bỏ chuồng.  
Sản xuất nông nghiệp Việt Nam đang xuất hiện những khó khăn  
ngày càng trầm trọng do nhiều thách thức mới xuất hiện. Một số thách  
thức mà ngành nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt có thể kể đến  
như:  
• Khả năng tái sản xuất mở rộng của nôngdân giảm sút.  
Nông nghiệp đang tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn. Kinh  
tế thế giới và trong nước chưa thể nhanh chóng hồi phục trong năm nay  
và năm tới. Các ngân hàng khó khăn vì nợ xấu, doanh nghiệp chậm tiếp  
cận nguồn vốn khiến lợi nhuận giảm phải cắt giảm sản xuất. Kinh tế  
tăng trưởng chậm, nhu cầu tiêu dùng trên thị trường giảm làm giá nông  
sản giảm trong khi giá vật tư, nhiên liệu vẫn tăng. Giá thành sản xuất  
tăng làm giảm khả năng cạnh tranh của nông sản. Sản xuất nông nghiệp  
tăng trưởng chậm, kinh tế nông thôn đình trệ, việc làm và thu nhập  
trong nền kinh tế khó khăn ảnh hưởng xấu đến thu nhập của nông dân.  
Nông dân sinh hoạt khó khăn, không có tiền đầu tư phát triển sản xuất,  
áp dụng khoa học công nghệ hay mở mang đất đai. Trong hoàn cảnh  
đầu tư cho nông nghiệp không cải thiện, khả năng tái sản xuất mở rộng  
kém đi.Năng suất lao động trong nông nghiệp Việt Nam vào loại thấp  
nhất trong khu vực. Những vấn đề suy thoái, bất ổn có khả năng lan từ  
lĩnh vực kinh tế sang xã hội và môi trường làm bất ổn chính trị và xã hội  
từ nông thôn lan ra thành thị.  
128  
• Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tăng.  
Trong năm 2013, Trung Quốc đã đối mặt với chủng virus cúm gà  
H7N9 là loại virus cúm gia cầm mới vừa được phát hiện có khả năng lây  
từ gia cầm sang người và có tỷ lệ tử vong cao, trong khi chủng H5N1  
vẫn xuất hiện và gây tử vong ở Việt Nam. Với sự biến đổi của các chủng  
virus mới và khả năng lây nhiễm từ các nước xung quanh, nguy cơ phát  
sinh các đợt dịch khác cho gia súc, gia cầm rất lớn và không loại trừ  
khả năng lây lan sang người. Tương tự như vậy, bệnh dịch đối với thủy  
sản bùng phát trên tôm vừa qua gây tổn thất lớn cho người nuôi. Mặc  
dù từ đầu năm 2012, các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và các  
địa phương đã quyết liệt nghiên cứu, làm rõ nguyên nhân của dịch bệnh  
trên tôm (bênh teo gan tôm) nhưng đến nay chưa được giải quyết triệt  
để, người nuôi vẫn chịu thiệt hại lớn. Ngoài ra, các bệnh dịch khác trên  
thủy sản, cây trồng thời gian tớisẽ có nhiều diễn biến phức tạp.An ninh  
sinh học đang trở thành vấn đề quan trọng.  
Rủi ro về biến động giá cả thị trường là mối lo lớn của nông dân.  
Thời gian qua, giá các vật tư đầu vào chính của sản xuất nông nghiệp  
như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thú y, thức ăn gia súc và thủy  
sản, nhiên liệu, điện,…liên tục tăng. Trong quý II năm 2013, giá xăng  
đã tăng 10% so với cùng kỳ; giá điện tăng 5% từ ngày 1/8/2013. Giá  
thức ăn chăn nuôi tăng mạnh làm giảm thu nhập của cả người chăn nuôi  
và người nuôi trồng thủy sản.  
Trong khi đó, do kinh tế tăng trưởng chậm, nhu cầu tiêu dùng trên  
thị trường thế giới giảm làm giá nông sản xuất khẩu của Việt Nam giảm.  
