In ấn, xuất bản trong phát triển chữ quốc ngữ, báo chí và văn học ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

69  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC  
IN ẤN, XUẤT BẢN TRONG PHÁT TRIỂN CHỮ QUỐC  
NGỮ, BÁO CHÍ VÀ VĂN HỌC Ở NAM BỘ  
CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX  
NGUYỄN THỊ TRÚC BẠCH*  
Sự ra đời và phát triển của in ấn, xuất bản ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ  
XX có ý nghĩa và ảnh hưởng rất lớn đến xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa. Dựa  
trên các tác phẩm sách, báo chí, bài viết trình bày sự phát triển của in ấn, xuất  
bản ở Nam Bộ đã góp phần làm tăng số lượng tác phẩm văn học, công chúng  
có nhiều cơ hội để đọc và yêu thích văn học.  
Từ khóa: Nam Bộ, in ấn, xuất bản, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX  
Nhận bài ngày: 26/10/2021; đưa vào biên tập: 26/10/2021; phản biện: 27/10/2021;  
duyệt đăng: 21/11/2021  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
chủ ý của nhà cầm quyền Pháp, khởi  
điểm giai đoạn đầu tiên của lịch sử  
ngành in ấn, xuất bản hiện đại.  
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong  
bối cảnh Nam Bộ trở thành xứ thuộc  
địa của Pháp, xã hội diễn ra những Đó là thời kỳ ngành in ấn, xuất bản  
chuyển biến sâu sắc về chính trị, kinh chuyển từ kỹ thuật in thủ công sang  
tế và văn hóa. Sự ra đời của ngành in phương thức in ấn công nghiệp hiện  
ấn và xuất bản hiện đại đóng vai trò đại. In ấn, xuất bản thời kỳ này phát  
nền tảng, có tính chất quyết định đối triển nhanh chóng đã tạo điều kiện  
với quá trình hình thành và phát triển cho báo chí, văn học quốc ngữ ở Nam  
của báo chí và văn học quốc ngữ Bộ nở rộ, góp phần cho quá trình  
Nam Bộ.  
hoàn thiện chữ quốc ngữ, hiện đại  
hóa văn học nước nhà. Đến nay, in ấn,  
xuất bản là một trong những ngành  
công nghiệp văn hóa (thuộc nhóm  
truyền thông) được nhà nước quản lý,  
tạo điều kiện phát triển.  
Cuối thế kỷ XIX, ngành công nghiệp in  
ấn, xuất bản ở Nam Bộ ra đời theo  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
70  
NGUYỄN THỊ TRÚC BẠCH – IN ẤN, XUẤT BẢN TRONG PHÁT TRIỂN…  
2. SỰ RA ĐỜI CỦA IN ẤN, XUẤT 1961: 20-27). Vào những năm 1942-  
BẢN Ở NAM BỘ  
1944 ở Hà Nội, các sách có in kèm  
chữ Hán muốn nét chữ sắc nét, phần  
lớn các nhà xuất bản đều nhờ thợ  
khắc chữ Hải Dương, là người ở làng  
Hồng Liễu và Liễu Tràng.  
In ấn hay còn gọi là ấn loát (Printing)  
là quá trình tạo ra chữ (hoặc hình ảnh)  
trên chất liệu nền là giấy bằng mực in  
công nghiệp. In ấn được thực hiện với  
số lượng ấn bản lớn, quy mô công  
nghiệp. In ấn là một bộ phận quan  
trọng của ngành xuất bản (McHale,  
1995: 27-28). Xuất bản (Publishing) là  
việc phổ biến sách, báo chí hoặc  
thông tin. Xuất bản là hoạt động tổ  
chức các nội dung, hình thức, in ấn  
dưới dạng sách, báo, tạp chí để đông  
đảo công chúng có thể tiếp cận. Xuất  
bản là một trong những hoạt động lưu  
giữ và truyền bá các giá trị văn hóa  
trong lịch sử phát triển của nhân loại  
nói chung, quốc gia, vùng đất nói riêng.  
