Sắp xếp các truyện ngắn trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 (Tập 1) đáp ứng yêu cầu dạy học đọc hiểu theo đặc trưng loại thể

VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
SẮP XẾP CÁC TRUYỆN NGẮN TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 (TẬP  
1) ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC ĐỌC HIỂU THEO ĐẶC TRƯNG LOẠI THỂ  
Nguyễn Phước Bảo Khôi  
Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh  
Nhận bài ngày: 6/6/2019; Ngày duyệt đăng: 27/08/2019  
Tóm tắt  
Dạy học đọc hiểu theo đặc trưng thể loại đặt ra nhiều yêu cầu phức tạp cho việc sắp xếp hệ thống  
văn bản. Trên cơ sở khảo sát các truyện ngắn trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 (Tập 1) hiện hành,  
bài viết hướng đến việc phân tích, đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu dạy học theo đặc trưng thể  
loại của các văn bản này, đồng thời đề xuất thứ tự sắp xếp văn bản phù hợp với yêu cầu trên.  
Từ khóa: dạy học đọc hiểu, Ngữ văn, truyện ngắn.  
Ordering short stories in the 11th grade literature textbook (Volume 1) to meet the  
requirements of the genre-based approach to reading comprehension teaching  
Abstract  
Teaching reading comprehension using a genre-based approach has posed some sophisticated  
requirements to text organization. Examining the short stories in the 11th grade literature textbook  
(Volume 1), this paper analyzes and evaluates their ability in meeting the requirements of the genre-  
based approach as well as proposes how to order these texts to fit those requirements.  
Keywords: reading comprehension teaching, Literature, short story.  
trưng thể loại thì việc rất quan trọng chính là  
phải lựa chọn và sắp xếp các truyện ngắn thành  
hệ thống VB tăng dần về độ khó, vừa tiêu biểu  
cho thể loại, vừa phù hợp với trình độ của HS.  
Đó cũng là mục đích nghiên cứu của chúng tôi  
khi tiến hành làm việc với các VB truyện ngắn  
trong SGK Ngữ văn 11 (Tập 1) hiện hành.  
1. Dạy học đọc hiểu truyện ngắn theo đặc  
trưng thể loại  
Trong SGK Ngữ văn 11 (Tập 1), bài học Một  
số thể loại văn học: Thơ, truyện đã nêu một số  
yêu cầu về việc đọc hiểu tác phẩm truyện như  
tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác,  
phân tích cốt truyện, chú ý tới các tình tiết chính,  
phân tích nhân vật, xác định giá trị tư tưởng  
nghệ thuật của truyện. Trong đó, tài liệu này xác  
định “truyện ngắn thường ít nhân vật, sự kiện,  
nó hướng tới một vài mảnh nhỏ của cuộc sống,  
có thể kể về cả cuộc đời hay một đoạn đời, một  
“chốc lát” của nhân vật, nhưng trong phạm vi  
hạn hẹp vẫn có thể đặt ra những vấn đề lớn lao,  
Đặt vấn đề  
Truyện ngắn là một thể loại quan trọng trong  
chương trình (CT) Ngữ văn bậc trung học phổ  
thông (THPT), được học xuyên suốt hai lớp 11  
và 12 với số lượng văn bản (VB) khá đáng kể.  
Do vậy, việc dạy đọc truyện ngắn nói chung và  
dạy học đọc hiểu (DHĐH) truyện ngắn gắn với  
định hướng đặc trưng thể loại nói riêng là vấn  
đề rất đáng lưu tâm. Tuy vậy, việc hệ thống văn  
bản văn học (VBVH) trong sách giáo khoa  
(SGK) Ngữ văn bậc THPT hiện hành được lựa  
chọn và sắp xếp vừa dựa vào tiến trình văn học  
vừa căn cứ theo thể loại chưa thể đáp ứng tốt  
yêu cầu nâng cao hiệu quả DHĐH. Giúp HS  
nhận biết đặc trưng loại thể để hỗ trợ đắc lực  
hoạt động tiếp nhận VB, hình thành cho HS kỹ  
năng đọc các VB cùng loại có độ phức tạp cao  
một cách độc lập, thành thạo là điều rất cần thiết,  
nhất là trong CT Ngữ văn theo định hướng phát  
triển năng lực (NL). Những điều trên cho thấy  
để đáp ứng vấn đề DHĐH truyện ngắn theo đặc  
88  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
thể hiện những tư tưởng nhân sinh sâu sắc” (Bộ  
Giáo dục và Đào tạo, 2017: 135-136).  
có khả năng nâng tác phẩm lên cấp độ tượng  
trưng, khái quát, tạo sức ám ảnh. Trong nhiều  
truyện ngắn hay có những chi tiết phát sáng,  
nghĩa là nhờ vào nó mà tư tưởng chủ để được  
khắc sâu” (Đinh Trí Dũngvà cộng sự, 2018: 55).  