Từ giữa năm 2012 cho đến tháng 6/2013, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu  
chính đều giảm giá. Kim ngạch xuất khẩu các nông sản chính trong 6  
tháng đầu năm 2013 giảm 10,5% so với cùng kỳ năm 2012. Trong tháng  
6 năm 2013, giá cao su giảm 19,3%; giá hạt điều giảm 14,8%; giá gạo  
giảm 12,8%; giá hạt tiêu giảm 10,2%; giá thủy sản giảm 2,9% so với  
cùng kỳ năm trước47,giá cá tra xuất khẩu giảm xuống dưới giá thành sản  
xuất, nhu cầu nhập khẩu của thị trường chính (EU và Mỹ) bị sụt giảm  
mạnh, sản lượng tồn kho lớn, người dân giảm đầu tư sản xuất.  
47Tính toán từ số liệu xuất nhập khẩu 6 tháng năm 2013 của Tổng cục Thống kê.  
129  
Trong thời gian gần đây, tuy kinh tế suy thoái nhưng tình trạng mất  
đất sản xuất nông nghiệp vẫn diễn ra với tốc độ cao. Trong khi hệ thống  
luật lệ quản lý tài nguyên đất, nước, sinh học chậm được cải thiện thì  
các nhu cầu của quá trình CHN-ĐTH, bối cảnh biến đổi khí hậu và nguy  
cơ cạnh tranh, tranh chấp ngày càng gay gắt. Các nguồn tài nguyên  
phục vụ sản xuất nông nghiệp như đất, nước, sinh học,v.v... sẽ tiếp tục  
căng thẳng trong tương lai giữa nông nghiệp và các ngành kinh tế khác,  
giữa nông thôn và đô thị và giữa các quốc gia lân cận.  
Do rừng bị phá hoại nhiều, các công trình thủy điện, các khu khai  
thác khoáng sản không đi kèm khôi phục môi trường đã làm nặng nề  
hơn thiệt hại bão, lũ, hạn hán thời gian gần đây. Cùng với quá trình biến  
đổi khí hậu, tình trạng thiên tai trong tương lai sẽ diễn ra ngày căng tăng  
với nhiều diễn biến phức tạp hơn. Tình trạng sạt lở, lũ lụt, ngập mặn,  
hạn hán tại một số vùng sẽ xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn ảnh  
hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân. Các  
biểu hiện thời tiết cực đoan có nhiều khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực  
cho sản xuất nông nghiệp.  
• Ô nhiễm và nguy cơ gây suy thoái môi trường.  
Tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam thời gian qua lạm dụng  
phân bón, hóa chất bảo vệ, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng,…  
gây tác động xấu đến môi trường, làm tăng mức độ ô nhiễm và suy  
yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tính trạng ô nhiễm môi trường nếu  
không có biện pháp ngăn chặn kịp thời sẽ mang lại những hậu quả hết  
sức nghiêm trọng, đe dọa sản xuất trong nước và khả năng cạnh tranh  
của nông sản Việt Nam trên thị trường.  
Quản lý tài nguyên nước mặt và nước ngầm lãng phí, áp dụng các  
biện pháp canh tác cũ và kém tận dụng phụ phẩm nông nghiệp là nguyên  
nhân gây ra ô nhiễm cục bộ cũng như tăng phát thải khí nhà kính.Kinh  
tế nông thôn, với việc phát triển làng nghề, tiểu thủ công nghiệp và công  
nghiệp địa phương mà khôngquản lý môi trường tốt đang gây nguy cơ  
làm ô nhiễm môi trường nông thôn.  
130  
Việc việc phá rừng bừa bãi, săn bắt khai thác cạn kiệt động vật  
hoang dã và tận thu nguồn lợi thủy sản bằng các phương pháp đánh bắt  
hủy diệt đã làm mất cân bằng sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học, hủy  
hoại khả năng tái tạo và phòng chống thiên tai của tự nhiên.Xu hướng  
phát triển bừa bãi các khu công nghiệp ở các địa phương, buông lỏng  
quản lý chất thải công nghiệp, phát triển thủy điện nhỏ và khai thác đất  
đá, khoáng sản bừa bãi trực tiếp làm suy thoái môi trường, gây nguy  
hiểm cho sinh kế và phá hoại rừng, hủy hoại môi trường sống bền vững  
của người dân nông thôn.  
