Mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí: Trường hợp tại Việt Nam

Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 51  
Mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân  
trong lĩnh vực báo chí: Trường hợp tại Việt Nam  
The relationship between corporate brand and personal brand in  
the press: The case study in Vietnam  
Tô Đình Tuân1*, Nguyễn Minh Hà2  
1Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
2Trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: [email protected]  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi.13.2.509.2018  
Nghiên cứu nhằm phân tích mối quan hệ giữa thương hiệu  
tổ chức và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí. Với số  
lượng khảo sát 520 nhà báo và sử dụng các kỹ thuật phân tích  
thống kê, phân tích Cronbach’s Alpha, EFA và SEM, kết quả  
nghiên cứu cho thấy i) Tên cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương  
đến Hình ảnh cơ quan báo chí và danh tiếng của cơ quan báo chí;  
ii) Hình ảnh cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương đến danh tiếng  
cơ quan báo chí và Sự cam kết/lòng trung thành của cơ quan báo  
chí; iii) Danh tiếng của cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương đến  
Thương hiệu cá nhân của những nhà báo và Sự cam kết/lòng  
trung thành với nhân viên của cơ quan báo chí; iv) Sự cam  
kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí ảnh hưởng dương đến  
thương hiệu cá nhân của nhà báo. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy  
Tên cơ quan báo chí không ảnh hưởng đến thương hiệu cá nhân  
của những nhà báo và Sự cam kết/lòng trung thành của cơ quan  
báo chí; Hình ảnh cơ quan báo chí không ảnh hưởng đến Thương  
hiệu cá nhân của các nhà báo.  
Ngày nhận: 23/03/2018  
Ngày nhận lại: 22/04/2018  
Duyệt đăng: 04/05/2018  
Từ khóa:  
báo chí, nhà báo, thương  
hiệu cá nhân, thương hiệu tổ  
chức  
ABSTRACT  
The study investigates the relationship between the  
corporate brand and personal brand in the press in Vietnam. 520  
journalists and reporters were surveyed and the analysis of  
statistics, Cronbach Alpha, EFA and SEM were applied to the  
study, the results show that i) the name of press corporate  
positively influences the press corporate’s image and reputation,  
ii) the press corporate’s image strongly affects the press  
corporate’s reputation and commitment; iii) the press corporate’s  
reputation has a positive impact on journalists’ personal brands  
Keywords:  
press, journalist, personal  
brand, corporate brand  
52 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
and the press corporate’s commitment; iv) the press corporate’s  
commitment deeply influences journalists’ personal brands.  
However, the study demonstrates that the name of press  
corporate does not affect journalists’ personal brands and the  
press corporate’s commitment; the press corporate’s image does  
not influence journalists’ personal brands.  
1. Giới thiệu  
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay tại Việt Nam có 860 tờ báo, tạp chí in  
(200 báo, 660 tạp chí), 135 báo, tạp chí điện tử (112 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo in và  
23 báo, tạp chí điện tử độc lập, ngoài ra còn có 258 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ  
quan báo chí được cấp phép), 67 đài phát thanh, truyền hình. Tổng cộng có 950 cơ quan báo  
chí, hơn 18.000 người được cấp thẻ nhà báo.  
Theo Holton và Molyneux (2015), thương hiệu - đặc biệt là thương hiệu báo chí là vấn  
đề đã và đang thu hút sự chú ý, quan tâm của giới chuyên môn, các nhà nghiên cứu. Trong bối  
cảnh sự cạnh tranh thông tin ngày càng khốc liệt, công nghệ phát triển như vũ bão trong những  
năm gần đây, việc nghiên cứu về thương hiệu nói chung, thương hiệu trong lĩnh vực báo chí  
nói riêng ngày càng trở nên bức thiết.  
Việc nghiên cứu về thương hiệu trong lĩnh vực báo chí tại Việt Nam là một đòi hỏi cấp  
thiết (Do, 2013). Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của người nghiên cứu, đến thời điểm hiện nay tại  
Việt Nam chưa tìm thấy nghiên cứu khoa học nào về thương hiệu trong lĩnh vực báo chí. Do  
đó, sự hiểu biết về thương hiệu trong lĩnh vực báo chí còn khá mơ hồ, cách hiểu và sự ứng dụng  
lý thuyết vào thực tiễn có sự khác biệt. Vì vậy, tiềm năng to lớn của thương hiệu trong lĩnh vực  
báo chí chưa được phát huy.  
Việc nghiên cứu thành công mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá  
nhân sẽ cung cấp cho các nhà nghiên cứu khoa học về báo chí và những người đã, đang, sẽ làm  
công tác báo chí một cơ sở lý thuyết vững chắc để có sự hiểu biết sâu sắc về thương hiệu báo  
chí. Từ đó, các nhà nghiên cứu về báo chí sẽ có nhiều công trình nghiên cứu về thương hiệu  
báo chí cũng như về mối quan hệ giữa Thương hiệu tổ chức và Thương hiệu cá nhân nhà báo.  
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa Thương hiệu tổ chức và Thương hiệu cá  
nhân nhà báo sẽ cung cấp cho lãnh đạo, quản lý các cơ quan báo chí cơ sở khoa học đáng tin  
cậy để họ có thể ứng dụng vào thực tế tại đơn vị, phát triển thương hiệu tổ chức của họ. Ngoài  
ra, các nhà báo có mong muốn xây dựng thương hiệu cá nhân cũng sẽ có một cơ sở khoa học  
để ứng dụng vào thực tiễn, từng bước phát triển và duy trì thương hiệu cá nhân của mình.  
Từ những yêu cầu đó, nghiên cứu đi sâu phân tích mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức  
và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu và tình hình thực  
tế, nghiên cứu cũng sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm làm tăng giá trị thương hiệu tổ chức và  
thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí.  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 53  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Thương hiệu: Fournier (1998) cho rằng, thương hiệu là nhận thức, tình cảm và niềm tin  
của khách hàng, đối tác về tất cả các yếu tố của tổ chức.  
Thương hiệu tổ chức: Souiden, Kassim, và Heung-Ja (2006) định nghĩa thương hiệu tổ  
chức là những gì nổi bật nhất, tạo dấu ấn sâu đậm nhất của tổ chức đó đối với khách hàng, đối  
tác và công chúng; thương hiệu tổ chức bao gồm: Tên tổ chức, Hình ảnh tổ chức, Danh tiếng  
tổ chức và Sự cam kết/lòng trung thành của tổ chức đối với khách hàng, nhân viên và mục tiêu  
phát triển thị trường, đảm bảo chất lượng sản phẩm.  
Thương hiệu cá nhân: Theo Schawbel (2010), thương hiệu cá nhân là hình ảnh, giá trị  
bản thân của một cá nhân giúp người khác phân biệt được cá nhân đó với mọi người xung  
quanh. Thương hiệu cá nhân chính là hình ảnh của một con người trước công chúng, cộng đồng,  
có thể đo lường được thông qua các tiêu chí được xếp theo thứ tự: (i) Mức độ được biết đến;  
(ii) Những giá trị, thành tích hay phẩm chất; (iii) Mức độ ảnh hưởng với công chúng.  
Mối quan hệ giữa các thành phần của thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân  
Từ định nghĩa của Souiden và cộng sự (2006), Thương hiệu tổ chức có 4 thành phần:  
Tên tổ chức, Hình ảnh tổ chức, Danh tiếng tổ chức và Sự cam kết của tổ chức. Do đó, nghiên  
cứu sẽ phân tích từng thành phần của Thương hiệu tổ chức đều tác động với nhau và mỗi thành  
phần của Thương hiệu tổ chức đều tác động đến Thương hiệu cá nhân.  