Như vậy, khi DHĐH truyện ngắn theo đặc  
trưng thể loại, ngoài việc lưu ý HS một số yếu  
tố cơ bản như cốt truyện, điểm nhìn trần thuật,  
nhân vật, chúng ta không thể không ghi nhận ở  
tác giả một nỗ lực xây dựng truyện ngắn với kết  
cấu linh hoạt, đa dạng, với những chi tiết ấn  
tượng và tình huống độc đáo nhằm tác động sâu  
sắc hiệu quả nhất đến người đọc.  
Đặc điểm về dung lượng của truyện ngắn  
khiến tác giả phải đặt ra yêu cầu về tính dồn nén,  
cô đúc trong cách tường thuật và thể hiện, “phải  
biết chú ý vào cái cơ bản, vứt bỏ những gì xa  
xôi, miên man, rườm rà có thể làm tổn hại đến  
sự súc tích của văn bản, làm tan loãng ấn tượng  
tập trung về chủ đề” (Huỳnh Như Phương,  
2017: 95). Từ đó, đôi khi cốt truyện không quan  
trọng bằng việc nhà văn tổ chức cốt truyện, sắp  
xếp các tình tiết làm sao để điều chính yếu được  
nổi bật lên, gây được ấn tượng mạnh mẽ.  
Cũng do đặc thù về dung lượng, Huỳnh Như  
Phương (2017: 94) nhận thấy truyện ngắn  
thường chỉ “tập trung khai thác một thời điểm  
chói sáng, một tình huống gây ấn tưọng mạnh  
và có ý nghĩa nhất trong cuộc đời nhân vật”.  
Chung quan điểm với Huỳnh Như Phương  
(2017), Đinh Trí Dũng và cộng sự (2018) cho  
rằng: “Truyện ngắn tập trung xoáy sâu vào  
những thời điểm có ý nghĩa để người đọc nhận  
ra các giá trị của cuộc sống, nhìn thấy diện mạo  
của cái toàn thể thông qua những “lát cắt" bộ  
phận mang tính điển hình”. Từ đó, ta có thể xác  
định: với truyện ngắn thì “tình huống là nhân tố  
quan trọng tổ chức kết cấu, tức nó bao trùm và  
chi phối các thành tố khác như nhân vật, cảnh  
vật, bố cục, lời trần thuật” và “hiểu được đặc  
sắc của tình huống, có thể coi như đã nắm được  
chiếc chìa khóa mầu nhiệm để mở vào thế giới  
bí ẩn, hấp dẫn của truyện ngắn”.  
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải đề cập  
đến vai trò của chi tiết trong truyện ngắn. Khi  
đưa chi tiết vào tác phẩm tự sự có dung lượng  
ngắn, bao giờ nhà văn cũng phải có sự lựa chọn  
thật tinh tế. Số lượng chi tiết nhiều hay ít không  
quan trọng. Điều đáng lưu tâm là mỗi chi tiết dù  
lớn hay nhỏ đều có ý nghĩa đóng góp một vai trò  
nào đó trong việc thể hiện dụng ý nghệ thuật của  
tác giả. Thậm chí, Đinh Trí Dũng và cộng sự đã  
khẳng định: “Truyện ngắn có thể không có một  
cốt truyện rõ ràng nhưng không thể không có  
chi tiết. Chính chi tiết mà không khí, cảnh trí,  
tình huống, tính cách, hành động, tâm tư nhân  
vật được bộc lộ đầy đủ. Những chi tiết hay còn  
2. Vấn đề sắp xếp văn bản phục vụ cho  
việc DHĐH truyện ngắn theo đặc trưng thể  
loại  
Ở phần phát biểu về quan điểm sư phạm, tài  
liệu CT giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện  
hành nêu rõ có hai hướng tích hợp chủ yếu trong  
CT môn học đó là tích hợp theo chiều ngang và  
tích hợp theo chiều dọc. Theo người biên soạn,  
tích hợp theo chiều dọc có nghĩa là “thiết kế  
những đơn vị kiến thức, kỹ năng học sau bao  
hàm những kiến thức, kỹ năng đã học trước  
nhưng ở mức cao hơn và sâu hơn theo nguyên  
tắc đồng tâm và phát triển” (Bộ Giáo dục và  
Đào tạo, 2006: 8). Chúng tôi nhận thấy quan  
điểm này tương đồng với khuyến nghị về việc  
cấu trúc hệ thống VB trong SGK Ngữ văn mới.  
