Giáo dục khởi nghiệp: Kinh nghiệm từ Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

Working Paper 2021.1.3.10  
- Vol 1, No 3  
GIÁO DỤC KHỞI NGHIỆP:  
KINH NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM  
Vi Quý Vương1, Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thị Ngọc Mai, Đỗ Hoàng Phương Nhi  
Sinh viên CTTT KT - K57 – Viện KT & KDQT  
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam  
Nguyễn Thị Hải Yến  
Giảng viên Khoa Kinh tế Quốc tế  
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam  
Tóm tắt  
Công nhận tính xu thế và tầm quan trọng của khởi nghiệp trong bối cảnh hiện tại, Chính phủ đề ra  
tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành “quốc gia khởi nghiệp.” Để đạt được mục tiêu, giáo dục khởi  
nghiệp tại các cơ sở đào tạo, đặc biệt ở bậc đại học, đóng vai trò thiết yếu. Tuy vậy, loại hình giáo  
dục còn “non trẻ” tại Việt Nam này chưa phát huy được điểm mạnh để tận dụng cơ hội, vượt qua  
thách thức. Với mục đích đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng cải thiện cho Việt Nam, bài  
viết áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của  
mô hình giáo dục khởi nghiệp của Trung Quốc; từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm cho chính  
quyền, cơ sở đào tạo và xã hội, phù hợp với những cơ hội, thách thức hiện có tại Việt Nam.  
Từ khóa: Giáo dục khởi nghiệp, sinh viên Việt Nam khởi nghiệp, mô hình giáo dục khởi nghiệp  
Trung Quốc.  
ENTREPRENEURSHIP EDUCATION:  
A CASE STUDY OF CHINA AND LESSONS FOR VIETNAM  
Abstract  
Acknowledging the current importance of startup activities, the Vietnamese government drafted up  
a vision of becoming a "start-up nation". To achieve this goal, entrepreneurship education at training  
institutions, especially at the university level, plays a pivotal role. However, this newly introduced  
type of education in Vietnam has not realized its full potential to take advantage of opportunities  
and overcome challenges. With the aim of assessing the current situation and offering suggestions  
for improvement, this article applied the case study method to analyze the strengths and weaknesses  
1 Tác giả liên hệ, Email: [email protected]  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 139  
of China's entrepreneurship education model; thereby providing lessons for Vietnamese authorities,  
training institutions and society, in line with the present opportunities and challenges in Vietnam.  
Keywords: China’s entrepreneurship education model, entrepreneurship education, Vietnamese  
students’ startpup activities.  
1. Đặt vấn đề  
Khởi nghiệp là một trong những yêu cầu bắt buộc của thời đại toàn cầu hóa và công nghệ thông  
tin. Để theo kịp xu thế thời đại và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng trên thế giới, các nước  
đang phát triển cần chú trọng vào công cuộc sáng tạo và đổi mới mà một trong những yếu tố quan  
trọng nhất là khởi nghiệp. Nhận thức được vấn đề này, năm 2016 ở Việt Nam được xác định là  
“Năm quốc gia khởi nghiệp” - thể hiện quyết tâm cao độ của Chính phủ trong việc thúc đẩy phong  
trào và tinh thần toàn dân khởi nghiệp. Để đạt được mục tiêu, các cơ sở đào tạo, đặc biệt là bậc đại  
học, đóng vai trò quan trọng, bởi đây là nơi “sản sinh” ra nguồn nhân lực chính chất lượng cao cho  
hoạt động khởi nghiệp của mọi quốc gia (Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 2018).  
Song, giáo dục khởi nghiệp ở Việt Nam chưa tận dụng các ưu thế đồng thời vượt qua những  
thách thức của thời cuộc (Thái và Lý, 2018). Trong khi đó, quốc gia láng giềng của Việt Nam -  
Trung Quốc đã và đang thu về được một số thành tựu nhất định trong giáo dục khởi nghiệp. Những  
tương đồng về đặc điểm kinh tế, xã hội giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ có ý nghĩa to lớn trong  
việc học tập mô hình giáo dục khởi nghiệp của quốc gia đông dân này, từ đó phát triển, đẩy mạnh  
hoạt động giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục khởi nghiệp  
ở Việt Nam và phân tích mô hình giáo dục khởi nghiệp ở Trung Quốc, bài viết xác định những điểm  
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức khi Việt Nam học tập các mô hình nêu trên, đồng thời đưa ra  
một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Giáo dục khởi nghiệp  
2.1.1. Khái niệm  
Giáo dục khởi nghiệp là sự truyền tải tư duy, kiến thức và kỹ năng gắn với khởi nghiệp, đồng  
thời, nó cũng phản ánh các chương trình giáo dục và đào tạo tại các cơ sở giáo dục các cấp (Cục  
Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 2018). Có thể nói, giáo dục khởi nghiệp cung cấp  
cho học sinh, sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần có để tạo lập một doanh nghiệp trong  
tương lai (Phạm, 2016). Giáo dục khởi nghiệp bao gồm nhiều hoạt động khác nhau: nghiên cứu,  
hoạt động ngoại khóa, xây dựng chương trình dạy và học, và các vấn đề khác liên quan.  