Tên tổ chức đối với các thành phần khác của thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá  
nhân  
Mỗi con người, mỗi đồ vật, tổ chức…đều có tên. Tên là cách để người ta gọi và hiểu  
đúng về đối tượng đó. Tên tổ chức trước tiên có tác dụng xác định một thương hiệu và tạo điều  
kiện cho định hình vị trí thương hiệu. Tên tổ chức là cách rõ ràng nhất để phân biệt với những  
thương hiệu khác (Hankinson & Cowking, 1993).  
Tên của một tổ chức còn là biểu tượng của tổ chức, tượng trưng cho quyền sở hữu, giúp  
mọi người đưa ra quyết định mua hàng, hợp tác, làm việc với tổ chức đó nhanh hơn. Ngoài ra,  
tên tổ chức đảm bảo với khách hàng rằng các tính năng, chức năng và đặc điểm của thương  
hiệu được thể hiện trên các sản phẩm của tổ chức đó, nó sẽ không thay đổi theo thời gian. Tên  
tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp đến thương hiệu cá nhân của người tiêu dùng, các đối tác và  
những người thuộc tổ chức đó. Người tiêu dùng, các đối tác cảm thấy an tâm, tự tin, thậm chí  
là có phong cách, đẳng cấp, có thương hiệu khi sử dụng hàng hóa hoặc làm việc, hợp tác với  
các tổ chức có tên quen thuộc, nổi tiếng như Sony, Toyota, Sanyo, Samsung, Hyundai, Apple,  
Google, … Nhân viên làm việc trong các tổ chức có tên tuổi, nổi tiếng, uy tín cũng cho biết  
thương hiệu cá nhân của họ được nâng cao và đảm bảo hơn so với các nhân viên đang làm việc  
trong các tổ chức ít nổi tiếng khác (Hankinson & Cowking, 1993).  
Theo Souiden và cộng sự (2006), tên của tổ chức tác động đến hình ảnh tổ chức. Thông  
thường, ngay khi nghe tên của một tổ chức nào đó, trong não bộ mỗi người sẽ xuất hiện hình  
ảnh bao quát về tổ chức đó. Hình ảnh xuất hiện có thể tích cực hoặc tiêu cực tùy thuộc vào việc  
54 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
xây dựng hình ảnh của tổ chức đó và quan điểm, góc nhìn, sự cảm nhận của mỗi người. Tên  
của tổ chức luôn tạo ấn tượng đầu tiên nên rất quan trọng đối với khách hàng, đối tác. Ấn tượng  
tốt thường tạo cho họ cảm giác tốt về tổ chức đó hoặc ngược lại.  
Việc đặt tên cho tổ chức phải hướng đến việc góp phần xây dựng một hình ảnh tổ chức  
tích cực, tạo cảm giác an tâm, lạc quan cho các đối tác, khách hàng nhưng nên gắn liền với lĩnh  
vực đang hoạt động; không thể hiện quá những khả năng mà tổ chức đó có thể đáp ứng. Việc  
đặt tên cho tổ chức cũng có thể thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện, thực tế hoạt  
động. Sau một thời gian hoạt động, có không ít tổ chức buộc phải thay đổi tên để xác định lại  
hình ảnh tổ chức của mình. Khi một tổ chức cần phá vỡ hình ảnh quá khứ và thiết lập một hình  
ảnh mới, việc thay đổi tên tổ chức có thể giúp họ thay đổi một phần nào đó hình ảnh cũ của tổ  
chức (Gregory & Wiechmann, 1999).  
Theo Schawbel (2010), tên của tổ chức có tác động đến danh tiếng của tổ chức đó. Tên  
tổ chức là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất để mọi người đánh giá về danh tiếng của tổ chức đó.  
Ở góc độ ngược lại, danh tiếng của tổ chức khẳng định giá trị đối với tên của tổ chức.  
Souiden và cộng sự (2006) cho rằng tên của tổ chức có tác động đến lòng trung thành  
với tổ chức của người tiêu dùng và các cá nhân đang làm việc, cống hiến cho tổ chức đó. Người  
tiêu dùng thường có lòng trung thành với những sản phẩm có cái tên quen thuộc, nổi tiếng, uy  
tín. Những tổ chức có tên nổi tiếng, là “thương hiệu lớn” thường có sự cam kết/lòng trung thành  
với mục tiêu phát triển đã đề ra; luôn đảm bảo quyền lợi cho nhân viên, sẵn sàng hỗ trợ nhân  
viên nếu họ bị tai nạn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được tổ chức giao.  
Từ những lý luận trên, nghiên cứu đề xuất một số giả thuyết như sau:  
H1: Tên tổ chức có tác động dương đến thương hiệu cá nhân của những người đang  
làm việc tại tổ chức  
H2: Tên tổ chức có tác động dương đến hình ảnh của tổ chức  
H3. Tên tổ chức có tác động dương đến danh tiếng của tổ chức  
H4. Tên tổ chức có tác động dương đến sự cam kết của tổ chức đó đối với quyền lợi của  
nhân viên  
Hình ảnh tổ chức đối với các thành phần của thương hiệu tổ chức và thương hiệu  
cá nhân  
Hình ảnh tổ chức là những hình ảnh gắn liền với bản chất của tổ chức; giúp mọi người  
hình dung một cách nhanh chóng, trực quan nhất về một tổ chức. Hình ảnh tổ chức gắn liền với  
tên của một tổ chức. Theo Kennedy (1977), hình ảnh tổ chức luôn đóng một vai trò quan trọng  
trong quá trình xây dựng và phát triển của tổ chức. Hình ảnh tổ chức là một tài sản có giá trị  
mà tổ chức cần phải quản lý (Abratt & Mofokeng, 2001). Hatch và Schultz (2003) cũng cho  
rằng, hình ảnh tổ chức có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức.  
Nếu hình ảnh tổ chức tích cực sẽ tạo thuận lợi cho tổ chức đó. Ngược lại, nếu hình ảnh tổ chức  
tiêu cực sẽ gây khó khăn cho tổ chức. Đối với một doanh nghiệp, việc có một hình ảnh tốt, tích  
cực có thể ảnh hưởng đến doanh số bán hàng và thị trường cổ phiếu của doanh nghiệp đó  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 55  
(Shapiro,1983). Do đó, bất cứ tổ chức nào cũng cần duy trì một hình ảnh tích cực trong lòng  
mọi người.  
Hsieh (2002) kết luận rằng hình ảnh tổ chức có thể ảnh hưởng đến hành vi của người  
tiêu dùng hoặc đối tác. Hình ảnh tổ chức là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhận thức về  
chất lượng, đánh giá của người tiêu dùng về sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng;  
tác động đến thương hiệu cá nhân của người tiêu dùng và những nhân viên đang làm việc tại tổ  
chức đó. Một số nhà nghiên cứu khẳng định rằng hình ảnh tổ chức có khả năng tạo nên uy tín  
của tổ chức. Một hình ảnh tổ chức tích cực, tốt đẹp sẽ dẫn đến việc hình thành danh tiếng của  
tổ chức trong tâm trí của công chúng. Nói cách khác, danh tiếng của tổ chức được hình thành  
qua thời gian bởi những ấn tượng lặp đi lặp lại của hình ảnh tổ chức.  