Trong Bích Câu kỳ ngộ, Hoàng Xuân  
Hãn (1964: 19) viết: ở Việt Nam ngày  
xưa không có một luật lệ nào liên  
quan đến nghề in và ấn loát. Bất cứ  
một thợ in nào cũng có quyền in và  
bán sách cho độc giả. Ở làng Liễu  
Tràng tỉnh Hải Dương những người  
thợ in khắc chữ trên một tấm gỗ dùng  
để in (loại gỗ tốt nhất là gỗ cây thị,  
không bị mọt). Vì những nhà xuất bản  
và độc giả thường rất nghèo nên sách  
được in trên những loại gỗ xấu, kích  
thước nhỏ. Khi tấm gỗ dùng nhiều sẽ  
bị mòn, người thợ in dùng lại bản sao  
và dán ngược lên trên tấm gỗ mới  
theo nét mực để in lại.  
Ở Việt Nam, từ thời nhà Lý đã có  
khắc bản in kinh, đến thời Hồ Quý Ly  
đã in tiền giấy. Lương Như Hộc  
(1420-1501) tự là Tường Phủ, sinh  
sống tại làng Hồng Liễu, huyện  
Trường Lân (nay là Thanh Liễu,  
huyện Gia Lộc) tỉnh Hải Hương được  
vinh danh là ông tổ của nghề in ở Việt  
Nam. Ông học kỹ thuật khắc bản gỗ in  
vào đời Lê Nhân Tông Thái Hòa sau  
hai lần đi sứ Trung Hoa (năm 1443)  
và 1459): “Hai lần phụng mạng đi sứ  
sang Tàu, được đi xem người Tàu  
khắc gỗ làm bản in, lúc đi sứ về dạy  
nghề này cho người trong làng dùng  
mũi dao cong, khắc những bản kinh  
Trước khi Pháp xâm lược, nghề in ấn  
và xuất bản chưa phát triển, phổ biến  
là loại bản in khắc gỗ chữ Hán, chữ  
Nôm. Một số người Hoa ở Chợ Lớn  
kinh doanh nghề in, họ nhập mẫu chữ  
rời từ Trung Hoa. Tuy nhiên, cách in  
chữ rời vẫn là in thủ công, hiệu quả  
không cao. Khi Pháp thiết lập bộ máy  
hành chính tại Nam Bộ, Pháp xác định  
dùng báo chí làm phương tiện giao  
tiếp giữa chính quyền và người dân  
địa phương, thì nhà in (giai đoạn đầu  
nhà in kết hợp nhà xuất bản) là một  
sứ có tiếng và in ra rồi”. “Làng Liễu trong những thứ ưu tiên hàng đầu  
Tràng ở cùng huyện cũng học nghề được thiết lập: “Một nhà thương, một  
ấy, đến nay vẫn thờ ông làm tôn sư” khách sạn cho quan Toàn quyền,  
những nhà ở cho quân đội, viên chức,  
(Nghiệp đoàn Nhà in và Nhà xuất bản,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
71  
nhà thờ và nhà in” (dẫn lại theo Trong Nam Kỳ phong tục diễn ca  
Nguyễn Văn Trung, 2015: 614). Nguyễn Liên Phong (2012: 133) từng  
Những công trình này được Thống khắc họa khung cảnh Sài Gòn những  
đốc Nam Kỳ Bonard thực hiện trong năm đầu thế kỷ XX với sự hiện diện  
18 tháng (từ tháng 11/1861 đến ngày của nhà in:  
30/4/1863).  
“Nhà in, nhà thuốc, nhà Chà  
Nhà hàng ăn ngủ với nhà Lạc-xon  
(Pauction).  
Năm 1862 Thống đốc Bonard gửi thư  
cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp yêu  
cầu chính phủ Pháp gởi thợ in và sắp  
chữ sang Việt Nam. Từ máy móc,  
mẫu chữ, mực in, giấy in đến thợ in  
đều được gởi từ Pháp sang. Năm  
1862, nhà in Imprimerie Impériale  
được thành lập, đây là nhà in đầu tiên  
của chính quyền thuộc địa tại Sài Gòn.  
Nhà in Imprimerie Impériale, sau đổi  
tên là Imprimrie, rồi Coloniale  
Imprimerie du Gouvernement… Theo  
Sách quan chế của Huỳnh Tịnh Của,  
Nhà in Nhà nước in cho cả Đông  
Dương, các cơ quan địa phương trả  
tiền.  
Chỗ ăn, chỗ ngủ đều ngon,  
Thong thả lại còn uống rượu đánh  
lăng.  
Phong lưu cách điệu ai bằng,  
Đường đi trơn láng đèn giăng sáng  
lòa…”.  
