Tác động của toàn cầu hóa đến dư luận xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác động của toàn cầu hóa đến dư luận xã hội
vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam1
Phan Tân(*)
Lê Thị Thùy Ly(**)
Tóm tắt: Kể từ khi đất nước bắt đầu tiến hành công cuộc Đổi mới (năm 1986), hội nhập,
toàn cầu hóa đã tác động ngày càng lớn đến đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội vùng
dân tộc thiểu số (DTTS) cũng như bức tranh dư luận xã hội (DLXH) nơi đây qua việc làm
thay đổi những thực hành liên quan của người dân. Kết quả khảo sát thực địa của chúng
tôi cho thấy, người dân vùng DTTS đã không ngừng mở rộng những vấn đề quan tâm của
mình trong bối cảnh mới, và - bằng phương tiện truyền thông kỹ thuật số - họ đã bày tỏ
được với nhiều người hơn, ở nhiều nơi, vào nhiều thời điểm và theo nhiều cách thức đa
dạng hơn về điều họ muốn thể hiện.
Từ khóa: Dư luận xã hội, Toàn cầu hóa, Dân tộc thiểu số, Việt Nam
Abstract: Since Doi moi (Renovation) in 1986, integration and globalization has made an
increasingly large impact on the economic, cultural and social life of the ethnic minorities
and the public opinion therein reflected by relevant practical changes of the local people.
The fieldwork results show that ethnic minorities have continually raised more concerns
in a new context and thanks to digital media, shared with more people, in more places, at
more times and in more diverse ways what they want to express.
Key words: Public Opinion, Globalization, Ethnic Minorities, Vietnam
Mở đầu 123
của Chính phủ về công tác dân tộc, vùng
Ở Việt Nam có 53 DTTS. Theo Nghị DTTS là địa bàn có đông các DTTS cùng
định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 sinh sống ổn định thành cộng đồng trên
lãnh thổ đất nước.
Trên tinh thần xác định hội nhập kinh
tế là trọng tâm để từ đó mở rộng ra các lĩnh
vực khác, quá trình hội nhập với toàn cầu
1 Bài viết là kết quả của Đề tài khoa học cấp Nhà nước
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dư luận xã hội
ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong bối cảnh toàn
đã đưa đến những chuyển biến mạnh mẽ về
kinh tế và tiếp đó là về xã hội và văn hóa ở
Việt Nam. Đặc biệt, vùng DTTS, vùng núi
cao, vùng sâu, vùng xa tưởng chừng như sẽ
khó khăn với tiến trình hội nhập thì cũng đã
có nhiều thay đổi, trong đó có những thay
đổi về bức tranh DLXH.
cầu hóa”, Mã số: CTDT.37.18/16-20, do TS. Phan
Tân chủ nhiệm, Học viện Khoa học xã hội chủ trì.
(*) TS., Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam;
(**) TS., Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam;
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020
22
1. Vài nét về vùng dân tộc thiểu số dưới tác
động của toàn cầu hóa
và những hệ lụy của việc chuyển đổi cơ cấu
cây trồng cho mục đích xuất khẩu dẫn đến
việc người dân vùng DTTS tại chỗ mất tư
liệu sản xuất. Thứ hai, mặt trái từ sự đầu tư
dồn dập của các tập đoàn kinh tế bên ngoài
vào các vùng DTTS gây ảnh hưởng lớn tới
môi trường sống nơi đây cả về mặt tự nhiên
và xã hội, khiến cho tình trạng ô nhiễm
(đất, không khí, nguồn nước...), bệnh tật,
tệ nạn xã hội... gia tăng. Thứ ba, việc di cư
ồ ạt lên vùng cao thúc đẩy mâu thuẫn tộc
người do khả năng tự bảo vệ của người dân
tộc tại chỗ còn hạn chế (liên quan đến vốn
kinh tế, vốn xã hội...), khiến vùng DTTS có
nhiều bất ổn. Thứ tư, bối cảnh mới khiến
cho cơ hội nghề nghiệp của người dân vùng
DTTS tại chỗ không nhiều, vì nhìn chung
họ không phải luôn có đủ trình độ, kỹ năng,
kinh nghiệm... để đáp ứng. Thứ năm, năng
lực thị trường thấp khiến người dân vùng
DTTS có nguy cơ tụt hậu khi tham gia vào
nền kinh tế toàn cầu, làm gia tăng khoảng
cách giàu nghèo ở đây.