Nguyễn Thành Thi cho rằng các VBVH “phải  
được tuyển chọn, tập hợp thành hệ thống có tính  
tiêu biểu về loại, phù hợp về độ khó và được sắp  
xếp tăng dần về độ phức tạp, tương ứng với yêu  
cầu cao dần về kiến thức, kỹ năng cần đạt”  
(Nguyễn Thành Thi, 2014: 141).  
Phụ lục A của Common Core State  
Standards (CCSS) đã đưa ra một nội dung rất  
quan trọng đó là độ khó (mức độ phức tạp) của  
VB sử dụng trong việc chọn lựa tài liệu đọc hiểu  
phù hợp cho từng cấp học, đơn vị lớp (NGA &  
CCSSO, 2010: 4-5). Dựa trên các yếu tố về Chất  
lượng và Số lượng được xác định trong vấn đề  
này, các nhà giáo dục Hoa Kỳ đã phân định độ  
khó VB theo hai loại VB được sử dụng trong CT  
môn Ngữ văn: văn bản thông tin (VBTT) và văn  
bản văn học (VBVH). Với VBVH, độ khó VB  
89  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
được thể hiện qua ý nghĩa/ tầng nghĩa của VB,  
đặc điểm VB, việc sử dụng ngôn ngữ của VB và  
những yêu cầu về kiến thức đối với HS khi đọc  
VB. Trong mỗi yếu tố được khảo sát đều có  
phân ra bốn cấp độ (cao, tương đối cao, tương  
đối thấp, thấp) để thuận tiện cho việc xác định  
độ khó. Theo đó, độ khó của VBVH được thể  
hiện theo Bảng 1 sau:  
Bảng 1. Chi tiết hóa các yếu tố cấu thành độ khó của VBVH  
Yếu  
tố  
Mức độ  
Tương đối thấp  
Thấp  
Tương đối cao  
Cao  
Dung lượng ngắn, khổ in Dung lượng vừa, khổ in Dung lượng vừa, khổ Dung lượng vừa, khổ in  
lớn, nhiều hình ảnh minh lớn, ít hình ảnh minh họa, in vừa hoặc nhỏ, ít nhỏ, chữ in kiểu trang trí  
họa, các chương/ đề mục các chương/ đề mục được hoặc không có hình mĩ thuật, không có hình  
Định  
dạng,  
thiết  
kế  
được đặt tên.  
đặt tên.  
ảnh minh họa, các ảnh minh họa, các chương/  
chương/ đề mục được đề mục có thể hoặc không  
đánh số thứ tự.  
được đánh số thứ tự.  
•
•
•
•
Nhân vật và bối cảnh • Nhân vật và bối cảnh • Nhân vật và bối • Nhân vật phức tạp và  
Đặc  
điểm  
đơn giản.  
khá đơn giản.  
cảnh khá phức tạp.  
bối cảnh thay đổi linh  
hoạt.  
Kết cấu theo trình tự • Kết cấu theo diễn • Kết cấu theo diễn  
thời gian tuyến tính.  
Điểm nhìn trần thuật  
cố định.  
Nội dung đơn nghĩa, • Điểm nhìn trần thuật  
dễ tìm hiểu.  
biến tâm lý gắn với  
trình tự thời gian  
tuyến tính.  
biến tâm lý, có sự • Kết cấu linh hoạt tùy  
xuất hiện của kết  
cấu hồi cố (đảo  
trình tự thời gian).  
Điểm nhìn trần  
thuộc vào những tình  
tiết chính.  
Điểm nhìn trần thuật  
luôn thay đổi.  
•
thường cố định.  
•
•
•
Nội dung chủ yếu  
được thể hiện rõ ràng,  
dễ tìm hiểu.  
thuật đôi khi có sự • Nội dung hàm ẩn, khó  
thay đổi.  
tìm hiểu.  