Bên cạnh nhà in gắn với nhà xuất  
bản, còn có hoạt động của các thư  
quán, thư xã, ấn quán. Đến đầu thế kỷ  
XX, ngày càng có nhiều nhà in ra đời  
ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1901, Sài  
Gòn - Chợ Lớn có khoảng 20 nhà in.  
Lúc đầu, các nhà in chủ yếu in các tài  
liệu và báo chí, về sau in truyện Tàu,  
truyện Tây, truyện Nôm dịch ra chữ  
quốc ngữ. Có thể thấy thời kỳ này  
nghề in thu nhiều lợi nhuận, kinh  
doanh nghề in nhanh chóng phát đạt.  
Nghề in ở Sài Gòn phát đạt vì sách  
báo in ra, nhất là truyện thơ, tiểu  
thuyết phát hành khắp lục tỉnh Nam  
Kỳ.  
Các cơ sở in đầu tiên do người Pháp  
và các tổ chức Công giáo làm chủ,  
mãi đến đầu thế kỷ XX mới có một số  
nhà in do người Việt và người Hoa  
làm chủ, tuy nhiên giấy phép hoạt  
động phải mua lại của người Pháp,  
đội ngũ thợ in được đào tạo trong các  
nhà in của người Pháp.  
Sự phát triển của nghề in đã làm nở  
rộ hoạt động xuất bản ở Nam Bộ.  
Thời gian đầu, hoạt động của nhà in  
và phát hành chủ yếu do chính quyền  
và chủ các tờ báo. Về sau, khi văn  
học quốc ngữ phát triển (đặc biệt là  
tiểu thuyết quốc ngữ), công việc của  
nhà xuất bản, nhà in chủ động, linh  
hoạt hơn, với cách thức kinh doanh:  
Năm 1864, nhà in Nhà Chung  
(Imprimerie de la Mission, sau đổi  
thành Nhà in Tân Định) ra đời. Đây là  
nhà in đầu tiên ở Nam Bộ (1864-1870)  
do Đinh Thái Sơn - người Việt - làm  
chủ. Ban đầu chủ yếu in, xuất bản các  
kinh sách truyền đạo bằng mẫu tự  
Latinh, về sau nhà in đã in từ điển,  
sách biên khảo, tác phẩm văn học…  
72  
NGUYỄN THỊ TRÚC BẠCH – IN ẤN, XUẤT BẢN TRONG PHÁT TRIỂN…  
nhà xuất bản mua bản quyền, rồi thuê các tỉnh Nam Bộ. Ở Sa Đéc có nhà in  
in ấn và tự phát hành; nhà in kiêm M. Hà Phước Tường, Cần Thơ có  
luôn chức năng xuất bản và phát hành; nhà in Imprimerie de l’Ouest, Bến Tre  
tác giả tự bỏ tiền ra lo cả chuyện in ấn có nhà in của ông Võ Văn Vân và nhà  
và xuất bản. Lúc bấy giờ, các nhà in Bùi Văn Nhẫn. Tác giả Võ Văn  
xuất bản, nhà in hoạt động khá nhạy Nhơn (2007: 156) trong công trình  
bén trong kinh doanh. Họ nắm bắt Văn học quốc ngữ trước năm 1945  
được thị hiếu độc giả chủ yếu thông cho biết Nữ Lưu Thơ Quán của Phan  
qua thị trường báo chí. Phần lớn các Thị Bạch Vân: “Lựa chọn để bán ra  
tiểu thuyết nhiều kỳ giới thiệu trên báo cho cả thảy chị em bạn gái bằng cái  
nhằm thu hút độc giả, sau đó được in giá thật hạ những truyện sách xuất  
ấn, xuất bản phổ biến.  
bản trong xứ, có ích cho tinh thần  
đạo đức và nền luân lý nước nhà,  
giúp cho trí thức nữ lưu được chóng  
mở học vấn thêm cao. Trước tác,  
sưu tầm dịch thuật và lãnh xuất bản  
những cảo văn thật sự có giá trị về  
chánh trị, lịch sử, truyện ký, tiểu  
thuyết, phụ nữ vấn đề, nữ công, văn  
học, khoa học, thương mãi và thiệt  
nghiệp”. Nữ Lưu Thơ Quán tồn tại chỉ  
hai năm nhưng đã đóng góp đáng kể  
trong việc xuất bản nhiều tác phẩm có  
giá trị, góp phần truyền bá tư tưởng  
tiến bộ, dân chủ, những kiến thức  
khoa học cho thanh niên, đặc biệt cho  
nữ giới.  