* Về văn hóa: Toàn cầu hóa thúc đẩy sự
giao lưu giữa các hệ giá trị văn hóa trên thế
giới với hệ giá trị văn hóa dân tộc. Nó tạo
điều kiện cho những hệ giá trị văn hóa mới
từ bên ngoài du nhập, dẫn đến việc người
dân vừa tiếp thu các chuẩn mực/giá trị mới,
vừa đánh giá/lựa chọn lại các chuẩn mực/
giá trị cũ trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội, điều này đã góp phần làm thay đổi
văn hóa của nhiều tộc người, nhiều vùng
miền. Đặc biệt, bối cảnh toàn cầu hóa khiến
người dân vùng DTTS có cơ hội tiếp xúc
với các hệ tư tưởng khác nhau trên thế giới,
dẫn đến việc nhìn nhận lại các ngôn thuyết
liên quan đến tiến hóa luận, qua đó làm họ
có ý thức cao hơn/khác đi về vấn đề tộc
người, vấn đề dân chủ - nhân quyền...
Vùng DTTS Việt Nam chia sẻ bối cảnh
chung với các vùng miền khác khi đất nước
đẩy mạnh hội nhập. Đặc biệt kể từ khi Đổi
mới, Việt Nam là một trong những nước
đang phát triển nhận được nhiều dự án về
kinh tế và văn hóa - xã hội do nước ngoài và
các tổ chức quốc tế tài trợ mà vùng DTTS
chính là đích đến của một số lượng dự án
đáng kể trong số đó.
Người dân vùng DTTS đã đón nhận cả
hai dòng chảy lớn nhất của toàn cầu hóa:
toàn cầu hóa về kinh tế và toàn cầu hóa về
văn hóa.
* Về kinh tế: Toàn cầu hóa đã làm thay
đổi cơ bản hoạt động kinh tế của Việt Nam
nói chung và vì thế, nó cũng dẫn đến sự
gắn kết của thị trường vùng DTTS với
thị trường quốc tế về hàng hóa, dịch vụ,
tài chính - tiền tệ... Điều này mang lại cả
những ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực đối
với đời sống của người dân vùng DTTS.
Những mặt tích cực có thể kể đến là: Thứ
nhất, kinh tế của vùng DTTS có điều kiện
hội nhập với thế giới bên ngoài, mở rộng
cơ hội tìm kiếm thị trường và thu hút vốn
đầu tư. Thứ hai, sự hội nhập vào nền kinh
tế toàn cầu đem đến khả năng khai thác một
cách hiệu quả thế mạnh của từng địa phương
cho sự phát triển (ví dụ như thế mạnh về sản
phẩm du lịch, về các mặt hàng nông nghiệp
truyền thống...). Thứ ba, xu thế toàn cầu hóa
đặc biệt mở ra triển vọng lớn cho các địa
phương trong việc tiếp thu những thành tựu
về khoa học - công nghệ hiện đại để “đi tắt
đón đầu”, rút ngắn được khoảng cách phát
triển với các khu vực khác.
Bên cạnh đó, toàn cầu hóa cũng khiến
vùng DTTS Việt Nam phải đối mặt với một
số vấn đề. Thứ nhất, sự thúc đẩy khai thác
tài nguyên cho mục đích công nghiệp hóa
Cũng như ảnh hưởng của toàn cầu
hóa kinh tế, ảnh hưởng của toàn cầu hóa
Tác động của…
23
văn hóa đối với người dân vùng DTTS có
Khảo sát của chúng tôi cho thấy, truyền
tính đa chiều. Bên cạnh việc nền văn hóa hình là một trong những kênh quan trọng
của mỗi dân tộc có cơ hội lan tỏa ra bên hàng đầu hiện nay đối với người dân các
ngoài cũng như tiếp nhận những yếu tố bên khu vực này trong việc tìm kiếm thông tin
ngoài để làm phong phú cho chính mình, (72,6% người được khảo sát tiếp cận thông
người dân vùng DTTS cũng phải đối mặt tin qua kênh này).
với những nguy cơ mà tiêu biểu là nguy cơ
Theo nghiên cứu của C. Baker (2008),
xóa nhòa các đường biên văn hóa dẫn đến truyền hình là phương tiện truyền thông
xung đột giữa các nền văn hóa và nguy cơ nằm trong mối quan tâm của công chúng
bị “hòa tan”.