• Các nước trong khu vực đầu tư phát triển nông nghiệp, tăng  
khả năng cạnh tranh  
Tại Thái Lan, chính phủ đầu tư rất mạnh cho sản xuất nông nghiệp,  
đặc biệt là lúa gạo và trái cây. Trong năm tài khóa 2012, chính phủ Thái  
Lan đã chi cho chương trình trợ giá gạo khoảng 3,5% GDP. Nông dân  
trồng lúa còn được hưởng những chính sách hỗ trợ khác như: được mua  
phân bón với giá thấp và miễn cước vận chuyển phân bón, được cung  
cấp giống mới có năng suất cao. Ba chương trình lớn nhằm hỗ trợ nông  
nghiệp của Thái Lan gồm có: (i) Chương trình hoãn nợ cho nông dân  
vay tiền của Ngân hàng nông nghiệp; (ii) Chương trình “Mỗi làng một  
triệu bath”; (iii) Chương trình “Mỗi làng một sản phẩm”.  
Tại Trung Quốc, năm 2006, Chính phủ xoá bỏ thuế nông nghiệp đã  
tồn tại 2.600 năm, cắt giảm 15 tỷ USD gánh nặng thuế của nông dân.  
Từ đó đến nay, mức trợ cấp cho nông nghiệp, đầu tư cho nông thôn của  
Trung Quốc tăng rất mạnh hàng năm, tạo nên tiềm lực mới cho khoa học  
công nghệ và kết cấu hạ tầng sản xuất. Đời sống nông thôn Trung Quốc  
thực sự thay đổi mạnh. Đồng thời, dưới áp lực về lương thực, Trung  
Quốc đã khích lệ các doanh nghiệp hướng ra các nước khác để thuê  
đất nông nghiệp sản xuất. Theo ước tính, hiện có hơn 40 Công ty nông  
nghiệp Trung Quốc hoạt động ở 30 nước trên cả năm châu lục. Các trang  
trại này sản xuất các thực phẩm mà Trung Quốc đang thiếu như gạo, đậu  
tương, ngô… Không chỉ thuê, đi liền sau các hợp đồng thuê đất ở khắp  
năm châu là dòng người Hoa được đưa tới đó để làm việc.  
131  
Tại Indonesia, Cơ quan hậu cần quốc gia (Bulog) gần đây đã tăng  
cường thu mua lúa gạo trong nước nhằm đảm bảo an ninh lương thực.  
Indonesia tăng đầu tư cho nông nghiệp và trợ cấp cho người trồng lúa,  
hỗ trợ kỹ thuật, công cụ và vật tư, dịch vụ cho nông dân, khuyến khích  
tư nhân tham gia đầu tư nông nghiệp, chú trọng xây dựng hệ thống thủy  
lợi, cung cấp thông tin dự báo thời tiết… cho người sản xuất. Chính phủ  
sẽ cấp 10.000 ha đất sạch cho các doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp đưa  
ra dự án khả thi. Indonesia cũng kêu gọi doanh nghiệp bảo hiểm tham  
gia lĩnh vực bảo hiểm.  
Tại Philippines, Chính phủ nỗ lực trong việc đảm bảo lúa gạo cho  
toàn dân trong thời gian tới. Ngoài ra, Chính phủ Philippines cũng đặt  
ra mục tiêu xuất khẩu 100 tấn gạo chất lượng cao trong năm 2013.  
Chính phủ Philipppines dự kiến sẽ tăng 22% ngân sách dánh cho nông  
nghiệp nhằm tăng cường mạng lưới giao thông và hệ thống tưới tiêu.  
Để thực hiện những mục tiêu trên, Bộ Nông nghiệp Philippines đã ban  
hành chương trình cung cấp giống chất lượng cao đồng thời cấp bảo  
hiểm rủi ro thiên tai cho nông dân trồng lúa.  
