Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng vận dụng đối với sinh viên Ngữ văn

ĐỀ XUẤT GIẢI  
PHÁP NÂNG CAO  
Trƣờng Đại học Bạc Liêu  
Điện thoại: 0979.307.147  
CHẤT  
GIÁO DỤC THEO  
HƢỚNG VẬN  
LƢỢNG  
DỤNG ĐỐI VỚI  
SINH VIÊN NGỮ  
VĂN  
Email:  
ThS. TRẦN THỊ NGỌC DIỄM  
TÓM TẮT  
Đổi mới nội dung, PPDH Ngữ văn là yêu cầu tất yếu. Khảo sát tình hình tại đơn  
vị, chúng tôi đề xuất cách dạy học Ngữ văn theo hƣớng vận dụng. Đây là hình thức đảm  
bảo khâu chọn lọc kiến thức, phát huy khả năng cảm thụ văn học thông qua đối thoại,  
tăng cƣờng nghiên cứu khoa học Văn học, thắt chặt khâu đánh giá và thƣờng xuyên tổ  
chức các Hội thảo chuyên ngành giúp SV hoàn thiện năng lực chuyên môn và kỹ năng.  
Từ khóa: giải pháp, đổi mới, năng lực  
ABSTRACT  
Proposed Solutions Improve Quality Education Towards Student Implications for  
Language Arts  
Renewal content and methods of teaching philology is indispensable  
requirement. Surveying the situation in units, we propose learning how to manipulate  
the direction of Literature. This form ensures the selection of knowledge, promotion of  
literary intuition through dialogue, strengthen scientific research literature, tight  
stitching and evaluated regularly organizes specialized workshop to help students  
complete their professional capabilities and skills.  
Key words: solution, innovation, competency  
1. Đặt vấn đề  
Hiện nay, giáo dục Việt Nam đang hƣớng đến việc đổi mới từ cách dạy học đặt  
nặng lí thuyết hàn lâm sang dạy học thực hành. Để thực hiện mục tiêu này, đối với các  
khối ngành xã hội là một thách thức lớn. Theo chủ trƣơng của Bộ Giáo dục những năm  
760  
gần đây, các trƣờng Cao đẳng, Đại học trong cả nƣớc dần chuyển từ hình thức đào tạo  
từ học chế niên chế sang tín chỉ. Bƣớc chuyển mới này nhằm nâng cao chất lƣợng đào  
tạo với sản phẩm đầu ra đáp ứng đƣợc yêu cầu của xã hội. Hay nói cách khác nguồn  
nhân lực trong tƣơng lai phải là những con ngƣời sáng tạo, chủ động, nói đi đôi với làm.  
Nhƣng làm thế nào để nâng cao chất lƣợng đào tạo? Đó là một vấn đề còn bỏ ngỏ cho  
nhà quản lí và cho cả ngƣời dạy lẫn ngƣời học. Ở bài viết này, chúng tôi không có tham  
vọng đi sâu tìm ra phƣơng pháp dạy học (PPDH) mới làm chiến lƣợc lâu dài cho giáo  
dục Việt Nam mà chỉ đề xuất một số giải pháp tạm thời khắc phục những khó khăn  
trƣớc mắt mà các nhà quản lí, các giảng viên (GV), sinh viên (SV) ngành Ngữ Văn vấp  
phải khi chuyển từ hình thức đào tạo niên chế sang tín chỉ nhằm nâng cao chất lƣợng  
đầu ra phù hợp với yêu cầu tuyển dụng chung của các cơ sở giáo dục cũng nhƣ có  
hƣớng điều chỉnh khung chƣơng trình dạy học Ngữ văn trên cơ sở chọn lọc nội dung.  
Đó là PPDH theo hƣớng vận dụng.  
2. Nội dung  
2.1. Khảo sát tình hình thực tế  
Chúng ta biết rằng, ngƣời lao động trẻ là một lực lƣợng giữ vai trò nòng cốt của xã  
hội. Đặc biệt là đội ngủ nhà giáo trong tƣơng lai. Họ là những ngƣời ƣơm mầm cho bao  
thế hệ. Vì thế, việc chú trọng đào tạo chất lƣợng nguồn lao động này là mục tiêu hàng  
đầu của giáo dục Việt Nam nói chung và của các cơ sở giáo dục Cao đẳng, Đại học nói  
riêng.  