Bhattacharya và Sen (2003) cho rằng một tổ chức có hình ảnh tích cực, tốt đẹp sẽ khiến  
cho nhân viên gắn bó, trung thành hơn với tổ chức đó. Nhưng đồng thời, hình ảnh của tổ chức  
cũng được tác động bởi sự cam kết/lòng trung thành của tổ chức đối với mục tiêu phát triển và  
đảm bảo quyền lợi của nhân viên. Tổ chức nào luôn đảm bảo sự cam kết/lòng trung thành với  
mục tiêu phát triển và bảo vệ quyền lợi cho nhân viên, hỗ trợ họ khi gặp tai nạn trong lúc thực  
hiện nhiệm vụ của tổ chức thì hình ảnh tổ chức đó thường tốt đẹp, tích cực hoặc ngược lại.  
Từ những phân tích trên, nghiên cứu đề xuất một số giả thuyết như sau:  
H5: Hình ảnh tổ chức có tác động dương đến thương hiệu cá nhân của những người  
đang làm việc tại tổ chức  
H6: Hình ảnh tổ chức có tác động dương đến danh tiếng của tổ chức  
H7: Hình ảnh tổ chức có tác động dương đến sự cam kết của tổ chức đối với quyền lợi  
của nhân viên  
Danh tiếng của tổ chức đối với các thành phần của thương hiệu tổ chức và thương  
hiệu cá nhân  
Theo Druckenmiller (2004), lãnh đạo nhiều tổ chức ngày càng nhận ra tầm quan trọng  
của danh tiếng tổ chức bởi danh tiếng tổ chức có tác động tích cực để đạt được mục tiêu kinh  
doanh và duy trì sự cạnh tranh. Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức lớn và có thương hiệu  
đã học được những bài học cay đắng về sự giảm sút uy tín của họ đã gây hại cho nhân viên và  
làm giảm lòng trung thành của khách hàng, đe dọa tài chính và cả sự sống còn của tổ chức.  
Trong nhiều năm qua, sự giám sát công khai của công chúng ngày càng cao; sự phổ biến rộng  
rãi của các phương tiện truyền thông, nhu cầu của các nhà đầu tư là tăng tính minh bạch và  
trách nhiệm xã hội ngày càng được quan tâm. Tất cả những điều đó khiến các tổ chức ngày  
càng quan tâm đến việc tạo ra, duy trì và phát triển danh tiếng tổ chức. Việc phát triển thương  
hiệu của tổ chức có liên quan đến danh tiếng của tổ chức. Nói cách khác, Danh tiếng tổ chức  
có sự tác động mạnh mẽ đến thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân của những người làm  
việc cho tổ chức đó.  
Gotsi và Wilson (2001) kết luận rằng, có một mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau  
giữa Danh tiếng tổ chức và Hình ảnh tổ chức.  
56 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
Theo Souiden và cộng sự (2006), Danh tiếng tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến lòng  
trung thành của tổ chức. Danh tiếng tổ chức cũng là một trung gian hòa giải về ảnh hưởng của  
Hình ảnh tổ chức đối với việc đánh giá sản phẩm, chất lượng công việc của người tiêu dùng  
hoặc đối tác đối với tổ chức đó.  
Theo Saraniemi, Juntunen, Niemelä, và Tähtinen (2010), danh tiếng của tổ chức được  
củng cố thông qua cách điều hành tổ chức của những người quản lý. Tất cả mọi người trong  
một tổ chức đều có thể ảnh hưởng đến danh tiếng của tổ chức, có thể là tích cực hoặc tiêu cực.  
Để giữ gìn danh tiếng của tổ chức, những người trong bộ máy cần thực hiện tốt những gì đã  
hứa, làm việc với chất lượng tốt và cố gắng giải quyết sớm các vấn đề mới phát sinh. Một tổ  
chức có danh tiếng tốt sẽ dễ dàng hơn khi xây dựng một thương hiệu tổ chức tốt; nhờ đó, các  
nhân viên làm việc trong tổ chức đó cũng sẽ được “thơm lây”, giá trị thương hiệu cá nhân của  
mỗi người sẽ tăng lên. Đó là lý do khiến nhân viên trong những tổ chức có thương hiệu hoặc  
đang phát triển thương hiệu phải nỗ lực làm việc, cống hiến cho tổ chức và gắn bó lâu dài với  
tổ chức của họ. Ngoài ra, các tổ chức có danh tiếng thường duy trì tốt sự cam kết/lòng trung  
thành về mục tiêu phát triển đã đề ra và đảm bảo quyền lợi cho nhân viên, hỗ trợ nhân viên khi  
họ gặp tai nạn, khó khăn trong lúc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, thậm chí lúc nhân viên đã  
về hưu. Những hành động này tác động vào danh tiếng tổ chức nói riêng và thương hiệu tổ chức  
nói chung.  
Nghiên cứu đề xuất một số giả thuyết như sau:  
H8: Danh tiếng của tổ chức có tác động dương đến thương hiệu cá nhân của những  
người đang làm việc tại tổ chức  
H9: Danh tiếng của tổ chức có tác động dương đến sự cam kết của tổ chức đối với quyền  
lợi của nhân viên  
Sự cam kết của tổ chức đối với các thành phần của thương hiệu tổ chức và thương  
hiệu cá nhân  
Theo Saraniemi và cộng sự (2010), sự cam kết đã trở thành một mục tiêu quan trọng đối  
với nhiều tổ chức, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Mỗi tổ chức đều có sự  
cam kết đảm bảo quyền lợi cho nhân viên… Sự cam kết của tổ chức góp phần tạo ra uy tín,  
củng cố thương hiệu của tổ chức. Cũng chính sự cam kết của tổ chức đối với quyền lợi của nhân  
viên tác động đến thương hiệu cá nhân của những nhân viên đang làm việc trong tổ chức đó.  
Nếu sự cam kết của tổ chức được duy trì, đảm bảo thì giá trị thương hiệu của tổ chức và giá trị  
thương hiệu cá nhân của những nhân viên đang làm việc trong tổ chức đó càng tăng. Ngược lại,  
nếu sự cam kết của tổ chức đối với quyền lợi của nhân viên không được đảm bảo thì giá trị  
thương hiệu tổ chức sẽ bị sụt giảm; thương hiệu cá nhân của nhân viên bị tác động tiêu cực.  
Thực tế cho thấy, nhiều người không mong muốn làm việc trong một tổ chức không giữ lời hứa  
với khách hàng, không thực hiện đúng các cam kết về chất lượng sản phẩm, không đảm bảo  
quyền lợi cho nhân viên vì điều đó gây tổn hại uy tín cá nhân của họ.  
Với các tổ chức luôn đảm bảo sự cam kết đối với quyền lợi của nhân viên, không chỉ  
tác động đến thương hiệu của những nhân viên đang làm việc trong tổ chức đó mà còn tạo dựng  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 57  
và duy trì lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức đó. Căn cứ trên các nhận định, đánh  
giá này, nghiên cứu đề ra giả thuyết sau:  
H10: Sự cam kết của tổ chức đối với quyền lợi của nhân viên có tác động dương đến  
thương hiệu cá nhân  
2.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Dựa vào cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước của Souiden và cộng sự (2006), Saraniemi  
và cộng sự (2010) và kết quả nghiên cứu định tính, mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa  
thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân được trình bày trong Hình 1 sau:  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá  
nhân  
3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu  
3.1. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu gồm 2 bước chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên  
cứu định tính bằng khảo sát ý kiến chuyên gia để bổ sung và hiệu chỉnh thang đo. Phỏng vấn  
trực tiếp mặt đối mặt 10 nhà báo đang công tác tại các báo trung ương và Thành phố Hồ Chí  
Minh nhằm trao đổi chi tiết về các nội dung cần nghiên cứu cũng như các thang đo trong nghiên  
cứu.  