2. Tác động của toàn cầu hóa đến dư luận của chúng tôi, hiện nay ở Việt Nam, truyền
xã hội của người dân hình vẫn đang chiếm một vị trí đặc biệt ý
trên thế giới. Còn theo kết quả nghiên cứu
Trong bối cảnh vùng DTTS chịu tác nghĩa trong việc tiếp cận thông tin của người
động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, dư luận dân vùng DTTS, giúp người dân tiếp cận
xã hội của người dân nơi đây cũng chịu với cả những vấn đề vượt lên trên biên giới
tác động đáng kể. Dưới đây là một số ghi quốc gia. Sự hiện diện phổ biến của chiếc
nhận của chúng tôi trong quá trình điền dã tivi trong các gia đình đã khiến truyền hình
ở 11 tỉnh thành từ Bắc vào Nam thuộc vùng trở thành kênh truyền thông giữ vị trí quan
DTTS trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp trọng trong đời sống tinh thần thường nhật
Nhà nước “Những vấn đề lý luận và thực của người dân nơi đây. Một phần đáng kể
tiễn về dư luận xã hội ở vùng dân tộc thiểu nhờ đó mà người dân vùng DTTS không
số nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa”1.
còn ở trong tình trạng thiếu thông tin từ các
2.1. Phương tiện truyền thông - một phương tiện truyền thông đại chúng, kể cả
trong những công cụ đưa người dân vùng trong trường hợp họ không biết chữ (vì “báo
dân tộc thiểu số bước vào toàn cầu hóa
hình” đáp ứng được nhu cầu thông tin của
Trong số các phương tiện truyền thông cả những người mù chữ). Trong các chương
mà người dân có thể tiếp cận, chúng tôi trình truyền hình, thời sự (bao gồm cả thời
tập trung phân tích hai kênh quan trọng là sự quốc tế) là một trong những chương trình
truyền hình và Internet - những phương được yêu thích của rất nhiều người dân ở
tiện đã đưa thế giới đến gần hơn với người vùng DTTS. Ngoài ra, các kênh truyền hình
dân ở vùng DTTS và vì thế có vị trí quan phải trả phí cũng không còn xa lạ với những
trọng trong đời sống DLXH nơi đây.
gia đình ở vùng trung tâm, hoặc những gia
đình có điều kiện khá giả ở vùng ngoại vi.
Internet cũng là kênh quan trọng trong
việc tìm kiếm, trao đổi thông tin của người
dân vùng DTTS. Dù chưa phủ sóng hoàn
toàn ở vùng này, nhưng Internet đã được
sử dụng bởi hơn 1/3 số người được hỏi
(38,2%), trong số đó 76,3% truy cập nhiều
hơn 1 lần/ngày, 16,9% truy cập 1 lần/3-4
ngày; số người cả tuần mới truy cập một lần
chỉ chiếm 6,8%. So với kết quả nghiên cứu
1 Đề tài đã triển khai khảo sát trên địa bàn 11 tỉnh
có đông đồng bào DTTS sinh sống (gồm: Lạng
Sơn, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Kon
Tum, Đắk Lắk, Ninh Thuận, Bình Phước, Trà Vinh,
Kiên Giang) với 3.283 bảng hỏi, 550 phỏng vấn
sâu. Khảo sát được thực hiện trong thời gian 2 năm
2018-2019. Các số liệu, bảng biểu trình bày trong
bài viết lấy từ kết quả khảo sát thực tế của Đề tài.
Các ý kiến phỏng vấn sâu được trích dẫn từ tư liệu
điền dã của Đề tài.