Các nước khác trong vùng như Lào, Campuchia, Mianma cũng có  
bước phát triển mạnh trong việc cải tổ hệ thống tổ chức và chính sách  
phát triển nông nghiệp nông thôn.  
• Suy thoái kinh tế thế giới, nhu cầu thị trường giảm, doanh  
nghiệp gặp khó khăn.  
Ngân hàng tiếp tục gặp khó khăn vì nợ xấu (chiếm 4,7% tổng dư  
nợ vào cuối tháng 5 năm 201348) đã siết chặt tín dụng và giữ mức lãi  
suất rất cao kéo dài (phổ biến trong khoảng 13,5% đến 17,5%49). Nhiều  
doanh nghiệp và hộ nông dân không vay được vốn, buộc phải cắt giảm  
sản xuất, khiến lợi nhuận giảm.Trong chăn nuôi, do dịch bệnh và làm ăn  
thua lỗ, nhiều doanh nghiệp, hộ sản xuất phá sản. Tổng số đàn trâu của  
cả nước trong tháng 7 năm 2013 giảm 2,5%; đàn bò giảm 3%; đàn lợn  
48Ngân hàng Nhà nước.  
49Ngân hàng Nhà nước.  
132  
giảm 1,5%, gia cầm giảm 2% so với cùng kỳ năm 2012 50. Một số sản  
phẩm chăn nuôi nhập khẩu có dịp tràn vào thị trường nước ta.  
Trong ngành thủy sản cũng diễn ra tình trạng nhiều doanh nghiệp,  
hộ nuôi trồng thủy sản phá sản do bệnh dịch, cạnh tranh thương mại gay  
gắt chính ngay giữa các doanh nghiệp trong nước. Các ngư dân hoạt  
động trên biển còn gặp khó khăn vì bị tàu nước ngoài xua đuổi, uy hiếp,  
bắt giữ. Thêm vào đó là các rào cản thương mại tại các thị trường xuất  
khẩu.Ước tính, hiện đã có hơn 80% doanh nghiệp thủy sản mới thành  
lập trong 5 năm gần đây sắp phá sản.Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu  
thủy sản năm 2012 đạt khoảng 6,15 tỷ USD, tăng 0,7% so với năm 2011  
nhưng chỉ bằng 94,2% so với kế hoạch. Ước tính 6 tháng đầu năm, xuất  
khẩu thủy sản tương đương cùng kì năm ngoái.  
Kinh tế thế giới và trong nước chưa thể nhanh chóng hồi phục  
trong năm nay và năm tới. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng chậm. Giá  
nông sản thấp một mặt góp phần quan trọng giữ lạm phát ở mức thấp  
nhưng mặt khác làm giảm đáng kể thu nhập của nông dân.Trong hoàn  
cảnh đó, đầu tư cho nông nghiệp không cải thiện (tỷ lệ vốn đầu tư cho  
nông lâm thủy sản trong tổng vốn đầu tư xã hội có xu hướng giảm từ  
13,9% năm 2000 còn 6,6% vào năm 201151). Nếu nông nghiệp tiếp tục  
phải đối mặt với nhiều khó khăn như trước thì khả năng tái sản xuất mở  
rộng của ngành sẽ sụt giảm nghiêm trọng.  
Do hiệu quả thấp, nông nghiệp giảm dần vai trò trong cơ cấu thu  
nhập của gia đình nông thôn. Trên toàn quốc, lao động nông thôn bỏ sản  
xuất nông nghiệp đi tìm việc phi nông nghiệp ở ngay nông thôn hoặc  
tại thành phố, thậm chí tìm cách đi làm ở ngoài nước. Do trình độ thấp,  
thiếu thông tin, không có tổ chức, đa sống lao động từ nông thôn ra chủ  
yếu tham gia “thị trường lao động phi chính thức” (xe ôm, cửu vạn, thợ  
xây, đồng nát, ô sin,…) rủi ro cao, thu nhập thấp, điều kiện làm việc khó  
khăn, điều kiện sinh hoạt bất tiện. Một số nơi ở đồng bằng sông Hồng,  
50Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 7 tháng đầu  
năm 2013 ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn.  
51Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê.  
133  
nông dân đã trả ruộng lại cho nhà nước. Ở các vùng khác, hàng loạt  
nông dân bỏ đất không canh tác hoặc giảm vụ gieo trồng.  
3. Đề xuất cho bước phát triển mới  
Mặc dù nhu cầu tiêu dùng chung trên thế giới đang chững lại trong  
điều kiện khủng hoảng kinh tế thế giới trước mắt, nhưng nhìn lâu dài,  
nông sản với chất lượng cao đảm bảo vệ sinh an toàn luôn luôn có thị  
trường và giá tốt. Trong vài chục năm tới, cả thị trường trong nước  
và xuất khẩu đều có triển vọng tốt cho sản xuất nông nghiệp. Trong  
bối cảnh hội nhập ngày càng đẩy mạnh, một khi sản xuất nông nghiệp  
chuyển sang hướng có giá trị gia tăng cao và chất lượng tốt thì cơ hội  
để Việt Nam liên kết với các doanh nghiệp và quốc gia khác để mở rộng  
thị trường nông sản là rất to lớn. Đến năm 2015, AFTA sẽ phát huy hết  
tác dụng, hiệp định TPP đang đàm phán cũng đang mở ra những thời  
cơ mới.  
Các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng ngày càng rộng rãi trong sản  
xuất nông nghiệp đem lại năng suất vật nuôi cây trồng và năng suất  
lao động ngày càng cao, mở ra khả năng chống chịu thích nghi tốt với  
các bất lợi của môi trường, thực sự sẽ là nguyên liệu quan trọng để xây  
dựng một cơ cấu nông nghiệp hiện đại.  
Việc đương đầu với những khó khăn thách thức và khai thác các  
thời cơ thuận lợi trên gắn chặt với năng lực đổi mới cơ cấu ngành sản  
xuất nông nghiệp của Việt Nam ngay trong năm 2013 và các năm tới.  
Một mặt là triển vọng thay đổi tình hình một cách căn bản chẳng những  
đối với ngành nông nghiệp và với cả nền kinh tế nước nhà, mặt khác là  
nguy cơ bất ổn về chính trị xã hội và suy thoái môi trường nếu ngành  
nông nghiệp tiếp tục giảm tăng trưởng.  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chủ động chuẩn bị Đề  
án tái cơ cấu ngành, theo tầm nhìn “tái cơ cấu nền kinh tế” của Nghị  
quyết Đại hội Đảng lần thứ XI. Đây là bộ ngành đầu tiên trình Đề án  
tái cơ cấu ngành và đã được Thủ tướng phê duyệt. Mục tiêu chính của  
công tác tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm hướng tới phát triển nông  
134  
nghiệp hiệu quả, bền vững, có hàm lượng khoa học công nghệ cao, cơ  
giới hóa cao, tạo ra giá trị cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo  
tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện thu nhập  
nông dân, gắn với kinh tế nông thôn phát triển năng động và đa dạng.  
Để phục vụ mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp đã đề xuất các định hướng  
tái cơ cấu ngành như sau:  
Chuyển từ sản xuất các nông sản có giá trị thấp và tiềm năng thị  
trường hẹp sang các sản phẩm có giá trị cao và tiềm năng thị trường  
lớn; chuyển từ tập trung đầu tư vào các công đoạn sản xuất sang đầu tư  
cả cho những khâu tạo giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị sau thu hoạch;  
chuyển từ chỉ thúc đẩy sản xuất, kích cung sang hỗ trợ cầu; chuyển từ  
nông nghiệp thâm dụng tài nguyên sang nông nghiệp thâm dụng khoa  
học công nghệ, huy động tài nguyên con người; chuyển từ nông hộ tiểu  
nông sang phát triển kinh tế hợp tác, chuyên môn hóa cao, gắn kết cả  
ngành hàng tại các vùng chuyên canh.  