Từ năm 1920 đến 1940, số nhà in ở  
Sài Gòn tăng lên gấp 4 lần (gần 80 cơ  
sở in), có những nhà in chỉ tồn tại  
trong vòng một vài năm rồi đóng cửa  
hoặc sáp nhập vào các cơ sở khác.  
Theo tư liệu lưu trữ của Sở Văn hóa  
Thông tin TPHCM (2001), từ năm  
1862 đến 1932 tại Sài Gòn có khoảng  
73 nhà in gồm các doanh nghiệp chủ  
yếu là Pháp, Việt và Hoa. Các nhà in  
của người Hoa và Việt chiếm trên  
60%. Thị trường in ấn, xuất bản ở Sài  
Gòn phát triển đã mang đến cho các  
nhà tư sản người Việt, doanh nghiệp  
Việt cơ hội làm giàu từ kinh doanh in  
ấn, xuất bản. Trong Sài Gòn năm xưa  
(2018), Vương Hồng Sển từng kể  
đến “Ba nhơn vật đại diện nhóm kinh  
doanh thương mãi”, ấn loát, khuếch  
trương kinh tế là Đinh Thái Sơn,  
Nguyễn Văn Viết (phụ trách in tờ Phụ  
Nữ Tân Văn - 1929), Nguyễn Văn  
Của (phụ trách in tờ Lục Tỉnh Tân  
Văn thay cho F.H. Schneider từ năm  
1920).  
Những nhà in kiêm nhà xuất bản có  
uy tín như: F.H. Schneider, de l’Union,  
Nguyễn Văn Viết, Xưa Nay, Bảo Tồn,  
Đức Lưu Phương, Tín Đức Thư Xã…  
góp phần không nhỏ cho sự phát triển  
của báo chí, đưa văn học đến với  
công chúng Nam Bộ lúc bấy giờ.  
3. IN ẤN, XUẤT BẢN Ở NAM BỘ  
CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX –  
TIỀN ĐỀ QUAN TRỌNG CHO SỰ  
PHÁT TRIỂN CỦA CHỮ QUỐC NGỮ,  
BÁO CHÍ VÀ VĂN HỌC  
Bên cạnh các nhà in, xuất bản ở Sài  
Gòn, các cơ sở in cũng xuất hiện ở  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
73  
3.1. In ấn, xuất bản là nền tảng phát đăng quyết định, nghị định, mệnh lệnh.  
triển báo chí quốc ngữ Nam Bộ  
Riêng tờ Le Courrier de Saigon (Sài  
Gòn Thời Báo), phát hành ngày  
1/1/1864, ngoài đăng những công văn,  
nghị định của chính quyền Pháp, báo  
còn chú ý đề cập đến những tin tức xã  
hội, mỗi số có phụ trang văn học hoặc  
lịch sử. Sau một thời gian phát hành  
báo tiếng Pháp tại Nam Bộ, Pháp  
nhận ra báo chí vẫn chưa thu hút sự  
chú ý của toàn xã hội. Do bấy giờ, đại  
đa số người dân bản xứ chưa biết  
tiếng Pháp. Báo chữ Hán chỉ phổ biến  
trong giới quan lại triều Nguyễn và số  
ít trí thức Nho học. Chính sự bất cập  
đó, Pháp quyết định in ấn, xuất bản  
báo quốc ngữ.  
Trong Print and Power (In ấn và  
quyền lực) Shawn Frederick McHale  
(1995: 13) đã viết: “Chính quyền thuộc  
địa Pháp cần rất nhiều tài liệu in ấn  
(mẫu đơn, hóa đơn, báo cáo…) để  
hoạt động một cách trôi chảy (có  
người đã cho rằng chính phủ thực dân  
cần giấy nhiều như vũ khí để giữ  
người dân dưới sự kiểm soát của họ”.  
Theo tác giả, sự ra đời của văn hóa in  
ấn (print culture) ở Việt Nam thế kỷ  
XX là một bước chuyển quan trọng,  
đánh dấu sự dịch chuyển mô thức  
giao tiếp giữa chính quyền và người  
dân trong xã hội. Sự ra đời của in ấn  
đã mở ra những không gian mới, diễn  
đàn mới, phong trào dân chủ mới cho  
người Việt Nam, dù chưa thật mạnh  
mẽ (McHale, 1995: 7-10). Shawn  
Frederick McHale dùng thuật ngữ  
“Public sphere” (không gian công) của  
Jurgen Habermas để luận giải về  
những giá trị truyền thông, xã hội mà  
in ấn đã mang đến cho con người  
vùng đất này.  