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020
24
của D. Trend hơn một thập niên trước, khi người sử dụng Internet cũng là những người
phần lớn các tộc người không thuộc phương sử dụng điện thoại thông minh (93,7%).
Tây và đa số dân cư trên thế giới vẫn chưa
Điện thoại thông minh thực tế vẫn là một
thể sử dụng Internet do “thiếu tiền, thiếu sự thứ tài sản khá có giá trị với nhiều người
tiếp cận hoặc không có kiến thức” (Trend, dân vùng DTTS. Ở vùng ngoại vi, việc có
2005: 2), thì con số này ở vùng DTTS Việt được một chiếc điện thoại thông minh là
Nam hiện nay là rất đáng kể.
một sự cố gắng nhất định: Điện thoại của
Mặc dù còn có những tranh cãi, nhưng tôi mua trả góp hàng tháng. Đã mua đứt
Internet được xem như một không gian được đâu, tháng năm trăm ngàn! Người ta
của sự dân chủ hóa (Poster, 1997). Trước có mình phải có chứ, người ta mua được
hết, nó tạo điều kiện cho sự lưu hành thông mình cũng phải mua được. Thời buổi này
tin và đối thoại. Sau nữa, do đặc tính siêu là thời buổi công nghệ mà (nam, 40 tuổi,
văn bản khi văn bản này dẫn dắt đến văn người M’Nông, xã Yang Tao, huyện Lắk,
bản khác bởi các đường liên kết điện tử, tỉnh Đắk Lắk). Ngược lại, ở khu vực trung
nó khiến độc giả có tính tích cực (Landow, tâm, điện thoại thông minh hết sức phổ
2005). Tất cả những điều đó đều gắn với sự biến, và việc không có nó sẽ bị xem là một
dân chủ, vì tự do thông tin luôn là “hòn đá sự lạ: Bây giờ mà không dùng nó thì có mà
tảng” của dân chủ. Trên thực tế, với việc không bình thường à? (nam, 40 tuổi, người
mở ra những cơ hội mới trong đối thoại đa Nùng, thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định,
phương, Internet đã tạo ra một không gian tỉnh Lạng Sơn).
tự do cho đời sống dư luận của người dân
Có thể nói, bức tranh DLXH ở vùng
Việt Nam nói chung và người dân vùng DTTS hiện nay liên quan nhiều đến những
DTTS nói riêng. Internet tạo cơ hội cho điều kiện về truyền thông khi mà sự giao
tất cả mọi người được tiếp cận và chia sẻ lưu với thế giới bên ngoài dân tộc, ngoài
thông tin, không phân biệt sắc tộc, dân tộc, địa phương, thậm chí ngoài đất nước của
giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã người dân được cải thiện.
hội... Đúng như nhận định của S. Sassen
2.2. Những thay đổi về nội dung và hình
(2002), Internet chính là một phương tiện thức trong dư luận xã hội vùng dân tộc
trung gian để những người thường bị xem thiểu số
là “không phải tinh hoa” đóng góp vào một
Toàn cầu hóa tác động mạnh mẽ đến quá
xã hội dân sự dân chủ hơn. Nói cách khác, trình hình thành DLXH của vùng DTTS về
nó cho phép tất cả các nhóm bị loại trừ cả nội dung và hình thức.
tham gia vào các quá trình dân chủ.
* Nội dung
Để truy cập Internet, số liệu khảo sát của
Dưới tác động của toàn cầu hóa, người
chúng tôi cho thấy, người dân chủ yếu sử dân vùng DTTS Việt Nam không còn chỉ
dụng điện thoại thông minh (smartphone) giới hạn “mô hình quan tâm” ở những sự
thay vì các thiết bị khác, không chỉ vì nó kiện, hiện tượng có ảnh hưởng trực tiếp
có sự “hội tụ công nghệ” (đa chức năng), đến mình như trước (Cantril, 1966). Do sự
mà còn vì nó thuận tiện trong việc sử dụng. bùng nổ của công nghệ thông tin, người
Trong số 83,7% thông tín viên cho biết có dân nơi đây ngày càng quan tâm nhiều hơn
sử dụng điện thoại, có tới một nửa sử dụng đến những vấn đề xã hội, không chỉ ở địa
điện thoại thông minh, và hầu hết những phương mà còn cả ở ngoài phạm vi dân tộc,
Tác động của…
25
địa phương, vùng miền, có thể là những sát người dân, có thể thấy: Khi họ cảm thấy
vấn đề rộng lớn mang tính toàn cầu như ô cần lên tiếng về một vấn đề của địa phương,
nhiễm môi trường, khủng bố, buôn người họ thường sử dụng những cách thức quan
xuyên biên giới, buôn bán hàng giả...