Sau khi thực hiện nghiên cứu định tính để hoàn thiện thang đo, nghiên cứu tiến hành  
phân tích định lượng, phân tích SEM (Mô hình cấu trúc) để xác định các yếu tố tác động đến  
thương hiệu tổ chức, các yếu tố tác động đến thương hiệu cá nhân và mối quan hệ giữa thương  
hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí.  
58 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
Nghiên cứu này sử dụng Thang đo Likert 5, với: 1. Hoàn toàn không đồng ý; 2. Không  
đồng ý; 3. Bình thường; 4. Đồng ý; 5. Rất đồng ý. Thang đo chính thức bao gồm 39 biến quan  
sát.  
3.2. Dữ liệu nghiên cứu  
Nghiên cứu thực hiện lấy mẫu bằng phương pháp phi xác suất (phương pháp thuận tiện).  
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp, gửi bảng câu hỏi trực tiếp cho  
520 nhà báo; Số lượng phiếu thu về là 515, đạt tỷ lệ là 99,04% so với phiếu phát ra; Số lượng  
phiếu hợp lệ là 508, chiếm 98,64% số lượng phiếu thu về.  
Toàn bộ dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS, AMOS, kiểm định thang  
đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và SEM.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Phân tích thống kê mẫu theo các đặc tính  
Về tuổi tác, trong 508 nhà báo được khảo sát, lứa tuổi 31- 40 chiếm tỷ lệ cao nhất với  
42,91%; lứa tuổi 51- 60 chiếm tỷ lệ thấp nhất với 6,1%. Về giới tính, tỷ lệ nhà báo nam chiếm  
53,54%; tỷ lệ nhà báo nữ chiếm 46,46%. Về tình trạng hôn nhân, tỷ lệ nhà báo đã lập gia đình  
là 71,85%, 117 người độc thân (23,03%) và 26 người ly thân, ly hôn (5,12%). Về quê quán,  
các nhà báo có quê quán ở miền Nam nhiều nhất (chiếm 38,38%), kế đến là miền Trung  
(35,27%), ít nhất là miền Bắc (26,38%). Về vị trí công việc, trong số 508 nhà báo được khảo  
sát, có 231 nhà báo đang thực hiện vai trò phóng viên (chiếm 45,47%), 150 nhà báo là biên tập  
viên (chiếm 29,53%), 94 nhà báo là cán bộ quản lý, lãnh đạo (18,5%) và 33 người đang giữ  
những vai trò, vị trí công việc khác (6,5%). Về trình độ học vấn, số lượng nhà báo được đào  
tạo đại học chiếm tỷ lệ cao nhất với 85,83%; trên đại học là 62 người (0,27%) và cao đẳng 10  
người (1,97%). Về đào tạo chuyên ngành báo chí, trong tổng số 508 nhà báo được khảo sát,  
có 325 nhà báo được đào tạo chuyên ngành báo chí (chiếm 63,97%); 183 nhà báo không được  
đào tạo chuyên ngành báo chí (chiếm 36,02%). Về loại hình báo chí, số lượng nhà báo làm  
việc tại các cơ quan báo in là 227 người (chiếm 44,68%); số nhà báo làm việc tại các đài truyền  
hình là 93 người (chiếm 18,31%); số nhà báo làm việc tại đài phát thanh là 99 người (chiếm  
19,49%); số nhà báo làm việc tại các báo điện tử/trang thông tin điện tử là 89 người (chiếm  
17,52%). Về kinh nghiệm, số nhà báo có 6 -10 năm kinh nghiệm là 125 người (chiếm 24,61%);  
10 -15 năm kinh nghiệm là 101 người (chiếm 19,88%); 16 - 20 năm kinh nghiệm là 122 người  
(chiếm 24,02%); 21 - 30 năm là 80 người (chiếm 0,19%).  
4.2. Phân tích thống kê các biến quan sát  
Về Thương hiệu cá nhân (THCN)  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 59  
Bảng 1  
Kết quả thống kê về Thương hiệu cá nhân  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
Bạn được nhiều bạn đọc, đồng  
THCN1 nghiệp trong lĩnh vực báo chí biết  
đến  
508  
1.0  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
5.0  
3.488  
3.447  
3.748  
.8870  
.9119  
.6990  
Bạn có các tác phẩm báo chí thu hút  
THCN2  
508  
508  
sự quan tâm của bạn đọc  
Bạn thường được đồng nghiệp đánh  
THCN3 giá tích cực về năng lực chuyên  
môn, nghiệp vụ báo chí  
Bạn được mọi người đánh giá là có  
THCN4  
508  
508  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
4.138  
3.799  
.7356  
.7504  
đạo đức nghề nghiệp  
Bạn được cho rằng đã đóng góp tích  
THCN5  
cực cho cộng đồng  
Bạn được đánh giá là có khả năng  
THCN6 hợp tác tốt với đồng nghiệp trong  
lĩnh vực báo chí  
508  
1.0  
5.0  
3.992  
.6851  
Bạn thường được tham dự (đối với  
phóng viên) để đưa tin hoặc biên tập  
THCN7 (đối với biên tập viên) hoặc duyệt  
(đối với quản lý, lãnh đạo) các sự  
kiện quan trọng.  
508  
508  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
3.650  
3.537  
.9184  
.7998  
Bạn được nhiều bạn bè, đồng nghiệp  
THCN8  
trong lĩnh vực báo chí nể phục  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Biến “Bạn được mọi người đánh giá là có đạo đức nghề nghiệp” (THCN4) được đánh  
giá cao nhất, với giá trị trung bình là 4.138. Biến ’Bạn có các tác phẩm báo chí thu hút sự quan  
tâm của bạn đọc’ (THCN2) có giá trị trung bình thấp nhất là 3.447.  
Về Tên cơ quan (tổ chức) báo chí (TCQBC)  
Bảng 2  
Kết quả thống kê về Tên cơ quan báo chí  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
TCQBC1 Tên cơ quan báo chí xuất bản các  
sản phẩm báo chí nổi tiếng/được  
508 1.0 5.0 4.118 .7881  
nhiều người biết đến (well known).  
60 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
TCQBC2 Tên cơ quan báo chí được nhiều  
người quan tâm.  
508 1.0  
5.0  
4.096 .8047  
TCQBC3 Sản phẩm báo chí luôn gắn liền với 508 1.0  
tên cơ quan báo chí làm ra sản  
5.0  
4.035 .7343  
phẩm báo chí.  
TCQBC4 Tên cơ quan báo chí thể hiện đối  
tượng bạn đọc chính cần quan tâm  
(tầng lớp, giới tính, độ tuổi…).  
TCQBC5 Sản phẩm báo chí vừa mang tên cơ 508 1.0  
quan báo chí, vừa thể hiện loại hình  
508 1.0  
5.0  
5.0  
3.872 .8574  
3.843 .8254  
truyền thông (như: báo, radio, tivi;  
nhật báo, tạp chí, tuần báo,…).  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Tên cơ quan báo chí xuất bản các sản phẩm báo chí nổi tiếng/được nhiều người biết đến  
(TCQBC1), với giá trị trung bình là 4.118; tuy nhiên biến ‘Sản phẩm báo chí vừa mang tên cơ  
quan báo chí, vừa thể hiện loại hình truyền thông (như: báo, radio, tivi; nhật báo, tạp chí, tuần  
báo, …)’ (TCQBC5) có giá trị thấp nhất là 3.843. Nhìn chung, các biến quan sát trong yếu tố  
này được đánh giá tương đối cao.  