Sau 25 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những  
thành tựu đáng ghi nhận và đã giữ vai trò quan trọng trong phát triển  
kinh tế xã hội quốc gia. Nền nông nghiệp vẫn phát triển trước biến động  
của thị trường, thiên tai bệnh dịch xảy ra thường xuyên. Tuy nhiên,  
cũng phải nhìn nhận rõ là các động lực cho tăng trưởng nông nghiệp  
trong thời gian qua đã không còn hoặc đang cạn kiệt dần. Nguồn tài  
nguyên thiên nhiên, yếu tố quan trọng cho tăng trưởng nông nghiệp thời  
gian qua, đang bị suy giảm trầm trọng trong khi bản thân ngành nông  
nghiệp đang và sẽ phải đối mặt với tình trạng cạnh tranh ngày càng gay  
gắt trên thị thường thế giới và ngay chính trong đất nước mình.  
Ngành nông nghiệp đang đứng trước những yêu cầu bức thiết hơn  
bao giờ hết cho những giải pháp phát triển với khả năng cạnh tranh cao  
song song với phát triển bền vững. Trước mắt, cần trợ giúp các hộ chăn  
nuôi và nuôi trồng thủy sản đang gặp khó khăn để có thể giữ vững ao  
nuôi và đầu tư tái đàn bằng hỗ trợ tài chính, giãn nợ,...; đồng thời cần có  
giải pháp để trợ giúp các doanh nghiệp nông thôn còn hoạt động duy trì  
và khôi phục sản xuất thông qua các giải pháp tài chính.  
135  
Nhóm giải pháp quan trọng nhất, cần tập trung sức để giải quyết là  
đẩy mạnh triển khai tái cơ cấu ngành:  
Phát triển kinh doanh để rộng đường kết nối giữa sản xuất nông  
nghiệp với thị trường thế giới, mở rộng thị trường để phát triển sản xuất.  
Tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân (cả trong và ngoài nước)  
đầu tư vào nông nghiệp và phát triển nông thôn. Xử lý dứt điểm, cổ  
phần hóa và sắp xếp lại các doanh nghiệp nông lâm nghiệp nhằm cải  
thiện hiệu quả sử dụng đất bằng cách làm rõ đối tượng quản lý và sử  
dụng có hiệu quả cao nhất. Liên kết chặt chẽ doanh nghiệp với nông dân  
trong các chuỗi giá trị của các ngành hàng chính.  
Nhanh chóng đưa các nguồn tài nguyên đang bị bỏ phí vào sản  
xuất nông nghiệp như đất ở các khu dự án công nghiệp thuộc dạng quy  
hoạch treo; khôi phục ngay các công trình thủy lợi tại các công trình  
thủy điện và khai khoáng không hiệu quả; huy động vật tư tồn kho (xi  
măng, sắt…) để xây dựng, phát triển giao thông nông thôn và thủy lợi  
nhỏ trong chương trình nông thôn mới…  
Chuyển các hoạt động quan trọng mà trước đây nhà nước vẫn đầu  
tư hoàn toàn sang hợp tác công tư, nhất là trên các lĩnh vực: sản xuất  
công nghệ cao, áp dụng tiêu chuẩn sản phẩm quốc tế, phát triển nguồn  
nhân lực, thông tin thị trường, quản lý rủi ro, vận hành và bảo trì hệ  
thống thủy lợi, quản lý cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng  
nông nghiệp, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ thú y, quản lý tài nguyên  
thiên nhiên, bảo vệ thực vật, bảo vệ môi trường, tài chính nông thôn và  
bảo hiểm nông nghiệp.  
Phát triển khoa học công nghệ (KHCN) tập trung tạo ra bước đột  
phá đổi mới hệ thống tổ chức KHCN nông nghiệp theo hướng tự chủ, tự  
chịu trách nhiệm; huy động sự tham gia của tất cả các thành phần kinh  
tế vào các hoạt động KHCN nông nghiệp; phân cấp, phân quyền mạnh  
mẽ hoạt động khuyến nông cho các tổ chức nông dân và doanh nghiệp,  
tăng kinh phí đầu tư cho KHCN và khuyến nông, đẩy mạnh triển khai  
cơ chế đấu thầu các đề tài nghiên cứu.  