Có thể nói, không phải những tác  
phẩm văn chương, mà báo chí mới  
chính là phương tiện đầu tiên phổ  
biến rộng rãi chữ quốc ngữ ở Nam Bộ.  
Gia Định Báo, tờ báo quốc ngữ ra đời  
ngày 15/4/1865, đánh dấu sự mở đầu  
của lịch sử báo chí Việt Nam. Sau đó,  
các tờ báo khác lần lượt xuất hiện:  
Nhật Trình Nam Kỳ (1883), Bảo Hộ  
Nam Dân (1888), Thông Loại Khóa  
Trình (1888), Đại Nam Đồng Văn Nhật  
Báo (1892), Phan Yên Báo (1898),  
Nông Cổ Mín Đàm (1901), Lục Tỉnh  
Tân Văn (1907), Công Luận Báo  
(1916)… và đến năm 1930 có 80 tờ  
báo và tạp chí lưu hành trong cả nước,  
riêng ở Sài Gòn phát hành 50 tờ. Sài  
Gòn - Gia Định là mảnh đất màu mỡ  
của báo chí. Chữ quốc ngữ đến với  
Nam Bộ sớm hơn, nên báo chí quốc  
ngữ trở thành món ăn tinh thần thiết  
Với máy in và một số thợ in đã chuẩn  
bị từ trước, ngày 29/9/1861 Thống  
đốc Bonard cho xuất bản tờ Le  
Bulletin officiel de l’Expédition de la  
Cochinchine (Nam Kỳ Viễn Chinh  
Công Báo). Đây là tờ tuần báo tiếng  
Pháp đầu tiên xuất bản tại Nam Bộ.  
Tờ báo là phương tiện thông tin giữa  
nhà cầm quyền Pháp với sĩ quan, binh  
lính, tay sai và người dân bản xứ. Nội  
dung chính nhằm thông báo những  
hoạt động của Thống đốc Nam Kỳ; yếu của công chúng nhiều tầng lớp.  
74  
NGUYỄN THỊ TRÚC BẠCH – IN ẤN, XUẤT BẢN TRONG PHÁT TRIỂN…  
Ấn tượng mà người đọc dễ dàng nhận người Việt, song chủ yếu là người  
Việt. Mỗi số báo trước khi phát hành  
đều phải thông qua Ty Kiểm duyệt. Ty  
Kiểm duyệt phát hiện tờ báo nào có  
khuynh hướng chống Pháp thì lập tức  
bị đình bản hoặc đóng cửa nhà in,  
xuất bản.  
thấy là buổi đầu của báo chí Nam Bộ  
dung nạp tất cả mọi dạng thông tin, từ  
tác phẩm văn chương đến chuyện  
thương mại, khoa học, tôn giáo, y tế,  
quảng cáo…  
Hai thập niên đầu của thế kỷ XX, Sắc  
luật báo chí (ban hành ngày  
30/12/1898) đã kiểm soát các hoạt  
động của báo chí quốc ngữ ở Nam  
Bộ. Chính quyền thực dân Pháp dựa  
vào luật để ngăn cản sự ra đời của  
báo chí quốc ngữ. Báo chí quốc ngữ  
giai đoạn này chủ yếu do người Pháp  
sáng lập, chịu trách nhiệm xuất bản và  
người Việt giữ vai trò chủ bút. Tiêu  
biểu như tờ Nông Cổ Mín Đàm ra đời  
vào năm 1901, chủ nhân là  
Canavaggio (người Pháp), chủ bút là  
Lương Khắc Ninh tự Dủ Thúc. Lục  
Tỉnh Tân Văn phát hành năm 1907,  
chủ nhân là F.H. Schneider (người  
Pháp gốc Đức), chủ bút là Trần Nhựt  
Thăng (tức G. Chiếu). Công Luận Báo  
xuất bản năm 1916, chủ nhân là  
Lucien Héloury (người Pháp), chủ bút  
là Trương Duy Toản… Từ năm 1920,  
tình hình báo chí quốc ngữ tại Nam  
Bộ có những chuyển biến đáng kể. A.  