2.1.2. Mục tiêu  
Theo Cục Thông tin và Khoa học Công nghệ Quốc gia (2018), giáo dục khởi nghiệp cần đạt  
được ít nhất ba mục tiêu ngắn hạn để quá trình khởi nghiệp diễn ra thành công.  
Thứ nhất, giáo dục khởi nghiệp cần cung cấp, nâng cao tri thức về khởi nghiệp trong sinh  
viên; đồng thời khuyến khích, khích lệ sinh viên phát triển những kỹ năng cá nhân như chủ động,  
sáng tạo, … Bên cạnh đó, đào tạo khởi nghiệp không chỉ cung cấp kiến thức mà còn giúp sinh viên  
nhìn nhận và có tư duy rõ ràng về tầm quan trọng của khởi nghiệp và các doanh nghiệp trong xã  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 140  
hội; liên hệ với giới kinh doanh để đảm bảo sinh viên được sớm tiếp xúc và trau dồi tri thức từ các  
doanh nhân nói chung và các doanh nhân khởi nghiệp nói riêng.  
Thứ hai, cần có sự chuyển giao cách thức tiếp cận khởi nghiệp đối với nguồn lực tiềm năng.  
Sự chuyển giao này cần diễn ra với cả những lao động không có hoặc chưa có ý định khởi nghiệp  
nhằm toàn diện hóa tri thức, kỹ năng cần có của một lao động trong doanh nghiệp.  
Thứ ba, bồi dưỡng về nhân cách và thái độ của sinh viên trên cương vị là những doanh nhân  
tương lai, đồng thời cũng cần nâng cao năng lực cần thiết để trở thành một nhà doanh nghiệp đứng  
đầu như: năng lực lãnh đạo, năng lực giao tiếp, giải trình, ...  
2.1.3. Lịch sử phát triển  
Khóa học khởi nghiệp đầu tiên được diễn ra tại Đại học Harvard (Mỹ) vào năm 1947. Kể từ  
đó, các chương trình giáo dục khởi nghiệp được tiếp nhận rộng rãi và lan truyền trên một quy mô  
toàn cầu. Với tốc độ lan rộng vô cùng nhanh chóng này, các tổ chức lớn trên thế giới như OECD,  
Ủy ban châu, UNESCO đều công nhận giá trị của khởi nghiệp và giáo dục khởi nghiệp. Không chỉ  
được đón nhận rộng rãi, giáo dục khởi nghiệp còn được đa dạng hóa dưới nhiều hình thức, mô  
hình như: mô hình giáo dục thực hiện khởi nghiệp (mô hình E/P), mô hình giáo dục khởi nghiệp  
(mô hình E/E), giáo dục để cải thiện mô hình thực hiện khởi nghiệp (mô hình E for E/P).  
2.1.4. Vai trò  
Giáo dục khởi nghiệp cung cấp cho cá nhân, tổ chức nền tảng thiết yếu cho quá trình khởi  
nghiệp. Hình thức giáo dục này cũng giúp cá nhân toàn diện hóa những năng lực cần có cho quá  
trình tạo lập doanh nghiệp như: tính đổi mới, sáng tạo, năng lực giao tiếp, tư duy mạo hiểm, đạo  
đức kinh doanh, … (Phạm Tất Dong, 2016). Đồng thời, có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giáo  
dục khởi nghiệp là một trong những yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của một cá nhân  
(Adekiya & Ibrahim, 2016; Barba-Sanchez & Atienza-Sahuquillo, 2018). Đặc biệt, các nghiên cứu  
này đều chỉ ra mối liên kết tích cực quan trọng giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp  
cùng với các nguồn lực liên quan.  