Nội dung hàm ẩn  
nhưng vẫn dễ tìm  
hiểu.  
Ngôn ngữ hiện đại, được Ngôn ngữ đa phần hiện Thường sử dụng lối sử dụng lối diễn đạt hình  
sử dụng đơn nghĩa, diễn đại, chủ yếu được sử diễn đạt hình tượng, tượng, bóng bẩy, nhiều ẩn  
đạt dễ hiểu, ít hoặc không dụng đơn nghĩa, diễn đạt bóng bẩy, ẩn ý. Có sự ý. Ngôn ngữ nhìn chung xa  
sử dụng cách diễn đạt tương đối dễ hiểu, đôi xuất hiện của một ít từ lạ, cổ xưa, đôi lúc gây cản  
Ngôn  
ngữ  
hình tượng, bóng bẩy.  
chỗ sử dụng cách diễn đạt cổ.  
hình tượng, bóng bẩy.  
trở cho việc nắm bắt ý  
nghĩa của VB.  
•
•
Cốt truyện đơn tuyến • Cốt truyện đơn tuyến • Cốt truyện đa • Cốt truyện đa tuyến  
Ý
nghĩa  
Chỉ có một chủ đề • Thể hiện một chủ đề  
tuyến  
•
Đan cài nhiều chủ đề  
phức tạp, những thông  
điệp được chuyển tải  
rất tinh tế, ý nghĩa của  
VB còn mơ hồ, khó  
phát hiện.  
xuyên suốt trong VB;  
thông điệp được  
chuyển tải, ý nghĩa  
của VB có thể nắm  
bắt dễ dàng, thậm chí  
sớm được phát hiện.  
khá phức tạp nhưng • Đan cài nhiều chủ  
thông điệp được  
chuyển tải, ý nghĩa  
của VB có thể nắm  
bắt dễ dàng, thậm chí  
sớm được phát hiện.  
đề, những thông  
điệp được chuyển  
tải, ý nghĩa của VB  
chỉ có thể nắm bắt  
sau khi đọc hết  
VB.  
•
•
Nội dung VB rất quen • Kinh nghiệm đời • Kinh nghiệm đời • Kinh nghiệm đời sống:  
Yêu  
cầu  
kiến  
thức  
thuộc  
với  
kinh  
sống: kinh nghiệm  
thể hiện gần gũi với  
nhiều người đọc  
sống: kinh nghiệm  
thể hiện không gần  
gũi với phần lớn  
người đọc  
kinh nghiệm thể hiện  
hoàn toàn khác lạ với  
phần lớn/toàn bộ người  
đọc  
nghiệm sống của  
người đọc.  
Việc tìm hiểu nội • Việc tìm hiểu nội  
dung, ý nghĩa VB chỉ  
yêu cầu những kiến  
dung, ý nghĩa VB yêu • Cần có một trình • Kiến thức về văn học,  
cầu những kiến thức độ nhất định về văn hóa phải sâu rộng  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
thức đơn giản về văn  
học, văn hóa.  
Không liên quan đến • Đôi chỗ có liên quan  
các VB khác hoặc các  
yếu tố văn hóa khác.  
phổ thông về văn học,  
văn hóa.  
văn học, văn hóa  
để tìm hiểu được  
nội dung, ý nghĩa  
VB.  
mới có thể tìm hiểu  
được nội dung, ý nghĩa  
VB.  
Nhiều chỗ có liên quan  
đến VB khác và các  
yếu tố văn hóa khác.  
•
đến VB khác hoặc các  
yếu tố văn hóa khác. • Đôi chỗ có liên  
quan đến VB khác  
•
và các yếu tố văn  
hóa khác.  
Tài liệu sách giáo viên Ngữ văn 10 (Tập 1)  
cho biết “các văn bản văn học được sắp xếp theo  
thể loại và các thời kì văn học lớn” và “cách sắp  
xếp nói trên một mặt theo truyền thống (dựa vào  
tiến trình văn học) mặt khác có điểm mới theo thể  
loại” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010: 8). Đây  
chính là định hướng rất quan trọng trong việc lựa  
chọn và sắp xếp các văn bản văn học (VBVH)  
trong CT môn Ngữ văn hiện hành.  