Mặt khác, trong thời kì hội nhập, điều kiện cần và đủ ở ngƣời lao động không chỉ  
giỏi về năng lực chuyên môn mà còn phải sáng tạo, nhanh nhạy, có khả năng ứng biến  
trƣớc mọi tình huống. Điều này chứng tỏ các kỹ năng mềm nhƣ: kỹ năng giao tiếp, kỹ  
năng trình bày vấn đề, thuyết trình, kỹ năng hợp tác, kỹ năng sử dụng các phần mềm  
điện tử… có tầm quan trọng không kém mà một ngƣời lao động mới cần có để bƣớc tới  
thành công.  
Để bám sát tình hình thực tiễn nhằm đƣa ra những đề xuất hợp lí, bản thân ngƣời  
viết là giảng viên ngành Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam (trƣớc đây là ngành Ngữ văn),  
khoa Sƣ phạm, trƣờng Đại học Bạc Liêu, vì thế ở bài viết này, chúng tôi xin trình bày  
phần khảo sát tình hình thực tế ở các lớp đƣợc phụ trách giảng dạy theo học chế tín chỉ  
tại đơn vị làm cơ sở thực tiễn. Qua đó, nhằm nêu lên những khó khăn mà GV, SV gặp  
phải trong tình hình thực tế khi chuyển từ hình thức dạy học niên chế sang tín chỉ và  
đƣa ra giải pháp khắc phục chung cho SV khối ngành này.  
Việc chuyển sang học chế tín chỉ tại trƣờng bắt đầu từ năm 2011 đến nay, và đƣợc  
áp dụng rộng rải để dạy các lớp khóa mới. Khảo sát thực tế, chúng tôi gặp không ít khó  
khăn.  
761  
Đầu tiên là vấn đề thiết kế đề cương chi tiết học phần.  
Về phía người dạy, mở đầu cho học chế tín chỉ yêu cầu ngƣời dạy phải thay đổi  
khung chƣơng trình đào tạo. Nghĩa là với một số môn học, hoặc có thể giữ nguyên hoặc  
tăng, giảm số tiết trong các học phần tùy theo yêu cầu của khối ngành đào tạo. Qua khảo  
sát, chúng tôi có bảng đối chiếu sau:  
Bảng 1: Bảng khảo sát sự thay đổi số tiết học ở các học phần đã đƣợc áp dụng vào  
thực tiễn giảng dạy các lớp Ngữ văn 2011-2014.  
Stt Mã số  
Tên học phần  
Niên chế  
Tín chỉ  
Đvht  
Số Đv Số  
tiết ht tiết  
01 NV319 Ngữ pháp tiếng Việt 1  
02 NV320 Ngữ pháp tiếng Việt 2  
06  
02  
02  
03  
90  
30  
30  
45  
03 NV649 Đại cƣơng  
ngôn ngữ học  
04  
60  
04 NV656 Văn học Việt Nam 1, 2 (Văn học trung 10  
đại)  
06  
06  
150  
180  
90  
90  
05 NV657 Văn học Việt Nam 3,4,5 (Văn học hiện 12  
đại)  
06 NV640 Thi pháp học  
01  
04  
04  
03  
04  
06  
02  
03  
03  
02  
03  
02  
03  
15  
60  
60  
45  
60  
90  
30  
45  
45  
30  
45  
30  
45  
07 NV619 Văn học Trung Quốc  
08 NV604 Văn học dân gian 1, 2  
09 NV611 Ngữ âm tiếng Việt  
10 NV653 Làm văn  
11 NV607 Lí luận văn học 1  
12 NV612 Lí luận văn học 2  
762  
13 NV318 Từ vựng tiếng Việt  
14 NV311 Văn học Nga 1, 2  
03  
05  
02  
02  
45  
75  
30  
45  
15 NV654 Lý thuyết văn bản  
03  
06  
02  
03  
45  
90  
30  
45  
16 NV310 Văn học phƣơng Tây 1, 2  
Ghi chú: Đvht: Đơn vị học trình.  