2.2. Thực trạng giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam  
Trong những năm gần đây, vấn đề giáo dục khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên được Nhà  
nước đặc biệt quan tâm, thể hiện qua các chính sách khuyến khích tinh thần khởi nghiệp ở học  
sinh, sinh viên. Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ (2017) đã phê duyệt Đề án 1665 “Hỗ trợ học sinh,  
sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”, thiết lập các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 và 2025: nâng  
cao nhận thức về khởi nghiệp; trang bị kiến thức và kỹ năng thông qua chương trình đào tạo; tạo  
điều kiện thuận lợi để học sinh, sinh viên hình thành và thực hiện các dự án khởi nghiệp, góp phần  
tạo việc làm sau tốt nghiệp. Tại phiên họp của Ủy ban quốc gia Đổi mới Giáo dục và Đào tạo và  
Hội đồng quốc gia Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực (tháng 6/2018), Thủ tưởng Chính phủ  
đã trực tiếp yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đưa ra chỉ thị cho các cơ sở giáo dục đại  
học đưa chủ đề khởi nghiệp vào chương trình đào tạo và nhìn nhận đó là một nội dung quan trọng.  
Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT còn tạo “sân chơi” về khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên với cuộc thi  
“Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp (SV- STARTUP).”  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 141  
Giáo dục khởi nghiệp đã được triển khai ở nhiều trường Đại học trên khắp cả nước với hình  
thức đa dạng như tích hợp vào chương trình giảng dạy, xây dựng các trung tâm sáng tạo và ươm  
tạo doanh nghiệp, tổ chức các câu lạc bộ và cuộc thi khởi nghiệp cho sinh viên. Tuy nhiên, các  
hoạt động này còn chưa phổ biến ở các trường đại học ngoài khối ngành Kinh tế. Hơn nữa, nhiều  
chương trình giảng dạy khởi nghiệp còn thiếu tính hệ thống, bài bản và thực tiễn (Thái và Lý,  
2018), còn mang tính phong trào, thiên về bề nổi (Lê và cộng sự, 2016). Vì vậy, việc xây dựng  
đồng bộ và chuẩn hóa các các chương trình, cung cấp một cách xuyên suốt các kiến thức, kĩ năng  
khởi nghiệp thực tiễn là vô cùng quan trọng.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Phương pháp nghiên cứu tình huống - điển hình (Case study)  
Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (case study) bởi đây  
là một công cụ hữu ích để giải quyết những câu hỏi “như thế nào” hoặc “tại sao” như câu hỏi  
nghiên cứu "Cần làm gì để cải thiện thực trạng hoạt động giáo dục khởi nghiệp ở Việt Nam?". Bên  
cạnh đó, đây là phương pháp định tính được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về các vấn đề xã  
hội. Đồng thời, việc đi sâu vào một tình huống điển hình giúp cho nhóm nghiên cứu có thể đánh  
giá chính xác, kỹ lưỡng hơn và đưa ra được những hướng giải quyết thích hợp nhất cho Việt Nam.  
3.2. Tình huống điển hình: Giáo dục khởi nghiệp ở Trung Quốc  
Tại Trung Quốc, giáo dục khởi nghiệp là một kênh bồi dưỡng nhận thức của sinh viên về tinh  
thần khởi nghiệp cũng như nâng cao khả năng thực hiện và thích ứng của sinh viên trong đổi mới  
và khởi nghiệp (Cục Thông tin và Khoa học Công nghệ Quốc gia, 2018).  