Về Hình ảnh cơ quan (tổ chức) báo chí (HACQBC)  
Bảng 3  
Kết quả thống kê về Hình ảnh cơ quan báo chí  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
HACQBC1 là đơn vị có sự sáng tạo trong lĩnh 508 1.0  
vực báo chí.  
5.0  
5.0  
5.0  
5.0  
5.0  
5.0  
3.831  
3.823  
3.783  
3.874  
3.707  
3.679  
.8719  
.8520  
.8795  
.8402  
.9476  
.8733  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
HACQBC2 là đơn vị có tính tiên phong trong  
lĩnh vực báo chí.  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
HACQBC3 là đơn vị có sự thành công trong  
lĩnh vực báo chí.  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
HACQBC4 là đơn vị có sự tự tin trong lĩnh  
vực báo chí.  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
HACQBC5 là đơn vị có sự trung thực, nhân  
văn trong lĩnh vực báo chí.  
508 1.0  
508 1.0  
508 1.0  
508 1.0  
508 1.0  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
HACQBC6 là đơn vị có sự cởi mở với bạn  
đọc.  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 61  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
HACQBC7 là đơn vị luôn sẵn sàng phản hồi  
với bạn đọc.  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
HACQBC8 đó có phải là đơn vị có trách  
nhiệm với xã hội hay không.  
508 1.0  
508 1.0  
5.0  
5.0  
3.624  
3.764  
.9028  
.9033  
Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện  
là đơn vị tin cậy để người dân  
phản ánh những điều tốt và chưa  
HACQBC9  
508 1.0  
5.0  
3.917  
.7596  
tốt của cuộc sống.  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
“Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị tin cậy để người dân phản ánh những điều  
tốt và chưa tốt của cuộc sống” (HACQBC9) được đánh giá cao nhất, với giá trị trung bình là  
3.917. Biến ‘Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị luôn sẵn sàng phản hồi với bạn đọc.’  
(HACQBC7) có giá trị trung bình thấp nhất là 3.624. Nhìn chung, các biến quan sát trong nhân  
tố này không được đánh giá cao, không có biến quan sát nào có giá trị trung bình trên 4.  
Về Danh tiếng cơ quan (tổ chức) báo chí (DTCQBC)  
Bảng 4  
Kết quả thống kê về danh tiếng cơ quan báo chí  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
Cơ quan báo chí tạo ra các sản  
DTCQBC1 phẩm báo chí có sức hấp dẫn đối  
với bạn đọc.  
508 1.0  
508 1.0  
5.0  
5.0  
3.996  
4.116  
.8116  
.7694  
Cơ quan báo chí tạo ra các sản  
DTCQBC2 phẩm báo chí có trách nhiệm với  
xã hội.  
Cơ quan báo chí tạo ra các sản  
phẩm báo chí có chất lượng tốt  
(hay, đúng, nhanh, nhân văn) được  
bạn đọc đánh giá cao.  
DTCQBC3  
508 1.0  
508 1.0  
5.0  
3.982  
.8366  
Cơ quan báo chí tạo ra sản phẩm  
báo chí có tính đi đầu, đột phá  
trong lĩnh vực báo chí, được xã hội  
ghi nhận.  
DTCQBC4  
5.0  
5.0  
4.069  
4.030  
.7802  
.7902  
Cơ quan báo chí tạo ra sản phẩm  
DTCQBC5 báo chí có tính chiến đấu cao, đấu 508 1.0  
tranh chống tiêu cực có hiệu quả.  
62 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
Cơ quan báo chí tham gia tích cực  
DTCQBC6 các hoạt động từ thiện-xã hội; cứu  
trợ nạn nhân thiên tai, giúp đỡ  
người nghèo.  
508 1.0  
5.0  
4.018  
.8054  
Môi trường làm việc trong cơ quan  
báo chí tốt.  
DTCQBC7  
508 2.0  
508 1.0  
5.0  
5.0  
4.026  
3.537  
.7170  
.8930  
Tình hình tài chính trong cơ quan  
báo chí tốt.  
DTCQBC8  
Cơ quan báo chí thực hiện đúng  
DTCQBC9 tôn chỉ, mục đích, chức năng,  
nhiệm vụ được giao.  
508 1.0  
508 1.0  
5.0  
5.0  
4.134  
3.795  
.7283  
.7546  
Cơ quan báo chí đáp ứng nhu cầu  
DTCQBC10  
thông tin của bạn đọc.  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Biến “Cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được  
giao” (DTCQBC9) có giá trị trung bình cao nhất là 4.134. Biến ‘Tình hình tài chính trong cơ  
quan báo chí tốt’ (DTCQBC8) có giá trị trung bình thấp nhất là 3.537.  
Về Sự cam kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí (CK)  
Bảng 5  
Kết quả thống kê về sự cam kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
Cơ quan báo chí luôn có trách nhiệm  
với các sản phẩm báo chí và những  
người tạo ra sản phẩm báo chí đó.  
Cơ quan báo chí của tôi làm ra những  
sản phẩm báo chí có chất lượng vượt  
trội so với các cơ quan báo chí khác.  
Tôi có tình cảm với cơ quan báo chí  
mà tôi đang làm việc.  
CK1  
508  
1.0  
5.0  
4.181  
.6985  
CK2  
CK3  
CK4  
508  
508  
508  
2.0  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
5.0  
3.630  
4.209  
3.919  
.8594  
.6936  
.7891  
Tôi đánh giá cao những sản phẩm báo  
chí của cơ quan báo chí mà tôi đang  
làm việc.  
Tôi luôn đọc (hoặc nghe, xem) các  
CK5  
CK6  
sản phẩm báo chí do cơ quan báo chí- 508  
nơi tôi đang làm việc tạo ra.  
Cơ quan báo chí tôi đang làm việc  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
4.122  
3.925  
.7330  
.7909  
làm tốt việc giúp đỡ, hỗ trợ các nhà  
báo gặp tai nạn trong quá trình tác  
508  
nghiệp hoặc về hưu.  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 63  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
Cơ quan báo chí tôi đang làm việc  
thường xuyên quan tâm, chăm lo đời  
sống cán bộ, nhân viên.  
N
Min Max Mean Std.Dev  
1.0 5.0 4.065 .7678  
CK7  
508  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Biến “Tôi có tình cảm với cơ quan báo chí mà tôi đang làm việc” (CK3) được đánh giá  
cao nhất với giá trị trung bình là 4.209; Biến ‘Cơ quan báo chí của tôi làm ra những sản phẩm  
báo chí có chất lượng vượt trội so với các cơ quan báo chí khác.’ (CK2) có giá trị trung bình  
thấp nhất là 3.630.  
4.3. Phân tích Cronbach’s Alpha và EFA  
4.3.1. Phân tích Cronbach’s Alpha  
Kết quả tóm tắt phân tích độ tin cậy của từng nhân tố được thể hiện trong bảng sau:  
Bảng 6  
Tóm tắt kết quả phân tích Cronbach’s Alpha  
Hệ số Cronbach’  
Biến loại  
bỏ  
Nhân tố  
Biến giữ lại  
Alpha  
THCN1, THCN2, THCN3, THCN4,  
THCN5, THCN6, THCN7, THCN8  
TCQBC1, TCQBC2, TCQBC3, TCQBC4,  
TCQBC5  
THCN  
0.822  
0.821  
TCQBC  
HACQBC1, HACQBC2, HACQBC3,  
HACQBC4, HACQBC5, HACQBC6,  
HACQBC7, HACQBC8, HACQBC9  
DTCQBC1, DTCQBC2, DTCQBC3,  
HACQBC  
0.936  
DTCQBC  
CK  
0.892  
0.865  
DTCQBC8 DTCQBC4, DTCQBC5, DTCQBC6,  
DTCQBC7, DTCQBC9, DTCQBC10  
CK1, CK2, CK3, CK4, CK5, CK6, CK7  
Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra  
Hệ số Cronbach’s Alpha của các nhân tố: THCN, TCQBC, HACQBC, DTCQBC, CK  
đều >0.7. Biến DTCQBC8 bị loại.  