136  
Tập trung đầu tư kết hợp cải tiến tổ chức, phát triển toàn diện toàn  
bộ chuỗi ngành hàng (từ sản xuất, chế biến đến buôn bán) đối với những  
ngành có lợi thế như lúa gạo, các da trơn ở ĐBSCL, cây công nghiệp  
ở Tây Nguyên,... tại các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa phục vụ  
xuất khẩu trọng điểm (theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng liên  
kết,…). Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng, hệ thống dịch vụ phục vụ sản  
xuất kinh doanh và hệ thống kho tàng, chế biến, vận chuyển, tiếp thị,  
v.v… nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm giá thành nông sản.  
Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát hiện kịp thời các  
loại bệnh dịch nguy hiểm, nâng cao năng lực dự báo khí tượng thủy  
văn nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, hoàn thiện hệ thống thông tin  
thị trường làm cơ sở cho công tác điều hành và dự báo thị trường. Tiến  
hành bảo hiểm sản xuất nông nghiệp  
Cải cách và tăng cường vai trò của hội nông dân, vai trò của các  
hiệp hội ngành hàng và các HTX nông nghiệp. Nâng cao vai trò của  
các tổ chức này trong việc cung cấp các dịch vụ công. Nâng cao vai trò  
giám sát của cộng đồng đối với các dịch vụ công và các hoạt động sử  
dụng nguồn lực chung. Cải cách thủ tục hành chính, tập trung hoạt động  
của Nhà nước vào những hoạt động quản lý chính (chính sách, quy  
hoạch, tiêu chuẩn..). Xóa bỏ cơ chế xin cho, chuyển sang đối tác khách  
hàng trong quản lý nông nghiệp và giao thêm quyền tự chủ cho người  
dân đặc biệt trong chương trình phát triển nông thôn mới.  
Trước tình hình suy giảm của sản xuất nông nghiệp và xáo trộn  
trong kết cấu nông thôn, đã đến lúc phải có quyết tâm chính trị cao để  
kiên quyết tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp, ưu tiên phát triển nông  
thôn, phát huy vai trò chủ thể của nông dân. Đây là những mục tiêu  
quan trọng để ổn định chính trị xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng và  
mở đường cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục đi lên.  
Đây là những bước đột phá ban đầu để tiếp tục duy trì bằng được  
điểm sáng nông nghiệp nông thôn của nền kinh tế Việt Nam trong bối  
cảnh khó khăn hiện nay. Tuy nhiên để thực sự khai tác tiềm năng to lớn  
của nông nghiệp nông thôn Việt Nam thực sự trở thành lợi thế đưa Việt  
137  
Nam quay trở lại mức phát triển hiệu quả và vững bền để có thể cất cánh  
công nghiệp hóa thì cần phải tiến hành tái cơ cấu kiên quyết và triệt để  
của toàn nền kinh tế. Tư duy cũ phải được đổi mới, cách làm cũ phải  
được thay đổi để tạo ra được động lực đúng hướng cho mọi đối tượng  
trong xã hội từ nhà lãnh đạo đến người nông dân.  
Nếu như công cuộc đổi mới 27 năm trước đã thay đổi tư duy, thực  
hiện những cải cách quan trọng về đổi mới quan hệ sản xuất ở cơ sở,  
trao quyền cho người sản xuất, kinh doanh, để cơ chế thị trường điều  
hành hàng hóa và dịch vụ thì có lẽ công cuộc đổi mới hôm nay đòi hỏi  
những đột phá trong tư duy và đổi mới chính sách, chủ trương lớn cả ở  
cơ sở và ở trung ương để trao quyền cho nhà khoa học, cho người quản  
lý, để cơ chế thị trường vận hành hiệu quả với các tài nguyên quan trọng  
như đất đai, tiền vốn, lao động, khoa học công nghệ,…  
138  
pdf 14 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 17840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những thách thức và cơ hội mới của ngành nông nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_thach_thuc_va_co_hoi_moi_cua_nganh_nong_nghiep_viet_na.pdf