Tuy có lịch sử tương đối ngắn trong hoạt động giáo dục khởi nghiệp, Trung Quốc đã trải qua  
những dấu mốc quan trọng trong công cuộc đón đầu chương trình giáo dục này (Cục Thông tin và  
Khoa học Công nghệ Quốc gia, 2018). Năm 1998 là cột mốc đánh dấu sự du nhập của giáo dục  
khởi nghiệp vào các trường đại học với cuộc thi khởi nghiệp cho sinh viên được tổ chức bởi Đại  
học Thanh Hoa. Năm 2002, dự án thí điểm về giáo dục khởi nghiệp được Bộ Giáo dục Trung Quốc  
đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học; giáo dục khởi nghiệp bắt đầu được đầu tư và đẩy  
mạnh. Năm 2005, chương trình KAB (Know About Business) do UNESCO phát triển đã được  
giới thiệu và được đón nhận bởi sáu trường đại học danh giá ở Trung Quốc, tạo một bước ngoặt  
lớn. Năm 2008, chương trình thử nghiệm để tìm kiếm và phát triển tài năng về đổi mới và khởi  
nghiệp được Chính phủ Trung Quốc đề xuất là một bước tiến ấn tượng. Năm 2011, sau khi ban  
hành chính sách để thúc đẩy việc làm thông qua khởi nghiệp, chính quyền địa phương các cấp đã  
có những bước tiến trong việc thay đổi tư duy và nhìn nhận tích cực về giáo dục khởi nghiệp. Theo  
Thái và Lý (2018), sự đổi mới trong đường lối giáo dục này đã kiến tạo nên những khía cạnh mới  
trong giáo dục bậc đại học ở Trung Quốc: Giáo dục tư tưởng khởi nghiệp đi đôi với việc tích hợp  
giáo dục khởi nghiệp vào giảng dạy; Nhất quán tư tưởng giáo dục khởi nghiệp song song với đào  
tạo nhân tài, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội; Kết hợp giáo dục khởi nghiệp với thực tiễn;  
Khai thác và sẵn sàng các nguồn lực đảm bảo cho quá trình giáo dục khởi nghiệp, chú trọng phát  
triển sự giao thoa khoa học công nghệ - giáo dục - kinh tế. Quá trình cải cách này được thực hiện  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 142  
ở tất cả các cấp, từ Trung ương tới địa phương. Nhìn chung, các chính sách được đưa ra đều nhằm  
tạo môi trường thuận lợi và hỗ trợ sinh viên trong quá trình đổi mới và khởi nghiệp sau khi đã tốt  
nghiệp hoặc ngay trong quá trình học.  
Nghiên cứu lựa chọn Trung Quốc là tình huống điển hình bởi những điểm chung đáng chú ý  
giữa quốc gia này với Việt Nam trong công cuộc áp dụng giáo dục khởi nghiệp vào đào tạo bậc  
đại học. Thứ nhất, cả hai quốc gia đều còn rất “non trẻ” trong việc xây dựng và khai thác loại hình  
giáo dục này. Trong khi các nước lớn trên thế giới đã triển khai từ những năm 1970, Trung Quốc  
và Việt Nam mới có khoảng hơn một thập kỷ tiếp cận giáo dục khởi nghiệp. Thứ hai, vị trí địa lý  
và văn hóa - xã hội cũng là những nhân tố mà nhóm nghiên cứu quan tâm khi lựa chọn tình huống  
nghiên cứu. Được xem là hai nước láng giềng đồng thời có những nét tương đồng về văn hóa - xã  
hội, Trung Quốc là một hình mẫu lý tưởng cho Việt Nam dễ dàng học hỏi những cải cách cấp tiến,  
văn minh để từ đó tinh chỉnh, sửa đổi, bổ sung khi áp dụng mô hình giáo dục khởi nghiệp của quốc  
gia rộng lớn này vào bối cảnh đất nước.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Điểm mạnh trong hoạt động giáo dục khởi nghiệp tại Trung Quốc - Bài học áp dụng cho  
Việt Nam  
4.1.1 Tổ chức các hoạt động đa dạng làm tiền đề cho giáo dục khởi nghiệp  
Điểm mạnh thứ nhất ở Trung Quốc là nền tảng kinh nghiệm vững chắc về giáo dục khởi  
nghiệp thông qua nhiều hoạt động đa dạng, trước khi chính thức thí điểm dự án về giáo dục, đào  
tạo khởi nghiệp vào năm 2002. Từ năm 1998 đến trước năm 2002, nhiều cuộc thi về khởi nghiệp  
cho sinh viên được tổ chức và giới thiệu rộng khắp như “Cuộc thi Khởi nghiệp sinh viên”, “Cuộc  
thi Lập kế hoạch Kinh doanh Sinh viên Đại học Trung Quốc” của Đại học Thanh Hoa (Cục Thông  
tin và Khoa học Công nghệ Quốc gia, 2018). Các cuộc thi này đã đem lại những bài học thực tiễn  
có giá trị và đặt nền móng cho sự phát triển của giáo dục khởi nghiệp ở giai đoạn sau.  