Qua đó, chúng ta nhận thấy khung chƣơng trình có sự thay đổi khá lớn. Số môn cắt  
giảm số tiết đạt 93.75% so với tổng số 16 môn đạt 100%, còn lại chỉ có một môn (Thi  
pháp học) tăng số tiết dạy lên 15 tiết chiếm 6.25 %. Trong đó, đáng kể phải nói đến các  
học phần nhƣ: Ngữ pháp tiếng Việt 1,2 với 60 tiết so với trƣớc 90 tiết, giảm 30 tiết; Văn  
học Việt Nam 1, 2 (Văn học trung đại) rút lại còn 90 tiết so với trƣớc là 150 tiết (10  
đvht); Văn học Việt Nam 3,4,5 (Văn học hiện đại) với 90 tiết so với trƣớc là 180 tiết  
tƣơng đƣơng với 12 đvht. Bên cạnh đó, phân môn Văn học Nga, Văn học phƣơng Tây  
cũng có sự chênh lệch khá rõ. Văn học Nga 1,2 gồm 75 tiết (5 đvht) gộp lại thành Văn  
học Nga còn 45 tiết (3đvht); Văn học phƣơng Tây 1,2 với 90 tiết, gộp lại thành môn  
Văn học phƣơng Tây 45 tiết. Các học phần còn lại đều cắt giảm 15 tiết gồm: Đại cƣơng  
ngôn ngữ học, Văn học Trung Quốc, Văn học dân gian, Ngữ âm tiếng Việt, Làm văn, Lí  
luận văn học , Từ vựng tiếng Việt và Lý thuyết văn bản. Sự thay đổi này là do hai  
nguyên nhân khách quan. Một là do tên chuyên ngành có sự thay đổi từ “Ngữ Văn”  
sang “Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam”. Hai là do hình thức dạy học chuyển từ niên chế  
sang tín chỉ. Vậy vấn đề khó ở đâu? Khi giảm tải hoặc tăng lên số tiết học trong khung  
chƣơng trình, GV phải cân nhắc nhiều về mặt nội dung, nên giữ lại hoặc thêm vào nội  
dung nào để giảng dạy. Nhất là đối với các môn chuyên ngành. Thêm vào đó, độ khó  
còn là khi tƣ duy nhà giáo đã quen với lối dạy theo niên chế luôn muốn truyền thụ thật  
nhiều kiến thức cho SV mà quên mất “chìa khóa” của thành công tri thức là dạy người  
học biết độc lập nghiên cứu hay nói cách khác là dạy người học biết tự học. Mặt  
khác, điều này còn liên quan đến thời gian học tập. Ngƣời dạy phải có chiến lƣợc thời  
gian hợp lí cho từng chƣơng, từng bài để tránh tình trạng “cháy giáo án”. Khi dạy theo  
tín chỉ đòi hỏi GV phải lựa chọn những điểm nhấn cốt lõi của nội dung bài dạy phù hợp  
với việc vận dụng kiến thức sau khi ra trƣờng của SV để trình bày, còn lại để SV tự  
nghiên cứu.  
Kế tiếp là tình hình giảng dạy lớp đông.  
Bảng 2: Bảng thống kê sĩ số SV qua các khóa học theo hệ thống tín chỉ  
763  
Khối ngành  
Khóa  
Lớp  
5NV1  
5NV2  
6NV  
Số lƣợng (SV)  
Tiếng Việt và văn hóa  
Việt Nam (Ngữ văn)  
V
56  
53  
90  
76  
75  
VI  
VII  
7NV1  
7NV2  
Nguồn: Khoa Sƣ phạm - trƣờng Đại học Bạc Liêu 02/2014  
Việc giảng dạy một lớp có quá đông SV (số lƣợng trên 50 SV/ 1 lớp) là một trở ngại  
lớn trong quá trình đào tạo chất lƣợng.  