Hơn thế, trục thể loại cũng là tiêu chí quan  
trọng hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong  
việc sắp xếp hệ thống VBVH của CT và SGK  
Ngữ văn mới. Và việc sắp xếp này đã làm “nổi  
bật vai trò của thể loại, đồng thời phù hợp với  
việc dạy và học văn theo đặc trưng thể loại” (Bộ  
Giáo dục và Đào tạo, 2010: 9). Không phải vô  
tình mà Phan Trọng Luận khi nêu ra các năng  
lực (NL) đặc thù mà môn Ngữ văn cần rèn luyện  
và nâng cao cho học sinh (HS) đã đặc biệt nhấn  
mạnh đến NL nhận biết loại thể để định hướng  
hoạt động tiếp nhận VBVH (Phan Trọng Luận,  
2011: 177-178). Vận dụng quan điểm đã được  
nêu trên và chọn lọc, phát triển một số nội dung  
từ Bảng 1, trong việc DHĐH truyện ngắn, chúng  
tôi tạm hình dung độ khó của truyện ngắn có ba  
mức, tăng dần từ (1) đến (3), tương ứng với các  
yếu tố đặc trưng cho thể loại theo mô tả ở Bảng  
2 sau:  
Bảng 2. Phân giải độ khó của thể loại truyện ngắn  
Yếu tố  
đặc  
Mức độ  
(1)  
(2)  
(3)  
trưng  
Ít tình tiết quan trọng.  
Nhiều tình tiết quan trọng.  
Nhiều tình tiết quan trọng,  
giàu kịch tính.  
Cốt  
truyện  
Sử dụng một kiểu kết cấu dạng Sử dụng một kiểu kết cấu dạng phức Sử dụng kết hợp hai loại kết  
Kết cấu  
đơn giản (kết cấu tuyến tính hoặc tạp (như kết cấu tâm lý, kết cấu vòng cấu khác nhau trở lên.  
kết cấu đảo trình tự thời gian).  
tròn, kết cấu truyện lồng trong  
truyện…).  
Khách quan  
Có sự đan xen giữa chủ quan và Phối hợp linh hoạt khách  
khách quan nhưng chủ yếu vẫn là quan và chủ quan.  
chủ quan.  
Điểm  
nhìn trần  
thuật  
Sự phát triển của cốt truyện xoay Cốt truyện phát triển trên cơ sở kết Cốt truyện phát triển có sự  
Tình  
quanh một tình huống.  
hợp của hai tình huống.  
kết hợp của nhiều hơn hai  
tình huống.  
huống  
Tính cách nhân vật chủ yếu được Tính cách nhân vật được thể hiện Tính cách nhân vật được  
thể hiện thông qua hành động, lời thông qua hành động, lời nói, tâm thể hiện thông qua hành  
Nhân vật  
Chi tiết  
nói.  
lý.  
động đặc biệt, lời nói đa  
nghĩa, tâm lý phức tạp.  
Các chi tiết rời rạc, không tổ chức Các chi tiết tổ chức thành cụm có sự Các chi tiết tổ chức thành  
thành cụm, chỉ tác động đến đến kết nối về ý nghĩa, tác động đến một cụm có sự kết nối về ý  
một phương diện về nội dung phương diện về nội dung hoặc nghệ nghĩa, chi phối cả nội dung  
hoặc nghệ thuật của tác phẩm.  
thuật của tác phẩm.  
lẫn nghệ thuật của tác phẩm.  
91  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
Thực tế CT và SGK Ngữ văn hiện hành không  
cho phép giáo viên (GV) tự lựa chọn VB để  
DHĐH. Việc cần và có thể thực hiện đó là trên  
nền tảng CT và SGK Ngữ văn hiện hành, GV nên  
định hướng lại để có thể khắc phục được một số  
chủ động sắp xếp lại các bài học trong CT và  
SGK hiện hành nếu trình tự các bài học ấy chưa  
đáp ứng được mục tiêu DHĐH truyện ngắn theo  
đặc trưng thể loại cho HS.  
3. Khảo sát các VB truyện ngắn trong  
SGK Ngữ văn 11 (Tập 1)  
SGK Ngữ văn 11 (Tập 1) có tất cả 5 VB  
truyện ngắn, trong đó được học chính thức là 3  
VB gồm Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người  
tử tù (Nguyễn Tuân) và Chí Phèo (Nam Cao).  
Đây cũng chính là ngữ liệu để chúng tôi tiến  
hành nghiên cứu vấn đề.  