Tương tự, Việt Nam cũng có kinh nghiệm tổ chức nhiều cuộc thi khởi nghiệp bài bản, quy củ,  
mang tính chuyên môn cao cho sinh viên do Bộ GD&ĐT cùng các trường đại học tổ chức, tiêu  
biểu như cuộc thi “Học sinh sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp (SV- STARTUP)” hay cuộc thi  
“Khởi nghiệp cùng Kawai” của trường Đại học Ngoại Thương. Hơn nữa, một số trung tâm sáng  
tạo và ươm tạo khởi nghiệp cũng được xây dựng tại các trường Đại học, như Trung tâm Sáng tạo  
và Ươm tạo doanh nghiệp (Đại học Nguyễn Tất Thành), Trung tâm Chuyển giao tri thức và Hỗ  
trợ khởi nghiệp (Đại học Quốc gia Hà Nội), ... Điều này chứng tỏ sinh viên hào hứng thử sức với  
lĩnh vực khởi nghiệp, cũng như các trường Đại học sẵn sàng đầu tư nhiều hoạt động tiền đề cho  
giáo dục khởi nghiệp. Dựa trên điểm thuận lợi này, Việt Nam có thể học hỏi thêm các hoạt động  
tương tự, đã diễn ra lâu năm hơn ở Trung Quốc, để tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng các “sân chơi”  
khởi nghiệp. Thêm vào đó, tận dụng triệt để sự thuận lợi về khoảng cách địa lý và thực tiễn các  
cuộc thi khởi nghiệp đang diễn ra ở nước bạn, Chính phủ Việt Nam cũng nên phối hợp với các cơ  
sở giáo dục, để từ đó áp dụng những chính sách hỗ trợ cho sinh viên Việt Nam tham gia giao lưu  
trên “sân chơi” này vừa để thúc đẩy tính tư duy, sáng tạo vượt ra khỏi khuôn khổ của Việt Nam,  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 143  
vừa để sinh viên được mở mang tri thức, tầm nhìn cũng như tăng cường mối quan hệ song phương  
giữa hai nước.  
4.1.2. Áp dụng chương trình giáo dục khởi nghiệp hệ thống hóa  
Điểm mạnh thứ hai trong nền giáo dục khởi nghiệp ở Trung Quốc là áp dụng thành công  
chương trình khởi nghiệp hệ thống hóa. Theo Phạm (2016), nội dung giáo dục khởi nghiệp hệ  
thống hóa tại Trung Quốc bao gồm hai loại: chương trình định hướng lý luận khởi nghiệp và  
chương trình định hướng thực tiễn khởi nghiệp, cả hai chương trình đều liên kết chặt chẽ với nhau.  
Chương trình định hướng lý luận khởi nghiệp tập trung vào ý tưởng khởi nghiệp, thiết kế và phát  
triển sản phẩm. Trong khi đó, chương trình định hướng thực tiễn khởi nghiệp đi sâu vào những  
chuyên đề thực tiễn khởi nghiệp, thực tập khởi nghiệp, dự án khởi nghiệp.  
Đối với Việt Nam, tuy số lượng chương trình đào tạo khởi nghiệp không ít, song các chương  
trình này còn thiếu tính hệ thống, bài bản, thiếu thực tiễn, dường như chỉ xoay quanh các môn học  
về quản trị kinh doanh (Thái và Lý, 2018). Vì vậy, việc chuẩn hóa, hệ thống hóa chương trình là  
vô cùng cần thiết để giáo dục khởi nghiệp ở Việt Nam tiến tới tiệm cận chương trình đào tạo khởi  
nghiệp hiện đại ở Trung Quốc. Thuận lợi cho Việt Nam khi là nước đi sau là có thể áp dụng có  
chọn lọc và cải tiến các chương trình đào tạo của các quốc gia đi trước bao gồm Trung Quốc. Quá  
trình này thuận lợi hơn trong thời đại toàn cầu hóa và công nghệ cao hiện nay, khi các nước đang  
tăng cường hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy  
nhiên, thách thức đặt ra là sửa đổi chương trình học thế nào để phù hợp với thực tiễn Việt Nam.  
Công tác sửa đổi này yêu cầu kết hợp của nhiều yếu tố, nhiều thành phần. Các ban, ngành lãnh  
đạo cấp cao như Bộ GD&ĐT nên có những phương hướng hợp tác cùng các cơ sở giáo dục, khảo  
sát ý kiến của sinh viên để xây dựng khung chương trình quy chuẩn, chung nhất. Cùng với đó, nhà  
nước cần có chiến lược dài hạn về phát triển giáo dục khởi nghiệp từ cấp độ quốc gia, coi đây là  
một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển chỉnh thể, được thực thi xuyên suốt qua các giai  
đoạn giáo dục phổ thông. Chiến lược giáo dục khởi nghiệp cũng cần được tích hợp với các chiến  
lược phát triển khác như chiến lược học tập suốt đời, phát triển kinh tế, cập nhật và đổi mới khoa  
học, công nghệ. Ngoài ra, Việt Nam cần đảm bảo nguồn giảng viên vừa có chuyên môn, vừa có  
kinh nghiệm thực tế về khởi nghiệp để đảm bảo chất lượng cho các chuyên đề thực tiễn.  