4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Bảng 7  
Tóm tắt một số thông số thống kê trong phân tích EFA  
Tham số thống kê  
Kaiser-Meyer-Olkin  
Giá trị thống kê  
0.933  
Kiểm định Bartlett’s  
Giá trị riêng của nhân tố thứ 5  
0.000  
1.017  
64 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
Tham số thống kê  
Giá trị thống kê  
Tổng phương sai trích của 5 nhân tố  
64.860%  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu  
Bảng 8  
Kết quả phân tích EFA lần cuối cho các biến độc lập  
Nhân tố  
1
2
3
4
HACQBC6  
HACQBC5  
HACQBC7  
HACQBC3  
HACQBC4  
HACQBC2  
DTCQBC3  
DTCQBC4  
DTCQBC2  
DTCQBC5  
DTCQBC1  
CK7  
.835  
.821  
.785  
.756  
.709  
.698  
.815  
.801  
.797  
.737  
.703  
.820  
.769  
.749  
.587  
CK6  
CK3  
DTCQBC7  
TCQBC3  
TCQBC1  
TCQBC2  
TCQBC4  
.755  
.755  
.678  
.614  
KMO=0.912; Kiểm định Bartlett’s có Sig.=0.000;  
Eigenvalues= 1.215; Tổng phương sai trích=67.938%.  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu  
4.4. Phân tích Mô hình cấu trúc (SEM)  
Kết quả từ Mô hình cấu trúc như sau:  
Bảng 9  
Trọng số hồi quy  
Hệ số  
Chưa  
chuẩn hóa  
Chuẩn Sai số  
hóa chuẩn  
C.R.  
16.446  
P-value  
0.000 <0.01  
hinh anh  
CQBC  
<- ten co quan  
-- bao chi  
0.715***  
0.59 0.043  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 65  
Hệ số  
Chưa  
chuẩn hóa  
Chuẩn Sai số  
hóa chuẩn  
C.R.  
10.323  
P-value  
0.000  
0.000  
0.000  
0.000  
danh tieng <- hinh anh  
CQBC -- CQBC  
0.39***  
0.327***  
0.203***  
0.226***  
0.009  
0.43  
0.038  
danh tieng <- ten co quan  
CQBC -- bao chi  
0.298  
0.243  
0.246  
0.009  
0.046  
0.045  
0.048  
0.052  
7.145  
4.489  
4.686  
0.179  
su cam ket <- hinh anh  
cua CQBC -- CQBC  
su cam ket <- danh tieng  
cua CQBC -- CQBC  
su cam ket <- ten co quan  
cua CQBC -- bao chi  
0.858 >0.1  
thuong  
<- su cam ket  
hieu ca  
0.234***  
0.065  
0.254  
0.07  
0.042  
0.05  
5.553  
1.309  
1.846  
1.216  
0.000  
0.190  
0.065  
0.224  
-- cua CQBC  
nhan  
thuong  
<- ten co quan  
hieu ca  
-- bao chi  
nhan  
>0.1  
<0.1  
>0.1  
thuong  
<- danh tieng  
hieu ca  
0.086*  
0.053  
0.102  
0.069  
0.047  
0.044  
-- CQBC  
nhan  
thuong  
<- hinh anh  
hieu ca  
-- CQBC  
nhan  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu  
Bảng 10  
Trọng số hồi quy chuẩn  
Standardized Regression Weights:  
hinh anh CQBC  
danh tieng CQBC  
danh tieng CQBC  
su cam ket cua CQBC  
su cam ket cua CQBC  
su cam ket cua CQBC  
thuong hieu ca nhan  
thuong hieu ca nhan  
thuong hieu ca nhan  
thuong hieu ca nhan  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
ten co quan bao chi  
hinh anh CQBC  
ten co quan bao chi  
hinh anh CQBC  
0.59  
0.43  
0.298  
0.243  
0.246  
0.009  
0.254  
0.07  
danh tieng CQBC  
ten co quan bao chi  
su cam ket cua CQBC  
ten co quan bao chi  
danh tieng CQBC  
hinh anh CQBC  
0.102  
0.069  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu  
66 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
Bảng 11  
Các chỉ số FIT của mô hình SEM  
2.763  
.986  
.967  
.970  
.047  
.058  
Chi-square/df (cmin/df)  
CFI  
GFI  
TLI  
RMSEA  
PCLOSE  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu  
4.5. Thảo luận kết quả từ Mô hình cấu trúc  
Kiểm định mô hình nghiên cứu (Path Analysis):  
Hình 2. Mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa THTC và THCN (Path Analysis)  
Kết quả ki ểm định mô hình nghiên c ứu được thực hiện bởi kỹ thuật Path Analysis vì  
mô hình có biến trung gian (có nhiều biến phụ thuộc, các biến phụ thuộc này ảnh hưởng đến  
biến phụ thuộc khác).  
Tên cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí  
(H1)  
Kết quả nghiên cứu cho thấy: hệ số chưa chuẩn hóa là 0.065, hệ số chuẩn hóa =0.07, hệ  
số C.R.=1.309. Biến này có P-value=0.190, không có ý nghĩa thống kê nên không chấp nhận  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 67  
giả thuyết H1. Tức là, tên cơ quan báo chí không ảnh hưởng đến thương hiệu cá nhân trong lĩnh  
vực báo chí.  
So với kết quả nghiên cứu trước của Schawbel (2010), kết quả của nghiên cứu này có  
điểm khác do đặc trưng của lĩnh vực báo chí ở Việt Nam. Schawbel (2010) cho rằng, Tên của  
cơ quan, đơn vị nào đó có ảnh hưởng, tác động đến Thương hiệu cá nhân của những người đang  
làm việc tại đó, chẳng hạn những người đang làm việc cho Google, Facebook, Intel có giá trị  
thương hiệu cá nhân thường cao hơn những đồng nghiệp đang làm việc cùng cấp tại các công  
ty X, Y, Z nào đó. Tuy nhiên, trong lĩnh vực báo chí Việt Nam, do đặc thù riêng, mức độ nhận  
thức về thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân của nhiều nhà báo có sự phân tán nên kết  
quả nghiên cứu xác định tên cơ quan báo chí không ảnh hưởng đến thương hiệu cá nhân trong  
lĩnh vực báo chí.  
Tên cơ quan báo chí có ảnh hưởng đến Hình ảnh cơ quan báo chí (H2)  
Mối quan hệ giữa “tên cơ quan báo chí” và “hình ảnh cơ quan báo chí” có ý nghĩa  
thống kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value = 0.000, <0,01); quan hệ này là thuận chiều (hệ số hồi  
quy=0.715), nghĩa là nhiều người biết đến tên cơ quan báo chí nhiều thì hình ảnh của cơ quan  
báo chí được nhiều người biết đến. Như vậy, giả thuyết H2 được chấp nhận.  