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, đối với lớp đông SV, thì điều khó nhất là khâu  
quản lí lớp học. Một lớp đông, ngƣời dạy khó thu hút sự chú ý của tất cả SV, khó bao  
quát hết lớp học, hoặc không thể theo sát từng SV để kịp thời hƣớng dẫn các em giải  
quyết vấn đề. Khi thảo luận sẽ phát sinh tình trạng 1 số SV không chăm chú vào bài học  
mà chủ yếu làm việc riêng hoặc không làm gì cả (bởi suy nghĩ: đã có nhiều bạn phát  
biểu, biết khi nào mới đến lƣợt mình). Hay nói cách khác, GV khó tổ chức các hình thức  
học tập tích cực nhằm giúp SV phát triển toàn diện các kỹ năng học tập cơ bản (kỹ năng  
nhận thức, kỹ năng suy luận, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp,…) mà vẫn đảm bảo  
lớp trật tự, nghiêm túc học tập, sâu sát trong công việc và đủ thời gian. Riêng đối với  
SV thuộc khối ngành xã hội nhƣ Ngữ văn lại là vấn đề nan giải. Đặc trƣng của các em là  
lĩnh hội kiến thức ở nhiều cách nhìn. Thêm vào đó, thế mạnh của các em là việc sử dụng  
tốt ngôn ngữ nhƣ một phƣơng tiện đắc dụng khi phản luận vấn đề. Vì thế, việc phát sinh  
nhiều ý kiến trái chiều khi cùng thảo luận một vấn đề là tất yếu. Điều này ngoài mặt tích  
cực đạt đƣợc còn một khuyết điểm là đôi khi tạo nên bầu không khí nặng nề trong lớp  
học. GV khó quản lí lớp trật tự và bao quát hết SV. Tuy nhiên, không phải tất cả những  
điều trên đều không thể thực hiện tốt ở lớp có đông SV với hình thức đào tạo theo học  
chế tín chỉ. Vấn đề là chúng ta tìm ra giải pháp gì hiệu quả để đạt đƣợc mục tiêu bài  
học.  
Ngƣợc lại về phía người học, họ cũng mắc phải những khó khăn không kém.  
Họ phải khá vất vả trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình theo đề cƣơng bài  
giảng của GV. Theo quy định, trung bình cứ 1 tín chỉ học ở lớp thì các em sẽ có 2 tín  
chỉ tự nghiên cứu. Chẳng hạn, SV học 30 tiết ở lớp thì có 60 tiết tự học. Do đó, ngoài  
764  
giờ lên lớp, ngƣời học còn phải học thêm và tham gia các lớp học ngoại khóa khác  
nhằm nâng cao vốn kiến thức của mình. Điều này thật sự có hiệu quả hay không? Khi  
ngày này qua ngày khác, khung thời gian của họ bị bịt kín, phải đầu tƣ quá nhiều môn  
cùng một thời điểm bao gồm bài tập trên lớp, đến kiến thức mở rộng dành cho tự học.  
Họ sẽ thật sự chiếm lĩnh đƣợc tri thức khoa học hay máy móc ghi nhớ những điều đã có  
từ sách vở, từ thầy cô của mình? Và thời gian nào để họ sắp xếp dành cho bản thân, cho  
sức khỏe, cho nhu cầu đƣợc nghỉ ngơi?  
2.2. Giải pháp  
Từ thực tế trên, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp giúp ngƣời học nâng cao  
tính tích cực, chủ động tham gia vào bài học, tăng khả năng độc lập, sáng tạo và khám  
phá tri thức theo hƣớng vận dụng. Điều này nhằm hƣớng đến mục tiêu giáo dục lâu dài-  
cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất, sức  
khỏe tốt có thể tham gia vào các vị trí quan trọng thuộc các lĩnh vực mà nhà tuyển dụng  
yêu cầu. Nhất là đối với đội ngủ nhà giáo tƣơng lai. SV ra trƣờng không chỉ nắm vững  
nền tảng lí thuyết mà còn va chạm với thực tế, ứng dụng linh hoạt bài học vào công việc  
của mình một cách hiệu quả nhất với phƣơng châm: học đi đôi với hành.  
2.2.1. Dạy học có điểm nhấn và dạy học thực hành  
Bất kì một bài học nào thuộc lĩnh vực gì cũng có nhiều nội dung. Vì thế, GV cần xác  
định nội dung trọng tâm của bài học. Từ đó, GV đi sâu, mở rộng, liên hệ bài học với thực tiễn.  