4.1.3. Xây dựng đội ngũ giảng viên giáo dục khởi nghiệp có kiến thức tốt, chuyên môn cao  
Điểm mạnh thứ ba nằm ở cách thức xây dựng đội ngũ giảng viên giáo dục khởi nghiệp có kiến  
thức tốt, chuyên môn cao. Trung Quốc tập trung phát triển đội ngũ này theo những phương pháp  
sau: Lựa chọn giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn; Bồi dưỡng định kỳ; Tiến tới chuyên môn hóa;  
Chọn các sinh viên xuất sắc trong khởi nghiệp tham gia giảng dạy; Mời các doanh nhân có kinh  
nghiệm khởi nghiệp làm giảng viên kiêm nhiệm tại trường (Phạm, 2016). Để nâng cao năng lực  
chuyên môn của giảng viên, một trong những phương pháp được Trung Quốc áp dụng là triển khai  
chương trình KAB (Li và Li, 2014) - chương trình đào tạo dành cho giáo viên các trường dạy nghề,  
trung học, và đại học với mục tiêu xây dựng văn hóa khởi nghiệp trong cộng đồng qua việc nâng  
cao nhận thức của thế hệ trẻ về khởi nghiệp (Tổ chức Lao động Quốc tế, 2011).  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 144  
Đối chiếu với Việt Nam, một số chương trình đào tạo giảng viên về khởi nghiệp cũng đã được  
tổ chức như “Chương trình Đào tạo giảng viên nguồn về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ToT2”  
(Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2017), “Khóa đào tạo Giảng viên nguồn về đổi mới sáng tạo  
và khởi nghiệp” (Danang Business Incubator, 2017). Tuy nhiên, các chương trình còn ở quy mô  
rất nhỏ, chưa được tổ chức định kỳ, thường niên và không thực sự có tính thống nhất trong nội  
dung giữa các chương trình do có đơn vị tổ chức khác nhau. Vì vậy, Việt Nam cần triển khai  
chương trình đào tạo giảng viên khởi nghiệp chuẩn hóa trên diện rộng để nâng cao và đồng đều  
hóa chất lượng giảng viên đào tạo khởi nghiệp trên cả nước. Tương tự đối với chương trình giảng  
dạy cho sinh viên, khung giáo án đào tạo giảng viên cũng cần được thống nhất và nhất quán nhằm  
đảm bảo chất lượng cũng như sự công bằng trong việc đội ngũ giảng viên tiếp nhận tri thức. Tuy  
nhiên, một trong những thách thức lớn nhất khi nhân rộng mô hình là kinh phí. Không phải là tổ  
chức phi chính phủ hay thực thể kinh tế với nguồn vốn khổng lồ, các trường đại học Việt Nam  
hiện nay đang gặp khó khăn trong vấn đề lập quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, do vậy các trường đại học  
nên chủ động tìm kiếm nguồn hỗ trợ cũng như tiếp cận những nhà tài trợ tiềm năng trong nhiều  
lĩnh vực.  
5. Một số đề xuất đối với hoạt động giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam  
5.1. Đối với các cơ sở giáo dục  
Thông qua việc phân tích, đối chiếu mô hình giáo dục khởi nghiệp ở Trung Quốc với Việt  
Nam, nhóm nghiên cứu có thể tổng hợp những đề xuất như sau với các cơ sở giáo dục:  
Thứ nhất, các cơ sở giáo dục cần nghiên cứu xây dựng khung chương trình khởi nghiệp một  
cách có hệ thống, bài bản, gắn liền với thực tiễn. Các trường Đại học có thể cân nhắc thành lập  
chuyên ngành đào tạo về khởi nghiệp, dựa trên việc tham khảo mô hình giáo dục của các quốc gia  
tiên tiến. Đối với các trường đã có những ngành, chuyên ngành liên quan đến khởi nghiệp, cần chủ  
động cập nhật và nâng cao chất lượng dựa trên phản hồi khách quan từ phía sinh viên.  
Thứ hai, cần đổi mới cách thức thực hiện các hoạt động dạy và học. Thay vì chỉ tập trung  
truyền tải kiến thức máy móc, một chiều, các trường nên khuyến khích tinh thần học tập chủ động,  
sáng tạo của các bạn sinh viên, tập trung bồi dưỡng năng lực và phẩm chất cho người học. Việc đa  
dạng hóa các hoạt động trải nghiệm thực tiễn như gặp gỡ các chuyên gia, doanh nhân khởi nghiệp  
thành công hay tham dự các cuộc thi lớn về khởi nghiệp cũng giúp sinh viên có có cái nhìn thực  
tế hơn về “thế giới” khởi nghiệp.  