Sarraut đề xướng việc mở rộng nền  
báo chí thuộc địa và quyết dùng báo  
chí để cải biến xã hội. Với ông, “một  
tờ báo, một ngọn bút, dễ còn có cái  
nguyên động lực nào bằng” (NGC,  
1930). Theo đó, chính quyền thực dân  
Pháp mở rộng việc cấp giấy phép  
phát hành báo chí quốc ngữ. Những  
người sáng lập báo quốc ngữ giai  
So với hai thập niên đầu của thế kỷ  
XX số lượng báo quốc ngữ ở thập  
niên thứ ba tăng lên gấp ba lần. Báo  
chí giai đoạn này phát triển mạnh về  
số lượng lẫn chất lượng. Bên cạnh sự  
phát triển của báo chí, văn học quốc  
ngữ nói chung, tiểu thuyết nói riêng có  
những bước phát triển. Có thể nói,  
giai đoạn phát triển của báo chí quốc  
ngữ cũng là thời kỳ đầu nở rộ của văn  
học quốc ngữ Nam Bộ (tiểu thuyết,  
đoản thiên tiểu thuyết, phê bình văn  
học).  
3.2. Góp phần phổ cập và phát triển  
chữ quốc ngữ  
Cuối thế kỷ XIX, bên cạnh sự ra đời  
liên tục của báo chí Pháp ngữ, nhà  
cầm quyền quyết định cấp giấy phép  
xuất bản cho báo quốc ngữ như Gia  
Định Báo, Phan Yên Báo. Ngày  
14/2/1901 Thống đốc Paul Doumer  
ban hành nghị định “chuẩn cho ông  
Canavaggio lập nhựt trình Nông Cổ in  
chữ quốc ngữ và chữ Nho” (Nông Cổ  
Mín Đàm, số 1 ngày 1/8/1901). Hơn 5  
tháng sau, ngày 1/8/1901 tờ Nông Cổ  
Mín Đàm phát hành số đầu tiên. Nông  
Cổ Mín Đàm tích cực tham gia phong  
trào phổ biến chữ quốc ngữ bằng  
những tác phẩm dịch từ truyện Tàu,  
truyện Pháp sang chữ quốc ngữ như:  
đoạn này gồm cả người Pháp và Tam quốc chí tục dịch của P.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
75  
Canavaggio (1901), Tiền căn báo hậu Báo chí quốc ngữ những thập niên  
của Trần Chánh Chiếu (1907), đầu thế kỷ XX còn khuyến khích độc  
Rocambole Tome V. Les drames de giả tham gia viết báo. Những tờ báo  
Paris của Lê Hoằng Mưu (1912)…  
lớn lúc bấy giờ như Nông Cổ Mín  
Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, Công Luận  
Báo, Đông Pháp Thời Báo đều có mục  
Tự do diễn đàn, Thư tín dành cho độc  
giả. Bạn đọc có thể gởi đăng báo  
những bài thuộc thể tùy bút, bài phát  
biểu cảm nghĩ, bình phẩm tác phẩm  
mới. Điều này phản ánh tình hình báo  
chí khuyến khích quốc dân đọc, hiểu  
và viết văn quốc ngữ.  
Tiếp theo Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh  
Tân Văn, Công Luận Báo lần lượt  
được xuất bản. Báo chí quốc ngữ cổ  
động phong trào phổ biến, phát triển  
chữ quốc ngữ bằng những bài xã luận  
như: Khuyên học chữ quốc ngữ của  
J.B. Bùi Minh Đường (Lục Tỉnh Tân  
Văn, số 118 ngày 28/4/1910); Chấn  
chỉnh quốc văn của Tỉnh Tâm (Lục  
Tỉnh Tân Văn, số 1143 đến 1147  
ngày 19/5/1922); Tiếng Annam. Tiêu  
một thứ tiếng, nát một dân tộc. Muốn  
học tiếng Annam phải học nơi nào?  