Mặc dù Tên của cơ quan báo chí tác động dương (+) lên Hình ảnh cơ quan báo chí,  
nhưng đó là bước đầu khi một người nghe/nhìn thấy Tên cơ quan báo chí và hình dung trong  
tâm trí về Hình ảnh cơ quan báo chí đó. Nhưng Hình ảnh cơ quan báo chí đó không phải là bất  
biến mà có thể thay đổi theo thời gian hoặc qua những sự kiện/vấn đề mà cơ quan báo chí đó  
phản ánh, thông tin, đánh giá. Có trường hợp, ban đầu Tên cơ quan báo chí tạo ra Hình ảnh cơ  
quan báo chí trong tâm trí mọi người rất tích cực nhưng qua một thời gian, với các hoạt động  
thực tế không mang lại hiệu quả tốt cho xã hội, mặc dù Tên cơ quan báo chí vẫn không thay  
đổi, nhưng Hình ảnh cơ quan báo chí đó trong tâm trí nhiều người bị giảm sút, có thể trở nên  
tiêu cực. Ngược lại, cũng có trường hợp, ban đầu Tên cơ quan báo chí tạo ra Hình ảnh cơ quan  
báo chí trong tâm trí mọi người không tích cực, nhưng qua hoạt động thực tế mang lại hiệu quả  
cao, được xã hội ghi nhận, mặc dù Tên cơ quan báo chí không thay đổi nhưng Hình ảnh cơ quan  
báo chí đó trong tâm trí của nhiều người thay đổi theo hướng tích cực.  
Nếu Tên cơ quan báo chí được duy trì, phát triển tích cực sẽ góp phần làm tăng giá trị,  
sức lan tỏa của Hình ảnh cơ quan báo chí.  
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Saraniemi và cộng sự  
(2010) về tầm quan trọng và sự tác động của Tên tổ chức đối với Hình ảnh và thương hiệu tổ  
chức. Nghiên cứu này xác định Tên cơ quan báo chí tác động dương đến Hình ảnh cơ quan báo  
chí, về bản chất là đúng với kết quả nghiên cứu của Saraniemi và cộng sự (2010).  
Tên cơ quan báo chí là yếu tố đầu tiên, tác động nhanh nhất vào tâm trí mọi người, sau  
đó chuyển thành Hình ảnh cơ quan báo chí. Do đó, Tên cơ quan báo chí thường ngay lập tức  
tạo ra Hình ảnh cơ quan báo chí trong tâm trí bạn đọc. Hình ảnh cơ quan báo chí có thể là tích  
cực, năng động, sáng tạo hay tiêu cực, thụ động, thiếu sáng tạo, … tùy thuộc một phần vào Tên  
cơ quan báo chí và những gì mà những con người đang làm việc trong cơ quan đó tạo ra.  
68 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
Tên cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Danh tiếng của cơ quan báo chí (H3)  
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa “tên cơ quan báo chí” và “danh tiếng  
cơ quan báo chí” có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value= 0.000, <0,01); quan hệ này  
là thuận chiều (hệ số hồi quy=0.327), nghĩa là Tên cơ quan được biết nhiều thì Danh tiếng của  
cơ quan đó được nâng lên. Như vậy, giả thuyết H3 được chấp nhận.  
Nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Ngo (2012) về thương hiệu báo chí  
vì xác định Tên cơ quan báo chí có tác động dương lên Danh tiếng cơ quan báo chí. Tên cơ  
quan báo chí được xem như một sự đảm bảo về danh tiếng. Khi Tên cơ quan báo chí xuất hiện  
trong tâm trí bạn đọc, hình ảnh và danh tiếng của cơ quan báo chí đó cũng sẽ xuất hiện trong  
tâm trí của họ, giúp họ xác định mức độ nổi tiếng để có sự tiếp cận, đánh giá phù hợp. Danh  
tiếng cơ quan báo chí càng lớn thì độ tin cậy của bạn đọc càng cao, nhờ đó, sức thu hút đối với  
bạn đọc cũng tăng lên.  
Tên cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Sự cam kết của cơ quan báo chí (H4)  
Mối quan hệ giữa “tên cơ quan báo chí” và “sự cam kết của CQBC” có P-value= 0.858  
với hệ số hồi quy= 0.009, giả thuyết này không có ý nghĩa thống kê. Như vậy, giả thuyết H4 bị  
bác bỏ, tức là Tên cơ quan báo chí không tác động đến Sự cam kết của cơ quan báo chí.  
Kết quả nghiên cứu này có điểm khác với nghiên cứu trước của Souiden và cộng sự  
(2006), Cretu và Brodie (2005) do đặc thù của lĩnh vực báo chí tại Việt Nam. Các nghiên cứu  
của Souiden và cộng sự (2006), Cretu và Brodie (2005) chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa  
Tên các doanh nghiệp, tập đoàn và Sự cam kết/lòng trung thành của nhân viên, khách hàng đối  
với các doanh nghiệp, tập đoàn đó. Trong đó, Souiden và cộng sự (2006), Cretu và Brodie  
(2005) cho rằng Tên công ty, tập đoàn có tác động dương (+) lên Sự cam kết/lòng trung thành  
của nhân viên, khách hàng đối với các doanh nghiệp, tập đoàn đó. Còn nghiên cứu này nghiên  
cứu về mối quan hệ giữa Tên của cơ quan báo chí và Sự cam kết của cơ quan báo chí đối với  
quyền lợi của nhân viên (là một trong những điểm mới của nghiên cứu này) trong lĩnh vực báo  
chí tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy Tên cơ quan báo chí không tác động đến Sự cam  
kết của cơ quan báo chí đối với quyền lợi của nhân viên.  
Hình ảnh cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Thương hiệu cá nhân của các nhà báo  
(H5)  
Mối quan hệ giữa “hình ảnh cơ quan báo chí” và “thương hiệu cá nhân” có P-  
value=0.224 nên không có ý nghĩa thống kê. Giả thuyết H5 không được chấp nhận, tức là Hình  
ảnh cơ quan báo chí không ảnh hưởng đến Thương hiệu cá nhân của các nhà báo.  
Kết quả của nghiên cứu này có điểm khác với nghiên cứu của Schawbel (2010).  
Schawbel nghiên cứu về sự tác động của Hình ảnh tổ chức nói chung (như công ty, tập đoàn,  
tổ chức truyền thông, …) đối với Thương hiệu cá nhân (gồm: lãnh đạo doanh nghiệp, tập đoàn,  
lãnh đạo tổ chức truyền thông,…). Kết quả nghiên cứu của Schawbel là Hình ảnh tổ chức tác  
động lên Thương hiệu cá nhân. Trong khi đó, nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về sự tác  
động của Hình ảnh cơ quan báo chí lên Thương hiệu cá nhân nhà báo. Kết quả của nghiên cứu  
này xác định Hình ảnh cơ quan báo chí không có tác động lên Thương hiệu cá nhân là phù hợp  
với đặc thù của nền báo chí cách mạng Việt Nam.  
Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74 69  
Hình ảnh cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Danh tiếng cơ quan báo chí (H6)  
Mối quan hệ giữa “hình ảnh CQBC” và “danh tiếng cơ quan báo chí” có ý nghĩa thống  
kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value= 0.000, <0,01); quan hệ này là thuận chiều (hệ số hồi quy=0.39),  
nghĩa là hình ảnh cơ quan báo chí càng lớn thì danh tiếng của cơ quan đó càng nhiều. Như vậy,  
giả thuyết H6 được chấp nhận.  
Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Souiden và cộng sự (2006), Pina và  
Martinez (2006) vì đều có xác định mối quan hệ giữa Hình ảnh tổ chức và Danh tiếng tổ chức  
trong thương hiệu. Các nghiên cứu của Souiden và cộng sự (2006), Pina và Martinez (2006)  
đều cho rằng, Hình ảnh tổ chức và Danh tiếng tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong  
đó Hình ảnh tổ chức tác động lên Danh tiếng tổ chức, làm tăng giá trị của thương hiệu tổ chức.  