Thứ ba, cần có chiến lược bồi dưỡng đội ngũ giảng viên có năng lực giảng dạy, chuyên môn  
cao về lĩnh vực khởi nghiệp. Để thực hiện mục tiêu đó, các trường đại học có thể chủ động áp dụng  
những khóa tập huấn cả ngắn hạn và dài hạn để bồi dưỡng cho giảng viên trong trường, đồng thời,  
chủ trương phối hợp với lãnh đạo ngành để xây dựng và phát triển khung chương trình đào tạo  
giảng viên thống nhất, quy củ.  
5.2. Đối với các cấp chính quyền  
Nhà nước và các cấp chính quyền có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng xây dựng  
mô hình giáo dục khởi nghiệp chất lượng và đảm bảo triển khai đồng bộ đến địa phương. Thứ  
nhất, Nhà nước cần có chiến lược dài hạn về phát triển giáo dục khởi nghiệp trên quy mô toàn  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 145  
quốc, coi đây là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển chỉnh thể quốc gia. Chiến lược  
này cần được triển khai xuyên suốt các giai đoạn giáo dục từ bậc phổ thông đến Đại học, gắn liền  
với các chiến lược lớn khác như học tập suốt đời, phát triển kinh tế, đổi mới khoa học, công nghệ.  
Đồng thời, bộ GD&ĐT cũng cần lên kế hoạch định hướng xây dựng khung chương trình đào tạo  
khởi nghiệp quy củ, hướng dẫn triển khai đồng đều đến các cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó, bộ  
GD&ĐT cũng cần xây dựng phương án thu hút và bồi dưỡng nhân tài trong giảng dạy khởi nghiệp.  
Thứ hai, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và phát triển những quỹ khởi nghiệp để ủng hộ và  
hỗ trợ cho sinh viên cũng như các cơ sở giáo dục trên cả nước. Những nguồn quỹ này cần được  
phân bổ một cách có hệ thống, hợp lý, công bằng và rõ ràng tới những cơ sở giáo dục cũng như  
các cuộc thi mang tính chất Quốc gia liên quan đến khởi nghiệp. Quỹ lập ra không chỉ với mục  
đích hỗ trợ các hoạt động thi cử hay hoạt động vận hành của các cơ sở giáo dục mà còn phần nào  
giải quyết được vấn đề thiếu hụt đội ngũ giảng viên trình độ cao trong lĩnh vực khởi nghiệp. Những  
khóa tập huấn trong nước và ngoài nước có thể được hiện thực hóa nếu như các cơ sở giáo dục  
nhận được một sự giúp đỡ nhất định từ Chính phủ cũng như các cơ quan, đoàn thể.  
5.3. Đối với xã hội  
Một trong những yếu tố quyết định đến tinh thần dấn thân khởi nghiệp của người trẻ, cũng  
như sự phổ biến của giáo dục khởi nghiệp là thái độ của cộng đồng, xã hội đối với vấn đề này. Do  
đó, cần xóa bỏ những định kiến tiêu cực với giới doanh nhân và khát vọng làm giàu chân chính,  
xây dựng cách nhìn nhận tích cực về vấn đề khởi sự kinh doanh. Trên cơ sở đó, người trẻ Việt  
Nam mới được tiếp sức để đầu tư học hỏi về khởi nghiệp, hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của  
mình. Hơn nữa, cổ vũ tinh thần “vì khởi nghiệp” trên phạm vi toàn xã hội sẽ truyền cảm hứng để  
các cá nhân, tổ chức đồng lòng ủng hộ sự phát triển của giáo dục khởi nghiệp. Đây cũng là tiền đề  
để huy động các nguồn vốn xã hội hóa từ nhiều nguồn lực khác nhau trong xã hội, từ đó đầu tư  
phát triển các mô hình giáo dục khởi nghiệp.  
6. Kết luận  
Trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới như hiện nay, khởi nghiệp đang là một  
trong những vấn đề được quan tâm nhất tại Việt Nam. Khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo ra sự tăng  
trưởng kinh tế mạnh mẽ, giải quyết vấn đề việc làm, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế -  
xã hội. Vì vậy, hoạt động giáo dục khởi nghiệp trong các trường đại học cũng được Chính phủ  
Việt Nam đặc biệt chú trọng. Điều này được thể hiện qua các chương trình đào tạo, các dự án hỗ  
trợ khởi nghiệp cho sinh viên Việt Nam những năm vừa qua. Bên cạnh đó, để phát triển nền giáo  
dục khởi nghiệp tại Việt Nam, việc học tập và vận dụng sáng tạo từ mô hình giáo dục của các quốc  
gia đi trước, cụ thể là mô hình đào tạo khởi nghiệp ở Trung Quốc, đóng vai trò vô cùng quan trọng.  