Đây là phƣơng châm “học phải đi đôi với hành”. Khi thiết kế đề cƣơng chi tiết học phần, GV  
cũng nên căn cứ vào tình hình thực tiễn tuyển dụng của xã hội mà có hƣớng biên soạn hợp lí.  
Từng chƣơng, từng bài nên có mục tiêu rõ ràng, cụ thể để SV dễ dàng tiếp cận, nắm bắt trọng  
tâm bài học. Riêng đối với SV khối ngành Ngữ văn bậc Cao đẳng, Đại học, GV cần phải quán  
triệt mục tiêu đào tạo GV theo chuẩn THCS, THPT của Bộ giáo dục để thiết kế khung chƣơng  
trình khớp với thực tiễn giảng dạy của các em tại các cơ sở giáo dục. Đồng thời liên hệ khung  
chƣơng trình này để chỉ ra những ƣu điểm và hạn chế của nó. Qua đó, giúp các em có cái nhìn  
tổng quan hơn, hƣớng tới mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện chƣơng trình giáo dục Ngữ văn  
cấp 2, 3. Chẳng hạn, khi dạy môn “Văn học phƣơng Tây”, “Văn học Việt Nam 1, 2, 3, 4”,…,  
ngƣời dạy nên tham khảo chƣơng trình Ngữ văn cấp THCS, THPT xem các tác gia, tác giả nào  
nên đƣợc đƣa ra giảng dạy (Banzac, Victor Huygo, Tản Đà, Tố Hữu, Huy Cận, Hồ Chí Minh,  
Nguyễn Quang Sáng….) và cần giảng dạy những nội dung gì. Từ đó, ngƣời dạy tiến hành soạn  
thảo đề cƣơng môn học bao quát đƣợc sự nghiệp sáng tác của các tác gia, tác giả này để cùng  
ngƣời học thảo luận, nghiên cứu sâu. Điều này có giá trị thiết thực cho ngƣời học khi ra trƣờng  
giảng dạy các bài học có liên quan trực tiếp đến nội dung môn học.  
Mặt khác, việc liên hệ thực tiễn bài học này còn có ý nghĩa tầm xa. SV sẽ nhận thấy  
môn học thú vị, bổ ích hơn khi nó thiết thực, gắn liền với thực tế ngành nghề đào tạo. Giúp các  
em làm tốt công việc đƣợc giao sau khi ra trƣờng.  
765  
2.2.2. Nâng cao việc dạy học theo hướng đối thoại nhất là đối với lớp có đông SV  
Đây là môi trƣờng mà SV luôn đƣợc tƣơng tác, thảo luận. Nó tạo ra sự khác biệt  
về nhu cầu học hỏi của từng SV. Họ thấy mình có động lực để đào sâu tìm hiểu kiến  
thức từ nhiều nguồn, nhiều góc độ, học tập theo cách của mình chứ không bị giới hạn  
trong một khuôn mẫu nào. Trong một trƣờng Đại học, Cao đẳng việc giảng dạy ở bất kì  
môn học nào không chỉ đơn thuần là dạy cho SV tiếp nhận, khám phá kiến thức trong  
phạm vi bài học mà ngƣời dạy còn chú trọng việc cung cấp thông tin trên cơ sở liên hệ  
thực tiễn, cập nhật trong tình hình mới. Và nhất là những thông tin “mở” để ngƣời học  
trăn trở. Vì vậy, dạy học theo hƣớng đối thoại là một trong những phƣơng pháp phù hợp  
với tiêu chí “dạy ít, học nhiều hơn. Trong đó, chú trọng rèn luyện cho SV cách tự  
học, làm việc nhóm và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngủ GV”. Để việc dạy  
học này có hiệu quả, chúng ta tiến hành các bƣớc sau:  
Bƣớc 1: Ngƣời dạy lựa chọn và đƣa ra vấn đề cần thảo luận. Ngƣời học sẽ nghiên  
cứu tài liệu và chuẩn bị kĩ các vấn đề sẽ thảo luận.  
Bƣớc 2: Ngƣời dạy chủ trì thảo luận còn ngƣời học sẽ trình bày cách hiểu, hƣớng  
triển khai vấn đề đƣợc giao trƣớc tập thể lớp học.  