phương (ví dụ thông qua các tổ chức chính
Ô nhiễm môi trường toàn cầu là vấn trị - xã hội), nhưng khi quá bức xúc với một
đề được người dân đề cập khá nhiều. Tuy vấn đề gì đó của địa phương thì họ sẽ đưa
nhiên, chiếm vị trí quan trọng trong mối ý kiến lên mạng xã hội. Theo họ, mạng xã
quan tâm của dư luận vùng DTTS vẫn là hội là nơi mà nhiều người sẽ biết đến câu
những vấn đề thiết thân của người dân ở chuyện họ muốn nói, nhờ đó câu chuyện sẽ
địa phương, trong đó nổi bật nhất chính là lan xa hơn mức chờ đợi.
vấn đề sinh kế: sự suy thoái của đất đai và
Về địa điểm: D. Croteau và W. Hoynes
nguồn nước sản xuất do ảnh hưởng của ô (2003) từng nhận định, Internet đã phá
nhiễm môi trường; tình trạng bị vô hiệu hóa tan sự cách biệt về mặt địa lý giữa những
của tri thức bản địa trong nông nghiệp; sự người tương tác. DLXH vùng DTTS hiện
phụ thuộc bất khả kháng của hộ gia đình nay cũng tương tự, không có một không
vào hệ thống kinh tế bên ngoài; sự bất bình gian “vật chất” nào tồn tại giữa người đưa
đẳng trong thu nhập và trong việc tiếp cận thông tin và người tiếp nhận, vì không gian
các cơ hội phát triển; việc được đền bù tư ảo đã xóa nhòa mọi ranh giới: Thời buổi
liệu sản xuất chưa thỏa đáng từ các dự án công nghệ thông tin rồi, đâu phải như ngày
phát triển... Những vấn đề này ít nhiều đều xưa. Anh em bây giờ muốn nói chuyện gì
có liên quan đến các giá trị mới - cái được cũng không cần phải tụ tập với nhau mới
hình thành bởi toàn cầu hóa. Trong đó, đáng nói được (nam, 53 tuổi, người Thái, tổ 7, thị
chú ý nhất là những vấn đề liên quan đến ý trấn Sông Mã, Sông Mã, Sơn La).
thức về quyền con người và tộc người.
* Hình thức
R.D. Putnam (1995) từng lo ngại rằng,
những xu hướng kỹ thuật đang “riêng tư
Về đối tượng: Trước đây, người dân hóa” hoặc “cá nhân hóa” một cách triệt để
thườngchỉtraođổithôngtinvớinhữngngười việc chúng ta sử dụng thời gian rảnh rỗi,
thân quen. Nhưng hiện tại, bên cạnh những và vì vậy cộng đồng của chúng ta sẽ trở
mối quan hệ truyền thống, nhờ Internet và nên tuy rộng nhưng nông hơn. Tuy nhiên,
các phương tiện kỹ thuật số mà người ta có ở nhiều trường hợp nghiên cứu của chúng
thể dễ dàng tiếp xúc với người khác (kể cả tôi, người dân khẳng định việc chỉ gặp
những người xa lạ) trong một không gian ảo. gỡ gián tiếp qua phương tiện kỹ thuật số
Nói cách khác, Internet kết nối những con không làm giảm đi mối quan hệ của họ với
người từ các nền tảng đa dạng lại với nhau. những người khác trong cộng đồng. Ngược
Mỗi người sẽ trở thành một điểm trong một lại, trên góc độ nào đó, nó còn có thể làm
tập hợp liên kết, sự trải rộng của tập hợp ấy cho mối quan hệ ấy gắn bó hơn: Ai cũng
“vượt xa những gì mà người sử dụng có thể bận rộn cả, hết việc mưu sinh lại đến việc
tưởng tượng” (Shields, 1996: 7). Với nhiều nhà cửa nên có phải lúc nào cũng gặp nhau
tính năng của mạng xã hội, những người được đâu, chính nhờ cái điện thoại mà vẫn
tham gia vào các thực hành liên quan đến duy trì được sự giao tiếp thường xuyên.