Kết quả nghiên cứu định lượng của nghiên cứu này có đầy đủ các yếu tố để kết luận: Hình ảnh  
cơ quan báo chí tác động dương (+) lên Danh tiếng cơ quan báo chí.  
Hình ảnh cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Sự cam kết của cơ quan báo chí (H7)  
Mối quan hệ giữa “hình ảnh cơ quan báo chí” và “sự cam kết của cơ quan báo chí” có  
ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value=0.000, <0,01); quan hệ này là thuận chiều (hệ số  
hồi quy=0.203), nghĩa là hình ảnh của cơ quan báo chí được nhiều người biết đến thì sự cam  
kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí đó càng cao. Như vậy, giả thuyết H7 được chấp nhận.  
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu trước của Cretu và Brodie  
(2005), Pina và Matinez (2006) vì xác định được Hình ảnh cơ quan/tổ chức tác động dương (+)  
lên Sự cam kết của cơ quan/tổ chức đối với quyền lợi của nhân viên. Các nghiên cứu trước của  
Cretu và Brodie (2005), Pina và Matinez (2006) chỉ nghiên cứu chung về Hình ảnh cơ quan/tổ  
chức và Sự cam kết của cơ quan/tổ chức đối với nhân viên. Còn nghiên cứu này nghiên cứu về  
mối quan hệ giữa Hình ảnh cơ quan báo chí và Sự cam kết của cơ quan báo chí đối với quyền  
lợi của nhân viên. Tuy nhiên, nghiên cứu này và các nghiên cứu trước đều xác định được mối  
quan hệ giữa Hình ảnh tổ chức và Sự cam kết của tổ chức, trong đó Hình ảnh tổ chức (cơ quan  
báo chí) tác động lên Sự cam kết của tổ chức (cơ quan báo chí).  
Danh tiếng của cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực  
báo chí (H8)  
Mối quan hệ giữa “danh tiếng CQBC” và “thương hiệu cá nhân” có P-  
value=0.065<0.1, hệ số hồi quy=0.086 cho thấy đây là quan hệ thuận chiều, nghĩa là danh tiếng  
của cơ quan báo chí càng lớn thì những người làm trong cơ quan báo chí đó càng có thương  
hiệu (uy tín). Như vậy, giả thuyết H8 được chấp nhận.  
So với các kết quả nghiên cứu trước của Schawbel (2010), Souiden và cộng sự (2006),  
kết quả nghiên cứu này là phù hợp vì xác định được Danh tiếng cơ quan báo chí tác động dương  
(+) lên Thương hiệu cá nhân các nhà báo đang làm việc tại cơ quan báo chí đó. Các nghiên cứu  
của Schawbel (2010), Souiden và cộng sự (2006) đều cho rằng, Danh tiếng của tổ chức tác động  
lên Thương hiệu cá nhân của những người làm việc trong tổ chức đó. Ví dụ: Những tổ chức  
như: Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Tài chính Thế giới (IFC), Liên Hiệp quốc (UN), …  
đều là các tổ chức có danh tiếng toàn cầu. Do đó, giá trị thương hiệu cá nhân của những người  
làm việc trong các tổ chức này được nâng cao hơn so với những người làm việc trong các tổ  
70 Tô Đ. Tuân, Nguyễn M. Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 51-74  
chức ít danh tiếng hơn. Nghiên cứu này tập trung vào Danh tiếng cơ quan báo chí và Thương  
hiệu cá nhân nhà báo, nhưng kết quả cũng tương tự. Ví dụ: Những nhà báo làm việc trong các  
tập đoàn, tổ chức truyền thông lớn như: CNN, BBC, VTV, VOV, … thường có giá trị thương  
hiệu cá nhân cao hơn những nhà báo làm việc trong các tổ chức, cơ quan báo chí quy mô nhỏ,  
ít danh tiếng.  
Danh tiếng của cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Sự cam kết của cơ quan báo chí đối  
với quyền lợi của nhân viên (H9)  
Mối quan hệ giữa “danh tiếng cơ quan báo chí” và “sự cam kết của cơ quan báo chí”  
có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value= 0.000, <0,01); quan hệ này là thuận chiều (hệ  
số hồi quy=0.226). Biến “danh tiếng cơ quan báo chí” tác động dương (+) lên “sự cam kết của  
cơ quan báo chí”, nghĩa là danh tiếng của cơ quan báo chí càng lớn thì sự cam kết của cơ quan  
đó càng cao. Như vậy, giả thuyết H9 được chấp nhận.  
So với các nghiên cứu trước của Pina và Matinez (2006), Souiden và cộng sự (2006),  
kết quả nghiên cứu này là phù hợp vì xác định được Danh tiếng cơ quan báo chí tác động lên  
Sự cam kết của cơ quan báo chí. Các nghiên cứu trước của Pina và Matinez (2006), Souiden và  
cộng sự (2006) nghiên cứu về mối quan hệ giữa Danh tiếng tổ chức và Sự cam kết của tổ chức,  
trong đó xác định Danh tiếng tổ chức có tác động dương lên Sự cam kết của tổ chức. Nghiên  
cứu này nghiên cứu về mối quan hệ giữa Danh tiếng cơ quan báo chí và Sự cam kết của cơ quan  
báo chí, trong đó xác định Danh tiếng cơ quan báo chí có tác động dương (+) lên Sự cam kết  
của cơ quan báo chí, đều đó có nghĩa là những cơ quan báo chí nào càng có danh tiếng thì càng  
đảm bảo sự cam kết đối với quyền lợi của nhân viên. Mặc dù trong những giai đoạn khó khăn,  
sự thực hiện các cam kết này có thể bị ảnh hưởng nhưng nhìn chung các cơ quan báo chí có  
danh tiếng đều đảm bảo sự cam kết với nhân viên.  
Sự cam kết của cơ quan báo chí đối với quyền lợi của nhân viên ảnh hưởng đến  
Thương hiệu cá nhân nhà báo (H10)  
Mối quan hệ giữa “sự cam kết của cơ quan báo chí” và “thương hiệu cá nhân” có ý  
nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value=0.000, <0.01); quan hệ này là thuận chiều (hệ số  
hồi quy=0.234). Biến “sự cam kết của cơ quan báo chí” tác động dương (+) lên “thương hiệu  
cá nhân”, nghĩa là Sự cam kết của cơ quan báo chí đối với quyền lợi của nhân viên càng chắc  
chắn thì Thương hiệu cá nhân của nhân viên trong cơ quan báo chí càng lớn. Như vậy, giả  
thuyết H10 được chấp nhận.  
So với các nghiên cứu trước của Schawbel (2010), kết quả nghiên cứu này là hợp lý vì  
đã xác định được Sự cam kết của cơ quan báo chí tác động lên Thương hiệu cá nhân trong lĩnh  
vực báo chí. Bất cứ cá nhân nhà báo nào khi được làm việc trong các cơ quan báo chí có sự  
cam kết với nhân viên cũng đều hãnh diện và yên tâm công tác. Nghề báo vốn là nghề nhiều rủi  
ro, nguy hiểm, do đó những người làm báo cần có một chỗ dựa vững chắc về vật chất lẫn tinh  
thần cho bản thân và gia đình của họ. Các đồng nghiệp báo chí khi đánh giá lẫn nhau cũng nhìn  
nhận đồng nghiệp của mình đang làm việc tại một cơ quan đảm bảo hay không đảm bảo sự cam  
kết với nhân viên về quyền lợi.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 24 trang baolam 26460 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí: Trường hợp tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_thuong_hieu_to_chuc_va_thuong_hieu_ca_nhan.pdf