Dựa vào các vấn đề cần quan tâm khi DHĐH  
truyện ngắn theo đặc trưng thể loại đã nêu (cốt  
truyện, điểm nhìn trần thuật, nhân vật, kết cấu,  
chi tiết, tình huống), chúng tôi phân giải 3 VB  
trên theo từng yếu tố đặc trưng, nội dung mô tả  
cụ thể như Bảng 3 sau:  
bất cập của hệ thống VB sử dụng DHĐH. Bên  
cạnh việc lưu ý dạy đúng tiến độ, dạy cho đủ bài,  
GV cần phải chú trọng dạy cho HS cách học,  
cách tư duy thông qua việc giải quyết các vấn đề,  
thực hiện các nhiệm vụ học tập. Do đó, việc sắp  
xếp các đơn vị nội dung dạy học theo một trật tự  
phù hợp với mức độ và quá trình nhận thức của  
HS cần được quan tâm đúng mức. Muốn vậy,  
mỗi bài học/ VB phải được xếp đặt một cách có  
mục đích và phải tạo thành một mối liên kết chặt  
chẽ với nhau. Vẫn là những VB ấy nhưng chỉ cần  
sắp xếp khác đi là lập tức khả năng tiếp thu của  
người học sẽ khác. Như vậy, GV hoàn toàn có thể  
Bảng 3. Phân giải theo đặc trưng thể loại các truyện ngắn trong SGK Ngữ văn 11 (tập 1)  
Yếu tố  
VB  
đặc  
trưng  
Cốt  
Hai đứa trẻ  
Cốt truyện đơn giản  
Chữ người tử tù  
Chí Phèo  
Cốt truyện kịch tính Cốt truyện kịch tính.  
truyện  
Kết cấu tâm lý – tuyến tính  
Kết cấu tuyến tính  
•
•
Kết cấu đảo trình tự thời gian  
Kết cấu vòng tròn  
Kết cấu  
Chủ yếu là khách quan, có sự Khách quan (trần Đan xen chủ quan và khách quan (trần thuật  
đan xen với điểm nhìn chủ quan thuật bằng lời gián phối hợp lời gián tiếp, lời nửa trực tiếp, lời  
Điểm  
nhìn  
trần  
(chủ yếu trần thuật bằng lời gián tiếp)  
tiếp, đôi chỗ trần thuật bằng lời  
nửa trực tiếp).  
trực tiếp)  
thuật  
•
•
Tình huống tâm trạng  
Tình huống nhận thức  
Tình huống hành • Tình huống tâm trạng  
động Tình huống nhận thức  
Tình  
huống  
Nhân vật  
•
Tính cách được miêu tả chủ yếu Tính cách được Tính cách được miêu tả thông qua hành động  
thông qua tâm lý.  
miêu tả chủ yếu lẫn tâm lý. Đặc biệt diễn biến tâm trạng, trạng  
thông qua hành thái tâm lý phức tạp của nhân vật được khám  
động, ngôn ngữ.  
phá, miêu tả, phân tích tinh tế qua những  
đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm.  
•
•
Cụm chi tiết về âm thanh  
Cụm chi tiết về ánh sáng và • Buồng giam  
bóng tối  
•
Cái gông  
•
•
•
Tiếng chửi  
Cái lò gạch cũ  
Cụm chi tiết về âm thanh cuộc sống mà  
Chi tiết  
•
Bức châm  
•
Cụm chi tiết về đoàn tàu  
Chí Phèo nghe khi thức dậy sau cơn say  
đêm  
dài.  
•
Bát cháo hành  
Dựa vào xuất xứ (trích trong các tập truyện  
trải dài theo thời gian từ 1938 đến 1941) cũng  
như xu hướng phân hóa trong bộ phận văn học  
công khai giai đoạn 1930 – 1945 (VB Hai đứa  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
trẻ và Chữ người tử tù thuộc văn học lãng mạn  
còn VB Chí Phèo thuộc văn học hiện thực phê  
phán), trình tự xuất hiện của 3 VB trên có thể là  
một ví dụ cho quan điểm sắp xếp VB dựa trên  
tiến trình văn học.  
Căn cứ vào đặc trưng thể loại, các VB này là  
những minh họa mẫu mực – biểu hiện đầy đủ  
những đặc trưng cơ bản, mang tính tiêu biểu –  
cho thể loại truyện ngắn. Nói cách khác, 3 VB  
trên có đầy đủ những dữ kiện cần thiết phù hợp  
với mục tiêu dạy học, đặc biệt là việc rèn luyện,  
nâng cao kỹ năng đọc truyện ngắn theo đặc  
trưng loại thể cho HS.  