Bƣớc 3: Ngƣời dạy hƣớng dẫn thảo luận, phát huy tính tích cực chủ động trong  
sinh viên. Còn ngƣời học sẽ trình bày ý kiến cá nhân và tranh luận với bạn đồng học  
thậm chí là với ngƣời dạy để giải mã vấn đề.  
Bƣớc 4: Ngƣời dạy đánh giá ƣu điểm, hạn chế về nội dung, hình thức trình bày của  
ngƣời học, chỉ ra vấn đề cần khắc phục và tiếp tục suy nghĩ mở rộng vấn đề. Riêng  
ngƣời học sẽ đề xuất hoặc trình bày những băn khoăn để thầy và trò cùng nhau tháo gỡ.  
Đối với SV ngành Văn, việc học tập theo hƣớng đối thoại là một đề xuất tích cực.  
Theo cách dạy truyền thống đối với riêng môn Ngữ văn, GV thƣờng dạy các em theo  
hƣớng ổn định, với khung chƣơng chuẩn gồm các nội dung cho từng bài học. Điều này  
vô tình đã khép kín tƣ duy sáng tạo của các em khi chiếm lĩnh, cảm thụ nội dung tác  
phẩm. Trong khi đó, ở bậc Đại học SV đứng ở một tầm với cao hơn, các em có thể làm  
chủ vấn đề, thỏa sức khám phá tác phẩm theo cách riêng cuả mình, thậm chí có thể phản  
bác những cách hiểu truyền thống và đƣa ra những luận điểm mới mẻ buộc ngƣời  
nghiên cứu phải trăn trở, nhìn lại. Vì vậy, việc học tập theo hƣớng đối thoại áp dụng cho  
SV khối ngành này sẽ khắc phục đƣợc tƣ duy cứng nhắc, một chiều thay bằng tƣ duy  
phản biện, sáng tạo, đa chiều góp phần thành công khi chiếm lĩnh kiến thức khoa học  
Văn học.  
2.2.3. Khuyến khích SV cùng tham gia nghiên cứu khoa học  
766  
Đây là nhiệm vụ chung không chỉ của ngƣời dạy mà còn cả ngƣời học. Chúng ta  
nên khuyến khích, động viên các em cùng tham gia nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực  
chuyên ngành. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc trao dồi kiến thức, nâng cao chất  
lƣợng học tập và là cách để SV khẳng định năng lực của mình ngay khi ngồi trên ghế  
nhà trƣờng. Cũng nhƣ góp phần hình thành một phẩm chất tốt của ngƣời lao động trong  
thời kì mới: độc lập, tự tin và sáng tạo. Khi làm đƣợc điều này, SV sẽ tự tin hơn khi ra  
trƣờng đứng trên bục giảng, luôn có ý thức học tập không ngừng để giảng dạy có chất  
lƣợng các phân môn mà mình đảm nhận.  
Mặt khác, việc nghiên cứu khoa học chuyên ngành sẽ nung đúc cho các em tinh  
thần cầu thị cao về chuyên môn, hiểu rõ cái hay, đỉnh cao của ngành nghề mình đang  
theo học. Từ đó, giúp các em thêm yêu nghề, tự tin với nghề. Là SV ngành Ngữ văn, có  
thể các em sẽ là những nhà giáo dục tƣơng lai thì việc yêu nghề, tâm huyết với nghề là  
vô cùng cần thiết. Chỉ khi các em say mê thật sự với ngành nghề, với tác phẩm mà mình  
sẽ dạy thì các em mới “kí gửi” ƣớc mơ chinh phục, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức văn  
học cho thế hệ ngƣời học mai sau. Họ sẽ cảm nhận đƣợc sức hút tỏa ra từ bài học và dễ  
dàng khắc sâu nội dung bài để cùng khám phá, trăn trở và thắp tiếp “ngọn lửa” ấy cho  
bao lớp ngƣời kế tiếp.  