Nên bảo tồn tiếng Annam hay là nên  
bảo tồn chữ Hán của Văn (Lục Tỉnh  
Tân Văn, số 1451 ngày 5/6/1923);  
Văn quốc ngữ nước Nam ta mai sau  
này hay dở cùng chữ quốc ngữ của  
Nguyễn Văn Hộ (Công Luận Báo, số  
74/3 đến 78/7 ngày 7/3/1924); Quốc  
văn hồn, Annam chữ nghĩa có sẵn,  
tiếng nói không nghèo của Đặng Thúc  
Liêng (Đông Pháp Thời Báo, số 2  
ngày 4/5/1923)… Nội dung chính của  
những bài xã luận này nhằm cổ động  
cho phong trào quảng bá chữ quốc  
ngữ. Trước những hoạt động công  
khai phổ biến, phát triển chữ quốc  
ngữ của báo chí quốc ngữ, một số tờ  
báo Pháp ngữ do người Việt chịu  
Vai trò của in ấn, xuất bản cần được  
xác lập là phổ biến, phát triển chữ  
quốc ngữ. Sự ra đời của in ấn, xuất  
bản không chỉ góp phần tăng sự hiện  
diện của các tờ báo, mà còn giúp  
công chúng Nam Bộ dễ dàng tiếp cận  
báo chí, phổ biến và hoàn thiện chữ  
quốc ngữ.  
3.3. Tính kết nối của in ấn, xuất bản:  
nhà văn, tác phẩm và độc giả  
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, báo  
chí quốc ngữ đã thu hút đội ngũ làm  
báo, viết văn bằng chữ quốc ngữ. In  
ấn, xuất bản là tiền đề cho sự phát  
triển của báo chí quốc ngữ, đồng thời  
có vai trò kết nối đại chúng quan  
trọng giữa nhà văn - tác phẩm - độc  
giả. Trước kia, khi kỹ thuật in ấn  
chưa phát triển, để nhân bản các  
cuốn sách chỉ có thể bằng cách chép  
tay. Những thập niên đầu thế kỷ XX,  
trách nhiệm tại Sài Gòn cũng bắt đầu cùng với sự nở rộ của báo chí, các  
tác phẩm văn học được in ấn, xuất  
bản với số lượng nhiều chưa từng có  
so với trước đó. Cụ thể, từ 1915 đến  
1932 đã có biết bao thay đổi trên thị  
dạy chữ Pháp, hướng dẫn dịch chữ  
Pháp sang chữ quốc ngữ trên báo,  
như tờ Echo Annamite (1920), Essor  
Indochinois (1926)…  
76  
NGUYỄN THỊ TRÚC BẠCH – IN ẤN, XUẤT BẢN TRONG PHÁT TRIỂN…  
trường văn chương Nam Bộ. Từ việc Nhà văn Phú Đức từng than phiền: “…  
chỉ mới xuất hiện vài đầu sách tiểu Muốn làm ra một quyển sách có giá trị,  
thuyết chưa thu hút được nhiều độc  
giả (năm 1915), thì đến năm 1932 chỉ  
riêng tiểu thuyết và đoản thiên tiểu  
thuyết của các nhà văn đăng trên báo  
và xuất bản thành sách đã lên đến  
con số ngàn. Theo thống kê của  
chúng tôi số tác phẩm văn xuôi được  
xuất bản những năm này đã lên đến  
553 cuốn. “Đương buổi bấy giờ sách  
quốc ngữ ở nước ta rất phồn thạnh,  
mỗi ngày mỗi thấy xuất bản, ta cứ  
trông lên báo chương, tạp chí, bốn  
chữ “Giới thiệu sách mới” tuần nào  
cũng có thì đủ biết ngay” (Hồng Tiêu,  
1924).  
nhà văn nhơn có tâm với xã hội, tốn  
biết bao huyết hảng công phu, thì làm  
xong rồi nhà in thì in đắt như thế, nhà  
lãnh bán thì ăn hoa hồng quá tệ như  
thế, thì còn ai dám nghĩ đến xuất bản,  
mà xuất bản tiền đâu? Cái hại nền văn  
học nước ta không phát đạt được, các  
ông có thể từ được cái lỗi của các ông  
không?  
Vẫn biết rằng mình đem tiền dựng  
máy in, không lẽ mình in phá giá, song  
lợi nhiều mà chỉ một lần, sao bằng lời  
ít mà thầu được nhiều lần, nhà trước  
thuật đối với ông như da với thịt, các  
ông không nên để cho người ta phiền  
trách, tính rẻ một phân người ta nhờ  
được một phân, một mai dân trí được  
sáng sủa, xã hội được vẻ vang, nền  
văn học kia các ông làm một bực công  
thần trong đó vậy…”.  