28). Ở đây chúng tôi đặc biệt chú ý đến vấn đề  
“tăng cường qua kinh nghiệm”. Điều này có  
nghĩa NL được phát triển dần dần và trên cơ bản  
muốn hình thành NL thì hoạt động phải được lặp  
đi lặp lại cho thành thạo. Do vậy, để hình thành  
NL đọc truyện ngắn cho HS, GV cần quan tâm  
đến kinh nghiệm của các em cũng như chú ý đến  
đường phát triển dần dần của NL ấy, cần hướng  
đến việc giúp các em nắm bắt được yếu tố đặc  
trưng cho thể loại từ đơn giản đến phức tạp. Điều  
này càng khẳng định việc sắp xếp lại các VB  
phục vụ cho việc DHĐH truyện ngắn theo đặc  
trưng thể loại là rất cần thiết.  
Nhưng nếu dựa vào những nội dung đã được  
phân giải trong Bảng 1, có thể thấy các VB trên  
chưa được sắp xếp thành hệ thống tăng dần về độ  
khó, từ đó chưa đáp ứng được mục tiêu DHĐH  
truyện ngắn theo đặc trưng thể loại cho HS.  
Erpenbeck (1998) cho rằng NL lấy tri thức  
làm cơ sở, được qui định bằng các giá trị (chuẩn),  
hiện thực hóa qua ý chí (sự sẵn sàng/ thái độ tích  
cực khi thực hiện hoạt động), tăng cường qua  
kinh nghiệm (lặp đi lặp lại hoạt động cho thành  
thạo) và được sử dụng như khả năng (gắn với các  
kĩ năng cụ thể) (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018:  
4. Đề xuất việc sắp xếp các truyện ngắn  
trong SGK Ngữ văn 11 (Tập 1) đáp ứng yêu  
cầu DHĐH theo đặc trưng thể loại  
Dựa vào Bảng 2, để đảm bảo đường phát  
triển NL đọc truyện ngắn được liền mạch, chúng  
tôi cho rằng nên có sự hoán đổi thứ tự giữa hai  
VB Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ. Việc sắp  
xếp này cơ bản sẽ tạo nên một hệ thống VB tăng  
dần về độ khó. Áp dụng kết quả phân giải ở  
Bảng 1, cũng với độ khó tăng dần từ (1) đến (3)  
tương ứng với các yếu tố đặc trưng cho thể loại,  
chúng tôi có mô tả theo Bảng 4 sau:  
Bảng 4. Mô tả độ khó theo mức độ của các truyện ngắn trong SGK Ngữ văn 11 (Tập 1)  
Yếu tố đặc trưng  
VB  
Hai đứa trẻ  
Chữ người tử tù  
Chí Phèo  
(3)  
Cốt truyện  
Kết cấu  
Điểm nhìn trần thuật  
Tình huống  
Nhân vật  
(2)  
(1)  
(1)  
(1)  
(1)  
(1)  
(1)  
(2)  
(2)  
(2)  
(2)  
(2)  
(3)  
(3)  
(2)  
(3)  
Chi tiết  
(3)  
Ngoài yếu tố cốt truyện, VB Chữ người tử tù  
(Nguyễn Tuân) có 5/6 yếu tố đặc trưng ở mức  
độ (1), thỏa điều kiện trở thành tác phẩm đầu  
tiên để DHĐH truyện ngắn. Hơn thế, nếu kéo  
dài đường phát triển NL này đến tác phẩm  
truyện ngắn gần nhất HS đã được học ở lớp 10  
là Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (bên cạnh  
yếu tố kỳ ảo đặc trưng, truyện ngắn này có cốt  
truyện kịch tính, kết cấu tuyến tính, tính cách  
nhân vật được được miêu tả tập trung vào hành  
động và ngôn ngữ), có thể thấy Chữ người tử tù  
có lợi thế kết nối với tác phẩm này hơn Hai đứa  
trẻ (căn cứ vào kinh nghiệm tiếp nhận truyện  
ngắn theo đặc trưng thể loại của HS).  