2.2.4. Thắt chặt khâu kiểm tra đánh giá. Đảm bảo thực hiện liên tục và kịp thời  
Để khuyến khích tinh thần học tập của SV, cũng nhƣ dễ dàng quản lí lớp học  
(đối với lớp đông SV), hỗ trợ cho SV làm việc nhóm tích cực, GV nên linh hoạt khi tính  
điểm. Chẳng hạn, GV có thể cơ cấu thang điểm cuối kì thành hai cột theo tỉ lệ 3/7. Cột 1  
là điểm trên lớp hay còn gọi là điểm điều kiện (chiếm tỉ lệ 30% tổng điểm hết môn). Cột  
2 là điểm thi cuối kì tƣơng đƣơng 70% tổng điểm hết môn. Đối với điểm trên lớp, GV  
nên chia ra các cột điểm nhỏ hơn bao gồm: 10% điểm cho các SV đi học đều và hoàn  
thành bài tập nhóm; 10% cho SV tham gia phát biểu xây dựng bài thƣờng xuyên; 10%  
còn lại dành cho cột điểm bài kiểm tra giữa kì. Việc theo dõi đánh giá tính điểm cho SV  
đƣợc thực hiện liên tục qua từng buổi học và đƣợc công bố rõ ràng sau khi kết thúc môn  
học trƣớc lớp. Điều này sẽ giúp SV có thái độ học tập tích cực và ý chí phấn đấu khi  
khám phá nội dung bài học. Nhất là GV cũng có thể quản lí lớp dễ dàng hơn qua từng  
tiết học.  
2.2.5. Thƣờng xuyên tổ chức các Hội thảo khoa học chuyên ngành (Hội Thảo về phƣơng  
pháp dạy học Ngữ Văn, Hội thảo văn học Đồng bằng sông Cửu Long…), hoặc tổ chức  
các diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm dạy học trong và ngoài trƣờng. Đồng thời mở các câu  
lạc bộ vừa chơi vừa học cho SV chuyên ngành  
Việc tổ chức các hội thảo khoa học chuyên ngành và các diễn đàn chia sẻ kinh  
nghiệm dạy học, quản lí SV là vô cùng thiết thực. Trong quá trình lên lớp, GV gặp  
không ít tình huống bất ngờ, phát sinh khó ứng xử. Đặc biệt là đối với các thầy cô giáo  
767  
trẻ mới vào nghề. Những buổi hội thảo về chuyên môn, về phƣơng pháp giảng dạy, hay  
các diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm daỵ học Ngữ văn sẽ là “chìa khóa vàng” giúp họ khắc  
phục đƣợc vấn đề của mình. Bên cạnh đó, hội thảo cũng là dịp để chúng ta nhìn lại một  
lần nữa PPDH hiện tại đã đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tiễn hay chƣa thông qua các vấn  
vấn đề đƣợc đại biểu đề cập. Mặt khác, khi quy mô hội thảo mở rộng đối tƣợng tham  
gia của các trƣờng trong và ngoài khu vực, chúng ta sẽ đƣợc sẻ chia nhiều ý kiến khác  
nhau từ trƣờng bạn cùng những tình huống sƣ phạm, những vấn đề khó khăn khi quản lí  
lớp học, các vấn đề chuyên môn gắn với nhu cầu của ngƣời học... Từ đó, chúng ta sẽ có  
cách nhìn khách quan hơn khi hoàn thiện lại khung chƣơng trình đào tạo tại đơn vị  
mình, hƣớng tới việc giáo dục con ngƣời toàn diện phù hợp với yêu cầu mới của xã hội.  
Đặc biệt, chúng ta có thể xác lập đƣợc cơ sở lí thuyết và thực tiễn cho việc đổi mới công  
tác đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực tƣơng thích với nhu cầu đặt ra. Đây cũng là dịp  
để các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà giáo dục đã và đang công tác trao đổi về  
tình hình dạy học hiện nay và đề xuất định hƣớng đổi mới chƣơng trình dạy học Ngữ  
Văn bậc Đại học, Cao đẳng theo hƣớng phát triển năng lực, chú trọng thực hành. Đồng  
thời, việc tổ chức các hội thảo, diễn đàn này còn là nơi trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ  
giữa các cơ sở đào tạo và sử dụng giáo viên Ngữ văn ở bậc THPT, THCS. Qua đó, thu  
hút sự quan tâm và tạo bƣớc chuyển biến về nhận thức trong giới nghiên cứu và giảng  
dạy, chuẩn bị cho việc đổi mới căn bản, toàn diện việc dạy học Ngữ văn nói chung.  