dư luận sẽ dễ dàng trao đổi, thể hiện ý kiến Chia sẻ với nhau được nhiều chuyện, có
về những vấn đề mình quan tâm. Qua khảo chung nhiều mối quan tâm thì sự thân
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020
26
thiết lại còn tăng lên ấy chứ! (nữ, 35 tuổi, là những người cân nhắc thận trọng hơn cả
người Tày, khu 1, thị trấn Thất Khê, Tràng trong việc trao đổi thông tin (xem Bảng 1).
Định, Lạng Sơn). Đây cũng chính là một
Bảng 1: Thời điểm trao đổi những thông tin
điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường sức
quan trọng sau khi tiếp nhận (%)
sống của các thực hành liên quan đến dư
luận ở người dân.
Có sử
dụng
Không
sử dụng Chung
Về thời điểm: Các phương tiện truyền
thông kỹ thuật số đã xóa đi nhiều giới hạn
của sự tương tác về mặt thời gian, hay nói
cách khác là xóa đi nhiều giới hạn về những
khoảng thời gian (riêng tư) được mặc định
là không nên tương tác (giờ ăn, giờ ngủ,…).
Việc xâm phạm thời gian riêng tư của người
khác có thể không còn bị coi là vấn đề lớn,
bởi người tiếp nhận thông tin có thể lựa chọn
“đáp lại thông tin” ngay lập tức hay không:
Internet Internet
1. Trao đổi ngay
12,9
26,3
21,2
49,4
2. Suy nghĩ kĩ rồi
mới trao đổi
57,8
44,2
3. Tùy vào từng loại
tin, vấn đề mà suy
nghĩ kĩ hoặc trao
đổi ngay
28,6
0,7
27,2
2,2
27,7
1,6
4. Khác
Khi không đồng ý với cách giải quyết
Bây giờ chuyện liên lạc rất thuận tiện, lúc của cán bộ xã/thị trấn trong một vấn đề cụ
nào cũng được chứ không như trước. Có thể (câu hỏi cho phép chọn nhiều đáp án),
những việc không trao đổi sớm để quyết 55,7% người được hỏi chọn giải pháp thảo
định là lỡ mất thời điểm (nam, 56 tuổi, người luận, tranh luận để tìm ra cái đúng, 55,0%
Thái, khu 11, thị trấn Mường Tè, Mường Tè, chọn giải pháp đưa vấn đề ra xin ý kiến
Lai Châu).
ở các cuộc họp thôn/bản/buôn/ấp, 20,2%
Về cách thức: Với việc cân nhắc về các chọn giải pháp tập hợp mọi người xung
thông tin trước khi trao đổi, chỉ 21,2% số quanh để cùng giải quyết, 12,1% chọn giải
người được hỏi cho biết sẽ trao đổi ngay pháp viết đơn tố cáo, chỉ 8,7% chọn giải
sau khi nhận được thông tin, còn 49,4% suy pháp phản đối gay gắt bằng lời nói và 0,6%
nghĩ kĩ rồi mới trao đổi và 27,7% tùy theo chọn giải pháp dùng vũ lực (Bảng 2). Khi
vấn đề mà quyết định (Bảng 1). Như vậy, không đồng ý với cách giải quyết của cán bộ
có tới hơn 3/4 số người được hỏi bộc lộ sự ở thôn/bản/buôn/ấp, sự lựa chọn của người
thận trọng trong việc này. Điều này được dân cũng gần tương tự. Trong đó, những
giải thích rằng: Bây giờ dân trí mở mang người sử dụng Internet tỏ ra sẵn sàng hơn
hơn, thông tin lại có nhiều nên phải cân với tất cả các giải pháp, trừ giải pháp bất
nhắc, nói gì cũng nghĩ kĩ rồi mới nói. Nhất hợp pháp là dùng vũ lực.