Các nhà in Đức Lưu Phương, Bảo  
Tồn, Nguyễn Văn Viết, Xưa Nay, Tín  
Đức Thư Xã, Thạch Thị Mậu… chủ  
động tìm kiếm các bản thảo để in ấn,  
xuất bản. Trên Công Luận Báo (số  
105 ngày 3/6/1925) nhà in Lê Mai  
đăng quảng cáo mua bản thảo tiểu  
thuyết như sau:  
Sự kết hợp giữa các nhà in, xuất bản  
và nhà văn bên cạnh những lợi ích  
kinh tế, còn góp phần đưa tác phẩm  
đến với công chúng, đáp ứng nhu cầu  
của công chúng. Người dân Nam Bộ  
từ chỗ xa lạ với văn học quốc ngữ dần  
dà trở nên quen thuộc và yêu thích.  
“Mua mão tiểu thuyết  
Cùng chư văn sĩ  
Nếu vị nào soạn được một cuốn tiểu  
thuyết tình mà là tình cao thượng, tôi  
xin đền ơn hai mươi bạc (20$00) để  
nhậu trà chơi. Viết hai mươi trương  
giấy (viết một mặt) thứ giấy men  
thường của học trò đó.  
Sự phát triển của in ấn, xuất bản đã  
góp phần thúc đẩy sự phát triển của  
báo chí, văn học quốc ngữ ở Nam Bộ  
lúc bấy giờ.  
... Khi viết xong xin gửi ngay đến quán  
Công Luận, cậy đăng vào báo; nếu  
mà quyển nào hay, tôi sẽ chịu mua  
liền, đặng in ra mà bán...  
4. KẾT LUẬN  
In ấn, xuất bản là nền tảng truyền  
thông cho sự ra đời và phát triển của  
báo chí quốc ngữ Nam Bộ; góp phần  
phổ biến, phát triển và hoàn thiện chữ  
Lê Mai”  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
77  
quốc ngữ của báo chí, tác phẩm viết xuất bản góp phần thúc đẩy sáng tác,  
bằng quốc ngữ. In ấn, xuất bản cùng gia tăng số lượng tác phẩm giới thiệu  
với các tùng thư, thư quán, văn xã có đến công chúng đọc và yêu thích văn  
vai trò kết nối nhà văn, tác phẩm và học ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế  
công chúng. Chính các cơ sở in ấn và kỷ XX.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Hoàng Xuân Hãn. 1964. Bích Câu kỳ ngộ. Huế: Viện Đại học Huế.  
2. Hồng Tiêu. Muốn quốc văn có giá trị ta phải làm thế nào. Đông Pháp Thời Báo, số  
ngày 29/10/1924.  
3. McHale, Shawn Frederick. 1995. Print, Power, and the Transformation of Vietnamese  
Culture 1920-1945. Cornell University, p.13.  
4. NGC. “Tình hình báo giới ở xứ ta ngày nay”. Nữ Giới Chung, số 14 ngày 10/9/1930.  
5. Nghiệp đoàn Nhà in và Nhà xuất bản. 1961. Niên giám Nghiệp đoàn Nhà in và Nhà  
xuất bản. Sài Gòn.  
6. Nguyễn Liên Phong. 2012. Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca. Hà Nội: Nxb. Văn  
học.  
7. Nguyễn Văn Trung. 2015. Hồ sơ về lục châu học. TPHCM: Nxb. Trẻ.  
8. Nông Cổ Mín Đàm. Số 1 ngày 1/8/1901.  
9. Paulus Huỳnh Tịnh Của. 1888. Sách quan chế. Sài Gòn: Nhà in Nhà Nước.  
10. Phú Đức. 1927. “Mấy điều khó khăn cho nền văn học nước nhà”. Công Luận Báo,  
số 580 ngày 23/3/1927.  
11. Sở Văn hóa Thông tin TPHCM, 2001, Tài liệu nội bộ.  
12. Trần Hữu Quang. 2015. Xã hội học báo chí. TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia  
TPHCM.  
13. Võ Văn Nhơn. 2007. Văn học quốc ngữ trước 1945. TPHCM: Nxb. Tổng hợp  
TPHCM.  
14. Vương Hồng Sển. 2018. Sài Gòn năm xưa. TPHCM: Nxb. Tổng hợp TPHCM.  
pdf 9 trang baolam 26820 Free
Bạn đang xem tài liệu "In ấn, xuất bản trong phát triển chữ quốc ngữ, báo chí và văn học ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfin_an_xuat_ban_trong_phat_trien_chu_quoc_ngu_bao_chi_va_van.pdf