Thực hiện đƣợc điều này nghĩa là chúng ta đang “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo  
dục theo hƣớng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chƣơng trình, nội dung,  
phƣơng pháp dạy học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và  
cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo. Tập trung nâng cao chất lƣợng giáo dục, đào tạo, coi  
trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ thuật thực hành” mà Nghị  
quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đề ra.  
Riêng đối với SV, chúng ta nên cùng phối hợp để tổ chức các Câu lạc bộ chuyên  
ngành. Đây là một sân chơi lành mạnh, bổ ích dành cho ngƣời dạy lẫn ngƣời học. Sau  
thời gian học tập, làm việc mệt mỏi, các câu lạc bộ văn học sẽ là nơi gặp gỡ, giao lƣu,  
trao đổi học thuật giữa GV với SV, SV với SV. Môi trƣờng này vừa là sân chơi giúp  
ngƣời học giải trí, thƣ giãn mà còn là dịp để họ mở rộng kiến thức, nâng cao tầm nhìn  
xã hội, có thể phát huy vai trò chủ đạo của mình khi trình bày ý kiến cá nhân về những  
vấn đề khác nhau trong lĩnh vực chuyên môn. Bên cạnh đó, các em cũng có thể rèn  
luyện các kỹ năng mềm nhƣ: kỹ năng giao tiếp trƣớc đám đông, kỹ năng trình bày một  
vấn đề…một tố chất cần thiết dành cho ngƣời lao động mới. Là SV Văn, các em có thể  
tham gia các câu lạc bộ nhƣ: CLB nhà giáo tƣơng lai, CLB văn học, CLB cây bút trẻ,  
CLB ngâm thơ, bình thơ… Đây sẽ là bƣớc đệm giúp các em hoàn thiện bản thân, thỏa  
sức sáng tạo, nâng cao kỹ năng thực hành đối với chuyên môn của mình để hội nhập tốt  
vào môi trƣờng xã hội.  
768  
3. Kết luận  
Chất lƣợng dạy và học do nhiều yếu tố quyết định. Song, PPDH đóng vai trò then  
chốt, chủ đạo ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng đầu ra của SV nói chung và SV ngành  
Ngữ Văn nói riêng. Sƣ phạm là một ngành mô phạm. Vì thế, chúng ta phải dần khắc  
phục và phát huy những ƣu, khuyết điểm trong PPDH làm kiểu mẫu cho giáo dục quốc  
gia. Ở bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của thực tiễn gắn liền với  
giáo dục. Trong đó, các khối ngành Sƣ phạm sẽ là lực lƣợng chủ lực đối với sự nghiệp  
phát triển lâu dài của đất nƣớc. Vì thế, chúng tôi đặc biệt lƣu ý đến các đối tƣợng này  
với hi vọng: Họ sẽ là nhịp cầu nối liền khoảng cách giữa lí thuyết và thực hành. Trên  
đây là một số giải pháp đề xuất của chúng tôi nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng giáo  
dục theo hướng vận dụng dành cho SV khối ngành Ngữ Văn. Chúng tôi rất mong nhận  
đƣợc ý kiến chia sẻ của Quý độc giả.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bùi Ngọc Hồ (2008), Những vấn đề lí luận giáo dục, Nxb. Đại học quốc gia Tp  
HCM.  
2. Hồ Tấn Nguyên Minh (2013), “Hƣớng đi mở cho giờ dạy Ngữ văn trong trƣờng trung  
học phổ thông”, www.giaoduc.com.vn.  
3. Nguyễn Văn Nở, Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Lâm Điền (2011), Những vấn đề  
văn học, ngôn ngữ và giảng dạy ngữ văn, Nxb. Giáo dục Việt Nam.  
4. Hà Nhật Thăng (1995), Tổ chức hoạt động giáo dục, Hà Nội.  
5. www.giaoduc.com.vn, Đối thoại trong giờ đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng, đăng ngày  
18/10/2007.  
769  
pdf 10 trang baolam 22520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng vận dụng đối với sinh viên Ngữ văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_xuat_giai_phap_nang_cao_chat_luong_giao_duc_theo_huong_va.pdf