là khi mình trao đổi với người của chính
Để các cấp chính quyền biết đến ý kiến
quyền và đoàn thể về những cái có liên của mình, các cách thức chính của người
quan đến quyền lợi của dân tộc mình, mình dân là đề xuất thông qua các kênh như cán
không thể nói bừa được. Đấy cũng là trách bộ thôn/bản/buôn/ấp trên địa bàn (82%),
nhiệm công dân nữa (nam, 61 tuổi, người người có uy tín trong cộng đồng sinh sống
Thái, khối 4, thị trấn Tân Lạc, Quỳ Châu, (48,4%), các tổ chức chính trị - xã hội như
Nghệ An). Khi xem xét việc này trong mối đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến
tương quan với việc sử dụng Internet, có thể binh… (42,5%). Các cách thức được người
thấy những người sử dụng Internet chính dân sử dụng ít hơn là: đề xuất thông qua các
Tác động của…
27
thấy, cách thức đề xuất ý kiến
của người dân nhìn chung khá
phong phú. Đặc biệt, những
người sử dụng Internet - một lần
nữa - có sự sẵn sàng đáng kể hơn
những người khác trong việc lựa
chọn các cách thức đa dạng để
phản ánh những ý kiến của mình
tới các cấp chính quyền (xem
Bảng 3).
Có thể nói, trong bối cảnh
toàn cầu hóa, những người dân
vùng DTTS mà chúng tôi tiếp
cận bộc lộ khá rõ sự ý thức về
quyền và trách nhiệm của mình
trong việc cân nhắc trước khi
trao đổi thông tin, trong việc
Bảng 2: Cách ứng xử khi không đồng ý với kết quả
giải quyết (hay cách giải quyết) của cán bộ xã/thị trấn
(hoặc Ủy ban xã/thị trấn) về một vấn đề cụ thể (%)
Có sử
dụng
Không
sử dụng Chung
Internet Internet
1. Thảo luận, tranh luận cùng
cán bộ để tìm ra cái đúng
2. Tập hợp mọi người xung
quanh để cùng giải quyết
3. Phản đối gay gắt bằng lời nói
4. Đưa vấn đề ra xin ý kiến ở
cuộc họp thôn/bản
5. Viết đơn khiếu nại, tố cáo
6. Dùng sức mạnh/vũ lực để giải
quyết
61,5
52,2
55,7
22,0
10,6
58,5
16,3
1,0
19,1
7,5
20,2
8,7
52,8
9,6
55,0
12,1
0,6
0,4
7. Không phản ứng gì, chấp
nhận tuân theo
15,3
29,1
23,8
cuộc bầu cử địa phương bằng phiếu (29,7%),
đề đạt trực tiếp tại các cơ quan công quyền
(23,1%), đề đạt bằng văn bản (đơn, thư) lên
các cấp chính quyền theo trình tự (16,8%).
Chỉ một số rất ít người lựa chọn cách thức đề
xuất ý kiến thông qua các phương tiện công
nghệ thông tin (3,3%), báo chí và đài truyền
hình/truyền thanh địa phương (1,5%), hay
văn bản (đơn, thư) vượt cấp (1,2%). Có thể
ứng xử khi không đồng ý với kết quả giải
quyết (hay cách giải quyết) của cán bộ
chính quyền về một vấn đề cụ thể, và trong
việc lựa chọn những cách phản ánh để chính
quyền các cấp biết đến ý kiến của mình.