Hơn thế, thứ tự mới của các truyện ngắn  
được dạy học trong SGK Ngữ văn lớp 11 (Tập  
1) theo đề xuất trên sẽ giúp mở rộng dần nội  
dung nhân đạo trong sự kết nối với hai truyện  
ngắn đầu tiên trong SGK Ngữ văn 12 (Tập 2),  
cụ thể như Hình 1 sau:  
93  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
Tố cáo, lên án  
Tố cáo, lên án  
Trân trọng ca ngợi  
Đồng cảm chia sẻ  
Đau đớn xót xa  
Trân trọng ca ngợi  
Đồng cảm chia sẻ  
Đau đớn xót xa  
Trân trọng ca ngợi  
Đồng cảm chia sẻ  
Mở ra lối thoát  
Đau đớn xót xa  
Trân trọng ca ngợi  
Đồng cảm chia sẻ  
Chữ người tử tù  
Hai đứa trẻ  
Chí Phèo  
Vợ chồng A Phủ  
Vợ nhặt  
Hình 1. Mô tả nội dung nhân đạo trong các truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong SGK Ngữ văn 11  
(Tập 1) và Ngữ văn 12 (Tập 2)  
Từ trường hợp các VB truyện ngắn trong  
SGK Ngữ văn 11 (Tập 1) cho thấy vấn đề sắp  
xếp VB thuận lợi cho việc DHĐH còn rất nhiều  
hạn chế. Việc hệ thống VBVH trong SGK Ngữ  
văn bậc trung học phổ thông hiện hành được lựa  
chọn và sắp xếp vừa dựa vào tiến trình văn học  
vừa căn cứ theo thể loại chưa thể đáp ứng tốt  
yêu cầu nâng cao hiệu quả DHĐH. Một trong  
những nguyên nhân dẫn đến hệ quả này là do  
tính định hướng của CT hiện hành: bản chất vẫn  
là CT được định hướng về nội dung – coi trọng  
tính hệ thống của tri thức với những quy định  
chặt chẽ về chuẩn kiến thức, kỹ năng, tạo nên rất  
nhiều lực cản cho việc đổi mới phương pháp dạy  
học. Giúp HS nhận biết đặc trưng loại thể để hỗ  
trợ đắc lực hoạt động tiếp nhận VB, hình thành  
cho HS kĩ năng đọc các VB cùng loại có độ phức  
tạp cao một cách độc lập, thành thạo là điều rất  
cần thiết, nhất là trong CT Ngữ văn theo định  
hướng phát triển NL. Do đó, việc lựa chọn và  
sắp xếp hệ thống VB phục vụ DHĐH rất quan  
trọng, đặc biệt khi quá trình đổi mới CT và SGK  
Ngữ văn đang đến gần thì vấn đề này càng phải  
được đặt ra cấp bách hơn.  
Tài liệu tham khảo  
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2006). Chương trình giáo  
dục phổ thông môn Ngữ văn. Hà Nội, Nxb  
Giáo dục.  
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2010). Sách giáo viên Ngữ văn  
10 (Tập 1). Hà Nội, Nxb Giáo dục Việt Nam.  
BộGiáodụcvàĐào tạo. (2017). Sáchgiáo khoa Ngữvăn  
11 (Tập 1). Hà Nội, Nxb Giáo dục Việt Nam.  
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Sách giáo khoa theo  
định hướng phát triển năng lực (Tài liệu hội  
thảo). Hà Nội, Nxb Giáo dục Việt Nam.  
Đinh Trí Dũng, Bùi ViệtThắng. (2018). Giáo trình truyện  
ngắn Việt Nam hiện đại. Nxb Đại học Vinh.  
Phan Trọng Luận. (2011). Văn chương – Bạn đọc  
sáng tạo. Hà Nội, Nxb Đại học Sư phạm.  
NGA & CCSSO (2010). Common Core State Standards  
A., 20/10/2017.  
Huỳnh Như Phương. (2017). Tác phẩm và thể loại  
văn học. Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM.  
Nguyễn Thành Thi (2014). Năng lực giao tiếp như là  
kết quả phát triển tổng hợp kiến thức và các  
kĩ năng đọc, viết, nói, nghe trong dạy học Ngữ  
văn. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm  
Tp.HCM, 56, 134-143  
94  
pdf 7 trang baolam 22660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sắp xếp các truyện ngắn trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 (Tập 1) đáp ứng yêu cầu dạy học đọc hiểu theo đặc trưng loại thể", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsap_xep_cac_truyen_ngan_trong_sach_giao_khoa_ngu_van_11_tap.pdf