Bài viết của nhóm nghiên cứu tuy đã đưa ra được một số đề xuất đối với hoạt động giáo dục  
khởi nghiệp tại Việt Nam dựa trên mô hình của Trung Quốc, song các đề xuất có thể chưa thực sự  
hoàn chỉnh do chưa cân nhắc đủ những khác biệt về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa hai quốc gia cũng  
như tác động của những sự khác biệt này lên việc xây dựng mô hình giáo dục khởi nghiệp phù hợp  
cho Việt Nam. Để khắc phục những hạn chế này, các nghiên cứu tương lai có thể nghiên cứu sâu  
hơn về sự khác biệt kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam và Trung Quốc, tác động của chúng  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 146  
lên việc lựa chọn mô hình đào tạo khởi nghiệp và áp dụng phương pháp định lượng để đưa ra  
những đề xuất ưu việt hơn.  
Tài liệu tham khảo  
Adekiya, A.A. & Ibrahim, F. (2016), “Entrepreneurship intention among students. The  
antecedent role of culture and entrepreneurship training and development”, The International  
Journal of Management Education, Vol. 14 No. 2, pp. 116 - 132.  
Barba-Sánchez, V. & Atienza-Sahuquillo, C. (2018), “Entrepreneurial intention among  
engineering students: The role of entrepreneurship education”, European Research on  
Management and Business Economics, Vol. 24 No. 1, pp. 53 - 61.  
Cục Thông tin và Khoa học Công nghệ Quốc gia. (2018), Giáo dục và đào tạo khởi nghiệp  
hiện nay trên thế giới.  
Lê, D.B., Trương, Đ.T., Phạm, T.D. & Nguyễn, T.N. (2016), Việt Nam - đất lành cho khởi  
nghiệp: Tại sao không?, Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và  
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID).  
Li, W. & Li, C. (2014), “Entrepreneurship Education in China”, Entrepreneurship Education  
and Training.  
Nghiêm, P.H. (2017), “Giáo dục khởi nghiệp và trường học khởi nghiệp kinh doanh: Hướng  
tiếp cận mới trong thời đại 4.0”, Hội nghị Giáo dục trong thời đại Cách mạng Công nghiệp 4.0.  
Nguyễn, N.A. & Nguyễn, K.L.T. (2018), “Giáo dục Việt Nam: Thực trạng, cơ hội và thách  
thức”, Tạp chí Giáo dục lý luận, Số 279, tr. 54 - 60.  
Nguyễn, Q.H. (2020), “Thực trạng hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay”,  
nay-71047.htm, truy cập ngày 03/06/2021.  
Phạm, T.D. (2016), “Giáo dục khởi nghiệp”, Cổng thông tin Hội Khuyến học Việt Nam  
Phùng, X.N. (2018), “Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần  
thứ tư”, Tạp chí Cộng sản.  
Schramm, W. (1971), “Notes on Case Study of Instructional Media Projects”, Available at:  
Thủ tướng Chính phủ. (2017), “Quyết định số 1665/QĐTTg về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ  
hệ  
học  
sinh,  
sinh  
viên  
khởi  
nghiệp  
đến  
năm  
2025””,  
ode=detail&document_id=191647, truy cập ngày 03/06/2021.  
Trung tâm xử lý và phân tích thông tin. (2010), “Tổng luận: Các chiến lược và chính sách của  
Trung Quốc nhằm thúc đẩy đổi mới giáo dục đại học và đào tạo nhân công tay nghề cao”, Cục  
thông tin và công nghệ quốc gia, Hà Nội.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 147  
UNCTAD. (2010), “Entrepreneurship education, innovation and capacity-building in  
developing countries”, Available at: https://unctad.org/system/files/official-  
document/ciimem1d9_en.pdf (Accessed 1 Jun, 2021).  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 3 (06/2021) | 148  
pdf 10 trang baolam 22020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo dục khởi nghiệp: Kinh nghiệm từ Trung Quốc và bài học cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_duc_khoi_nghiep_kinh_nghiem_tu_trung_quoc_va_bai_hoc_ch.pdf