Trong đó, những người sử dụng Internet
là những người “đáp ứng mạnh hơn” với
các phương án được đưa ra, nói cách khác
Bảng 3: Cách thức để các cấp chính quyền biết đến ý kiến của mình (%)
Có sử Không
dụng sử dụng Chung
Internet Internet
1. Đề xuất ý kiến thông qua người có uy tín trong cộng đồng sinh sống
2. Đề xuất ý kiến thông qua cán bộ thôn/bản/buôn/ấp trên địa bàn
46,8
79,8
49,5
83,4
48,4
82,0
3. Đề xuất ý kiến thông qua các tổ chức chính trị - xã hội (đoàn thanh
niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh…)
44,6
2,5
41,2
0,9
42,5
1,5
4. Đề xuất ý kiến thông qua báo chí và đài truyền hình/truyền thanh địa
phương
5. Đề xuất ý kiến thông qua các phương tiện công nghệ thông tin,
internet (facebook, zalo…)
8,0
0,3
3,3
6. Thông qua các cuộc bầu cử địa phương bằng các lá phiếu
7. Đề đạt trực tiếp tại các cơ quan công quyền
34,1
26,2
23,3
1,2
26,9
21,3
12,8
1,3
29,7
23,1
16,8
1,2
8. Bằng văn bản (đơn, thư) lên các cấp chính quyền theo trình tự
9. Bằng văn bản (đơn, thư) vượt cấp
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020
28
họ kiên quyết hơn rõ rệt trong việc bảo vệ 2. Cantril, H. (1966), The Pattern of
những lợi ích mà họ xem là chính đáng của
bản thân và của những người khác.
Human Concerns, Rutgers University
Press, New Brunswick.
Như vậy, toàn cầu hóa đang thực sự trở 3. Croteau, D., Hoynes, W. (2003),
thành yếu tố quan trọng chi phối DLXH
vùng DTTS Việt Nam. Trong bức tranh
chung khá khả quan, như kết quả khảo sát
Media Society: Industries, Images and
Audiences, Pine Forge Press, Thousand
Oakes, Calif.
đã chỉ ra, nổi bật lên là sự tự tin và quyết 4. Jamieson, N.L., Le, T.C., Rambo, T.A.
đoán của những người có mối gắn kết với
Internet. Đây là một ví dụ nữa cho thấy
không gian Internet đã góp phần tạo nên
không gian hiện thực ra sao.
(1998), “The Development Crisis in
Vietnam’s Mountains”, East-West
Centre Special Report, No. 6, Hawaii.
5. Landow, G. (2005), “Hypertext and
Critical Theory”, in: D. Trend (ed.),
Reading Digital Culture, Blackwell,
Oxford.
Kết luận
Mặc dù, nói như N.L. Jamieson và cộng
sự (1998), không có câu chuyện hoang
đường rằng các DTTS nằm tĩnh tại trong 6. Poster, M. (1997), “Cyberdemocracy:
lịch sử và không tương tác với bên ngoài,
nhưng toàn cầu hóa vẫn là bối cảnh rất quan
trọng cho những biến đổi hết sức đa dạng
The Internet and the Public Sphere”,
in: D. Poster (ed.), Internet Culture,
Routledge, London.
và nhanh chóng ở vùng DTTS của Việt 7. Putnam, R.D. (1995), “Bowling Alone:
Nam những thập niên qua. Toàn cầu hóa,
theo cách của mình, đã tác động đến DLXH
America’s Declining Social Capital”,
Journal of Democracy, 6(1): 65-78.
ở vùng DTTS với mức độ rất đáng kể. Nhờ 8. Sasen, S. (2002), “Mediating Practices:
bước tiến vượt bậc của công nghệ thông tin,
sự tiếp cận với thế giới rộng lớn bên ngoài
đã làm thay đổi nhiều thực hành liên quan
đến DLXH của người dân nơi đây
Women with/in Cyberspace”, in: J.
Armitage and Roberts (eds), Living with
Cyberspace: Technology and Society in
the 2st century, Continuum, New York.
9. Shields, R. (ed., 1996), Cultures of the
Internet: Virtual Spaces, Real Histories,
Living Bodies, SAGE, London.
Tài liệu tham khảo
1. Baker, C. (2008), Cultural Studies:
Theory
Publications, London.
and
Practice,
SAGE 10. Trend, D. (ed., 2005), Reading Digital
Culture, Blackwell, Oxford.
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của toàn cầu hóa đến dư luận xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tac_dong_cua_toan_cau_hoa_den_du_luan_xa_hoi_vung_dan_toc_th.pdf

